Friday, December 25, 2020

 VÀI LỜI VỚI ÔNG LÊ HIẾU ĐẰNG

                                           Nguyễn Văn Thịnh

{

 Đọc Bức thư viết trên giường bệnhcủa ông Lê Hiếu Đằng, thật đúng như lời người xưa: “Văn như kỳ nhân, quan văn như kiến nhân” (Văn là người, xem văn là biết người).

Thật lòng là trước thực trạng xã hội trì trệ bùng nhùng đang làm cho xã hội rối ren trong khi bộ máy lãnh đạo nhiều tầng ít hiệu quả lại chỉ vào cái “bóng ma tập thể” chịu trách nhiệm chung có nghĩa chẳng là ai mà nói rằng lạc quan tin tưởng thì khó thuyết phục lòng người! Trong tình cảnh một người cao niên, bệnh trọng mà lòng nặng những ưu tư thì việc diễn đạt tư tưởng lộn xộn là điều dễ hiểu. Nguyễn Trãi từng cảm khái: “Cổ lai thức tự đa ưu hoạn” (Xưa nay biết lắm họa nhiều), biết vậy mà vẫn cứ dấn thân, phải chăng đó là nghiệp chướng của kẻ sỹ mọi thời?! Tuy nhiên để những nỗi bất bình chuyển thành những suy nghĩ và hành động cực đoan là ông Đằng tự cô lập mình và sẽ chẳng thể làm gì nên chuyện!

Xin trao đổi dông dài theo mạch suy nghĩ của ông:

Một là theo ông nói “lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người (trong đó có ông) tham gia cách mạng tháng Tám và sau đó đi kháng chiến”. Điều đó rất đúng trong một thời gian lịch sử đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Thế hệ cha ông ta chống Pháp và thế hệ ta chống Mỹ. Mới đây một phóng viên dẫn lời cụ bà Trịnh Văn Bô (Hoàng thị Minh Hồ) người Hà thành ai cũng biết danh, nay vào tuổi tròn trăm. Khi cách mạng tháng Tám mới thành công nhà bà là nơi Cụ Hồ ngồi suy nghĩ viết “Tuyên ngôn độc lập”. Nghe ông Cụ khen: “Cô còn trẻ mà giàu có thế này!” thì bà nói thật lòng mình: “Cháu mang trong lòng một nỗi nhục mất nước”! Đó là câu nói tiêu biểu cho tất cả những người Việt Nam chân chính lúc bấy giờ và là cơ sở vững chắc để Cụ Hồ khẳng định với toàn dân: “Cuộc kháng chiến của chúng ta là chính nghĩa và nhất định thắng lợi hoàn toàn” trong khi không ít người yếu bóng vía nghĩ rằng cuộc kháng chiến này khác chi lấy “trứng chọi với đá”! Nhưng cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi, hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất giang sơn. Đó là sự thật hiển nhiên. Tất cả những người Việt Nam yêu nước đều có quyền tự hào và chia sẻ hạnh phúc to lớn ấy. Khổng Tử nói: “Người quân tử có thể bị lừa bởi những lời có lý chứ chẳng thể bị lừa bởi những điều xằng bậy”. Ông Lê Hiếu Đằng là luật gia, là giảng viên triết học, là người từ đội ngũ đấu tranh trên đường phố Sài Gòn lên chiến khu miền Đông sát cánh với những bạn cùng trang lứa như dòng nước vô tận từ nguồn hậu phương lớn chảy vào chiến đấu đến ngày thắng lợi hoàn toàn, lại đã cao niên, chẳng lẽ dễ bị lừa bởi một lời nói hàm hồ: “Thật sự miền Nam đã giải phóng cho miền Bắc trên tất cả các lĩnh vực”?! Ông còn trích ra ý của một nhà thơ: “Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân”. Ông có biết đó là “chế ý” của một nhà văn phương tây cách nay đã hai thế kỷ: “Không có cuộc chiến tranh nào gọi là chiến thắng với các bà mẹ mất con”? Tuy nhiên trong chiều dài lịch sử nhân loại, những cuộc chiến tranh phi nghĩa và chính nghĩa vẫn diễn ra và sự xả thân cao thượng vì chính nghĩa vẫn sáng ngời lên càng làm vững nền tảng đạo đức con người để không thể như con vật!    

 Sau khi đưa ra bằng chứng một viên chức tốt bụng ở lao Thừa Phủ Huế đã giải quyết cho ông và người bạn ra thi Tú tài II, ông Đằng đưa ra câu hỏi: “Không biết với chế độ gọi là ưu việt hiện nay có người tù nào được cho ra đi thi như chúng tôi hay không”? Tôi đồng cảm với ông rằng xã hội chúng ta đang sống mà được gọi là “ưu việt” thì quả là hơi bị ngượng! Nhưng một luật gia khoe đã đọc nhiều sách triết học kể cả Nietzche và Marx mà không nhìn ra mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng thì cái sự ngượng ấy phải nhân lên gấp mấy mươi lần! Trong hoàn cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm xâu xé, trừ những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc, còn đại bộ phận dân chúng rất căm phẫn bất bình nhưng không phải ai cũng dễ dàng đứng vào hàng ngũ đấu tranh trực diện với quân thù. Mỗi người một hoàn cảnh nhưng lòng yêu nước vẫn âm ỷ nhen nhóm bên trong chỉ chờ dịp là bùng lên cháy sáng. Thiện cảm với những người yêu nước luôn thôi thúc họ làm một điều gì đó ích lợi cho nước cho dân. Ngay như luật sư Trịnh Đình Thảo, Luật sư Nguyễn Văn Huyền, Luật sư Vũ Văn Mẫu sống trong cảnh “cá chậu chim lồng” mà trong cương vị của mình từ khi còn trẻ đã luôn tìm mọi cách làm nhẹ hoặc gỡ tội cho những người yêu nước. Trong chiến dịch Mậu Thân, không ít chiến sỹ quân giải phóng bị thương, bị truy sát nhưng được sự che chở bao bọc của đồng bào kể cả những gia đình và sỹ quan binh lính buộc lòng phải hợp tác với ngoại bang. Ông Đằng có nghĩ rằng nếu như ông phạm tội ăn cắp, hiếp dâm, cướp của, giết người thì liệu có nhận được sự khoan dung độ lượng ấy không? Là người từng đứng trên bục giảng của một trường chính trị, ông hiểu thế nào là tinh thần dân tộc? Là người làm công tác vận động quần chúng chắc ông phải nhập tâm một điều rằng nếu không hiểu được bản chất lòng tốt của quần chúng thì rất dễ làm điều vong ân bội nghĩa. Ở giữa lòng thành phố hôm nay không khó gặp những người tù nam hoặc nữ từng bị giam cầm trong những nhà tù ở Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Tân Hiệp… để ông hỏi xem nhà tù thực dân đế quốc “nhân đạo” thế nào? Hồi ký của giáo sư Trần Thanh Đạm – nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học SPTPHCM, viết về buổi đầu nhận lệnh vào tiếp quản các cơ sở Đại học phía Nam, ông Tố Hữu thay mặt Trung ương Đảng dặn kỹ rằng: “Không được làm cho anh chị em (trí thức) thấy mình nhỏ bé lại mà phải thấy mình cao cả thêm cùng với dân tộc. Trong chiến thắng chung có phần của tất cả mọi người yêu nước dù hoàn cảnh của mọi người không phải ai cũng giống ai. Các đồng chí không được trừ đi mà phải cộng thêm vào trong thành tích của mỗi người”. Tiếc rằng những sai lầm về quản lý kinh tế và tổ chức xã hội kéo dài để nhiều người dù thiết tha với nước cũng không đủ sức kiên nhẫn đợi chờ!

Hai là với những vị trí thức lớn tiêu biểu, ông Đằng rất thiếu sự cẩn trọng và nói những lờì bất kính nhằm dùng tên tuổi họ vào mục đích riêng.

Như Gs.Trần Đức Thảo mà Gs.Trần Văn Giàu từng nói: “Tôi chỉ là người dạy triết. Anh Trần Đức Thảo mới xứng đáng được gọi là triết gia”. Từ giữa những năm 1940, tên tuổi vị thạc sỹ hạng nhất về triết học của trường Đại học Sư phạm phố Ulm danh giá đã vang dội về Việt Nam qua buổi tranh luận bất phân thắng bại về chủ nghĩa Marx giữa ông với triết gia lừng danh Jean Paul Sartre. Năm 1946, khi Cụ Hồ qua Pháp, ông tích cực tham gia vào Ban thư ký giúp việc, sau đó xin theo về nước nhưng Cụ khuyên: “Chú về lúc này sẽ không có việc làm đâu”. Năm 1950, trong lúc cuộc kháng chiến ở vào giai đoạn gay go, tự thấy mình không thể đứng ngoài cuộc, ông bỏ lại cái ghế giáo sư Đại học danh giá ở Paris, bí mật qua các nước trung gian tìm về chiến khu Việt Bắc. Cho đến nay người Việt Nam mới chỉ có Trần Đức Thảo được coi là triết gia tầm cỡ thế giới. Ông Đằng chưa tìm hiểu kỹ về thân thế con người này và hẳn là ông chưa từng đọc một tác phẩm triết nào của Trần Đức Thảo và dù có đọc cũng không hiểu nổi! Cho nên ông Đằng liệt vị triết gia hàng đầu vào số những người “ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao”! Trong cương vị Phó chủ tịch Ủy ban MTTQTPHCM mời nhà triết học tới nói chuyện, ông buông lơi một câu: “Buổi nói chuyện đã làm mọi người thất vọng vô cùng về ông (TĐT)”. Ai cũng biết triết gia Trần Đức Thảo từng một thời như “người lữ hành cô độc bơ vơ” (Nguyễn Đình Thi) giữa biển đời những “con người mới”! Hẳn ông Đằng hy vọng mượn dịp này nhà triết học sẽ tuôn ra những lời bất mãn. Buồn thay là  ông không học được ở đó giá trị nhân cách của một kẻ sỹ lớn!

Như Gs.Nguyễn Mạnh Tường, cho đến nay vẫn là người duy nhất ở tuổi 23 mà chỉ trong một năm (1932) giành liền hai bằng Tiến sỹ luật khoa và Tiến sỹ văn chương ở trường đại học lâu đời nổi tiếng Montpellier nước Pháp. Mười năm trước khi Cụ Hồ qua dự hội nghị Fontaine Bleau, ông đã về nước và dứt khoát từ chối mọi quyền chức mà nhà nước thực dân chèo kéo. Ông chỉ nhận việc dạy học ở trường Bưởi (trường trung học bảo hộ) đào tạo ra những tú tài bản xứ. Ông chăm chú cho việc trồng người và bảo vệ những học trò tài năng tâm huyết (như Nguyễn Đình Thi). Để giữ cốt cách của người thầy trước áp lực của chính quyền phát xít Nhật trong việc tuyên truyền cho chủ thuyết Đại Đông Á, ông xin ra khỏi giáo giới về nhà mở văn phòng luật sư. Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch mời ông tham gia là một trong 24 thành viên đoàn đàm phán với Pháp ở Hội nghị Đà Lạt. Với cương vị là Chủ tịch ủy ban văn hóa, vị luật sư đại diện của nước Việt Nam mới đã khiến không ít đối thủ người Pháp phải rơi vào tình thế lúng túng và kinh ngạc trước những viện dẫn chính xác của ông về những điều khoản đã được ghi trong luật quốc tế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, luật sư Nguyễn Mạnh Tường không sợ gian khổ hy sinh, cùng gia đình lên chiến khu tham gia xây dựng ngành tư pháp kháng chiến cho dù là làm việc không lương. Khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, luật sư được giao nhiều trọng trách. Năm 1956, sau khi phát hiện sai lầm trong cải cách ruộng đất, tại hội nghị của Ủy ban TƯMTTQVN, ông đọc bài phát biểu rất thẳng thắn phân tích nguyên nhân dẫn đến sai lầm và yêu cầu bức thiết xây dựng một nhà nước dân chủ pháp quyền. Vào thời điểm đó ý kiến của ông khó được tiếp thu và ông bị thất sủng, gần như bị vô hiệu hóa! Tuy nhiên về đời sống vật chất với ông thì khó chứ không khổ như nhà triết học có hoàn cảnh riêng đặc biệt. Nỗi đau lớn của người trí thức chân chính mọi thời là không được phát huy hết tài năng giúp đời. Một thời gian dài sau đó, chính kiến của ông dần được sáng ra thì phẩm giá của bậc hiền sỹ ấy càng được đề cao và kính trọng. Cuối đời, năm 1989, ông được học trò và người thân mời trở lại thăm nước Pháp, vào đúng lúc có sự biến ở Đông Âu. Nhà báo Ngô Trần Đức thuật lại cuộc phỏng vấn của phóng viên báo Le Monde: Theo tâm lý thường tình, người ta nghĩ ông sẽ thực hiện “un coup pied de l’âne” (cú đá của con la). Nhưng nhân cách một trí thức chân chính không cho phép ông hành xử như vậy.

- PV: Ngài thấy chủ nghĩa cộng sản bây giờ thế nào?

- Gs.NMT: Trước hết các ông đừng lẫn lộn chủ nghĩa cộng sản, mà nhiều trí thức Pháp đã coi là hy vọng cuối cùng của loài người, với những người đã thực hiện nó.

- PV: Vậy ngài thấy các lãnh tụ cộng sản thế nào?

- Gs.NMT: Cũng như vậy, các ông chớ xếp chung các lãnh tụ cộng sản vào một gói. Làm sao có thể đặt ngang hàng Xêauxetxcu (lãnh tụ nước Romania bị lật đổ trong cuộc “cách mạng nhung” ở Đông Âu) với Hồ Chí Minh. Các ông đều biết Cụ Hồ đến khi chết vẫn chỉ có hai bộ quần áo kaki đã sờn và một đôi dép lốp cao su đã vẹt gót.

- PV: Liệu Việt Nam có như Đông Âu không?

- Gs.NMT: Đảng CSVN cũng có những sai lầm, nhưng không ai quên công lớn của Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, thống nhất, giải phóng dân tộc.

Vị giáo sư khả kính qua đời năm 1997, thọ 88 tuổi. Tang lễ của ông có các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước tới viếng và trân trọng viết trong sổ tang khẳng định: “Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức yêu nước, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam” (TBTĐCSVN Đỗ Mười).

Cũng mang cái nhãn Luật sư nhưng Lê Hiếu Đằng về tuổi tác vào hàng con cháu, về tài năng không đủ sức để đàm đạo với bậc thầy, về đức độ cứ xem việc làm thì biết, về tình cảm chỉ là chỗ sơ giao nơi xứ người, thì làm sao bậc hiền nhân dù là tây học nhưng thấm sâu tinh thần nho giáo: “Lập chí theo đạo mà còn hổ thẹn vì áo xấu cơm thô thì chưa đáng gọi là kẻ sỹ” lại dễ than phiền cả những chuyện cỏn con đã qua không đáng để bận tâm?!

Ba là ông Đằng đem chuyện báo chí, văn chương nghệ thuật thời quá khứ ra bàn luận dù chỉ là cảm tính để chứng minh cho cái lập luận của ông rằng dưới chế độ thực dân còn tốt đẹp hơn nhiều! Lứa tuổi sống vào buổi giao thời giữa hai chế độ xã hội, ai bảo dưới chế độ thực dân báo chí và những nhà báo được tự do hành nghề? Những bài báo bị đục bỏ nói lên điều gì? Những tờ báo bị tịch thu nói lên điều gì? Những tòa báo bị đóng cửa nói lên điều gì? Những nhà báo yêu nước bị điêu đứng trong lúc hành nghề, thậm chí bị tù đày sát hại nói lên điều gì? Ông Nguyễn Văn Vĩnh là người tiên phong trong làng báo chí từng bị tên mắt xanh mũi lõ trùm Sở cẩm Bắc kỳ gọi lên đe dọa: “Ngoài đảo Côn Sơn còn rộng lắm, chúng tôi dành cho anh một chỗ tha hồ làm báo”! Giới ký giả Sài thành đều biết nhà văn nhà báo Thiếu Sơn vào tuổi lục tuần mà đi đâu cũng kè kè cái túi chứa những vật dụng cá nhân cần thiết đề phòng bị tóm vào bót cảnh sát bất cứ lúc nào. Nhà văn nhà báo Vũ Hạnh năm lần bị vào tù vì ông có những bài viết thức tỉnh nhân dân đứng lên “Bảo vệ văn hóa dân tộc”. Hãy nghe lời ông tâm sự: “Sự hiện diện của đội quân viễn chinh Hoa Kỳ dẫn đến nhiều đổ vỡ nghiêm trọng trong xã hội miền Nam thời ấy vốn đã chứa đựng quá nhiều tệ nạn. Do sự lừa mị của chính sách “thực dân mới”, nhiều người sống trong xã hội lúc đó không nhìn những bọn Yankees võ trang lũ lượt kéo đến xứ này như một đội quân xâm lược, trái lại xem chúng là bạn“đồng minh” đến “cứu nguy”(!) khiến những nạn nhân nhiều khi mang tính “tự nguyện” và các thảm kịch thêm nhiều cay đắng và xót xa hơn. Tất cả xáo trộn và đổ vỡ của một thời kỳ đen tối ấy kéo dài nhiều năm đã không được sử gia nào ghi lại trung thực dầu chỉ là một mảng của cuộc sống mang tính điển hình”, nên mới có sự ra đời của “Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc” tập hợp hàng trăm nhân sỹ, nghệ sỹ tên tuổi đại diện mọi giới chức nghành nghề chính kiến như: giáo sư Dương Minh Thới, nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, giáo sư Lê Văn Giáp, giáo sư bác sỹ Ngô Gia Hy, giáo sư Nguyễn Văn Trung, nhà thơ Đông Hồ, nhà văn Thiếu Sơn, giáo sư Lê Văn Hảo, kỹ sư Trần Kim Thạch, giáo sư Vương Hồng Sển, nhạc sỹ Thẩm Oánh, nghệ sỹ Thanh Nga…  

Sau ngày thống nhất đất nước, những tàn dư xấu của văn hóa nô dịch tay sai chẳng mấy ai muốn nhớ nhưng những tinh hoa văn hóa của dân tộc và thế giới đã in sâu trong tâm thức vẫn còn nguyên đó. Mỗi thời có bối cảnh xã hội đặc trưng và những sướng vui đau khổ mỗi thời một khác thì cảm nhận của con người không giống nhau mọi lúc là điều đương nhiên. Ông Đằng hay nói những điều đơm đặt, tỷ như: Sau năm 1975, nhạc sỹ Văn Cao làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt rất hay thế mà bài ca bị cấm đến nỗi khi ông vào chơi với các nhạc sỹ miền Nam mới được nghe những bài hát của mình. Xin thưa, lúc này ông Văn Cao đã được xả hạn lâu rồi và Chủ tịch nước Trường Chinh lúc đó còn gợi ý nhạc sỹ viết quốc ca mới thì còn ai dám cấm? Đọc “Bên thắng cuộc” của thằng San hô, ông Đằng nhập tâm những điều ba xạo. Sau ngày 30/4 hầu như các gia đình ở miền Bắc đều có bàn thờ người thân chết trận, nếu không thì cũng bặt vô âm tín hàng chục năm trời thì có ai lòng dạ nào nghĩ tới mùa xuân và còn hơi sức đâu mà hát mà nghe khi bụng lúc nào cũng đói cồn cào! Thế mà có ông lớn giả giọng nhân nghĩa rằng: “Ngày 30 tháng 4 hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn” (!) Hỏi có sự tráo trở vô ơn bạc nghĩa nào hơn với những người từng đùm bọc và đổ xương máu ra cho ai ngồi trên đỉnh vinh quang quyền lực?  

Mấy năm sau này nhạc sỹ Phạm Duy trở về, dù có công nghệ quảng cáo rầm rộ nhưng sự say sưa của người nghe với những ca khúc xưa không còn như trước nữa. Chẳng phải bởi sự kỳ thị hay vận động nào đâu mà vì nhu cầu cảm thụ của lớp người mới lớn lên đã khác. Sẽ không là điều lạ đến một ngày nào nhạc Trịnh cũng bớt dần “fan” hâm mộ. Tuy nhiên giai đoạn lịch sử nào cũng để lại những bài ca vượt thời gian ghi nhận những cảm xúc một thời. Ngoài những bài hát không chỉ ông Đằng đã nhập tâm thì những bài ca như “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi, “Sông Lô” của Văn Cao, “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận, “Lên ngàn” của Hoàng Việt, “Quê hương anh bộ đội” của Xuân Oanh, “Bài ca hy vọng” của Văn Ký, “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ… vẫn làm rung động lòng người. Tiếc rằng bên cạnh đó về mặt văn chương học thuật vẫn chỉ là những con chim cánh cụt lạch bạch từng bước há miệng đòi ăn! Bảo rằng do chế độ kiểm duyệt khắt khe thì hãy tìm xem những tác phẩm bị thu hồi sau khi phát hành có để lại tiếng vang gì? Hãy cứ cho người ta đọc cũng chẳng hại chi. Những tác phẩm được tung hô nhất thời ngoài sự được dùng vào mục đích hạ thấp ý nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng thì còn gì đọng lại trong lòng người đọc? Trách ai? Những sự kiện lịch sử hừng hực vừa cao thượng vừa đau thương cả loài người khâm phục và chia sẻ. Những thân phận con người hiến thân tới mức tuyệt vời và cả những thân phận bất hạnh trong cơn biến động xã hội ở đâu cũng gặp. Viết để con người nhận ra điều ác mà tránh, nhận ra điều thiện mà làm. Viết để con người yêu nhau hơn, yêu đất nước mình hơn, chung lưng xây dựng một xã hội hòa bình, nhân ái, bình đẳng, tự do. Vậy chỉ còn trông vào tài năng và tâm huyết của người viết thôi. Tâm và tài của cá nhân nằm trong truyền thống văn hóa của một dân tộc. Truyền thống văn hóa thì dân tộc nào cũng có nhưng vấn đề là ở cái tầm. Làm sao để mỗi con người lớn lên thì tầm văn hóa của dân tộc mới lớn lên được. Đấy là điều trông đợi ở tương lai. Trước hết ở những người được gọi là trí thức phải hết lòng vun vén bồi đắp dần lên.   Bây giờ người ta cứ trương lên cái bảng hiệu “dân chủ tự do” để nhằm vào những ý đồ chính trị. Một ông nào đó không biết đại diện cho ai tung lên mạng rằng quyền tự do dân chủ của con người dưới thời thực dân thống trị còn hơn gấp nhiều lần dưới chính thể gọi là dân chủ cộng hòa! Xin trích ra một đoạn trong bức thư của thạc sỹ triết học trẻ Trần Đức Thảo lúc bấy giờ từ Paris gửi về Hà Nội sau ngày cách mạng tháng Tám thành công: “… Khi nhà cầm quyền Pháp cho phép những thanh niên Việt Nam gia đình khá giả vào theo trung học và đại học là hy vọng rằng họ theo học Pháp mà quên đi những ý niệm yêu nước của các nhà nho thời xưa và sẽ đứng về phía người Pháp ở thuộc địa hợp thành một giai cấp thống trị mới Pháp-Nam, có học vấn như nhau, quyền lợi cũng giống nhau. Nhờ đó người Pháp sẽ có thể đứng vững ở nước này…”. Tất nhiên tầng lớp trí thức tay sai ấy được bình đẳng trong hệ thống cai trị thực dân. Nhưng với những người trí thức không chịu cúi đầu vâng dạ ngoại bang thì chúng thẳng tay trừng trị như Trần Cao Vân, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Thái Văn Lung, Nguyễn Ngọc Nhựt, Phạm Ngọc Thảo… Và với quảng đại dân chúng thì sao? Đảng Cộng sản không thể đơn phương làm nên chiến thắng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng chỉ là người thức tỉnh, vận động, đoàn kết, tổ chức và luôn đứng ở hàng đầu đấu tranh quyết liệt với kẻ thù để giành lại độc lập tự do cho tổ quốc và nhân dân. Tuy nhiên giành chính quyền thì dễ mà xây dựng một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ không là chuyện dễ và cần có thời gian để cả thượng tầng lẫn hạ tầng cùng chuyển động. Tôi nêu ra đây một đoạn viết của học giả Phạm Quỳnh: “Trong bài diễn thuyết nói về “Tiền đồ nước Nam” nhà văn Marquet viết: “Quan trường nước Nam không ra gì là dân An Nam cũng không ra gì. Dân nào quan ấy thật đáng lắm. Tôi có biết nhiều ông quan làm việc đứng đắn và cũng muốn hết sức mưu lợi ích cho dân, chỉ vì dân gian lắm sự lôi thôi, nay tố tụng, mai kiện cáo, kiếm chuyện mà làm hại nhau, rồi cứ kìn kìn đem lễ đến cửa quan. Thế là dân cũng xấu chứ không phải chỉ là quan xấu. Nay muốn sửa đổi phải sửa đổi cả dân, vì dân không biết gì. Nếu cứ đổ tội cho mấy người đầu sở thì chẳng hóa ra tiện quá dư? Vả lại các ông có muốn tôi nói thực câu này: Mỗi người An Nam là một ông quan ngầm đó, ai cũng có hy vọng làm quan hết cả”. Ấy cái thông tật của dân mình là đó. Dân xấu như thế thì trách chi quan chẳng ra gì. Nhưng mà quan trường đã không biết tự sửa mà quốc dân cứ giữ mãi cái thói mơ hồ như thế thì vận nước đến thế nào? Xin mọi người hãy suy nghĩ và tự vấn mình!

Thật tình không ít người nhột lòng khi cứ bị nghe nhiều lần lời nói kinh viện sáo rỗng: “Dân chủ XHCN gấp vạn lần dân chủ tư bản”! Hỏi gần trăm triệu người Việt Nam đã ai được sống dưới chế độ tư bản thật sự hoặc là dưới chế độ XHCN thật sự chưa?! Tuy nhiên chế độ tư bản ở nước này nước nọ với trình độ khác nhau thì số ít bà con ta cũng được ngó qua như cưỡi ngựa xem hoa, dù sao cũng sơ bộ nhận ra cả những điều hay dở. Nhưng chế độ XHCN thì dưới gầm trời này chưa ai thấy được hoặc có lúc ở đâu đó ngụy danh, cuối cùng thì lòi ra cái sự “cáo mượn lông công”! Đến nay ai cũng biết CNXH nếu có cũng chỉ là mục tiêu định hướng mà trên đường đi tới đó còn khúc khuỷu quanh co trầy trật gian nan lắm thì làm sao người dân có thể được hưởng ngay thành quả ấy?! “Chúng ta phải nhận thức lại một số vấn đề trước đây” là tinh thần nghị quyết của Đảng cầm quyền chớ không phải là phát hiện của ông Đằng! Từ đâu có “đổi mới tư duy” và công nhận “kinh tế thị trường”…? Đáng buồn là “đổi” thì có mà chưa thấy “mới” vì những bước đi loanh quanh luẩn quẩn cứ như là dậm chân tại chỗ! Kinh tế thị trường vừa rút ruột kinh tế quốc doanh, vừa làm rối loạn thị trường để cái thắt lưng của người dân dần ngắn lại trong khi cái thắt lưng của các ông quan và bọn gian thương cứ dài ra. Sinh hoạt xã hội có bước tiến dài hơn về dân chủ tự do dù còn dè dặt là điều cần thiết. Đó cũng có thể là nguyên nhân khiến ông Đằng ở lúc gần đất xa trời không còn lòng nào chịu nổi!

Bốn là vấn đề độc lập dân tộc, cụ thể là mối quan hệ với ông bạn lớn láng giềng. Tình cảm giữa hai bên có truyền thống sâu xa lâu đời thế nào ai cũng biết. Một thời kỳ hai quốc gia đều bị ngoại bang xâu xé nên phải dựa vào nhau mà nước nhỏ có nhẹ dạ cả tin. Bài học lịch sử thì nhiều, đến người bình dân ít học cũng thuộc làu truyền qua nhiều đời con cháu. Chuyện vua Thục Phán cầu an, cho con gái Mỵ Nương gá nghĩa châu trần với Trọng Thủy con vua Triệu Đà là sập cái bẫy “diễn biến hòa bình” để đến nỗi nước mất, nhà tan! Chuyện nhân lúc triều chính nhà Trần suy thoái, phản thần Hồ Quý Ly cướp ngôi vua gây “chính sự phiền hà”, tưởng cậy tài tổ chức quân sự mạnh và chế được súng thần công mà “lòng dân oán hận” thì khi “quân cuồng Minh thừa cơ gây hấn” cha con nhà Hồ đều bị giặc bắt lưu đày biệt xứ, bỏ xác quê người! Cha ông ta để lại nhiều tấm gương ứng xử uyển chuyển khiêm nhường trong nhiều tình huống. Năm 1946, giữa lúc tình hình trong nước rối ren, Cụ Hồ qua Pháp đàm phán hòa bình chỉ dặn lại một câu với cụ Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, ý rằng mọi chuyện đều có thể nhân nhượng nhưng “độc lập chủ quyền” là điều bất biến. Những bậc lão niên, những nhà trí thức biết làm gì cho lớp trẻ nhận chân sự thực. Đành rằng cần phải có cách ứng xử đúng mức vừa giữ thể diện quốc gia, vừa để thức tỉnh những người thờ ơ tới vận nước, vừa tạo thời dựng thế trong việc phòng thủ quốc gia. Đó là việc của toàn dân nhưng trước hết là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo quốc gia. Lão Tử nói: “Những gì có lợi cho nước chẳng thể phơi bày cùng dân”.

Năm là ông Đằng nói rằng đã qua “những trải nghiệm cay đắng” và đến lúc phải “tính sổ”, “thanh toán” với Đảng CSVN. Là người có học và đã bước qua cái ngưỡng tuổi “nhi nhĩ thuận” rồi mà ông nói nhiều điều nghe chẳng thuận tai! Ở thành phố này còn rất nhiều người biết rõ quá trình hoạt động của ông. Thời điểm Mậu Thân, trước nhu cầu mở rộng mặt trận nhân dân chống Mỹ, Đảng Cộng sản chủ trương thành lập mặt trận thứ hai là “Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam”. Ngoài những nhân vật tiếng tăm uy tín xã hội lớn cũng cần có đại diện của giới thanh niên trí thức mà lúc đó anh sinh viên Lê Hiếu Đằng là cơ sở dễ ngụy trang của tổ chức Đảng lãnh đạo phong trào sinh viên học sinh thành phố. Nhờ có uy tín và sự đỡ đầu của Đảng Cộng sản mà ông Đằng mới được ngồi chung chiếu với những vị trưởng thượng bậc thầy danh vọng hàng đầu xã hội miền Nam lúc đó như Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Thích Đôn Hậu, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn Văn Kiết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị… Rồi anh chàng sinh viên trẻ lại được ông Tám Chí (Huỳnh Tấn Phát – một trí thức cách mạng nhân cách lớn) dìu dắt và kết nạp vào Đảng Cộng sản tại căn cứ “R”. Đáng buồn là anh sinh viên Đằng không sáng mắt để chỉ cần học được một phần phẩm giá nhân cách lớn của vị trí thức cách mạng bậc thầy! Cũng như lớp thanh niên tài năng yêu nước thời đó đi vào kháng chiến, mỗi người một việc và nhiều người đã hy sinh như nhà thơ Lê Anh Xuân, nhà văn Nguyễn Thi, nhạc sỹ Hoàng Việt… trong khi ông Đằng được trong số những người hạnh phúc trở về thành phố với tư thế người chiến thắng. Ngay giữa thành phố hôm nay, bao nhiêu bạn bè đồng đội trong đó không ít những bậc đàn anh cha chú đã không được may mắn như ông, vẫn đang sống bình lặng trong tuổi già hoặc còn vật lộn trong cuộc mưu sinh. Vậy thì ai mang nợ ai? Tại sao mọi người vẫn vui vẻ chia sẻ cùng nhau mà không nghĩ tới chuyện “tính sổ”, “thanh toán” với ông? Tôi luôn nhớ lời hát ru của mẹ từ thuở thiếu thời: “Giọt nước chảy vào muôn giọt khác/ Sẽ biến thành biển nước mênh mông/ Nếu là chỉ một giọt trong/ Sẽ tan thành chút hơi không còn gì/ Chân con mà thẳng bước đi/ Thì đường sẽ rộng thêm vì người đông/ Chân con mà bước đi cong/ Thì đường rậm cỏ vì không chân người/ Một cành hoa đẹp chơ vơ/ Đừng ra giữa lối dại khờ khoe tươi/ Một tia lửa trước gió trời/ Đừng khoe mình sáng trên đời bay cao…”. Mẹ tôi giờ đã khuất xa mà lời ca vẫn còn vang động thiết tha bên lòng!

Ông Đằng nói: “Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” là sự thoát xác thật sự làm người tự do dù cho sự cai trị là người da vàng hay da trắng (!). Thậm chí điều đau khổ bi thảm nhất là hệ thống cai trị chính là người của dân tộc đó”! Không hiểu lúc viết những dòng này trạng thái tinh thần của ông Đằng ra sao? Lịch sử quá xa xếp lại, hãy nhìn gần hai thế kỷ qua, nhân dân ta từng dưới sự cai trị của cả người da trắng, da vàng. Nửa thập niên rên xiết lầm than dưới ách “phát xít” Nhật. Thời gian hơn thế kỷ dưới sự cai trị của “đế quốc sài lang” Pháp, Mỹ với “biết bao nhiêu nhục hình”. Không chịu được thì toàn thể đồng bào mới “tuốt gươm vùng lên” cùng nhau “trả mối thù chung” để xây dựng “nền dân chủ cộng hòa”. Nhà văn đáng kính Thiếu Sơn tâm sự: “Bọn xâm lăng không nhằm cá nhân tôi mà xúc phạm. Chúng đã xúc phạm tới cả một dân tộc! Tôi thấy tôi không thể tách rời khỏi dân tộc mà có được sự kính nể của ngoại bang”. Vì tổ quốc, vì dân tộc ông đã dấn thân. Vậy vì sao sinh viên Lê Hiếu Đằng lại tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người yêu nước và rời bỏ gia đình lên chiến khu tham gia kháng chiến khi ông đang sống “dưới sự cai trị của những người da trắng”(?) để nhận vào nỗi “đau khổ bi thảm” vì sống dưới sự cai trị của “chính những người là dân tộc của mình”! Giận quá mất khôn hay là sám hối? Hình như ông thầy dạy triết lẫn lộn giữa những “mâu thuẫn nội bộ” với những “mâu thuẫn đối kháng” nên đã không tìm được giải pháp nào thích hợp? Trong quá trình đấu tranh lâu dài, vào lúc gay go quyết liệt nhất đều có những cánh chim rơi rụng lìa đàn. Như sau Tết Mậu Thân, tiếp đến Bác Hồ qua đời, tình hình thật bi đát và đen tối, không ít người kháng chiến từ du kích địa phương tới cán bộ thoát ly lâu năm hoang mang giao động bi quan chạy ra “chiêu hồi” về với cái gọi là “chính nghĩa quốc gia”. Thực ra là giữa cái sống và cái chết họ chỉ đi tìm con đường sống thôi! Nhưng sau cơn mưa trời sáng lại. Cách mạng vẫn đi lên. Bối cảnh xã hội bây giờ khác nhiều, tạo nên tình thế mới: Sự sụp đổ của hệ thống XHCN kéo theo sự đổ vỡ niềm tin lý tưởng. Sự cạnh tranh để tồn tại giữa các quốc gia rất quyết liệt khiến các mối liên kết trở nên lỏng lẻo. Kinh tế thị trường đã thành con dao hai lưỡi để các quốc gia có những chính sách hai mặt thất thường. Trong khi nước ta dù có hòa bình nhưng không vững chắc. Quá trình đổi mới diễn ra chậm chạp với nhiều lực cản. Tổ chức chính quyền các cấp non yếu và thụ động. Luật pháp chưa hoàn chỉnh lại thiếu nghiêm minh. Khoảng gian cách giữa giàu nghèo càng rộng. Hệ thống thông tin đa chiều nhiễu loạn. Nội tình phân hóa… Tất cả tác động liên tục từng ngày tới mỗi cộng đồng và tới từng người. Lại có một lớp người hoang mang bối rối “chiêu hồi” kiểu mới – Chiêu hồi để thoái thác trách nhiệm đảng viên hy vọng tìm chân trời mới dưới danh xưng là đi đòi dân chủ, tự do, đa nguyên, đa đảng. Những người bất đồng, bất bình, bất mãn cùng với những phần tử cơ hội hợp thành phe đối lập được sự cổ vũ về nhiều phương diện của những thế lực quốc tế đa dạng rất giàu và mạnh về công nghệ thông tin nhằm những mục đích sâu xa. Hiển nhiên đang là thử thách khắc nghiệt với Đảng cầm quyền.

Thật ra vấn đề đa nguyên đa đảng không có gì là mới ngay ở nước ta. Từ đầu thế kỷ XX, các tổ chức đảng kiểu mới manh nha hình thành. Đảng “Việt Nam quốc dân” của Nguyễn Thái Học là đảng cách mạng thực sự đầu tiên dám đương đầu với cường quyền nhưng sớm bị đàn áp, tan rã, thoái hóa và biến chất. Sau đó cả nước đều có đa đảng, đa nguyên nhưng không đảng nào qua mặt được “đảng thực dân” và không “nguyên” nào trụ được nếu trái ý ông chủ ngoại bang. Duy chỉ có Đảng CSVN đã vượt lên tất cả, nhấn chìm tất cả mọi thế lực cản đường đi tới mục tiêu thống nhất, độc lập và hòa bình, xây dựng xã hội tiến bộ văn minh. Trên thế giới này không chỉ một Việt Nam độc đảng! Hiến pháp là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hòa bình ổn định – trước hết là ổn định chính trị. Nhãn tiền, hiến pháp LiBi, Ai Cập, Xyri, Ucraine có phải là hiến pháp cộng sản đâu mà vẫn bị xé toạc đi với sự ủng hộ nhiệt tình của các nước “dân chủ” hàng đầu! Dân chủ tự do vừa là mục tiêu vừa là khát vọng của mọi dân tộc và mỗi con người. Mỗi quốc gia tùy theo nền tảng văn hóa và hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có những bước tiến dài ngắn trong sự ban bố những quyền tự do dân chủ. Nhưng nó mãi như đường chân trời để nhân loại hướng tới. Điều cần nhận rõ là: Người dân có quyền công khai phát biểu chính kiến của mình nhưng quyết định cuối cùng là quyền của cơ quan lập pháp. Quốc hội chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc mà không chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai. Người đứng trong một tổ chức phải chịu trách nhiệm về hành vi và lời nói của mình trước tổ chức ấy. Cổ nhân dạy: “Vua lấy dân làm trời. Dân lấy ăn làm trời”. Điều cần thiết nhất với một dân tộc vừa thoát khỏi chiến tranh là cơm no, áo ấm, độc lập, chủ quyền mà điều kiện tiên quyết phải là hòa bình ổn định. Còn như những sự bình đẳng, dân chủ, tự do, bác ái, văn minh… là những mục tiêu tiến bộ nhân loại phấn đấu không ngừng và không bao giờ thỏa mãn.  

Người xưa dạy: “Quân tử cốt ở cái gốc. Gốc có vững thì đạo mới nảy sinh”. Những người đã tự bứng cái gốc của mình đi thì chẳng thể lôi kéo được ai! Chẳng dấu nổi người khi nhiều vị đầu trò phất cờ đối lập hiện nay từng được hưởng quá nhiều dân chủ tự do thậm chí còn được nhà nước ưu ái ngơ đi những điều khuất tất để quý vị “hạ cánh” an toàn trong khi nhân dân còn gian truân vất vả; đến lúc hết thời rồi thì quý vị kích động xã hội dưới cái chiêu bài đòi “dân chủ tự do” cứ như là người thương dân yêu nước lắm! Không ai phủ nhận trong quá trình điều hành xây dựng đất nước, Đảng cầm quyền mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng để đất nước lâm vào trì trệ không xứng tầm với các nước bầu bạn chung quanh mà sự sửa chữa điều chỉnh quả là chậm chạm, đặc biệt không ít người cầm quyền các cấp tỏ ra vô cảm trước những yêu cầu chính đáng của nhân dân, lại thiếu gương mẫu trong lối sống, tự tung tự tác thao túng thu vén cá nhân, khi bị phanh phui thì trên che cho dưới, dưới bịt cho trên, “nghiêm trị” bằng cái án nhẹ hều hoặc là “xử lý nội bộ” (!) dưới cái lá chắn “có nhiều công lao thành tích” (?)  để lòng dân bất bình công phẫn! Nhìn lại lịch sử hơn một ngàn năm tự chủ của nước nhà, trải tám chính triều từ Ngô đến Nguyễn, triều Đinh ngắn nhất được 12 năm, triều hậu Lê (do Lê Lợi khởi nghiệp) dài nhất được 360 năm nhưng chỉ 100 năm đầu có thể gọi là thịnh trị. Về sau bởi không chú trọng đào tạo những minh quân hiền thần, lại dung dưỡng lũ u vương gian thần, giao sự nghiệp cơ đồ vào tay bầy mọt dân hại nước, để triều chính đổ nát, xã hội nhiễu nhương, người trong nước xâu xé lẫn nhau gây họa chia rẽ Bắc-Nam, thừa cơ lũ người hướng ngoại mở cửa rước giặc vào nhà làm cho nước non nghiêng ngả. Đấy là nỗi đau hằn sâu trong tim óc mỗi người dân Việt. Bởi thế đã thành truyền thống, các bậc lão niên gia trưởng chú trọng việc dạy cho con cháu thông hiểu lịch sử nước ta mới có lòng thương nước yêu nhà, mới biết siêng học siêng làm để vun đắp thêm vào cái nền xã hội tổ tiên đã gây dựng nên mà bảo tồn xã tắc giống nòi.

Điều cuối cùng muốn nói với ông Lê Hiếu Đằng là không ai trói cột được ai vào một tổ chức. Tin thì yêu, không tin thì bỏ là quyền của mỗi người. Dân gian có câu “giữ kẻ ở chứ không giữ được người về”, chẳng ai ràng buộc được ông. Tính trung thực lúc nào cũng cần. Nhưng lúc khó khăn mới cần đến lòng trung thành giữ cho lòng không chao đảo. Ông nói rằng có 45 năm tuổi Đảng, lại từng dạy trường Đảng mà ông “phủ định sạch trơn” mọi thành tích của Đảng dựng lên bằng bao nhiêu máu xương của đồng chí đồng bào! Ông nắm vững nguyên tắc xây dựng Đảng sao lại xui nhau, hè nhau bỏ Đảng? “Có nhiều người đến gặp tôi và chán nản đòi ra khỏi đảng”! Đòi ra khỏi đảng sao lại đến gặp Lê Hiếu Đằng? Đứng giữa hàng quân trong lúc đang chỉnh đốn đội ngũ mà tung hô “giải tán đi” có đồng nghĩa là “phá rối” gây náo loạn? Tác dụng hiển nhiên, một ông nhà báo lão làng cười khà khà hứng lấy: “Tôi thấy ông Lê Hiếu Đằng có 45 tuổi Đảng mà kêu gọi thành lập đảng Dân chủ xã hội thì tôi hưởng ứng” và ra tuyên ngôn kêu gọi “phá xiềng”!

Một người bình thường cũng biết thế nào là tự trọng. Cố tình gây rối nội bộ là ác tâm ác ý, nói chi tới lòng tự trọng? Với người trí thức lòng tự trọng là biểu hiện tối thiểu của nhân cách. Nhân cách là cốt lõi của liêm sỉ. Bằng những việc làm như thế, ông Đằng đã tự bôi lem danh dự của mình! “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Những người hoạt động đồng thời với ông thì biết rõ cái “da” và cái “tiếng” của ông.

Cụ Hồ nói: “Một người tốt không thể tốt mãi nếu không luôn biết sửa mình. Một tổ chức mạnh chưa hẳn mạnh mãi nếu không còn được lòng dân”.

Giáo dục–Rèn luyện–Kiểm tra–Chỉnh đốn–Xử lý (biểu dương hay kỷ luật) là một quá trình liên hoàn chặt chẽ để xây dựng cá nhân cũng như tập thể mà được thực thi nghiêm nhặt, thường xuyên thì một con người không thể thoái hóa, một đoàn thể không thể tan rã được.

       Tuần báo Văn nghệ TPHCM

                                                      (Số 269 ngày 5/9/2013)

                                    a{b

Monday, May 25, 2020

PHẬN NƯỚC, PHẬN CỜ

PHẬN NƯỚC, PHẬN CỜ

Nguyễn Văn Thịnh

Trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt đã qua, người Việt Nam không dễ chọn một lá cờ theo tâm nguyện của mình. Nhưng khi đất nước đã thống nhất độc lập rồi thì quốc kỳ không thể theo ý của một ai, cũng không thể đại diện riêng của phe này phái nọ. Nó được định đoạt bởi quyền lực của nhân dân thông qua hiến pháp.
Người Việt xưa không có khái niệm “quốc kỳ”. Bà con ta quen gọi “cờ vua” – biểu trưng cho một hoàng triều hoặc một vương triều và “cờ xí” – biểu trưng cho một đạo quân. Cờ và xí thường có ký tự bằng chữ Hán. Trong các dịp lễ hội còn được trang trí bằng những lá cờ vuông ngũ sắc có diềm tua và những giải phướn đủ màu.
Sau khi Pháp bình định xong Đông Dương, lá cờ tam tài ra đời từ thời cách mạng 1789 ngạo nghễ phủ khắp xứ Đông Pháp xa xôi. Sang thế kỷ XX mới thấy xuất hiện những lá cờ biểu trưng một đoàn thể, một chính thể, một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Để tìm hiểu xuất sứ và ý nghĩa của những lá cờ biểu trưng đáng nhớ xuất hiện trong lịch sử Việt Nam cận hiện đại, người viết sưu tra tư liệu, đọc hồi ký của nhiều nhân vật lịch sử, tham khảo ý kiến của hiếm hoi vị lão niên từng là chứng nhân qua các thời kỳ, giới thiệu với bạn đọc. Dù chưa thỏa ý nhưng chí ít cũng giúp bạn đọc hiểu được phần nào.

1/ Cờ đỏ sao vàng:
Khởi thủy, lá “cờ đỏ sao vàng” (ngôi sao vàng năm cánh nằm chính giữa nền đỏ) xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) lúc ấy là xứ Cochinchine trực trị của Pháp. Dù bị dìm trong biển máu nhưng lá cờ thật sự là biểu tượng của truyền thống yêu nước Việt Nam, ý chí quật cường đấu tranh giành thống nhất non sông, độc lập quốc gia và chủ quyền dân tộc.
Theo Sơn Tùng thì tác giả của lá cờ là nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến (5/3/1901 – 28/8/1941, quê Hà Nam), là một trong tám chiến sỹ bị giặc Pháp tử hình ở Ngã ba Giồng, Hóc Môn. Khi phác họa lá cờ tổ quốc, tác giả giải thích trong thơ:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ-nông-công-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Theo Lê Tú Lệ thì tác giả là nhà cách mạng Lê Quang Sô, quê Gò công, Mỹ Tho.
Lúc đầu, một số người cực đoan quyết liệt phản đối, tới mức đòi tử hình người “vẽ” ra lá “cờ đỏ có sao vàng năm cánh” vì theo họ, cờ cách mạng chỉ có thể là “cờ đỏ búa liềm” biểu trưng của phong trào cộng sản quốc tế! Nhưng rồi cũng qua. Việc xác minh những sự kiện lịch sử trong điều kiện hết sức khắc nghiệt thật vô cùng khó khăn vì sự việc phải giữ kín tuyệt đối mà chứng nhân phần lớn đã hy sinh trong chiến đấu hoặc theo quy luật nhân sinh và người còn lại thì khiêm nhường không muốn kể công mình. Lá “cờ đỏ sao vàng” theo cao trào cách mạng từ Nam ra Bắc, lại từ Bắc vào Nam. Vượt bao gian khó hy sinh, lá cờ tung bay trên khắp non sông Việt Nam từ địa đầu phía Bắc tới cực Nam tổ quốc kêu gọi những ai con Lạc, cháu Hồng hãy kề vai sát cánh cùng đứng lên giành độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc. Tại “Quốc dân hội nghị” họp ở Tân Trào chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đã đề xuất lấy “cờ đỏ sao vàng” và bài hát “Tiến quân ca” làm biểu trưng cho nước Việt Nam mới.
Cách mạng tháng Tám thành công. Sau non thế kỷ mất nước, lần đầu tiên người Việt Nam được hưởng quyền “phổ thông đầu phiếu” bầu ra cơ quan lập pháp quốc gia. Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, thống nhất họp kỳ đầu tiên vào ngày 2/3/1946, quyết định lấy tên nước là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, lấy lá “cờ đỏ sao vàng” làm biểu tượng quốc gia và bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao làm quốc ca. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa”. Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trên trường quốc tế, phái đoàn Quốc hội của nước VNDCCH do Phó trưởng Ban Thường vụ Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Cộng hòa Pháp quốc (từ 16/4 đến 23/5/1946) đã giương cao lá cờ đỏ sao vàng tại quảng trường La Nation – Paris (Palace de La Nation), trước sự chào đón nồng nhiệt của đông đảo bạn bè Pháp và bà con Việt kiều yêu nước (Cục văn thư và tư liệu nhà nước). Dưới ngọn cờ ấy toàn dân Việt Nam “thề đem xương máu hết lòng chiến đấu cho tương lai”, đã lập nên bao chiến công kỳ tích để có được một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, và độc lập. Năm 1954, lá cờ được phất phới tung bay trên chiến trường Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, đồng thời làm dấy lên cao trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên toàn thế giới.
Ngày 30/4/1975, trời Sài Gòn lại ngợp bóng cờ đỏ sao vàng, chứng kiến sự bất lực của đội quân viễn chinh hùng hậu nhất trong lịch sử loài người cùng với đội quân tay sai hàng triệu người thảm bại, trước sự kính phục của nhân dân yêu chuộng tự do công lý trên toàn thế giới.
Quốc hội khóa VI họp ngày 24/6/1976, quyết định đổi tên nước là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và đều nhất trí lấy lá “cờ đỏ sao vàng” làm biểu tượng quốc gia và bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao làm quốc ca.
Trong lịch sử Việt Nam, đó là lá cờ duy nhất biểu tượng cho một nước Việt Nam thống nhất và độc lập.
Trong lịch sử loài người có lá cờ nào biểu trưng cho lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất giành độc lập tự do, lại trải qua bão tố phong ba, thăng trầm mà oanh liệt vẻ vang như thế?

2/ Cờ long tinh:
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi bình định xong xứ viễn đông, người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp, gồm các vùng lãnh thổ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam kỳ (Cochinchine), Campuchia, Lào, và Quảng Châu Loan (nhượng địa của nhà Thanh). Hà Nội được đặt làm thủ phủ xứ Đông Pháp xa xôi. Riêng ba vùng lãnh thổ An Nam, Campuchia và Lào, được người Pháp cho duy trì chế độ quân chủ dù chỉ là về hình thức vì trên mỗi ông vua còn có một nhiếp chính quan người Pháp gọi là Khâm sứ quyết định mọi việc kể cả đặt ai ngồi trên cái ngai hoàng đế. Họ để cho mỗi vương triều được có một lá cờ làm biểu tượng riêng. Cụ thể hoàng triều An Nam kể từ đời vua Thành Thái (1889-1907) có “long tinh kỳ” (hai giải bên màu vàng, giải giữa màu đỏ), mang ý nghĩa trên đất hoàng triều này có dòng máu của người Lạc Việt và Quốc thiều là bản “Đăng đàn cung” (Không có lời ca). Thực sự “long tinh kỳ” chỉ được thượng lên tại hoàng thành Huế và vùng lãnh thổ Trung kỳ hoặc theo nhà vua mỗi khi xa giá, nên chỉ xuất hiện đôi lần ở Bắc kỳ, chưa từng được xuất hiện ở Nam kỳ. Vì thế “long tinh kỳ” không thể là biểu trưng cho một quốc gia Việt Nam thống nhất và độc lập.

3/ Cờ quẻ ly:
Thời kỳ đầu của Thế chiến II, chỉ sau chín tháng tuyên chiến với Đức quốc xã, đế quốc Pháp mau chóng đầu hàng. Ngày 25/6/1940 Pháp chính thức mất nước! Chính quyền thực dân ở Đông Pháp xa xôi vội vàng mở rộng cửa rước quân phát xít Nhật vào! Để rảnh tay lo việc chiến tranh, Nhật sử dụng Đông Dương như một căn cứ tiền phương mở đường hành quân và cung cấp hậu cần cho vùng Đông Nam Á miễn là bộ máy cai trị thực dân ở đây muốn tồn tại phải phục vụ đắc lực ý đồ của Nhật. Chính quyền tay sai bản sứ nhẫn nhục cam phận bù nhìn. Nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh một cổ ba tròng (đế quốc Nhật, Pháp và Phong kiến tay sai), càng thêm điêu đứng! Giữa năm 1944, nước Pháp được quân Đồng minh giải phóng, cùng với sức phản công mãnh liệt của Hồng quân Liên Xô trên mặt trận Đông và Tây Âu, phe trục phát xít đến ngày tàn! Tháng 2/1945, Thủ tướng Nhật Bản–Hoàng tử Fumimaro Konoe, viết thư trình Hoàng đế Hirohito: “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại của Nhật Bản là không thể tránh khỏi”! Không chịu để bị đâm từ phía sau lưng nên ngày 9/3/1945 phát xít đảo chính thực dân và bày trò trao trả độc lập cho mấy nước Đông Dương. Ông thầy già dạy sử Phạm Cao Dương cũng phải nói ra sự thật bi hài là: “Được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp”!
Hoàng đế Bảo Đại đưa ra tờ chiếu với lời tuyên cáo hão huyền: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập”! Ngài sao không biết trên mình vẫn là bộ máy cai trị của Nhật thay thế hoàn toàn ách cai trị của Pháp trước kia! Dưới sự thúc ép của chính quyền phát xít, ngày 17/4, danh sách thành viên tân chính phủ được đệ trình hoàng đế Bảo Đại trước sự có mặt của tối cao cố vấn Nhật Yokohama. Ngày 8/5/1945, tân nội các do Trần Trọng Kim làm Tổng trưởng chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân, đặt quốc hiệu là “Đế quốc Việt Nam”! Ông Lưu Văn Lang, người xứ Đông Dương đầu tiên đậu trường Bách khoa kỹ nghệ Paris mà giới trí thức tân học Nam kỳ coi như bậc đàn anh khả kính, được mời ngồi ghế Bộ trưởng Công chánh nhưng từ chối khéo: “Tôi già rồi không thể làm tay sai được nữa”
Cả triều thần vua quan há không biết đến “Tuyên Bố Cairo” ngày 27/11/1943 của phe Đồng minh đã cảnh báo: “Sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế Quốc Nhật thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng”, hoặc là cứ liều nhắm mắt đưa chân, để xem con Tạo xoay vần ra sao và đã đưa cả dân tộc sa vào thảm họa?! Cái gọi là “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của Hoàng Đế Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim hoàn toàn không có tư cách pháp lý nào để đứng trong cộng đồng thế giới dân chủ tự do. Vua nào tôi nấy, toàn là những nhà nho học, tây học đầy bụng chữ mà sao mụ mẫm dở hơi ra lời tuyên cáo với đồng bào: “Quốc dân phải cố gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp tác với nước Đại Nhật Bản”!
Cờ long tinh” được thay thế bằng “Cờ quẻ ly” (là chủ phương Nam, biểu tượng cho lửa, chỉ sự sáng suốt của đấng quân vương). “Quẻ ly” (có ba sọc đỏ mà sọc giữa thì đứt ra làm hai khúc) bị người Huế biếm ngôn là “vương rút ruột”, ám chỉ một thực tế là vương triều Nguyễn lúc đó chẳng còn giá trị gì! Quốc thiều vẫn là bản “Đăng đàn cung” và lời bài “Long vân ca” (không rõ tác giả) được lấy làm quốc ca. Người viết may mắn được hai nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm và Đinh Nho Hoan giúp hoàn chỉnh lời bài quốc ca thời đó: “Kìa núi vàng bể bạc. Có sách trời, sách trời định phân/ Một lòng ta gây dựng non sông vững chắc/ Đã ba ngàn mấy trăm năm/ Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc/ Văn minh đào tạo, màu gấm hoa càng đượm/ Rạng vẻ dòng giống Tiên Long/ Ấy công gây dựng từ xưa đà khó nhọc/ Nhớ ơn dày nặng, lòng trung quân đã sẵn/ Có yêu nhau thương nhau một niềm/ Nguyện nhà Việt muôn đời thịnh trị”*.
Cái Chính phủ của ông Trần Trọng Kim khác nào đứa hài nhi lọt lòng lúc mẹ nó đang hấp hối. Một số trí thức do muốn giúp đồng bào trong lúc quốc gia hữu sự cũng chỉ hợp tác cầm chừng. Trước sự kìm kẹp chặt chẽ của Nhật cả về chính trị lẫn kinh tế và quân sự, nội các thành vô dụng và ngày 5/8/1945, các thành viên đồng loạt đệ đơn từ chức. Một ngày sau, nhà vua chấp nhận nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trước sự thắng lợi của các lực lượng dân chủ trên toàn thế giới và sự suy yếu của các thế lực xâm lược ngoại bang, khắp cả nước sôi động phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do, dân chủ. Người thức thời không ai chịu hợp tác với đám vua quan bù nhìn chờ phút cáo chung! Vậy là cái nội các lọt ra từ tay phát xít Nhật trong cơn hấp hối chỉ tồn tại hơn ba tháng (từ 17/4 đến 5/8/1945, nếu tính đến khi nhà vua tuyên cáo thoái vị thì được 4 tháng 14 ngày)!
Lúc này, nước Nhật đã kiệt quệ lại bị người Mỹ dội hai trái bom nguyên tử đẩy nhanh quá trình suy sụp. Quân đội Mỹ đặt được chân lên đất Nhật, cùng lúc Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông, chiếm được vùng lãnh thổ Mãn Châu rộng lớn. Trong khi tại Việt Nam, thừa cơ lúc quân Pháp bỏ chạy, quân Nhật đầu hàng, chính quyền phong kiến tay sai gần như tê liệt, phong trào Việt Minh phát triển nhanh và rộng khắp, lôi cuốn nhân dân cả nước nhất tề đứng lên tự giải phóng mình. Ngày 31/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại tại quảng trường Ngọ môn, trước quốc dân đồng bào, nhà vua tuyên bố: “Trẫm quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ cộng hòa”. Lá “cờ quẻ ly” bị kéo xuống và thay thế bằng lá “cờ đỏ sao vàng” trước sự hân hoan phấn chấn của hàng vạn người dân, chứng kiến sự chấm dứt của chế độ phong kiến hàng ngàn năm và hàng trăm năm của một vương triều nô lệ tay sai.


4/ Cờ Thanh niên tiền phong:
Khi Thế chiến thứ II sắp kết thúc, phát xít Nhật ngoài trò trao trả độc lập cho mấy nước Đông Dương, còn muốn nắm lực lượng thanh niên để phục vụ cho mưu đồ riêng của họ.
Theo hồi ký của Trần Văn Giàu: Qua sự quen biết của Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch với Minoda, Tổng lãnh sự Nhật ở Nam kỳ và Taurachi, Thống chế Tư lệnh quân đội Nhật ở Nam Đông Dương – Bọn Nhật hoàn toàn không biết anh là đảng viên cộng sản và càng không biết đứng sau anh là Xứ ủy Nam kỳ đang tìm kiếm một hình thức tổ chức công khai trong hoạt động của thanh niên không đi theo phương hướng Đại Đông Á, mà nằm trong phương hướng chính trị yêu nước và độc lập dân tộc. Được sự chấp thuận của Hà Huy Giáp và Trần Văn Giàu, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch mời kỹ sư Ngô Tấn Nhơn đứng ra vận động tập hợp thanh niên. Cũng phải nói thật nếu không được sự đồng ý của Xứ ủy thì dầu có ai đó đứng ra làm cũng không gây được một phong trào rộng lớn. Và nếu việc quan trọng đó không được một đồng chí có nhân cách, tài ba như Phạm Ngọc Thạch và các bạn thân thiết của anh đứng ra phụ trách, thì Xứ ủy cũng không biết lấy ai đảm nhiệm công việc lớn lao này. Tháng 5/1945, tại vườn Ông Thượng Sài Gòn, tổ chức Thanh niên tiền phong do Xứ ủy gợi ý ra đời với một ban lãnh đạo đầy uy tín, nhiều năng lực. Lá “cờ nền vàng sao đỏ” trong tay lớp thanh niên mang “tinh thần mới, theo mục đích mới” cùng những từ mới gây rạo rực lòng người như “giải phóng dân tộc”, “cách mạng”, “độc lập”, “thống nhất” vang lên, tiếp theo là cuộc diễu hành khí thế trong nhịp bài Đoàn ca “Lên đàng” rộn rã, tạo không khí rất sôi động, cuốn hút giới thanh niên.

5/ Cờ Thanh niên tiền tuyến:
Cùng thời gian đó, nhà cầm quyền Nhật cũng vận động luật sư Phan Anh là Bộ trưởng Thanh niên trong chính phủ Nam triều lập tổ chức thanh niên. Lúc này ở Bắc Kỳ đã có “Đoàn Thanh niên cứu quốc” trong đoàn thể Việt Minh. Tổ chức “Thanh niên Phan Anh” ra đời ở Huế. Qua số bạn bè trí thức, Luật sư Phan Anh đã gia nhập Đảng Dân chủ, ủng hộ Việt Minh. Ông bàn với giáo sư Tạ Quang Bửu là người có ảnh hưởng rất lớn trong giới học sinh ở Huế đứng ra mở trường “Võ bị thanh niên tiền tuyến” và mời ông Phan Tử Lăng – võ quan chỉ huy lực lượng Bảo an binh ở kinh đô Huế và cả Trung kỳ, làm Hiệu trưởng. Các ông đều có tinh thần dân tộc. Nhà trường kêu gọi: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học, có hiểu biết về quân sự” và hứa: “Học xong không bắt buộc ra làm việc cho chính phủ”! Thực chất là chủ động chuẩn bị bổ sung cho lực lượng vũ trang yêu nước khi cần. Số người ghi danh vào học khá đông, có cả một số sinh viên từ Hà Nội vào theo học. Lá “cờ quẻ kiền” (ba sọc đỏ, tượng trưng cho người quân tử trên nền vàng), được lấy làm biểu tượng của thanh niên trường Võ bị.
Vị lão tướng Mai Xuân Tần đậu thủ khoa tú tài Toán tại trường Quốc học Huế năm 1945, dự học khóa đầu tiên của trường Võ bị, kể rằng: Lúc ấy phong trào Việt Minh lan rộng khắp miền Trung. Ngày 5/8, chính phủ Trần Trọng Kim đổ nhưng trước đó giáo sư Tạ Quang Bửu và ông Phan Tử Lăng đã tiếp xúc với Việt Minh Nguyễn Tri Phương (Huế). Trường Võ bị hầu như đã được Việt Minh hóa. Số vũ khí của nhà trường coi như đã nằm trong tay quân cách mạng. Học sinh của trường chủ yếu là con em các gia đình trong phố, có học thức, có đạo đức và hoạt động rất sôi nổi nhiệt tình, được nhân dân Huế tin tưởng, thương yêu. Cách mạng thành công, đổi tên là “Trường võ bị Thuận Hóa” và mở rộng thành phong trào “Thanh niên tiền tuyến”, góp phần đẩy mạnh phong trào “Nam tiến” sôi động trong cả nước, bổ sung tiếp ứng kịp thời cho mặt trận phía Nam. Cuộc trường kỳ kháng chiến giành thống nhất, độc lập kết thúc thắng lợi, tám học viên khóa đầu của Trường võ bị được phong quân hàm cấp tướng.
Điều cần lưu ý bạn đọc là thời tiền khởi nghĩa, nhiều đoàn viên của phong trào thanh niên học sinh, sinh viên là những “tráng sinh” của tổ chức Hướng đạo sinh do nhà giáo Hoàng Đạo Thúy xuất thân từ một gia tộc nho giáo có truyền thống yêu nước, sáng lập ra từ năm 1930, có nhiều hoạt động phong phú mang tinh thần yêu nước rất hấp dẫn giới thanh niên ở cả ba kỳ. Số đông thanh niên học thức này đều trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ và nhiều vị trở thành những cán bộ cao cấp trong các lĩnh vực quân sự, khoa học, văn hóa và giáo dục. Trước mắt, những phong trào Thanh niên này đã đào tạo ra nhiều cán bộ làm nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển lực lượng võ trang cách mạng ở Nam bộ và Trung bộ hồi đầu kháng chiến. Nước nhà vừa độc lập thì bước ngay vào cuộc kháng chiến từ Nam lan nhanh ra Bắc. Tổ chức thanh niên Tiền phong và Tiền tuyến chấm dứt vai trò lịch sử, hợp nhất vào tổ chức “Thanh niên cứu quốc” trong “Mặt trận Việt minh”.


6/ Cờ quốc gia:
Trước khi quân Pháp mở rộng chiến tranh xâm lược ra Bắc kỳ, cố vấn Vĩnh Thụy được cử đi công cán ở Trùng Khánh – thủ phủ của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, để tranh thủ dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam, nhưng đã đào tẩu qua Hồng Kông. Chủ trương “tốc chiến tốc thắng” thất bại, buộc quân viễn chinh phải chuyển sang đánh lâu dài với chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh – Dùng người Việt đánh người Việt”. Giữa năm 1948, nhằm gạt bỏ chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra, tìm đại diện cho nhân dân Việt Nam theo mưu tính của mình, Pháp ký với đại diện của Bảo Đại dù là lúc này phế đế không đại diện cho ai (!) cái hiệp định Hạ Long, công nhận nền độc lập của Việt Nam (?) nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Lập tức, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố cảnh cáo rằng: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy. Đối với các nước trên thế giới, tôi thay mặt chính phủ và nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố không bao giờ thừa nhận những giấy tờ gì do bọn bù nhìn ấy ký kết với bất cứ nước nào”. Đồng thời, một Tòa án lưu động ở Liên Khu III của Chính phủ Việt Nam kháng chiến tuyên bố tử hình tên Cố vấn Vĩnh Thụy phản quốc. Bọn thực dân xâm lược “cố đấm ăn xôi”, chúng lôi từ tay áo ra cái chính phủ Việt Nam thống nhất lâm thời, do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Ông tướng thuộc địa này quên hết tiếng mẹ đẻ, chỉ biết nói tiếng vợ đầm. Trong đám quân sư có người từng tham gia các phong trào thanh niên ở Hà Nội, Sài Gòn và Huế đề xuất phục dựng lá “cờ quẻ kiền” (nền vàng có ba sọc đỏ) làm quốc kỳ và lấy bài hát “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước nghe hào hùng khí thế làm quốc ca. Đám quân sư hưởng ứng tán vào: “Quẻ kiền” tượng trưng người quân tử trọng điều nghĩa hiệp; Màu vàng gợi nhớ thuở hoàng triều và Ba sọc là ba dòng máu Bắc-Trung-Nam hợp lại, người theo đạo Chúa thì nghĩ tới ba ngôi trong kinh Thánh! Ông Thủ tướng mất gốc chỉ biết nghe và gật. Mối tình chủ tớ gá cạp dễ hợp dễ tan! Ngồi chưa nóng chỗ, ông chủ lại đặt Bảo Đại lên ngai Quốc trưởng kiêm luôn vai Thủ tướng! Cái gọi là “Quân đội quốc gia” gấp rút được nặn ra. Với lệnh Tổng động viên, học sinh trung học ở các thành thị trong vùng tạm chiếm bị dồn vào các trường sỹ quan trù bị Nam Định, Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Từng được theo học trường chính trị ở nước mẹ Đại Pháp nhưng vốn tính háo sắc, mê bài bạc và ham săn bắn, chuyện chính sự đã có “nước mẹ” lo, cựu vương chẳng quan tâm! Đúng như nhận xét của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Là một người dễ dãi, ít yêu sách đòi hỏi cho quyền lợi của người Việt và nuôi vài hy vọng hão huyền, Bảo Đại hoàn toàn không có khả năng cầm quyền”. Lá “cờ quẻ kiền” đương nhiên đại diện cho chính thể quốc gia trong hoàn cảnh ấy. Từ đấy nó hết đi sau những lá “cờ tam tài” rồi lá “cờ hoa” trong những cuộc trà sát khủng bố của quân ngoại bang xâm lược trên khắp đất nước ta. Gần ba mươi năm sau, hết trào thuộc Pháp tới trào thuộc Mỹ, hết thể chế phong kiến rồi qua thể chế cộng hòa mà chưa có văn bản pháp quy nào hợp hiến xác nhận quốc kỳ với quốc ca biểu trưng cho một quốc gia! Lá cờ với bài ca vốn ra đời từ phong trào yêu nước sôi nổi chống ngoại xâm nhưng đã bị những kẻ phản bội bắt làm con tin cho cái chính phủ quốc gia ngụy tạo! Bà con ta mỉa mai gọi là “cờ ba que” như cách nói nhạo báng dân gian. Chiến tranh càng kéo dài, hận thù càng sâu, cái danh “quốc gia”, “cộng sản” càng bị ngộ nhận và xuyên tạc.
Theo hiệp nghị Genève, tháng 10/1955, quân đội Liên hiệp Pháp bao gồm quân viễn chinh Pháp và “quân đội quốc gia” rút khỏi miền Bắc Việt Nam lấy giới tuyến 17 làm “đường ranh quân sự tạm thời” này sẽ không cách nào được giải thích như sự thiết lập một biên giới lãnh thổ và chính trị” (Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị, ngày 21/7/1954), thì lá cờ “ba sọc” cũng theo lá cờ “tam tài” tập kết ở phía Nam. Và khi quân đội Pháp mất chỗ đứng ở Việt Nam thì có quân lực đồng minh Mỹ thế vào. “Quân đội quốc gia” dù được thay nhãn là “quân đội cộng hòa” vẫn không đổi chất. Nhưng khi Mỹ cút thì ngụy tất phải nhào! Kết cục là ngày 30/4/1975, trong khi lá “cờ hoa” được viên đại sứ già “nhét vội” vào cặp, ôm chặt vào lòng cùng con chó cưng lên máy bay lao ra tàu đợi ở ngoài khơi, thì bà con ta ở phía Nam khắp chợ cùng quê chứng kiến cảnh lá “cờ quốc gia” tả tơi rách nát rụi theo những đồn bót, căn cứ quân sự trước những đống vũ khí, quân dụng, áo quần, giầy mũ… rải khắp đường mòn, lộ lớn, những bãi trống, những bến tàu xe… giữa hàng triệu sỹ quan, binh lính quân lực Việt Nam cộng hòa mình trần chân đất theo nhau tháo chạy!
Người viết xin phép dẫn nhận xét của giáo sư Nguyễn Mạnh Quang trên trang WEB SÁCH HIẾM / Cali để bạn đọc tham khảo: “Vì tính cách ô nhục của lá cờ này (nền vàng ba sọc đỏ), cho nên suốt thời gian từ ngày nó được cho ra đời (5/6/1948) đến khi nó bị khai tử chung số phận với cái “chính quyền quốc gia” đã lấy nó làm biểu tượng, không một nhạc sĩ nào tìm thấy nơi lá cờ này một nguồn cảm hứng để sáng tác ra một bài quốc ca, dù rằng trong thời gian từ ngày 5/6/1948 cho đến ngày 30/4/1975, có hàng trăm nhạc sĩ tài ba sống trong vùng do Liên minh xâm lược Pháp - Vatican kiểm soát và ở miền Nam vĩ tuyến 17. Vô kế khả thi, thế lực “đen” ở hậu trường sân khấu cái “chính quyền quái đản” này mới “cuỗm” bài hát “Tiếng Gọi Thanh Niên” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã sáng tác trước đó hơn 6 năm trời để làm quốc ca. Đây là một trong những đặc tính nghịch thường trong tiến trình hình thành quốc kỳ và quốc ca của cái gọi là "chính quyền Quốc gia Việt Nam”. Không ít người đương thời nhớ đến một bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác trong đó có hai câu: “Trách ai bán nước cầu vinh / Bán quê hương lại quên tình nước non”!

7/ Cờ Nam kỳ quốc:
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta giành lại độc lập thống nhất giang sơn. Dù đã yếu thế trong khối Đồng minh nhưng thực dân Pháp vẫn dã tâm tái chiếm Việt Nam. Năm 1946, trong khi đại diện chính quyền Việt-Pháp đang bàn việc kiến tạo hòa bình và nối tình hữu nghị giữa hai dân tộc thì thế lực hiếu chiến Pháp cho ra đời cái gọi là Cộng hòa Nam Kỳ quốc, với lá cờ biểu trưng “hai giải vàng kẹp giải trắng ở giữa có ba sọc xanh” tượng trưng cho ba con sông Tiền, sông Hậu và sông Đồng Nai – huyết mạch của vùng lục tỉnh, nơi trước đó gần một trăm năm, Phan Thanh Giản đã lừa vua dối dân cắt dâng cho giặc! Cái chính phủ này người Việt Nam coi chẳng ra gì! Tám câu mở đầu bản trường thi “Chinh phụ ngâm” do bà Đoàn Thị Điểm diễn Nôm từ thơ chữ Hán của ông Phạm Đình Hổ (Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khách má hồng nhiều nỗi truôn chuyên / Xanh kia thăm thẳm tầng trên / Vì ai gây dựng cho nên nỗi này / Nước thanh bình ba trăm năm cũ / Áo nhung trao quan vũ từ đây / Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh ) được Võ Văn Lúa phổ nhạc và lấy làm quốc ca như cái điềm đoản mệnh ứng ngay vào ông bác sỹ Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh sớm chết treo ngay tại phòng mạch của mình lấy làm Văn phòng chính phủ ở giữa Sài Gòn mà chẳng ai cần biết vì lý do gì! Đầu năm 1949, ông chủ mắt xanh mũi lõ lại bày trò ký hiệp định Élysée, giải thể cái Nam kỳ quốc, trao cho Bảo Đại một quốc gia Việt Nam gọi là đã hoàn toàn thống nhất. Khác nào xé đi cái bánh vẽ thay vì một cái bóng “mỹ nhân” trao cho “phế đế”! Nhưng lá cờ “quốc gia” ba sọc đỏ vẫn không đủ tư cách đại diện cho cả nước Việt Nam vì lúc đó chính phủ hợp hiến, hợp pháp Hồ Chí Minh đang lãnh đạo kháng chiến được nhân dân cả nước sôi nổi hưởng ứng khiến đội quân viễn chinh xâm lược bị đồn vào thế bí!
Sự thật lịch sử là trong năm 1945, đất Nam kỳ đã ba lần đổi chủ: Đầu tháng 3, Nhật đảo chính Pháp, lấy gọn Việt Nam trong đó có cả Nam kỳ, giao cho Nam triều. Ông vua An Nam mơ được tháo cũi sổ lồng dù biết nền độc lập ấy chỉ là giả hiệu! Bốn tháng sau, Nhật thua trận, quân Đồng minh ở phía Nam là Anh, ở phía Bắc là Tàu, vào giải giáp đám hàng binh Nhật đưa về cố quốc! Nhân dân Việt Nam ủng hộ và hợp tác với Đồng minh, gặp vận hội kết đoàn vùng lên tự giải phóng mình. Ngày 31/8, Tại Huế, trước thần dân trăm họ, vị hoàng đế giãi tỏ nỗi lòng: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”. Ngày 2/9, giữa thủ đô Hà Nội, trước hàng chục vạn công chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam phát lời Tuyên ngôn độc lập: “Sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”. Nhân dân cả nước và thế giới đều nghe. Nước Việt Nam thật sự đã là của người Việt Nam. Người Pháp không còn cơ sở pháp lý nào dính dấp đến xứ sở xa xôi này nữa. Tổng thống Pháp trao cho Quốc trưởng bù nhìn của ăn cướp mà họ không giữ được! Ngài Quốc trưởng đa tình ôm vào lòng cái bóng mỹ nhân!
Sách sử còn ghi: Khi được Cụ Hồ thành tâm mời ra giữ chức Cố vấn tối cao của Chính phủ, ông Vĩnh Thụy đã gửi thư cho chính phủ Pháp nói toạc ra: “Hànội, 16 Septembre 1945
Trước hết, tôi gửi lời sang cho Chánh phủ Cộng-hòa Pháp quốc. Tôi trịnh trọng báo cáo cho Chánh-phủ biết rằng Chánh-phủ Cộng-hòa Dân-chủ Việt-nam đã thành lập.
“Năm 1940, Chánh-phủ Pháp ở Đông-dương đã hiến một cách vô sỉ đất đai của chúng tôi cho phát-xít Nhật, nhưng chúng tôi đã giành được nền độc-lập hoàn-toàn ngày 2 tháng chín năm 1945”... (Điều 15 trong hòa ước Patenôtre ghi: “Nước Pháp cam kết từ đây sẽ bảo đảm sự nguyên vẹn lãnh thổ của Đức vua An Nam, bảo vệ Đức vua chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài và những vụ nổi loạn bên trong”, rõ ràng một cách gián tiếp, Hiệp ước này đã bị người Pháp xé bỏ).
Từng học Trường cao cấp chính trị ở Paris, làm sao ông Bảo Đại không biết về mặt pháp lý, nước Việt Nam chẳng còn giàng buộc gì với nước Pháp nữa?! Đây chỉ là trò bịp thiên hạ của kẻ phi nghĩa nhắm mắt nói càn.

8/ Cờ Hoàng triều cương thổ:
Quốc sách của quân xâm lược thời nào cũng thế: vừa dùng vũ lực vừa thực hiện chính sách chia để trị. Năm 1948, quân chiếm đóng Pháp dựng lên tại biên giới tây-bắc một khu gọi là Liên bang Thái tự trị gồm các cư dân Thái, Lôlô, Hmông… Năm 1950, sáp nhập thêm cao nguyên Trung phần, gọi chung là Hoàng triều cương thổ, lấy biểu tượng lá “cờ hai giải bên màu lam, kẹp giải trắng giữa có ngôi sao đỏ 16 cánh”. Mỗi cánh biểu thị một vùng thổ cư các sắc tộc sinh sống giữa núi rừng xa xôi trùng điệp. Cờ chỉ được treo tại mấy trại “lính thổ” vùng sơn cước của Đèo Văn Long, Nùng Văn Vân…. Năm 1955 khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam thì đám tàn quân thổ phỉ này bầy đàn tan tác. Lá cờ ấy quăng ở sườn đồi khe suối nào không ai còn nghĩ tới!

9/ Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng:
Theo hiệp định Genève 1954, nước ta tạm chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 có sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời mà “đường ranh quân sự này sẽ không cách nào được giải thích như sự thiết lập một biên giới lãnh thổ và chính trị” (Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị, ngày 21/7/1954) và hai năm sau, hai miền Nam-Bắc sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước đất nước. Năm 1956, chính quyền miền Nam được Mỹ hậu thuẫn, không chấp nhận hiệp thương tổng tuyển cử. Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Lãnh thổ Hoa Kỳ kéo dài từ Alaska tới vĩ tuyến 17”! Đám tay sai vong bản ngang ngược hô hào “Lấp sông Bến Hải” mở đường “Bắc tiến”! Để “giành lại chính nghĩa từ tay cộng sản”, chính quyền tay sai ngoại bang ra sức đàn áp khốc liệt những người từng tham gia kháng chiến chống Pháp và đòi hòa bình thống nhất đất nước. Tính sơ bộ từ 1954 đến 1959 có khoảng 400.000 người bị bắt bớ tù đày, gần 70.000 người bị giết hại. Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, lấy biểu tượng lá “cờ giải phóng” (nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng chính giữa) với sự hưởng ứng của nhiều tầng lớp nhân dân và những nhà trí thức, tiêu biểu như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… Lá cờ tập hợp đông đảo dân chúng phía Nam. Nhạc sỹ Lưu Hữu Phước lại là tác giả bài ca “Giải phóng miền Nam” vang lên mỗi khi lá cờ mặt trận thượng lên trong vùng kháng chiến cũng như cả nước và trên chính trường quốc tế (Ngày 19/1/1969, khi Hội nghị Paris bàn về hòa bình ở Việt Nam với bốn thành phần tham dự, người ta thấy lá cờ này tung bay trên đỉnh tháp cao nhất của nhà thờ Đức Bà – Tuổi trẻ số 98/2019). Được sự chia sẻ chi viện tối đa của hậu phương phía Bắc, sau 15 năm chiến đấu cực kỳ gian khổ mà anh dũng, lá cờ đã hoàn thành sứ mạng giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất nước nhà. Từ đây tổ quốc Việt Nam sang trang sử mới.

**Lời bàn:

Mỗi lá cờ đều có xuất xứ riêng, mang một ý nghĩa riêng và có tác động tới xã hội khác nhau. Hoàn cảnh đến dưới cờ của mỗi người một khác. Trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt đã qua, người Việt Nam không dễ chọn một lá cờ theo tâm nguyện của mình. Nhưng khi đất nước đã thống nhất độc lập rồi thì quốc kỳ không thể theo ý của một ai, cũng không thể đại diện riêng của phe này phái nọ. Nó được định đoạt bởi quyền lực của nhân dân thông qua hiến pháp.
Dù sao những lá cờ cần được lưu giữ trong các bảo tàng như những chứng tích lịch sử, có ghi chú rõ ràng. Khi lớp người sau được biết tận tường sự tích mỗi lá cờ hẳn sẽ không có chuyện một lá cờ nào đó xuất hiện lạc lõng vô duyên giữa nơi công chúng.
Tiến sỹ vật lý Trần Chung Ngọc là một nhà khoa học chân chính mà hoàn cảnh lại trớ trêu. Nhưng ông dám nói: “Tôi đứng trong đội quân thua cuộc nhưng khi nói Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ và thắng Mỹ, tôi rất tự hào!”. Tuy nhiên tại bàn làm việc của ông, ngoài tấm hình Phật Thích Ca đặt nơi trang trọng, ở một góc kệ vẫn treo lá cờ nhỏ “ba sọc đỏ nền vàng” – Đó là kỷ niệm một thời của riêng ông. Tuy vậy, thái độ ông dứt khoát: “Quốc kỳ là biểu tượng của một quốc gia có chủ quyền, có một lãnh thổ riêng biệt. Những người dân trong một quốc gia thường có cùng một nguồn gốc, và theo nghĩa lịch sử, có cùng tổ tiên và các hậu duệ. Vì lẽ đó lá “cờ vàng ba sọc đỏ” đã không đại diện cho bất cứ ai, khoan nói là đại diện cho hơn hai triệu người Việt di cư”. Đó là một trí thức sở học căn cơ, nhân cách, bản lĩnh vững vàng.
Hai ông Trần Chung Ngọc và Nguyễn Cao Kỳ đều là học sinh cùng thời ở trường Chu Văn An Hà Nội, cùng lứa học viên khóa đầu trường sỹ quan Nam Định. Vào Sài Gòn, mỗi người một địa vị khác nhau. Sau năm 1975, định cư ở Mỹ, mỗi người một nghề. Bởi cá tính mỗi người một khác nên không bao giờ quan hệ với nhau. Tuy nhiên, hai ông có cùng cách nhìn về một lá cờ. Trong hồi ký “Đường về”, ông Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ngày xưa tôi đã từng phục vụ dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ. Từ Tổng thống Mỹ cho đến vua Thái Lan… đều phải đứng nghiêm chào khi lá cờ được thượng lên. Việc giữ gìn màu cờ sắc áo không phải là chuyện muốn đem cờ ra múa may ở đâu cũng được, mà là vẫy ở chỗ nào và vẫy như thế nào? Nếu không làm tăng được giá trị của nó, tại sao không mang cất đi trong tâm khảm, trong một chỗ nào mình trân quý, có phải hay hơn không?”.
Lẽ phải bao giờ cũng dễ thuyết phục lòng người. Một người Mỹ gốc Việt ở Quận Cam viết: “Bất cứ tổ chức chính quyền nào ủng hộ lá cờ cũ (vàng ba sọc đỏ) là lá cờ chính thức của Việt Nam đều vi phạm luật quốc tế. Những người chống Cộng quên rằng Mỹ đã coi lá cờ đó như là một cái gì expendable, muốn bỏ đi lúc nào thì bỏ. Trước khi lên án các quốc gia khác về vi phạm nhân quyền, nên nhìn vào hồ sơ nhân quyền của nước Mỹ. Kỳ thị chủng tộc chắc chắn là vi phạm nhân quyền, và kỳ thị chủng tộc thì vừa là hệ thống vừa là định chế ở nước Mỹ. Về tham nhũng thì ở Mỹ cũng không thiếu gì các viên chức tham nhũng, nhưng họ che đậy kỹ hơn. Ai cũng biết rằng phải có rất nhiều tiền, thường là từ những tổ chức đóng góp để mưu lợi, để thắng trong một cuộc bầu cử ở Mỹ”. Một sinh viên USC trao đổi với bạn: “Cuộc tranh đấu ngày nay tuyệt đối không thể là cuộc tranh đấu Quốc – Cộng như khi xưa mà phải là cuộc tranh đấu để xây dựng, cải thiện xã hội”.
Từ chuyện những lá cờ rút ra bài học: Chính là phận dân, phận nước quyết định phận cờ.

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 5 năm 2020
*Tài liệu tham khảo:
- Lịch sử Quốc hội Việt Nam
- Hồi ký Trần Văn Giàu
- Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Hồi ký 
  Mai Xuân Tần – Thiếu tướng QĐNDVN
- Hồi tưởng – NGND, GS Trần Thanh Đạm
- Người vẽ cờ đỏ sao vàng – Bài viết của Sơn Tùng
- Chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại – Bài viết của Lê Tú Lệ
- Các bài viết của Trần Chung Ngọc
- Đường về – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ
- Hồi ký Đỗ Mậu – Thiếu tướng QLVNCH
- Wikipedia: Hình ảnh cờ Việt Nam qua các thời kỳ

Friday, December 20, 2019

MẤT ĐI CHỮ NÔM LÀ MỘT THẢM HỌA!


               MẤT ĐI CHỮ NÔM LÀ MỘT THẢM HỌA!
                                          Nguyễn Văn Thịnh
                                                          {

            LTS: ĐẠI HỌC DUY TÂN (Đà Nẵng) đã quyết định thành lập “Viện vinh danh chữ “quốc ngữ”, bảo vệ và phát triển tiếng Việt”, viết tắt là “Viện bảo tồn tiếng Việt”, hoạt động dưới sự giám sát của trường ĐHDT, đặt trụ sở trong khuôn viên trường, tại số 3 đường Quang Trung, Thành phố Đà Nẵng và bổ nhiệm GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng giữ chức vụ Viện trưởng.
              
                                                {

Những khảo cứu mới nhất đã chứng minh đất Việt Nam là nguồn phát tích con người và văn hóa châu Á. Người Việt cổ còn gọi là Lạc Việt hay là Bách Việt di tản đi các hướng Bắc, Tây, Nam và để lại nhiều di tích trong đó con chữ của họ cũng tỏa lan theo.
Theo các nhà ngôn ngữ học thì từ xa xưa, người Việt cổ đã sáng tạo ra ba loại chữ: Trước hết là Chữ thắt nút được chế bằng cách nhuộm những sợi gai bằng màu sắc khác nhau rồi thắt nút theo quy ước nhất định, tạo thành chữ. Thứ hai là chữ  Khoa đẩu vì giống hình con nòng nọc và cũng bởi chữ đầu to, đuôi nhỏ, cái đầu khoe ra nên còn gọi là chữ Khoe đầu. Thứ ba gọi là Giáp cốt văn, được khắc trên đá, yếm rùa, xương thú, chữ tượng hình, đó là tiền thân của chữ Hán (Nho) sau này. Vậy mà người ta cứ tin theo sách sử Tàu dạy rằng: “Sỹ Nhiếp đã mang chữ Hán về khai hoá cho dân tộc Nam man”!
          Chữ viết đóng góp phần quyết định vào nền văn minh của một dân tộc, bởi nó là điều kiện tiên quyết để bảo tồn văn hiến và xây dựng nền giáo dục quốc gia. Vì thế các chính quyền ngoại bang thống trị luôn tìm mọi cách huỷ diệt nền văn minh bản địa và quyết liệt đồng hoá người bản xứ. Chữ viết là đối tượng bị huỷ diệt trước tiên bởi nó phản ánh tư tưởng, tâm hồn của một dân tộc.
          Quá trình bành trướng, người Hán triệt để xóa bỏ văn tự của người Việt: Hủy những kho chữ thắt nút và những tài liệu viết bằng chữ Khoa đẩu. Vua nhà Minh Vĩnh Lạc thứ V lệnh cho Trương Phụ: “Ta nhiều lần dụ cho các ngươi lệnh cho quân lính phàm tất cả sách vở, ván khắc chữ An Nam, một mảnh văn tự của xứ ấy kể cả mẩu giấy có chữ trẻ con làng quê mới đi học, kể cả những tấm bia xứ ấy dựng lên, hễ thấy là đốt hủy ngay, không được giữ lại, chớ bỏ xót” (Đinh Văn Minh dịch "An Nam Chí Lược").
          Yêu cầu bảo tồn văn hóa, mở mang trí tuệ, khát vọng phục sinh dân tộc, phục hồi tổ quốc, tiêu biểu là giới trí thức mọi thời đã tạo ra một lớp người học thức tài hoa uyên bác ngoài ý muốn của kẻ ngoại bang cầm quyền. Thế kỷ XIII, Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) trên cơ sở chữ Nho (chữ Hán) mà thêm, bớt nét để đọc khác đi hợp với thổ âm của người Việt và gọi là chữ Nôm. Chỉ qua mấy thế kỷ, chữ Nôm đã có những thành tựu rực rỡ, làm nên nền văn hoá Việt Nam trung cận đại với bản sắc riêng. Đã có ai dùng chữ “quốc ngữ” vượt qua các bậc tiền nhân với chữ Nôm mà đạt tới đỉnh cao tư duy và mỹ cảm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh quan, Hồ Xuân Hương…? Học giả Nguyễn Văn Vĩnh là người rất hăng hái trong công cuộc phát triển Quốc ngữ từng nói: “Kể những sách của những bậc tài Nôm nước Nam để lại mà làm nền cho quốc văn thì thực hiếm, nhưng tuy hiếm mà thực là qúy, thực là hay. Như văn Kim-Vân-Kiều mà đem vào kho tàng văn chương thế giới kể cũng xứng, chớ không đến nỗi để người An Nam mình phải hổ thẹn rằng nước không có văn”. Chính Toàn quyền Pasquier, đứng ở góc độ văn hóa đã thừa nhận: “Các tác phẩm văn học Việt Nam, dù đậm nét dân gian hay có giá trị đỉnh cao của Nho học là một kho tàng văn hóa độc đáo, phi thường
Chữ gọi là “quốc ngữ” mà ta đang dùng hiện nay đúng ra phải gọi là “tân quốc ngữ”, khởi nguồn từ các linh mục người phương tây, được sự hưởng ứng tận tình của những sỹ phu cải đạo bản xứ, đã sáng chế ra một dạng ký tự tượng hình sang ký tự tượng thanh đơn giản, dễ phổ cập, trước hết để các nhà truyền giáo dễ học một ngôn ngữ mới, làm phương tiện tác nghiệp để thâm nhập với cộng đồng thổ dân, nhằm mục tiêu trước mắt là rao truyền tân đạo.
Sự bành trướng của đạo Ki-tô về phía Đông gắn liền với quá trình mở mang thuộc địa, khai thác tài nguyên và thị trường giao lưu hàng hóa của chủ nghĩa tư bản phương tây. Bao giờ cũng vậy, các linh mục đi trước và theo sau là đoàn quân viễn chinh xâm lược. Ngay từ buổi đầu, hai chủ thể ấy cố kết chặt chẽ với nhau cùng bành trướng và song song tồn tại. Đúng như hoàng đế Napoléon I từng nói: “Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy mục đích chính trị và thương mại”. Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống nhau: “Những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ, bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện” (Avro Mahattan – Chủ nghĩa đế quốc của Ki-tô giáo và sự tự do của thế giới). Giáo hội được tín đồ đồng nghĩa với Vatican mở rộng thêm vòng tay ôm trái đất. Thực dân được thuộc địa và tài nguyên.
Khi đặt được nền móng cho sự cai trị, nhà cầm quyền thực dân mới dùng “tân ngữ” vào âm mưu đồng hóa một dân tộc bất đồng ngôn ngữ. Về mối quan hệ giữa nhà nước thực dân và giáo hội Công giáo Việt Nam, như giám mục Puiginier đã nói thẳng ra: “Không có giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết chân càng” và “Không đồng hóa chủng tộc được thì phải đồng hóa trước là ngôn ngữ và sau là văn hoá để lập nên một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông" (Nguồn: Alain Forrest and Yoshiharu Tsuboi, "Catholicisme et Sociétes Asiatiques", Paris: L'Harmattan, 1988). Quốc danh Việt Nam bị xóa sổ thì chữ Nôm bị bức tử!
Ý đồ hủy diệt một nền văn hóa truyền thống của một dân tộc tồn tại lâu đời ở Đông phương không dễ được thực hiện. Trước hết nó gặp sự bất hợp tác của người bản địa là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao quá trình hình thành chữ “quốc ngữ” kéo dài hơn ba trăm năm, tính từ giữa thế kỷ XVII cho đến nửa sau thế kỷ XIX, khi người Pháp hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, nó chỉ lưu hành hạn hẹp trong giáo hội Ki-tô. Đồng thời với những quan điểm bất đồng trong giới chức thực dân cầm quyền cũng làm cản trở tiến trình.
Toàn quyền Pasquier (đọc trước Hội nghị Địa dư học – tỉnh Marseilles năm 1906) khuyến cáo các đồng sự cực đoan: “Ta không nên phá hoại bất cứ thứ gì trong tòa lâu đài văn hóa cổ xưa này. Nếu ta làm mất đi trong quên lãng, thử hỏi đó có là trọng tội?” và ông nhắc nhở: “Hãy tìm cách thích nghi, hòa nhập, chứ không phải hủy hoại, sao cho trong một thế kỷ tới người Pháp sẽ không phải chuốc lấy những lời trách cứ nặng nề rằng: Dưới chế độ tập quyền nghiệt ngã, những bản sắc đặc thù của một đất nước xa xôi đã bị tàn phá”! (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Toàn quyền Lanessanse cũng có lời cảnh báo như là tiên tri: “Sự hủy bỏ nền giáo dục Hán-Nôm đồng nghĩa với sự hủy bỏ về giáo huấn đạo lý mà chúng ta sẽ không có gì để thay thế vào bộ môn đạo đức đã bị tiêu diệt này… Đối với học sinh An Nam, mỗi chữ viết (Hán-Nôm) đều chứa đựng ý nghĩa sâu rộng, khi đọc hoặc viết, chúng tiếp nhận được một cảm xúc mạnh. Còn sách vở của ta, họ tiếp nhận với một tâm trạng khác hẳn. Đó là những tập tục của một xã hội khác biệt với họ, các thầy giáo cũng khác ông thầy đồ – người mà họ coi có thể thay thế cha mẹ của họ”. (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Ông Gustave Dumoutier, một nhà giáo dục học người Pháp có lương tâm ở Việt Nam từng trăn trở: “Nếu những đứa trẻ An Nam xuất thân từ các trường học của ta (Pháp), mà không biết đọc và viết chữ Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng”! (Nguyễn Văn Trường: Trung – Bắc Kỳ với lịch sử và văn hóa Việt Nam)
Đó là lời cảnh báo nghiêm khắc mà đến bây giờ dường như nó đang lộ diện!
Sự chống trả của giới sỹ phu bản xứ không lại được trước áp lực của chính quyền thực dân nắm trong tay cả một guồng máy khổng lồ quân sự, chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa hoc kỹ thuật, tổ chức xã hội. Và bản chất của chủ nghĩa thực dân chỉ cần sự chiếm đóng, khuất phục và lợi nhuận; văn hoá nếu có, chỉ duy nhất một nền văn hóa chính thống mẫu quốc mà tinh hoa của nó là tinh thần “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” thì Cụ Hồ đã sớm phát hiện ra: “Nước Pháp là một xứ sở kỳ lạ. Nó đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu nhưng khi xuất cảng chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó”! (Báo Điện Tử, Đại Biểu Nhân Dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo) Giám mục Puginier, người cầm đầu giáo phận Hà Nội như là người phát ngôn thay cho nhà nước bảo hộ, đã không cần che đậy:“Sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam (Quốc ngữ), rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông. Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An nam và phe trí thức An nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần” (Cao Huy Thuần: Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân – Kế Hoạch của GM Puginier). Thực hiện chủ trương dùng chữ “quốc ngữ” thay cho chữ Hán-Nôm, tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời với bộ chữ in có dấu thanh được thửa ở châu Âu riêng cho nó (Gia Định báo–1865).
Nhưng “ngu dân” là chính sách nhất quán của mọi chính quyền ngoại bang đô hộ. Cần thiết chúng chỉ dạy cho người bản xứ ít chữ đủ dùng làm thư lại tay sai.
Từ đầu những năm 1920, khi nhà cầm quyền đô hộ kết họp với nhà thờ đẩy mạnh việc áp đặt dùng chữ “quốc ngữ”, một người dòng dõi nho học danh gia vọng tộc và cũng là người Việt Nam đầu tiên lấy bằng Tiến sỹ Luật khoa tại Paris là ông Phan Văn Trường (1878-1933) đã chỉ ra rằng: “Cái việc nước Tàu đang còn chậm tiến về khoa học đã làm cho nhiều người tin rằng chữ viết của Tàu vốn không giản dị như mẫu tự a, b, c… của phương Tây đã là một chướng ngại lớn cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học Âu Tây. Nhưng họ không biết đến người Tàu đã cải tiến công việc dạy và học của họ theo những cơ sở mới. Người Tàu đã dịch ra tiếng Tàu và bình luận bằng tiếng Tàu hầu hết những tác phẩm văn học nổi tiếng của phương Tây. Nhờ đó mà có nhiều nhà nho An Nam chỉ cần đọc một vài quyển gọi là “tân thư” của Tàu cũng đã hiểu rõ những khái niệm tổng quát về các môn khoa học và nghệ thuật, về địa dư và lịch sử của năm châu thế giới, trong khi những anh em đồng bào của họ được đào tạo trong những trường Pháp – Nam thì chẳng biết một tí xíu gì về những môn này, ngoại trừ những anh nào trong bọn họ tò mò tìm cách tự học lấy trong sách vở. Ở Hà Nội có một nhà nho An Nam cao tuổi, đã một mình nhờ mấy cuốn sách nho nhỏ của Tàu, học được môn vật lý và môn hóa học rồi tìm cách ứng dụng những điều đã học được vào những công việc rất thú vị, hay ho. Hiện nay chúng ta vẫn còn gặp nhiều nhà nho An Nam, tuy không biết  một chữ Pháp nào cả nhưng lại biết rất rành lịch sử nước Pháp, lịch sử châu Âu, rành hơn mấy anh học trò An Nam được đào tạo trong các trường Pháp. Phải đợi đến chiến thắng vĩ đại vang dội khắp hoàn cầu của nước Nhật trong chiến tranh với Nga (1904-1905), người châu Âu mới chịu tin rằng chữ Tàu nếu học đúng phương pháp thì cũng dễ như các thứ chữ khác và không phải là một chướng ngại vật trong sự tiếp thu những tinh hoa của khoa học phương Tây. Về vấn đề ngôn ngữ, nước Nhật cũng nằm trong một tình cảnh tương tự tình cảnh của nước An Nam trước khi bị Pháp xâm chiếm. Họ có tiếng nói là tiếng Nhật như An Nam ta có tiếng nói là tiếng An Nam, nhưng chữ viết của họ là chữ Tàu. Ngày nay ở Nhật, những văn thư hành chính, những tạp chí, nhật báo lớn và những sách giáo khoa cho bậc học cao đều viết bằng chữ Tàu, và chữ Tàu được xem là thứ chữ chính mà các cấp học trong ngành giáo dục của Nhật đều phải dùng.
Đây là lúc nhà cầm quyền thực dân với sự cộng tác đắc lực của giáo hội Kito áp đặt dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán-Nôm trong hệ thống giáo dục và hành chính ở toàn cõi An Nam. Mục đích là để đồng hóa người Nam thành người Tây mũi tẹt da vàng. Tuy nhiên nhóm chủ trương ngu dân lập luận như sau: “Dạy người An Nam học hoặc cho phép họ được học hành là cung cấp cho họ những khẩu súng bắn nhanh nhiều phát để họ bắn lại chúng ta”. Năm 1908, Toàn quyền Beau lập trường Đại học Đông Dương không chỉ cho người An Nam thôi mà còn hy vọng thu hút sinh viên từ các nước láng giềng đến học. Thế là các báo chí địa phương đồng loạt la ó: “Chúng tôi không hiểu tại sao chính phủ lại có cái ý tưởng điên rồ đem những tinh hoa của ngành khoa học của chúng ta dạy cho cái giống người An Nam đáng ghét. Trường Đại học Đông Dương là cái ổ cách mạng, là nơi hẹn hò gặp gỡ của bọn âm mưu làm quốc sự…” (Une histoire de conspirateurs anamites à Paris ou La vérité sur l’Indo-chine: Sự thật ở Đông Dương, Chúng tôi làm quốc sự…).
Sở dĩ người ta cường điệu quá mức giá trị của chữ “quốc ngữ” đồng nghĩa với việc tôn vinh “công lao ảo” của giáo sỹ Alexandre de Rhodes – là cách tri ân của nhà nước Pháp và giáo hội Công giáo, bởi ông ta là người Pháp đầu tiên phát hiện và hết lòng vận động chính quốc mau sang khai thác xứ Viễn Đông đầy tiềm năng đang còn hoang hóaVai trò của Alexandre de Rhodes trong việc thành lập “Hội thừa sai Paris” đã đưa giáo hội công giáo Đàng trong và Đàng ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ Đào Nha, đã đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương” (Sử gia Pháp Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà Nội năm 1930). 
Vào dịp tròn 100 năm ngày vua Khải Định xuống chiếu chấm đứt các khóa học và khoa thi chữ Hán (14/6/1919 – 2019 ), công nhận Quốc ngữ là chữ viết chính thức trên toàn cõi Việt Nam và người ta còn hy vọng tượng ông Đắc Lộ sẽ được dựng lên ở cảng thị Nước Mặn – Quy Nhơn, nơi được coi là cái nôi của chữ “quốc ngữ”, mà thực ra là nơi các giáo sỹ thừa sai Dòng Tên Bồ Đào Nha lần đầu cặp cảng và nhiều năm sau đó là nơi các giáo sỹ tân đạo ẩn náu sự truy lùng gắt gao của triều đình nhà Nguyễn!
Theo Hiệp ước Patenôtre 1884, người Việt Nam đã là dân vong quốc thì vua chỉ là tay sai bù nhìn. Khải Định có ra chiếu chỉ bãi bỏ các kỳ thi và trường học Hán-Nôm trong cả nước, tất nhiên phải làm theo lệnh của nhà cầm quyền thuộc địa. Bới nó ra càng hổ thẹn với người!
Còn việc tượng ông giáo sỹ thì đã có sẵn rồi, chỉ còn chờ thiên thời, địa lợi và lòng người nữa thôi. Gần trăm năm trước, khi người Pháp đã bình định xong xứ Đông Dương, để quảng bá văn hóa Pháp, nhà nước bảo hộ đã cho dựng đủ thứ tượng đồng hình người, hình thú. Mà sao với ông giáo sỹ này họ chỉ cho dựng một tấm bia đá ghi cái gọi là công tích do họ thổi lên, chớ đâu có dựng tượng ông ta? Trong khi họ có quyền và đâu thiếu chi tiền! 
Chẳng lẽ một dân tộc bị nô lệ hàng trăm năm, đã đổ bao xương máu mới phục sinh được Tổ quốc của mình, thì nay con cháu họ nhân danh đủ thứ “nhà” lại bàn nhau bày chuyện tạc tượng ghi ơn một nhà truyền giáo đi tiền trạm vác cây thánh giá dựng làm cột mốc trên đất đai ông cha họ từng đổ mồ hôi xương máu hàng ngàn năm khai sơn phá thạch và không từ cả việc phỉ báng truyền thống văn hóa “tam giáo đồng nguyên” thiêng liêng của họ! 
Người ta ngoa ngôn rằng: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự Latin, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”? Có thật vậy không? Và có ai nghĩ rằng sự mất đi ngôn ngữ Hán-Nôm không khỏi kéo theo hệ quả là những bản sắc đặc thù của một dân tộc có truyền thống văn hiến lâu đời đã bị tàn phá?
Trên thế giới này, các dạng chữ viết đều theo hai qui tắc: Hoặc theo dòng tượng thanh như chữ Latin, chữ Slavơ. Hoặc theo dòng tượng hình như chữ Ai-cập, chữ Phạn, chữ Hán. Mỗi vùng miền có những đặc thù riêng về địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa và cách phát âm. Trên đường tiến sang phía Đông, buổi đầu các giáo sỹ phương tây đã nghĩ ra phương pháp “La tinh hóa chữ tượng hình” và họ đã làm việc này ở Ấn Độ, Trung Hoa, đặc biệt ở Nhật Bản họ đã tạo ra chữ “romaji” hoàn toàn theo mẫu tự Latin. Trước sự phản ứng quyết liệt của giới cầm quyền đương thời Mạc Phủ, dưới sức mạnh của Thần đạo (Shinto) lại được các “shamurai” dẫn dắt, đám giáo sỹ Kito mở đường cùng với con chữ ấy bị đánh bật ra khỏi đất Phù Tang! Chữ Nhật truyền thống vẫn tồn tại cùng với nền tảng văn hóa Nhật để có một nước Nhật hiện nay ở “top” đầu thế giới. Cũng như một tỷ tư dân Tàu trước sau vẫn dùng chữ tượng hình truyền thống mà nay họ đã vươn lên hàng nhì thế giới khiến người Mỹ hoang mang về ngôi vị số “dzach” của mình. Trái lại khi tới Việt Nam đúng lúc chủ nghĩa phong kiến suy vi bạc nhược, cuộc Thập tự chinh mà các giáo sỹ thừa sai phương Tây đi tiên phong đã là những người có công đầu cho thực dân Pháp biến nước ta thành thuộc địa đồng thời với việc dùng chữ “quốc ngữ” để mở mang nước Chúa song hành với âm mưu đồng hóa nền văn hóa bản địa của chủ nghĩa thực dân! Hiện nay, chỉ còn hai loại chữ phái sinh từ chữ Hán được sử dụng làm văn tự quốc gia chính thức, là Hanguel ở Triều Tiên và Kana ở Nhật Bản. Còn các loại văn tự khác đều đã trở thành “văn tự chết”. Trong khi chữ Nôm Việt hàng mấy thế kỷ trước, từng được coi là “gia tài văn hóa quý báu” của người Việt.
Bạn đọc nghĩ gì khi đứng trước một tấm bia, bức hoành phi câu đối hay bức thư pháp kèm bài thơ cổ, người trí thức Nhật dò đọc và giải ra được ý, trong khi người trí thức Việt Nam đứng “ngẩn tò te” nghe người xứ lạ đọc dòng lưu bút của chính tổ tiên mình?!
Nhà ngôn ngữ học đương đại hàng đầu Cao Xuân Hạo (1930 – 2007)  từng ao ước: “Tôi luôn nghĩ người Việt mình lẽ ra nên dùng chữ Hán mới đúng. Chúng ta dùng Quốc ngữ chỉ có lợi là học nhanh nhưng thực sự là rất có hại vì đã tự bứt lìa với nền văn hóa cổ của mình… Do vậy việc khôi phục chữ Hán trong nhà trường phổ thông là tối cần thiết nếu không muốn mình bị bứng ra khỏi gốc rễ văn hóa cha ông” (Những con người, những năm tháng – Ngô Ngọc Ngũ Long – NXB Hội nhà văn – 2017) để rồi đau đớn thốt lên: “Chữ quốc ngữ là một thảm họa không thể hoán cải!” (Người Việt – Tiếng Việt – Văn Việt).
Nhìn sang các nước Á Đông, quốc gia nào chữ viết không bị đồng hóa thì nước Chúa khó được mở mang trong khi các lĩnh vực văn hóa, khoa học, xã hội  vẫn bắt nhịp với đà tiến hóa chung của loài người. Nhìn rộng ra toàn thế giới nhiều nước vẫn dùng chữ viết tượng hình mà sự phát triển vẫn đứng ở “top” đầu thế giới? Ngay như nước Philippin, Anh ngữ đã là thứ tiếng phổ thông nhưng trình độ dân trí và xã hội của họ tiến tới mức nào mặc dù những thứ hàng hóa dư thừa của phương tây tràn ngập từ thành thị tới thôn quê?!
Tất nhiên nền văn hóa ngoại lai không thể không có ảnh hưởng sâu sắc trong việc hình thành nhân cách và tư tưởng những người dân vong quốc.
          Đến đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa lập một Ban cải tiến chữ “quốc ngữ” gồm nhiều học giả người Pháp và người Việt. Dù “tân quốc ngữ” được cởi trói và các thể loại văn học mới lần lượt ra đời nhưng vẫn không nhận được sự hưởng ứng mặn mà cả trong giới nho sỹ và giới bình dân.  
Bước vào những năm 1930, phong trào đòi độc lập trên thế giới dâng cao mạnh mẽ. Mặc dù nhà nước thực dân đàn áp khốc liệt nhưng dưới chân chúng nền tảng bảo hộ đang bị lung lay. Như chúng ta đã biết phong trào “Truyền bá Quốc ngữ” khởi đầu từ những nhân sỹ tiến bộ, thiết tha với sự mở mang dân trí và khi Đảng Cộng sản trực tiếp nắm ngọn cờ giải phóng dân tộc đã kịp thời vận động các nhân sĩ có uy tín trong quốc dân như Hoàng Xuân Hãn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Phan Thanh, Nguyễn Hữu Đang, Hằng Phương... ra gánh vác công việc. Nhân sỹ nổi tiếng, học giả Nguyễn Văn Tố được mời làm Hội trưởng. Mục đích của Hội là “Dạy cho đồng bào Việt Nam biết đọc, biết viết tiếng của mình để dễ đọc được những điều thường thức cần dùng cho sự sinh hoạt hằng ngày. Cốt cho mọi người viết chữ Quốc ngữ giống nhau”, suy cho cùng là tiếp nối mục tiêu “khai dân trí-chấn dân khí” khởi từ phong trào Duy tân đầu thế kỷ. Vậy mà chính quyền thực dân Pháp lại viện mọi lí do trì hoãn việc cho phép. Nhưng trong tình hình ấy, chúng đã không thể ngăn cấm được. Các Hội truyền bá Quốc ngữ tiếp nhau ra đời từ Bắc kỳ đến Trung kỳ và Nam Kỳ. Dưới danh nghĩa là một Hội văn hóa giáo dục nhưng thực chất đây là một tổ chức quần chúng yêu nước, có sự tham gia của nhiều nhà hoạt động xã hội và chính trị. Hội đã đóng góp rất lớn cho Cách mạng bằng việc tuyên truyền giáo dục, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh trong toàn thể quần chúng nhân dân. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều hội viên Truyền bá Quốc ngữ đã trở thành những chiến sĩ cách mạng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền và đi suốt cuộc trường chinh.
Đến khi nhân dân ta giành được quyền làm chủ vận mệnh tổ quốc mình thì ý thức cần được khai thông trí tuệ càng trỗi dậy mạnh mẽ. Giữa lúc quốc gia nguy biến, Cụ Hồ –  vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam cộng hòa độc lập và dân chủ vẫn sáng suốt đặt ra ba yêu cầu bức bách mang tính sống còn là: “Diệt giặc đói – Diệt giặc dốt – Diệt giặc ngoại xâm”! Giặc nào cũng làm cho mất nước. Chữ “quốc ngữ” được mạnh dạn cải tiến trên cơ sở tiếng Việt là thứ tiếng thống nhất trong cả nước nên việc phổ cập rất nhanh. Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng từ sự khắc nghiệt của lịch sử đã luyện cho người Việt có biệt tài “trong cái khó ló ra cái khôn”, biến cái không thuận lợi thành thuận lợi. Phong trào “Truyền bá Quốc ngữ” vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển trong những năm kháng chiến dưới hình thức “Bình dân học vụ”.
Những người trí thức tâm huyết vẫn giữ được truyền thống văn hóa cổ truyền và tiếp thu tinh hoa nền văn hóa mới Hy-La, quảng bá chữ “quốc ngữ” để mau nâng cao dân trí. Các nhà văn hóa của nước Việt Nam mới đã chế ra cách phát âm các từ theo đúng âm ngữ người Việt: a, bờ (b), cờ (c), dờ (d), đờ (đ), gờ (g), nhờ (nh), ngờ (ng), khờ (kh), thờ (th)… mà những ông tây chính thống nghe lạ hoắc nhưng những người bình dân Việt Nam cảm thấy rất dễ nhận diện, ghép vần, nhập tâm. Cũng nhờ đấy mà chữ “quốc ngữ” càng được phổ cập nhanh chóng.
Sau khi đuổi được giặc Pháp, năm 1960, “Hội nghị cải tiến chữ quốc ngữ” được tổ chức tại Hà Nội và năm 1965, khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam mở rộng và vô cùng ác liệt, Nhà nước Việt Nam độc lập lại mở hội nghị bàn về “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Chữ “quốc ngữ” được nâng cấp, phát triển toàn diện, đáp ứng được mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ sinh hoạt, tình cảm, trí tuệ, tâm linh tới các lĩnh vực ngoại giao, quân sự, các bộ môn khoa học xã hội và tự nhiên hiện đại rất phức tạp, là ngôn ngữ chính thống giảng dạy trong các trường từ mầm non đến đại học. Cụ Hồ và những lãnh tụ cách mạng đồng thời là những nhà văn hóa lớn rất quan tâm và nêu gương trong việc làm trong sáng tiếng Việt cả trong cách nói và cách viết. 
Không ai phủ nhận tính dễ phổ cập của chữ “quốc ngữ”. Nhưng cũng không thể phủ nhận điều căn bản là bởi yêu cầu phải thích nghi để tồn tại đã thành truyền thống văn hóa Việt. Một khi đã nhận ra sự cần thiết để làm chủ được mình thì người Việt chỉ trong thời gian ngắn đã biến một thứ chữ hoàn toàn xa lạ thành một thứ chữ mới hoàn toàn của mình, thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia – Điều chưa từng xảy ra ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới này.
Bây giờ, trải hàng trăm năm chữ “quốc ngữ” phát triển đại trà mà trong sinh hoạt đời thường và cả trong lĩnh vực văn chương nảy sinh ra những loại truyện, thơ cách tân, hiện đại, hậu hiện đại để nảy nòi ra những “Bóng đè” và đám nặc nô “Mở miệng” được Nhã Thuyên và Nguyễn Thị Bình cùng đủ hàng chức sắc thầy bà đang kẻ tung người hứng! Con chữ vấy bẩn lên văn chương hay là văn chương làm nhơ nhuốc những con chữ? Dư luận đang lo lắng liệu tiếng Việt có sẽ bị vẩn đục, xuống cấp, làm hỏng, thậm chí là tha hóa?!
Ngày nay khi phân tích lý giải về các vấn đề xã hội người ta thường đưa ra những yếu tố kinh tế, chính trị để giải thích sự biến động của tình cảm, đạo đức, nhân tâm… chưa hẳn đã là đầy đủ! Tuy nhiên, thời nay chỉ người điên mới đòi bỏ đi chữ “quốc ngữ”. Nhưng nếu xếp xó lại chữ Hán-Nôm coi như đồ bỏ, khác chi để mất một báu vật gia truyền?! Như con rắn thần mù không biết trên đầu mình có viên ngọc quý. “Tổ quốc ta là rắn khác gì đâu!” (R.Tagor). GSTS Toán học Ngô Việt Trung nhận xét: “Chữ tượng hình rất trừu tượng. Chính cái sự trừu tượng và tính tích hợp trong nó lại có ý nghĩa cụ thể để tạo ra ý nghĩa khác, rất phù hợp với tư duy toán học”. Trong khi không ít người vẫn còn mê muội về cái ơn và cái họa một thời mất nước!
Cố GS-TS Trần Chung Ngọc nhận định chính xác: Sự phát triển Quốc ngữ cho tới ngày nay là do cha ông chúng ta biết dùng đòn gậy ông đập lưng ông”. Dùng Quốc ngữ để mở mang dân trí người Việt, vô hiệu hóa âm mưu dùng Quốc ngữ làm vũ khí văn hóa để nô dịch hóa đầu óc dân ta. Vậy chúng ta nên biết ơn ông cha ta đã linh hoạt sáng tạo vận dụng vũ khí văn hóa đó hay biết ơn kẻ tạo ra nó với những ý đồ hủy diệt chúng ta?
Điều chủ yếu là cần làm cho hậu thế hiểu rõ bản chất sự hình thành và phát triển chữ “quốc ngữ” và chấm dứt mọi âm mưu nô dịch văn hóa của chủ nghĩa thực dân kéo dài hàng trăm năm trong lịch sử nước nhà.
                            
               Tuần báo VĂN NGHỆ TPHCM
       Số 576  ngày 12 tháng 12 năm 2019
                                               


                                      a{b