OAN NGHIỆT - CHƯƠNG NĂM

OAN NGHIỆT



******************************************************************




                              CHƯƠNG NĂM
                                         a{b
                            
Không ai ngờ hai người con gái ấy lại thành bạn tri kỷ tâm giao. Gần Oanh, Yến được khôn ra. Với Yến, Oanh cảm nhận đời còn chút ấm áp tình người. Hai nàng cùng sống với nhau trong một căn phòng sang trọng, họ chỉ vẽ an ủi cho nhau. Yến bớt được nhữngsự phiền nhiễu quá đáng của Khanh. Oanh được giảm đi những cuộc tiếp đãi xô bồ. Hai người chia nhau đến các vũ trường và họ có uy tín với cả các ông chủ lẫn lớp đàn em. Mụ Hai bảo Khanh:
- Này cậu, để cho hai con ranh nó khắng khít với nhau là không được!
Y cười nhạt:
- Đàn bà thương ghét – ghét thương mấy hồi! Chị có biết các khách sạn, vũ trường đang xẹp đi không? Hai con chim đầu đàn ấy đang ríu rít với nhau, tách ra lúc này cũng khó, động đến cả bầy đàn còn rối rắm  hơn. Mình cứ nắm chặt hầu bao lúc nào cũng thắng.
Trong đầu y đầy những mưu toan. Y thường tự hào lên mặt dậy dỗ đám đàn em:
- Nghề của ta là buôn người, buôn bạc – Lợi thì vô tận nhưng tai họa khôn lường! Ai cũng biết nó là lừa đảo nhưng bởi đam mê khoái lạc mà lắm kẻ vẫn lao vào: ông, thằng, bà, con, giầu, nghèo, quan, dân, sang, hèn… đủ cả! Thằng giầu sụ rồi còn muốn sướng điên lên. Thằng nghèo kiết xác thì cuồng lên muốn được ngay giầu sang sung sướng. Đó là một trong những cố tật bản năng di truyền của con người, không bao giờ mất được. Nó chỉ biến tướng thôi – lúc thịnh, lúc suy, lúc ồn ào náo nhiệt, lúc thậm thụt lủi chui là đều tuỳ thuộc ở chính trường. Ta phải liệu thời mà sống, không thể thoát ra ngoài vòng cương tỏa của cường quyền.
Y giao du rộng, rành rẽ đám giang hồ tứ chiếng, tỏ tường hết giới ăn chơi sang hèn quyền quí, thân thiện ngoan ngoãn với đời. Y chỉ khác một tên trùm mafia là tránh dùng bạo lực. Y khôn khéo ranh ma trong cách điều hành biến thể những chốn ăn chơi. Y dạy những tên có máu bốc đồng liều lĩnh:
- Phải biết điều. Dù lớn hay bé mình cũng chỉ là con cá trong một cái hồ. Rộng hẹp cũng vẫn là hồ. Đừng giỡn mặt ngư ông!
Trong giới cave, y biết giữ gìn và sử dụng những con chủ bài làm mồi dụ những con dê xụ. Hoàng Oanh đã cuối mùa. Hoàng Yến đang độ nổi lên. Mỗi người y đã sắp đặt và toan tính.
Oanh và Yến thường được Khanh đưa đến những salon sang trọng, kín đáo chỉ dành riêng cho giới thượng lưu. Các nàng dư tài để làm cho các yếu nhân mê mệt. Hoàng Oanh có tính toán riêng: Nàng tranh thủ một thì xuân sắc để dự phòng mai hậu. Hoàng Yến chẳng thiết tha gì, nàng vẫn còn lưu luyến với một tuổi xanh trong sáng, nàng vẫn mơ đến một khung cảnh gia đình yên ấm. Nàng không dám mơ ước cao xa vì nàng hiểu rõ thực cảnh của mình, nhưng nàng thèm khát một hạnh phúc  dù chỉ nhỏ nhoi thôi. Niềm hy vọng ấy cứ như một ánh lửa nhỏ le lói chơi vơi trong những đêm dài thao thức. Và đã có lúc nàng cảm nhận được hơi ấm mong manh từ ánh lửa ấy đã xua đi phần nào giá lạnh của cuộc đời nàng sương gió.
Bước ra khỏi cái salon vào loại thượng thặng ấy là một khu vườn yên tĩnh. Thấp thoáng những bóng trắng thướt tha huyễn hoặc dáng hình các pho tượng ẩn hiện bên những bóng cây nhập nhoạng dưới ánh đèn hòa lẫn với ánh trăng, từng cặp sóng đôi rì rầm di động mơ hồ làm người ta có cảm giác như đang ở cõi nào, là thực hay hư. Hoàng Oanh được một vị khách dìu lên xe hân hạnh tiễn về. Một quí ông lịch thiệp mong được rước Hoàng Yến lên xe nhưng nàng đã khéo léo từ chối để vị quí ông ngơ ngẩn đứng lặng nhìn hoài bóng nàng rảo bước theo Khanh. Khanh thấy lòng hưng phấn tự hào.
Cái con mồi đang ngồi yên lặng sau lưng đây thật cao giá với một vị quí nhân. Khanh vẫn cảm mến Hoàng Yến vì những cử chỉ chân thật rất dễ thương của nàng không để gợn lên một sự nghi vấn trong lòng những ai đó từng tiếp chuyện nàng. Y hiểu nàng không đành lòng cam chịu với cảnh sống hiện tại này đâu, nhưng nàng cũng không có can đảm để dứt tung nó mà đi. Nàng như con chim mắc bẫy. Nhìn cặp mắt ấy đôi lúc y cũng mủi lòng. Nhưng đầu óc y đã quen với sự băng giá của đồng tiền. Y không ưa cái kiểu thương vay khóc mướn, sụt sùi nghĩa nhân. Đã sinh ra làm người thì phải sống. Muốn sống thì phải có tiền. Muốn có tiền phải bằng mọi cách. Có tiền là có tất. Đó là thiên định. Con người chỉ nhất thời thôi. Mỗi người đều có giá của mình. Nhưng cao, thấp, mắc, rẻ là do mình định liệu. Khôn thì được, dại thì thua. Y đã làm tất cả để nâng cao định giá của mình. Kim ngân nắm chắc trong tay đó là cái giá của y. Và cái giá ấy vẫn chưa dừng lại. Y còn phải đẩy nó lên. Chưa đến lúc để người ta rung chuông chấm dứt cuộc đấu thầu này.
Hơi chuyếnh choáng và đang phấn khích, y rồ ga xe băng vòn vọt. Hoàng Yến đã quen kiểu phóng xe như bay lượn của y và nàng nắm chặt vai y. Trời khuya lắm rồi. Trên đường người ta thưa thớt. Gió hun hút lướt trên bộ đồ “sườn  xám” làm hai bờ vai nàng lạnh nổi gai lên. Bỗng chiếc xe chao nghiêng về bên trái, Hoàng Yến nhanh chân lao xuống và đầu nàng chúi trên mặt đường. Nàng còn kịp, nghe tiếng người xô té và tiếng máy xe rú vọt đi. Rất may là nàng phản xạ kịp thời, hai tay giơ ra phía trước nên đầu không đập xuống đường nhưng hai tay đau ê ẩm. Nàng hốt hoảng quay lại thì chiếc xe đã biến mất tăm và ở góc bên kia đường, một người nằm sóng xoài không động đậy. Nàng nhặt vội chiếc túi xắc văng ra và chạy băng tới người bị nạn. Đó là người đàn ông nằm bất tỉnh, đầu bê bết máu, một chân co, một chân ruỗi đờ ra, quần áo rách tươm. Những người đi đường dần dần bu lại. Không ai thấy rõ sự việc nên họ tưởng rằng nàng với người nằm kia đều chịu chung tai họa mà kẻ gây ra đã chạy mất tiêu. Hoàng Yến lẳng lặng chấp nhận sự nhầm lẫn ấy để khỏi liên lụy đến Khanh. Người ta kêu xe chở cả hai nạn nhân đi bệnh viện.
Trên xe, nhìn người bị nạn nằm mê man, nàng bồi hồi lo lắng: Liệu anh ấy có mệnh hệ nào? Làm sao báo cho gia đình anh biết? Nàng lấy từ trong túi áo anh một chiếc ví da, trong đó có ít tiền, không thấy giấy tờ tùy thân, một phong thư đã bóc nhưng được xếp lại làm đôi, dường như được giữ gìn cẩn thận. Nàng nhìn trên bì thư, những dòng chữ vẫn còn rõ nét “Cha: Vũ Phong – Gửi con: Nguyễn Tuấn…” vừa lúc xe qua cổng vào bệnh viện. Nàng nhét ngay chiếc ví vào túi xắc của mình. Nàng đứng ra khai các thủ tục hành chính để ghi vào bệnh án của cả hai người. Tên người đàn ông kia được nàng ghi nhận: Nguyễn Tuấn – Nàng áng chừng trên dưới bốn mươi. Chỗ ở được ghi theo địa chỉ của nàng vì nàng nghĩ lúc này không cần thiết để giải thích dài dòng. Nàng đương nhiên được coi như thân nhân người bị nạn. Nguyễn Tuấn lơ mơ, người xanh lướt, mạch và áp huyết gần như không lấy được. Bác sĩ chẩn đoán: “Gẫy xương đùi và Sốc Chấn thương”. Nàng rối rít phụ với mọi người cấp cứu bệnh nhân. Người ta lấy hai cây gỗ dài cột cứng cái chân gẫy lại và đẩy ngay vào Phòng Hồi Sức. Cô hộ lý chỉ đường cho nàng  đi đóng tiền nhập viện. Hoàng Yến không nghĩ đến cái đau của bản thân mình, nàng chỉ lo làm thật hết mình những việc gì cần thiết để giúp cho người bị nạn được cứu chữa thật nhanh. Tự dưng nàng coi chuyện tai ương ấy như là lỗi ở nàng.

                                                

Trời gần sáng nàng mới về nhà. Hoàng Oanh vẫn chưa về. Lúc này nàng mới cảm thấy mệt mỏi và đau nhức khắp người. Hai tay nàng chỉ bị trầy xước mà bây giờ nó rát run lên. Nàng uống mấy viên thuốc theo toa Bác sĩ rồi lăn ra giường ngủ thiếp đi luôn. Khi Yến mở mắt ra thì trời đã sáng trưng. Oanh về lúc nào đang ngủ lăn lóc ở giường bên. Nhớ tới người bị nạn, Hoàng Yến lại cập rập lấy tiền mang đến bệnh viện.
Người bệnh đã qua cơn  sốc, tỉnh lại rồi và được đưa về trại bệnh. Buồng bệnh hàng chục người nằm chật cứng, giường một, giường đôi, người nào cũng băng bó trắng xóa đầu, mặt, tay, chân. Nàng đảo hai ba lượt khắp các giường mà không nhận ra người mình kiếm. Cô y tá đang chích thuốc thấy nàng lớ ngớ đi đến tận giường chỉ cho nàng:
- Nguyễn Tuấn đây nè! Chồng mình mà cũng không nhận ra được nữa!
Lời nói không ra trách cũng không ra thương. Hoàng Yến cúi đầu cảm ơn rồi bẽn lẽn bước tới bên giường người bệnh. Nguyễn Tuấn nghe có tiếng người nhắc đến tên mình, anh từ từ mở mắt. Một khuôn mặt phụ nữ trắng trắng lờ mờ, mái tóc thơm thơm ghé sát bên anh với giọng nhẹ nhàng:
- Anh Nguyễn Tuấn phải không? Anh đã khoẻ chưa?
Nguyễn Tuấn gật đầu, tay từ từ giơ lên, bàn tay run rẩy xòe ra. Nàng đỡ tay anh đặt xuống. Tuấn không biết người phụ nữ đang đứng bên mình là ai nhưng trong lúc đớn đau tai họa này, có người đến thăm hỏi thật là cảm động. Mắt anh chớp chớp, hai dòng nước mắt lăn trên gò má. Môi anh mấp máy thều thào:
- Chị là ai?
Hoàng Yến nhìn quanh: Những người bệnh nằm lờ đờ. Những người khoẻ mạnh chỉ chăm chú cho người thân của mình thôi. Nàng yên tâm, ghé sát bên tai anh hỏi nhỏ từng câu:
- Anh Tuấn ơi! Gia đình anh ở đâu để em đến báo!
Người bệnh mở to mắt hơn như để nhìn nàng thật rõ, rồi nét mặt anh trở nên nhạt nhẽo vô hồn. Anh lắc đầu: “Cảm ơn!” rồi quay đi như không thèm nhìn nàng nữa.
Hoàng Yến nhậy cảm thấy trong lòng nhói lên, dường như lời nàng hỏi vô tình đụng đến một nổi niềm riêng. Nàng ân hận, cầm tay anh thân ái:
- Anh Tuấn ơi! Em là Yến! Hoàng Yến! Anh nhớ nghen!
Nhưng Tuấn vẫn không quay lại. Anh nằm bất động như vậy hồi lâu, có lẽ anh không cần ai đến đây quấy rầy anh nữa. Hoàng Yến cố làm lành. Nàng muốn chăm sóc cho anh ăn uống nhưng anh vẫn một mực lắc đầu. Nàng thấy người bệnh này kỳ lạ. Nhất định anh ta có một cuộc đời không suông sẻ. Nàng không thể để mặc anh trong lúc hoạn nạn này. Nàng ghé xuống nói to hơn:         
- Bệnh anh còn nặng lắm. Để em đi hỏi bác sĩ xem sao!
Anh quay lại nhìn nàng, cái lắc đầu nhè nhẹ không ra từ chối, cũng không ra chấp nhận. Nàng quay ra đi tìm bác sĩ để hỏi cho rõ về thương tật của anh.
- Anh ấy bị chấn động não và gẫy xương đùi. Tình trạng nguy kịch đã qua nhưng trước mắt cần để bệnh nhân ổn định lại sức khoẻ và tinh thần đã!
- Thưa bác sĩ, còn cái chân liệu có trở lại bình thường?
- Chờ một vài ngày nữa cho anh ấy lại sức rồi sẽ mổ để chỉnh lại cái xương đùi bị gẫy!
- Xin bác sĩ ráng giúp cho chân anh ấy hồi phục bình thường!
Nàng cảm thấy hoàn cảnh anh có gì đặc biệt. Có thể là anh ấy cô đơn. Đôi chân với anh lại càng quí giá. Nàng quay về với Tuấn. Anh chú ý lắng nghe về bệnh tật của mình. Nét mặt anh chai lại và cay đắng. Anh nghĩ đến một tật nguyền sẽ đeo đẳng dai bám suốt đời anh. Hoàng Yến thông cảm, xẻ chia. Nàng nắm chặt bàn tay anh nói rất chân thành:
- Anh Tuấn ơi! Anh cứ yên tâm đi, em sẽ lo cho anh mọi việc!
Nàng thấy bàn tay mình được nắm chặt trong một bàn tay khác nhưng rõ ràng là da bàn tay ấy thật mỏng mai và các ngón tay ấy thon dài như thân sậy. Anh nhìn nàng bằng con mắt cảm động và như gửi vào đấy một niềm tin cậy. Suốt sáng hôm ấy nàng ở lại quanh quẩn với anh. Nét mặt nàng tươi và lòng nàng vui thật sự, có lẽ nàng mừng cho một con người  đã thoát được cái chết cận kề và giờ đây nàng đang làm những việc rất thiết thực, hữu ích cho một người trong bước khó khăn. Nguyễn Tuấn cảm kích trước thái độ của nàng, nét mặt anh bớt khắc khổ và khoé mép anh đôi lúc có nét như cười. Nhưng trên trán anh thỉnh thoảng hằn lên một nếp nhăn, có lẽ do anh chưa hiểu duyên cớ gì mà người phụ nữ xa lạ kia lại quan tâm tới anh như thế? Cô ấy làm một việc từ thiện? Hay cô ấy là người gây ra tai nạn cho anh? Nhưng dù sao trong lúc này anh cũng chỉ còn có cách duy nhất là trông chờ vào lòng tốt của người ta.
Hoàng Yến trở về nhà. Hoàng Oanh bảo:
- Thằng Khanh mới ở đây ra. Nó kể chuyện hồi hôm qua. Chị thấy đống áo quần của em, biết là  em đã về nhà nhưng rồi em lại đi đâu?
Hoàng Yến kể về người bị nạn. Oanh hỏi:
- Giờ em định tính sao?
Em thấy như ảnh có điều chi khác thường, không thể bỏ mặc người ta lúc hoạn nạn thế này!
- Không dưng ách giữa đàng lại quàng vào cổ đây!
- Thà rằng chẳng biết thì thôi. Biết rồi cầm lòng không đặng!
Yến chợt nhớ đến cái ví da của Tuấn. Nàng tìm nó và lôi ra phong thư. Không ai trách nàng đọc lá thư ấy trong hoàn cảnh thế này. Hai người chụm đầu đọc:
Tuấn con ! Ba biết việc ba ra đi lúc này là không phải với con. Nhưng đây là cơ hội duy nhất để ba được giải thoát. Và thực ra, dù có ở lại ba cũng không giúp gì được cho con. Con tuy không phải là con đẻ của ba nhưng ba chưa bao giờ coi con là người xa lạ. Trách nhiệm của ba với con là cách ba đền đáp lại công ơn của mẹ con đã cứu sống ba. Điều ba ân hận là trách nhiệm ấy ba làm không trọn vẹn. Thời niên thiếu con sôi nổi và đã làm trái ý ba nhưng ba không ngăn cản vì ba tôn trọng cái ý chí của con nối nghiệp ba con mà từ trong sâu xa ý thức ba luôn kính trọng những chí khí quật cường như thế. Đến khi thời cuộc đổi thay, ba thành thất thế, con đơn côi không chỗ dựa và con cũng lại làm những việc theo ý của con, ba không ngăn cản được. Chuyện đúng sai để con tự xét. Ba cũng chẳng thiết tha đi ở xứ người, nhưng ba ở lại để làm gì ? Chỉ lo một cái thân mình sống cho qua ngày thôi cũng khó, còn giúp được ai ?! Nhưng mang cái thân phận đi ăn nhờ ở đậu cũng chẳng ra gì. Sự nghiệp của mình mình làm không nổi, ai người ta trọng?! Nhưng ba cũng không muốn làm cái thân phận của kẻ hàng thân lơ láo! Những ngày còn lại của đời ba thật sự là những ngày tàn! Ba chỉ mong con hiểu cho ba và mong cho con có một cuộc sống tốt đẹp hơn ba!
                                                 Ba – Vũ Phong”
Bức thư thật khó hiểu. Nhưng Oanh bình luận theo ý của nàng:
- Ông này chỉ hơn ba chị ở chỗ có chữ nghĩa, nhưng cũng là đồ vô tích sự với con. Những người có học họ khôn khéo lắm, không bao giờ họ dám nhìn nhận cái xấu, cái hèn của họ!
Trái lại, Hoàng Yến thấy vương vấn nhiều hơn với người mắc nạn:
- Cuộc đời anh ta cũng điêu linh lắm! Rõ ràng là hiện nay anh ấy không có ai là người thân thích ruột rà. Em còn cảm thấy có một cái gì nó cứ dai dẳng đeo bám suốt đời anh!
Hoàng Oanh nhìn Yến vừa thương vừa mến, nàng nói bâng quơ:
-  Cũng là duyên nghiệp chi đây!
Ngày nào Yến cũng hai lần sáng chiều vào bệnh viện thăm nom chăm sóc Tuấn. Khanh săn đón nhiều lần mới gặp:
- Làm gì mà vất vả tất bật cứ như chồng em bị nạn!
- Có được một người chồng thật sự để mà thăm nom, chăm sóc đã là đại phúc!
Tên Khanh xịu mặt:
- Người ta ngóng mình đỏ con mắt. Chớ để người ta nghi kỵ sang băng là mất cả ngàn vàng đó nghe!
- Tôi không thể sống vô tâm được!
Yến nói lửng lơ mà hơi gắt. Thằng Khanh giảng giải:
- Nó đã được đưa vô bệnh viện rồi, đứa nào dám quăng nó ra đường? Cái sức sống của người Việt Nam mình bền bỉ dẻo dai lắm, nó chẳng chết được đâu. Đừng lo!
Thấy thái độ nàng vẫn thản nhiên, y bước đến chỉ tay vào mặt Yến hầm hầm:   
- Cô vẫn coi cuộc sống này như tù ngục thì đây chính là cơ hội duy nhất cho cô thoát cảnh ngục tù này đấy! Nghĩ đi!
Nói rồi y bỏ đi. Hoàng Yến chẳng thèm quan tâm đến những điều hắn nói. Điều nàng băn khoăn bứt rứt chính là số phận của một con người mà tình cờ nàng gặp và nàng tự thấy không thể thờ ơ.
Sức khoẻ của Tuấn đã phục hồi dần, bác sĩ cho biết cần phải mổ để đóng đinh xương.
- Bác sĩ làm gì miễn là được lành lặn lại như thường, em ráng lo cho ảnh được!
Cô y tá thăm dò:
- Đinh của bệnh viện dùng đi dùng lại nhiều lần, dễ gẫy. Gia đình có khả năng mua đinh ngoại được không?
Yến không chần chờ, nàng nói như năn nỉ:
- Nhờ chị nói với bác sĩ  giúp dùm: Đừng để cho anh ấy tật nguyền. Tốn kém bao nhiêu cũng được!
Nàng nói lại với Tuấn:
- Anh đừng lo chi cả. Em đã chu đáo với bác sĩ lắm rồi. Chỉ cần anh giữ vững tinh thần, có niềm tin là sẽ mau bình phục!
Sức khoẻ Tuấn khá hơn nhiều. Anh có thể ngồi dựa lưng trên giường bệnh, một chân duỗi thẳng theo hai cái nẹp gỗ dài từ hông tới bàn chân. Trước ngày lên mổ, anh nói với Hoàng Yến những suy nghĩ  của mình:
- Tôi chưa biết cô là ai. Tôi cũng chưa hiểu tại sao cô lại tận tâm với tôi như vậy. Nhưng tôi biết chắc là lòng tốt của cô thật vô tư. Thánh thần chỉ biết khen thưởng và trừng phạt. Chỉ có con người mới vô tư. Những người vô tư bao giờ cũng khổ, họ chỉ nghĩ cho người mà không nghĩ cho mình. Cô còn hơn cả thiên thần: Sắc đẹp con người và nét đẹp tâm hồn!
Trong nghề của mình nàng thường phải nghe những lời tán tỉnh. Nàng chẳng lạ gì. Nhưng nghe những lời anh nói nàng thấy như rút ra từ gan ruột. Nhưng cái nhìn, cách nói của anh ấy có cái gì khang khác. Ở anh ấy có một cái gì vời vợi, mênh mông.
Hoàng Yến âm thầm rút ra những số tiền cô dành dụm được để lo cho Nguyễn Tuấn. Thằng Khanh tỏ thái độ bất bình. Hoàng Oanh can:
- Đừng cản nó. Nó làm cho anh đấy! Mình không đa đoan được như nó mình hèn!
Nguyễn Tuấn nằm viện cả tháng trời. Hoàng Yến chăm sóc anh không khác người thân thích ruột rà. Ông bệnh nằm góc phòng tủi thân nói trong nước mắt:
- Vợ con người ta xinh đẹp nết na, xót xa chồng là thế! Thân mình vô phúc!
Mấy người biết chuyện cười thương hại cho ông. Ông là dân nhậu bất cần đời. Say xỉn bị chấn thương sọ não. Vợ con bỏ mặc thây! Một bà trông chồng giường bên mau miệng:
- Gia đình anh ở đâu mà chỉ có mình cô quần quật?
Nguyễn Tuấn nhìn lơ đãng trên trần. Hoàng Yến trả lời đỡ cho anh:
- Gia đình ảnh ở dưới miền Tây. Ơng bà già rồi, biết ảnh bị vậy càng thêm tội nghiệp!
Vui chuyện bà ta tò mò:
- Vợ chồng lấy nhau bao lâu rồi, đã có con chưa mà nhìn cô còn gọn gàng và nõn nà như thế?
Tuấn thấy hai má mình đỏ lên. Yến tự dưng tủi phận, răng nàng cắn chặt vào môi, nước mắt rơm rớm bờ mi. Mấy bà nói chỉ để cho thỏa cái miệng mình trong lúc ngồi rồi, chẳng cần để ý tới người nghe. Một bà khác đế theo luôn:
- Con trai con gái bây giờ sướng lắm. Lấy nhau rồi họ còn để son rỗi thảnh thơi vui chơi cho nó đã. Chán rồi mới thèm đẻ, muốn trai  được trai, muốn gái được gái, chớ đâu như lớp chúng mình, lấy về là để cho mấy ổng hành thân hành xác, đẻ như gà mà mấy ổng chẳng tha, mới ba bốn mươi đã mõm mẽm hom hem như mấy bà già, giục đâu cũng chẳng ai thèm!
Cả phòng cười râm ran. Họ nhìn nàng mà thèm muốn khát khao được sống lại thời xuân trẻ. Tuấn và Yến đều lặng lẽ. Họ không biết rằng cho đến lúc này hai người mới chỉ biết tên nhau. Họ líu ríu với nhau ở đây, một người bởi lòng thương cảm, một người cần sự cưu mang. Trước sự ngộ nhận vô tình của mọi người ở chung quanh khiến họ không thể thanh minh và cư xử với nhau càng đằm thắm. Nguyễn Tuấn ước đoán mình hơn Yến nhiều tuổi, anh nói nhỏ với nàng:
- Xin phép cho tôi được gọi là em!
Hoàng Yến cười vui:
- Không chỉ là em, mà là em… út… xíu nữa kia!
Có lẽ vì đầu anh trọc lốc, râu ria lờm xờm, vẻ mặt già và khắc khổ. Nhưng trong nghề của nàng có bao giờ xưng cháu với ai đâu. Tất cả đều là anh bất kể trẻ, già và chỉ một tiếng em ngọt xớt.
Sắp đến ngày được ra viện rồi, Hoàng Yến hỏi:
- Anh sẽ về đâu?
Tuấn giật mình, sực nhớ tới thực cảnh của mình, anh lúng túng:
- Thôi, em giúp đỡ anh như vậy đã là quá tốt! Giờ đây anh có thể tự lực được rồi!
- Chưa đâu! Anh còn phải kè kè cái tó bên mình hai ba tháng nữa. Còn khó khăn nhiều anh ạ!
Anh lo lắng không biết tính làm sao vì anh bế tắc. Tự dưng anh phát bẳn gắt lên:
- Cô mặc xác tôi!
Nàng hiểu rằng anh đang bị dồn đến thế cùng và nàng cũng chưa nghĩ được cách gỡ ra, nước mắt nàng theo nhau rơi xuống. Bà thân nhân người bệnh giường bên thấy thế bất bình không chịu được, bà lên tiếng bênh nàng:
- Tốt phúc lắm mới được con vợ đẹp đẽ đảm đang như thế. Nhìn xem cả phòng này có ai được như anh? Dầu là trái ngọt mà không biết giữ  cũng thành thiu thôi!
Lần đầu tiên từ ngày biết nhau, hai người nói với nhau vẻ rất cảm động và tự nhiên như một cặp vợ chồng thật sự, chẳng cần đến sự chú ý của mọi người:
- Anh xin lỗi! Em vất vả với anh quá rồi! Anh không muốn phiền đến em nhiều nữa!
- Anh không có lỗi gì! Em không thể để anh một mình trong lúc này được! Anh phải nghe em!
Bà lúc nãy thấy hai người đang làm lành liền nhấn thêm vào:
- Chao ơi! Các cô các cậu bây giờ văn minh chớ lớp già chúng tôi cứ quen cái nếp ông bà xưa: vợ chồng sướng cùng chia, khổ cùng chịu chớ có gì mà phải day với dứt. Mình ăn đời ở kiếp với nhau thì lúc nắng lúc mưa, lúc may lúc rủi là chuyện thường tình!
Ngày ra viện, cả phòng mừng rỡ tiễn đưa, vẫn bà hôm trước bô lô thật thà:
- Đời bây giờ ý à? Vợ đi đẻ, chồng ở nhà vui vẻ với bồ! Chồng ốm o nằm viện, vợ đi tung tẩy với trai! Cả tháng trời nay tôi biết người như vợ cậu bây giờ hiếm thấy. Cậu chớ có làm điều chi phụ lòng cô ấy!
Mọi người đều lạ thay cho anh chồng không thấy thế là mừng, mặt mày cứ nhăn nhó và khó đăm đăm. Cô vợ thật nhu mì nhẫn nhục.
Nguyễn Tuấn chống đôi tó lọc cọc đi trước, cái chân phải giơ lên không cho chạm đất làm người anh lắc lư nghiêng ngả, nhờ cặp tó mà anh đứng được một chân. Hoàng Yến xách cái túi nhỏ lững thững đi sau. Đến lúc này mà nàng vẫn chưa biết anh định về đâu. Không bước chân nào dài bằng bước chân người lữ khách trở về nhà. Vậy mà Tuấn cứ đi nhẩn nha từng bước. Hai cái tó giơ lên, đặt xuống chỉ nhích được vài phân. Hoàng Yến có cảm giác chẳng lẽ anh bước giật lùi. Lòng nàng dâng lên một nỗi xót thương. Đầu anh cúi xuống nặng nề. Mắt anh như chăm chắm nhìn vào chân cặp tó. Hoàng Yến không nỡ giục giã anh vì nàng cũng chưa biết phải làm gì. Tới gần cổng viện,  hàng chục cánh tay của các anh tài thi nhau vẫy lia lịa kèm theo những lời gào lên mời khách:
- Taxi ! Taxi !
- Lại đây! Lại đây!
- Xe êm, chạy chậm!
Nguyễn Tuấn không thể đi được nữa. Anh quay lại nhìn Hoàng Yến, nét mặt buồn rười rượi, đôi mắt đầy vẻ khổ đau, cái yết hầu anh đẩy đưa lên xuống dường như anh cố nuốt cho trôi xuống cái gì đang tắc nghẹn. Chờ cho trấn tĩnh, anh nói với vẻ tỉnh táo và rành rọt từng câu để Hoàng Yến nghe được rõ ràng:
- Anh biết người tốt ở đời không hiếm, nhưng gặp được không phải dễ. Anh chân thành cảm ơn em! Anh sẽ không bao giờ quên sự chăm sóc ân tình đúng lúc của em trong những ngày qua. Nhưng anh như một cánh chim trời, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường. Anh sống lang thang vô định. Anh không muốn em phải phiền lụy vì anh! Xin em cho anh được tự do!
Tự nhiên Hoàng Yến cứng cáp  rắn rỏi hẵn lên:
- Tôi không ràng buộc gì anh cũng như anh không có gì liên lụy đến tôi. Tôi chỉ cần biết trước khi xảy ra tai nạn thì anh ở đâu? Bây giờ tôi sẽ đưa anh về đó, dù là một túp lều hay là chỗ vỉa hè cũng được. Thế thôi!
Trước thái độ quả quyết của nàng, anh đành chịu thua:
- Anh ở trọ trong một xóm nghèo. Cả tháng nay không về chắc họ đã quăng hết đồ đạc ra sân lấy phòng cho người khác mướn! Anh cũng chẳng có gi cần lấy lại!
 Hoàng Yến quyêt định:
- Vậy cứ về đó đi rồi tính sau!

                                       

Chiếc xe taxi đi về phía ngoại ô, vòng vèo rồi đỗ ở  đầu một con hẻm nhỏ. Hoàng Yến đỡ anh ra xe. Trời đã hoàng hôn. Bao nhiêu ngày tù túng, hôm nay anh mới ngước mắt lên nhìn bầu trời cao rộng mênh mông. Làn gió chiều mát rượi mơn man. Anh hít một hơi thật dài cảm thấy lồng ngực mình căng lên buồng không khí trong lành. Anh thấy người sảng khoái. Đầu óc anh như sáng láng ra. Ánh nắng chiều vàng vọt trải trên con hẻm nhỏ. Hoàng Yến đi trước, ngoái lại chờ anh. Anh sững sờ đứng ngây người tại chỗ. Nàng mặc chiếc áo vàng chói lên, những cánh hoa kim tuyến thêu trên áo lấp lánh, nước da nàng sáng hòa trong dáng chiều óng ả nhạt nhòa cảm như nàng là người trong mộng, ánh mắt sáng lung linh mà thăm thẳm như vừa chan chứa tình thương vừa u uất mối sầu thiên thu, làn tóc dài đen nhánh che nửa mặt phủ hờ hững trên một bờ vai lay động phất phơ. Anh ngây ngất trong một xúc cảm kỳ lạ: Người con gái đứng đây có phải là nàng vừa ở bên anh hay là một người nào khác mới từ đâu tới? Khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, làn tóc ấy, ánh hoàng hôn nhạt nhòa ấy nó cứ lung linh chớp chới. Giây phút xuất thần, anh không hiểu mình đang đứng ở đâu? Ở nơi trần gian thế tục này? Hay ở một cõi thần tiên hư ảo? Hoàng Yến thấy anh đứng  đó như đờ người ra, nàng bước lại gần thấy rõ nét mặt anh nhợt nhạt. Nàng tưởng anh mệt nhọc nên đưa tay đỡ anh đi. Đôi mắt anh nhìn nàng kỹ quá: nó mơ màng, thăm thẳm, đắm say. Nàng hồi hộp và thấy rùng mình cảm nhận như cả thân hình nàng đã in sâu trong đôi mắt ấy. Dường như anh tỉnh lại từ trong cõi mộng. Anh nhìn nàng ngơ ngác. Một lúc định thần, anh nhận ra hiện tại. Anh sải dài đôi tó bước vượt lên trước nàng bằng những bước thật dài. Nàng gần như chạy theo anh.
Một dãy nhà lá chạy dài. Nháo nhác người từ trong những căn nhà ấy thấy anh về trong cảnh lạ lùng chạy ra, vừa ngạc nhiên vừa thắc mắc:
- Sao chú Hai bỏ nhà đi lâu quá vậy?
- Tháng trước chú chưa trả tiền nhà, tháng này chú lại bỏ nhà đi đằng đẵng, bà chủ nhà đã báo công an xin được giải tỏa căn nhà của chú để cho người ta mướn!
Anh chẳng trả lời ai và lầm lầm chống tó đi thẳng vào nhà. Mọi người tò mò, quay lại nhìn nàng. Họ quây lại bít lối nàng đi theo anh. Người ta trầm trồ:
- Chui cha! Ngộ quá!
- Ông họa sĩ mang từ đâu về một cô gái đẹp hết chê!
- Con cái nhà ai mà đẹp quá xá!
- Họa sĩ mà, chỉ mê người đẹp!
Nàng nhanh trí giải thích cho tất cả mọi ngươì:
- Cháu đi xe lỡ đụng anh Nguyễn Tuấn, phải đưa ảnh vô viện nằm từ đó đến nay, giờ cháu đưa ảnh về đây!
Người ta dễ dàng chấp nhận lý do của việc tự dưng anh bỏ nhà bỏ cửa mà đi. Nhưng không ai bận tâm hỏi han, xót xa về những ngày vừa qua anh đau đớn. Và bây giờ có ai chia xẻ với bộ  giò bất lực của anh phải nhờ đến một cặp tó gỗ mà đi! Tất cả chỉ đổ dồn vào vô gái đang đứng đây, cứ như vừa mới từ một hành tinh nào rơi xuống. Họ tấm tắc, xuýt xoa, ngơ ngác và họ không tin ở mắt mình: Có thể nào ở cái xóm nghèo lụp xụp lầm lội thế này mà lại có một người đẹp như thế tới đây.
Hoàng Yến lúng túng bị động một hồi lâu. Khi quay lại nàng đã thấy Nguyễn Tuấn dựng giá vẽ, lom khom nửa đứng nửa ngồi trên chiếc ghế, tay cầm cây bút than lướt lướt nhanh trên tờ giấy trắng cặp trên giá vẽ. Anh đưa tay ra dấu bảo nàng đứng y như vậy. Vẫn là cái dáng chiều vàng vọt ấy đang đổ tràn khắp các ngọn cây, mái lá, mặt sân và lung linh, nhấp nhóa phủ lên mọi người. Cái dáng đứng quay lại nửavời như vừa chờ vừa gọi đó đúng là cái dáng nàng nơi đầu con hẻm mà trong lúc xuất thần anh đã nhận ra. Anh như người mê mẩn ghi lại nó vào đây mà không cần để ý tới ai. Những người chung quanh không lạ gì với ông họa sĩ tính khí khác thường và họ bu lại quanh cả hai người, vừa ngắm nhìn cô gái đẹp như tiên sa, vừa ngắm những nét bút như bay như lượn vòng vèo, lên xuống, uốn éo, lượn lờ, rõ rệt, mơ hồ… trên tờ giấy trắng. Họ xuýt xoa, tấm tắc. Không hiểu họ khen một người đẹp thật trên đời này hay một người đẹp hiện dần ra theo từng nét vẽ trên tờ giấy trắng. Mọi người nín lặng và cảm phục người nghệ sĩ, ngay cả những hơi thở của họ cũng như dồn nén lại. Hoàng Yến đứng đó ngây ngất nhìn anh. Thì ra anh là họa sĩ! Từ lâu nàng đã cảm thấy ở anh một sự khác thường. Tâm hồn họ có cái gì đồng điệu với nhau. Nàng nhìn anh đằm thắm, yêu thương. Anh nhìn đôi mắt ấy nó chan chứa tình đời và mênh mang thăm thẳm một nỗi buồn nhân thế. Cái ánh vàng vàng ấy vụt tắt đi, hệt như một con chim hoàng yến nhỏ vừa lướt qua đây, và nó vút lên cao về phía trời tây, ở nơi đó bảng lảng bóng chiều. Cơn xúc cảm tan đi , anh xuôi cánh tay vẽ như rã rời, mệt mỏi, đầu anh gục vào bảng vẽ. Trước mắt mọi người hiển hiện hai người con gái: một cô gái đang đứng ở đây, nói cười với họ, họ có thể vuốt ve tà áo và làn tóc óng, họ cảm nhận rõ ràng một mùi thơm son phấn hòa lẫn trong hương trầm ngan ngát của thịt da… và cô gái kia hư hư thực thực như ẩn như hiện, cái miệng muốn cười mà đôi môi hé dở, đôi mắt kia nhìn họ sáng lên một niềm yêu thương mà sâu trong đó lại vời vợi nỗi buồn. Hai cô gái ấy là hai chị em hay chỉ là một cô thôi?
Hoàng Yến đến bên Nguyễn Tuấn, đỡ cây bút vẽ trên tay anh, đầu nàng ghé sát đầu anh và phà một hơi thở ngọt ngào bên má anh thì thầm:
- Em xin lỗi! Em không nhận ra anh!
Một cảm giác kính trọng, yêu thương tràn ngập lòng nàng. Nàng dìu anh vào nhà, giúp anh dọn dẹp lại căn nhà vắng chủ đã lâu. Những bức vẽ cái thì treo, cái thì cuộn lại vứt lung tung khắp phòng. Những lọ bút, những bảng màu bừa bãi. Đồ đạc lộn xộn. Nhà cửa bề bộn và hôi hám. Nàng làm quên mệt để thu dọn và sắp xếp lại cho gọn gàng ngăn nắp. Trong lòng nàng có cảm giác như ở nhà mình. Bao lâu nay, bây giờ nàng mới có được cái cảm giác nhẹ nhõm thảnh thơi như vậy. Nguyễn Tuấn nằm dài trên giường mệt mỏi thiếp đi. Hàng tháng trời, vừa đau đớn, buồn bã, lo âu, giấc ngủ cứ chợp chờn làm cho anh gần kiệt sức. Bây giờ trở về nhà trong những giây phút xúc cảm tột cùng, trí não anh tập trung cao độ để nhận lấy và cho hiện ra bằng những nét vẽ xuất thần. Vừa thoải mái, vừa mệt mỏi, anh ngủ một giấc thật say, không mộng mị, quẳng đi được tất cả những dày vò lo toan trong bấy lâu nay. Lúc này Hoàng Yến mới ngắm kỹ anh. Lồng ngực anh phập phồng. Những hơi hít vào thật sâu và thở ra thật nhẹ. Nước da anh tái tái hòa trong ánh đèn ống sáng trắng nổi lên hai hàng mi đậm và dài phân ranh khuôn mặt anh thành hai phần: Phần trên là cái đầu trọc lốc càng làm rõ những nét nhăn nheo trên trán, nàng nghĩ tới cuộc đời anh vất vả gian truân. Phần dưới là một khuôn mặt thanh sáng, mờ mờ những nét râu xanh làm nổi lên đôi bờ môi, nghiêm nghị như cuộc đời người nghệ sĩ rất phóng khoáng điệu đàng mà lại rất vô tư và khó tính. Hoàng Yến thấy anh đang ngủ ngon lành, nàng để sẵn trên bàn một ít thức ăn khô và mấy chai nước mát rồi khép cửa ra về. Anh đèn điện  vàng ệch hắt hiu trong ngõ vắng soi bóng nàng đi chập choạng trong con hẻm nhỏ.

                                       

Oanh bảo Yến:
- Chị thấy em cứ ngày một đa mang!
Yến chẳng thanh minh nhưng nàng đi làm mà lòng phân tán. Thằng Khanh nhắc nhở:
- Bây giờ thì lòng nhân ái của cô đã hết việc làm, cô phải làm vì lòng tự ái của mình!
Nàng chẳng nhìn y:
- Tôi còn có gì đâu mà tự ái!
Nàng tìm được con Bé Tý chừng 14-15 tuổi đến phụ giúp việc nhà và chăm sóc Tuấn. Vết thương của anh chẳng còn gì để phải lo âu. Nó sẽ hồi phục dần thôi. Nhưng cuộc sống của anh có nhiều trắc trở. Trước đây anh phải đi nhận vẽ quảng cáo, vẽ tranh áp-phích hoặc trang trí đủ mọi nơi nhưng cuộc sống cũng chỉ lần hồi. Những tác phẩm anh hằng mơ ước vẫn còn là phác thảo hoặc mới đơn sơ trên vài trang giấy vẽ. Thời gian sáng tạo của người nghệ sĩ trong anh lại chỉ là một khoảng trống sau cả ngày quần quật mưu sinh. Anh trăn trở, dằn vặt và hay cấm cẳn. Những người hàng xóm đã quen đi cái tính khí khác thường của anh họa sĩ. Nhưng từ  hôm ra viện đến nay, một ý tưởng chợt đến là anh phải hoàn thành bức vẽ người con gái ấy. Anh không coi đó là sự trả ơn. Cái đẹp của nàng anh chợt nhận ra trong một lúc xuất thần, người nghệ sĩ chỉ nắm bắt và thể hiện nó ra chứ không thể tạo ra được cái đẹp bản thể ấy. Từ tâm hồn nàng toát ta một sự thanh cao, lòng vị tha xả kỷ tới mức nhẫn nhục… anh mới cảm mà chưa hình dung ra được thì bất chợt nguyên trạng con người của nàng đã được hiện ra trong cái dáng ấy, cái nét mặt ấy, cái nhìn đằm thắm ấy, tất cả ánh lên trong nắng chiều nhạt vàng mơ hồ ấy.
Nàng vẫn đến thăm anh, nhưng anh cũng không hỏi thăm về gia cảnh và đời sống của nàng. Lúc nào anh cũng để tâm xem có phát hiện gì thêm nữa. Dù là nàng nói cười vui vẻ nhưng sâu trong đôi mắt ấy vẫn ẩn chứa một nổi niềm riêng. Anh đã  nói thật với nàng: 
- Anh là họa sĩ, nghề nghiệp bắt anh phải quan sát thật kỹ những hình ảnh, màu sắc, những con người với dáng vẻ, điệu bộ lúc đứng lúc đi, nét mặt, làn da, mớ tóc, các bộ phận cảm quan. Nhưng riêng đôi mắt em anh thấy nó vời vợi khôn cùng!
Nàng cười:
- Trái với mấy ông cảnh sát, gặp tụi em, chủ yếu mấy ổng nhìn vào bộ áo quần và sắc mặt! – Nàng cảm thấy lỡ lời:… Mà thôi! Chuyện ai nấy biết. Nhưng em thấy anh như chẳng nghĩ gì tới mình nên em lo. Bởi thế em phải đến đây luôn.
Và giữa hai người đã thành một mối liên hệ vô hình, không gặp nhau họ thấy lòng khắc khoải.
Dần dần Nguyễn Tuấn  đã bỏ được đôi chân gỗ, anh đi lại gần như bình thường. Anh từ chối sự giúp đỡ của Hoàng Yến:
- Giờ thì anh có thể lo cho mình được! Làm sao anh có thể lo được cho em?
Nàng buồn rầu:
- Em chẳng có gì để anh phải lo đâu!
Và anh lại sống cuộc đời tự lực. Con Bé Tý nài nỉ:
- Cậu chẳng cần nữa thì thôi. Con sẽ đi kiếm việc. Nhưng cậu cho con về ở đây, con xem cậu vẽ và giúp cậu được điều gì!
Nghề của anh kiếm sống ban ngày. Nghề của nàng kiếm sống ban  đêm. Hai người ít gặp nhau. Nhưng sự cách xa về thời gian họ thấy bâng khuâng trống vắng. Gặp rồi họ muốn giúp nhau một điều gì thiết thực nhưng cả hai đều bế tắc để rồi lại day dứt và quyến luyến hơn lúc chia tay. Một hôm Hoàng Yến đưa cho Nguyễn Tuấn chiếc ví da nàng giữ từ ngày anh bị nạn:
- Em quên! Cái này em để mãi trong ngăn tủ, tình cờ hôm qua em mới thấy. Nhưng em xin lỗi anh là em đã đọc bức thư trong đó vì lúc ấy em cần biết rõ về anh. Nhưng rồi cũng chẳng biết gì hơn ngoài cái tên Nguyễn Tuấn. Vậy là đời anh còn bí ẩn hơn cả đôi con mắt của em!
- Bí ẩn của đời anh nói cho em nghe một chút là xong. Nhưng còn đôi mắt kia nói sao hết được!
“ Anh sanh dưới lục tỉnh miền Tây cũng vào một năm Thìn bão lụt. Má kể lại bà sanh anh trên chiếc ghe tam bản, lênh đênh trên sóng nước và mưa gió. Cha anh theo kháng chiến ở trong bưng. Năm 1955, cha tập kết ra Bắc lúc anh ba tuổi. Má ở nhà nuôi con chờ đợi. Ông Vũ Phong là sĩ quan quân đội Cộng hòa. Trong một cuộc tảo thanh ở vùng kháng chiến cũ, đụng quân du kích, đơn vị ông tan nát. Ông chạy đại vào một ngôi nhà ở cuối ấp, đúng nhà anh. Má thương tình mang giấu ở trong buồng. Quân du kích lục soát khắp ấp, bắt mấy người lính đem đi. Nhà anh không ai tới cả vì họ biết là gia đình kháng chiến. Má nuôi giấu ông Phong ở trong nhà mấy ngày, chờ cho êm ả, đêm tối bà lấy ghe chở ông Phong ra lộ. Bước chân lên bờ rồi ông mới dám hỏi: “Sao chị không nộp tôi cho mấy ông du kích?”. “Chồng tôi là lính Cụ Hồ, ông là lính Quốc gia. Hai bên đụng độ ở đâu sống chết thế nào tôi không trông thấy. Nhưng tôi không thể nào nhìn một người đang yên lành khoẻ mạnh lỡ làm sao ở nhà tôi!”. Ông hết hồn chạy lên lộ dông tuốt về nhà. Cha ông là người mộ đạo, lại chỉ có ông là con trai. Ông già thường đi chùa và ăn chay trường từ đó. Ông bảo con: “Người ta cứu mình có khi mang họa. Có dịp nào con phải đền đáp công ơn cứu mạng cho xứng đáng!”. Mấy năm sau quê anh là nơi tranh chấp ác liệt giữa hai bên. Chiến sự liên miên. Thôn ấp hoang tàn. Ông Vũ Phong có lần hành quân về đó đã dò tìm được mẹ con anh và đưa lên xe chở về thành phố. Anh lúc đó đã bẩy, tám tuổi rồi. Tuy ở nông thôn và đã có con nhưng gia đình khá giả, mẹ anh ít phải lam lũ nên bà rất đẹp”
Hoàng Yến chêm ngang:
- Chắc là anh giống mẹ!
Tuấn cười:
- Nhiều người cũng nói như thế. Nhưng má đẹp thua em! Dù sao được giống mẹ cũng đã là mãn nguyện lắm rồi!
“Ông Vũ Phong thường xuyên đi lại thăm nom và giúp đỡ mẹ con anh. Rồi hai người ăn ở với nhau và có con. Ông già cũng không phiền trách hay cấm cản. Ông bảo đấy là nợ nần duyên kiếp. Sau này ông Vũ Phong lấy thêm bà vợ nhỏ nhưng ông già không đứng ra cưới hỏi. Ông vẫn coi má anh là con dâu lớn. Ông ba dượng có với má anh bốn đứa con và  ba bốn đứa gì đó với bà sau. Riêng anh, ông Vũ Phong cũng coi như con ruột và muốn đổi cho anh thành họ Vũ nhưng má anh không chịu: “Vì thời cuộc mà tôi chịu lỗi với ổng chớ tôi không được để cho con nó mang tội với cha!”. Nhưng ông Vũ Phong đối xử không phân biệt anh với mấy đứa em kia. Mà anh cũng quí mến và coi ông như người cha đỡ đầu. Học hết Tú tài anh thi vào Trường Họa. Anh yêu và thôn thờ cái đẹp vì chỉ có cái đẹp thật sự của nghệ thuật mới vĩnh hằng, còn tất cả chỉ nhất thời thôi. Ở tuổi mới lớn anh tin vào công lý và căm ghét mọi bất công. Bởi thế anh sôi nổi tham gia vào phong trào đấu tranh của học sinh-sinh viên đòi dân sinh, dân chủ, đòi độc lập, tự do. Anh coi cha anh là thần tượng bởi ông đứng trong hàng ngũ những người đấu tranh quyết liệt chống bạo cường. Ông Vũ Phong không phản đối. Ông nói: “Con theo chí khí của  cha, ba không ngăn cản. Ba chỉ căn dặn con một điều là đừng để liên lụy tới cả gia đình vì dù sao thì ông bà, ba mẹ và các em con vẫn cần phải sống!”. Anh hăng hái trong các cuộc hội thảo, đi đầu trong các  đám biểu tình nhưng không bao giờ anh chịu nhận mang truyền đơn, tài liệu hay vũ khí. Có mấy lần anh bị bắt, bị nó cho ăn đòn, rồi ông Vũ Phong đến xin, nó phải thả ra vì không có chứng cứ gì cụ thể. Lúc phong trào bị đàn áp dữ, các bạn có bàn mượn nhà anh làm cơ sở hội họp của “Ban Chỉ đạo đấu tranh” vì cớ gia đình sĩ quan cỡ bự nhà cầm quyền không để ý nhưng anh một mực chối từ. Vì thế sau ngày giải phóng người ta coi anh như phần tử ăn theo, không công nhận anh có đứng chân trong tổ chức kháng chiến nội thành. Ông Vũ Phong là sĩ quan cấp tá bị đưa đi cải tạo. Có người từ dưới quê lên nhắn cho má biết có ba anh từ ngoài Bắc về tìm. Má anh vừa sợ vừa tủi hổ. Bà nói với anh: “Má không còn mặt mũi nào gặp lại ba con, chẳng lẽ vừa là vợ ông Giải phóng lại vừa là vợ Quốc gia! Bây giờ má một nách bốn đứa em con lít nhít, biết làm gì sống?! Làm sao dám vác mặt về quê! Má đành liều đưa các em con vượt biên, đến đâu cũng được. Trời thương thì sống. Bằng không thì mẹ con cùng thác với nhau. Con hãy về tìm gặp ba con, nói dùm là má quì lạy ổng xin lỗi hẹn phu thê kiếp này, kiếp sau má sẽ đền nghì. Con cũng phải thăm hỏi ba dượng con vì ổng tuy không có công sinh thành nhưng có công dưỡng dục con. Ổng là người ăn ở có tình có nghĩa!”. Anh rất thương má nhưng thật là má đã  ở thế cùng, anh không biết khuyên can má làm sao. Từ bấy đến nay anh không nhận được tin tức gì của má! Sau đó anh có dò hỏi tin tức của ba. Ra ngoài Bắc, ba được học hành và được đi du học, có học vị bằng cấp cao, về nước có địa vị lớn. Nhưng ba đã có vợ con. Vì thương má nên anh rất giận ba. Anh chẳng cần gặp ổng làm g!”
Hoàng Yến cắt ngang:
- Nếu như anh có ba đỡ đầu thì đâu có thế này!
Nguyễn Tuấn trầm ngâm:
- Trong phong trào học sinh-sinh viên thời ấy có người chưa làm được tích sự gì, chỉ hụ hợ thôi, nhưng sau này họ bốc nhau lên hoặc dựa vào dây mơ rễ má gia đình, thế là họ như diều gặp gió! Anh vừa buồn chán chuyện gia đình, vừa bất bình chuyện xã hội, lại sống độc thân, không có việc làm, anh lang thang đây đó, tụ hội đám này đám nọ. Xã hội vào lúc giao thời thì bao nhiêu điều đáng nói, khen ít chê nhiều. Thế là anh nhập vào băng đảng lúc nào mình cũng không ngờ. Chẳng có ai kiềm chế hay phụ thuộc vào mình, anh thích gì làm nấy. Ông ba dượng đi cải tạo bẩy năm mới về. Mẹ con bà vợ nhỏ của ổng cũng đã bỏ đi. Nhà rộng thênh thang. Ổng ở dưới nhà. Anh ở trên lầu. Ai làm gì tùy thích. Mỗi người có suy tư riêng, chẳng ai trao đổi với ai. Ổng như người chán đời ở ẩn. Anh được thổi lên là nghệ sĩ, phải đi hàng đầu đấu tranh cho dân chủ và tự do sáng tác. Dân chủ thì ngày trước anh đã từng đòi, bây giờ thấy vẫn cần đòi. Và anh đã sáng tác được cái gì đâu. Thế là anh hăng say sáng tác truyền đơn, khẩu hiệ… Rồi anh bị bắt quả tang với đầy đủ chứng cứ, không đổ thừa cho ai được! Người ta thẩm vấn anh: “Vũ Phong là ai?”. Anh bảo: “Là cha!”. Người ta bắt bẻ: “Sao cha con hai họ khác nhau?”. Anh như thằng cùi không sợ lở nói bừa: “Tôi đổi họ để người nọ khỏi liên can tới người kia!”. Ngày ra toà, một xâu bị kết vào tội “Lập bè đảng âm mưu lật đổ Chính quyền!” và anh vốn “xuất thân từ một gia đình ngụy quân cải tạo, không chịu giác ngộ, lêu lổng và hư hỏng, là kẻ tiếp tay…”. Tòa kêu án bẩy năm tù. Nhìn ông ba dượng mà tội nghiệp. Ông không khóc mà mặt ông đờ đẫn. Ông nghĩ: “Trước kia con đã không làm cho ba liên lụy mà bây giờ ba lại làm liên lụy cho con!”.
Nói về nỗi đau của mình mà anh cứ như chơi, chẳng buồn, chẳng giận:
- Ông ba dượng đi xuất cảnh theo diện H.O. lúc anh còn ở trong tù. Khi trở về, nhà ấy anh không có quyền thừa kế. Mình trở thành kẻ vô gia cư, lang bạt. Anh mới về trọ ở đây mấy tháng thì gặp em. Cứ như là duyên kỳ ngộ!
Hoàng Yến như bị cuốn hút vào cuộc đời éo le chìm nổi của anh, vẻ ngậm ngùi:
- Sao anh không tìm đến ba anh?
Nguyễn Tuấn vẫn sắc mặt ấy và vẫn một giọng đều đều:
- Anh đã suy nghĩ nhiều. Lúc đầu anh giận thay má vì hoá ra thần tượng của anh cũng chẳng hơn gì người đàn bà goá bụa đơn côi. Vậy mà má cứ phải khổ đau dằn vặt vì chuyện lỗi hẹn của mình để dấn thân vào nơi vô định! Rồi dần dà anh nhận ra rằng những điều trái ngang như thế thiếu gì, nó cũng chỉ là một trong đầy rẫy những tai ương lịch sử mà bao nhiêu người phải gánh chịu thôi. Chỉ có cách tự mỗi người hãy rũ bỏ đi và tha thứ cho nhau thì mới giải thoát được cho mình. Vậy là xong một chuyện. Nhưng bây giờ anh đến tìm ba để làm gì? Cho anh ư? Anh chẳng cần gì ngoài một điều duy nhất là báo cho ba biết cái giọt máu đầu của ba nó vẫn còn, nó đã lớn lên và giờ thì nó đang cằn cỗi đến thế này đây! Vậy thôi! Anh đã quen chịu đựng trước mọi biến cố của cuộc đời. Còn cho ba? Sẽ thật là nhiều điều rắc rối. Đầu tiên là nó không khỏi ảnh hưởng đến gia đình của ba đang yên ấm. Ba lại đang có chức quyền thì lại càng chỉ làm ba thêm khó xử. Ngày xưa ba là anh Giải phóng quân, ngoài khẩu súng trong tay thì chỉ còn có cái nón vải với đôi dép râu là phải giữ gìn thôi. Rủi có mất đi thì đầu trần chân đất sống vẫn yêu đời. Bây giờ trong khung cảnh mới, ai cũng phải tính đến cái còn, cái mất. Cái được phải vất vả bon chen bao năm mới có, giờ lỡ mất đi họa là chỉ tìm lại được nó ở thế giới bên kia! Mà cái thế giới u u minh minh ấy nó xa xăm mờ mịt quá, chẳng ai dại gì tới đó trừ phi là tận số! Thôi thì anh coi như đã thỏa mãn rồi: Ba có làm, có hưởng. Còn về phía ba, chắc ba cũng chẳng khổ đau gì: ba có lận đận đi tìm vợ tìm con nhưng cuộc đời dâu bể, ngàn vạn người cùng chung huống cảnh, người nọ an ủi người kia. Cái khổ đau chung ít khi làm người ta rơi nước mắt!
Anh cười nhưng nét mặt chẳng lộ vẻ vui buồn:
- Bây giờ anh như cô gái đứng đường . Anh chàng nào bí nó mới cần mình một chút thôi, ném cho ít bạc rồi đi. Chẳng ai tin mà cũng chẳng ai thương!
Hoàng Yến quay mặt đi, giọng nói run run như muốn rơi nước mắt:
- Tại anh thôi! Anh vừa theo vừa chống cả hai thì ai tin được!
 Anh cảm thấy có điều gì bất ổn, giọng anh chỉnh lại hết vẻ ngạo đời:
- Đúng! Tại tôi tất cả! Tại vì tôi là một thằng ngu! Những ngày ở tù tôi mới có thời gian suy ngẫm: Thực ra thì mình chỉ nói theo giọng điệu người ta vậy mà cứ cao ngạo tưởng như đó là phát kiến của mình. Mình chẳng có cái gì ngoài cái miệng gào to, thế là người ta đổ xô đến. Vui thì người ta vỗ tay, chán tai thì người ta đập. Trong khi mấy thằng ranh khôn lỉm rỉm đứng chờ thời!
Hoàng Yến quay lại dịu giọng hỏi rất thật thà:
- Em nghe nói người nghệ sĩ hay ngộ nhận, đó là nguyên nhân của niềm kiêu hãnh và cũng là của nỗi khổ đau tột cùng của họ, có đúng không anh?
Tuấn ngồi xuống bên nàng, giọng triết lý suy tư:
- Tình cờ mà mỗi chúng ta được ra đời rồi chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc thôi. Cái đúng, cái sai cũng tùy nơi, tùy lúc. Chỉ có lịch sử phán xét được thôi. Có người đương thời được ca tụng là vĩ đại, anh minh nhưng mới  vừa nằm xuống thì người ta đã cãi vã ngay là công ba tội bảy hay là công bảy tội ba. Bà Evita Peron là một người  đẹp và quyến rũ tới mức cả dân tộc Achentina đều thành kính tôn vinh nhưng đến khi qua đời người ta mới phát hiện ra cái dinh thự khổng lồ của vợ chồng bà là cả một kho vàng to lớn! Đó là những vĩ nhân, họ có tài mê hoặc. Nhưng lịch sử thức tỉnh mọi người. Sớm tỉnh càng hay. Lâu tỉnh thì…
Anh đứng lên đi lại, nàng hướng theo anh, rồi anh dừng lại, cười nói như đùa:
- Nó cũng giống như trai gái quá lứa muộn màng, có kết được ai thì cũng đã… hết duyên!
Hoàng Yến thở dài, nhìn anh vừa bực vừa thương. Anh vỗ vai Hoàng Yến làm lành, nói chân tình như với một người em:
- Dù sao thì anh cũng vẫn cảm ơn cây vẽ của mình. Vào trại, nhờ có nó mà anh khỏi phải làm thổ mộc. Nhiều khi được việc, ăn uống cũng khá hơn. Người ta khen anh cần mẫn hiền lành. Thực ra thì mấy thằng cầm bút trói gà không chặt có hại được ai!
Nàng chưa tin:
- Em thật chưa hiểu mấy người trí thức!
Anh tròn mắt nhìn nàng:
- Ai dám nhận mình là trí thức? Người trí thức là người có hiểu biết. Nhưng hiểu biết bao nhiêu? Hiểu biết đến đâu? Ai qui định? Người ta ngộ nhận rằng có tấm bằng đại học trong tay đương nhiên là trí thức. Anh không tin! Người ta đến với tri thức bằng nhiều con đường học vấn. Vấn đề không phải là đã ngồi trên ghế những trường nào, mà cái chính là đã thu lượm được gì. Sợ nhất là những người nhặt nhạnh từng nắm từng mớ kiến thức vương vãi nhét bừa vào túi cho phồng to lên rồi nhận mình là trí thức. Những người ấy mà có quyền thì nguy hại lắm. Chân lý trong tay họ. Lẽ phải thuộc về họ. Trong văn chương nghệ thuật càng khó hơn. Bản thân nghệ thuật là trừu tượng nên mỗi người cảm nhận khác nhau…
- Ôi! anh nói những gì em không hiểu!
- Cám ơn em! Thế là xong! Vì rồi em sẽ hiểu! Nếu như em cắt lời anh bằng một câu:
- Tôi không đồng ý! thì thật là tệ hại. Em sẽ chẳng bao giờ hiểu mà anh thì cứ lải nhải những lời phân bua với Chúa!
Anh đi về phía góc bàn, cầm lên mấy tập lịch cũ dày cộp đưa cho Hoàng Yến:    
- Đây là những tờ lịch ngược! Bảy năm – 2555 ngày. Anh giữ lại chưa được 1.000 tờ. Nó ngược ngày: từ 31-30 đến ngày mồng một! Nó ngược tháng: từ tháng chạp lên đến tháng giêng! Nó ngược năm: về lại những ngày còn trẻ! Có những lúc cần phải đi ngược thời gian để nhắc nhở mình. Ngày ấy anh chỉ vẽ sổi thôi. Đôi khi cũng ghi vài phác họa. Nhưng nó mù mờ, không có tương lai. Từ ngày về, với anh nghệ thuật thiết thực là vẽ panô quảng cáo, bảng hiệu, tranh áp phích kiểu vận động kế hoạch hoá gia đình như em đã thấy: Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có một hoặc hai con, tranh phòng chống AIDS, phòng chống cháy … Cũng có lúc anh uớc ao có một cái gì hơn thế…
Anh nhìn Yến với con mắt đầy kính phục, giọng nói trang nghiêm:
- Nhưng từ hôm gặp em, anh bất thần nhận ra cái đẹp. Cái đẹp ấy là hơn tất cả, nó tiềm ẩn nơi  mỗi con người, nó ở tận cùng sâu thẳm trong tâm hồn họ và nó phảng phất hiện ra trong ánh mắt của em. Đó là cái đẹp của lòng nhân ái, vị tha!
Anh sôi nổi nắm tay Hoàng Yến, anh nhẹ nhàng kéo bàn tay nhỏ ấm về phía trái tim mình với lòng mến cảm. Hoàng Yến nhìn anh cảm phục, yêu thương… Nàng từ từ rút bàn tay lại nói với anh giọng run run đau khổ:
- Em … chỉ là … một … con … bé đáng thương thôi!
Nàng chạy biến đi…                                   

                                       

Hai người ngày càng líu ríu với nhau. Mỗi người là nỗi nhớ nhung để có lúc bồn chồn nhưng cũng là động lực để sống cho nhau. Hẳn nhiên đó là tình yêu đối với một đôi trai gái. Nhưng với hai người này, họ không dám nghĩ tới chữ yêu. Bởi mỗi người tự thấy họ không còn gì để cho nhau nữa. Khi yêu nhau họ sẽ là của nhau nhưng họ tự thấy mỗi người không có quyền ràng buộc lẫn nhau một khi cuộc sống của mình không chủ động. Nhưng họ lại là nguồn an ủi và quyến rũ nhau. Với họa sĩ – là cuộc đời từng trải, một tâm hồn sâu lắng thâm trầm và đam mê cái đẹp thanh tao! Với nàng – cái đẹp của một tấm lòng nhân ái cao cả, chịu đựng và khoan dung hài hòa trong vóc diện kiêu sa mà dung dị.
Họ âm thầm lo lắng cho nhau nhưng rất tôn trọng đời sống riêng tư của mỗi người.
- Anh sẽ đặt tên cho bức tranh ấy là “ Người đẹp vĩnh hằng”, vì nó không còn là một cô Hoàng Yến. Nó là tổng hợp những cái đẹp nhất của người phụ nữ trên cõi đời này. Đó là người mẹ bao dung, người vợ hiền thục, là một tình yêu trầm lắng mà vẫn nồng nàn. Nó hiển hiện ở người này, người khác nhưng chẳng là một ai cụ thể. Song nó lại là em vì nó thoát xác từ cô Hoàng Yến!... Nhưng anh còn phải suy nghĩ, tìm tòi một khung cảnh nào để đặt bức hình người con gái ấy, cũng như người ta tìm vị trí để đặt một pho tượng vậy. Cảnh quan nó sẽ tôn lên cái đẹp vì theo anh nó quyết định tới một phần ba giá trị tổng thể của một tác phẩm nghệ thuật đấy!
Anh loay hoay, lúng túng. Nàng thấy thương anh:
- Anh hãy để cô con gái ấy vào một xó đi. Anh chỉ mải mê với một mình em thì chẳng xong đâu. Anh hãy đi tìm đến với thật nhiều người đang bơ vơ đau khổ, anh sẽ nhận ra trong họ những cái xấu , tốt ngổn ngang. Và trong đám người trầm luân ấy anh sẽ tìm được một chỗ cho em!
Nguyễn Tuấn giật mình: Đó là cái nền móng nguyên sơ của nghệ thuật! Nó như những chữ cái trong mẫu tự mà từ đó ta chắp lại thành từ ngữ và những từ ngữ ấy ghép lại thành những áng thơ văn. Anh nhìn Hoàng Yến với lòng cảm phục:
- Anh cảm ơn em!
Bức tranh “Người đẹp vĩnh hằng” anh mới vẽ xong phần người, tạm để đó. Anh bỏ nhiều thời gian đi khắp chốn, khắp nơi tìm mẫu những con người. Anh đã có những phác thảo vừa ý mà từ bao lâu nay anh chưa làm được. Nhiều lần anh vắng nhà năm bảy ngày liền, lặn lội về đâu đó, tìm dò cho được một ai. Lúc trở về tuy mệt mỏi nhưng lòng phấn chấn. Từ những bức ký họa anh chắt lọc thành những đề tài. Hoàng Yến lúc nào cũng lởn vởn trong trí não của anh: Khổ đau mà nhân ái, đầy đọa mà thanh cao. Anh cho Yến xem những phác thảo và nói lên những chủ ý của mình. Anh đưa ra một bức tranh với đề tài “ Giọt mồ hôi”:
- Người phụ nữ này không rõ tuổi, đang gò lưng đẩy chiếc xe rác nặng nề. Chiếc xe rác dơ dáy mà tàn tạ như rắc rác lên khối người của chị. Những giọt mồ hôi nặng nề nhỏ dọc trên đường như cô lại thành sỏi đá không tán!
Hoàng Yến nghe anh giải thích mà thấy lòng nhức nhối:
- Em không biết xem tranh. Nhưng những con người anh vẽ em gặp họ thường ngày, quen lắm, tội lắm, thương lắm vì có cái gì đấy cũng như em!
- Đó là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ!
- Cho riêng em thì anh mới chỉ vui thôi. Em ao ước anh sẽ có một phòng tranh của mình giữa một khu phố lam lũ và đông đúc để cho những người ấy được gặp lại chính mình!
Anh run run nắm chặt bàn tay Yến, mắt anh nhìn xa mơ màng. Yến biết đó là niềm mơ ước xa vời của anh và nàng nghĩ thầm: “Yến chẳng còn gì dâng  hiến cho anh nhưng Yến có thể làm một điều gì đem lại cho người nghệ sĩ khổ đau này một niềm hạnh phúc thanh cao”.

No comments:

Post a Comment