Sau
khi tổ quốc ta độc lập và thống nhất, dồn sức bước vào công cuộc xây dựng
kiến thiết đất nước “ngày càng to đẹp
hơn, đàng hoàng hơn”. Vấn đề cải thiện dân sinh dân chủ là điều bức thiết. Giới
trí thức hăng hái phát huy vai trò tiên phong, coi đó như sứ mệnh lịch sử của
mình. Cách mạng chuyển sang bước tiến mới, tất nhiên có nhiều chính kiến đa chiều.
Đề tài nghiên cứu
“Sỹ phu – trí thức Việt Nam” của Giáo sư Tiến sỹ Chu Hảo cách đây vài năm vẫn
có ý nghĩa thời sự lớn.
Từ
khi loài người biết sống quần tụ và hình thành xã hội, do yêu cầu tất nhiên của
cuộc sống, đòi hỏi phải có những người hiểu biết về tự nhiên, con người và xã hội.
Từ sự hiểu biết nảy ra những phát minh sáng chế, xã hội càng phát triển. Số người
hiểu biết ngày càng nhiều, thành một bộ phận dân chúng không thể thiếu, có ảnh
hưởng quyết định tới sự phát triển của một cộng đồng hay một quốc gia. Những
người hiểu biết ấy ở ta, xưa gọi là sỹ phu, nay gọi là trí thức.
Tuy nhiên, cần thống nhất nội dung ý
nghiã của từ trí thức. Hiện nay, người ta thường hiểu có tấm bằng đại học đương
nhiên là trí thức, đồng nghĩa là nhân tài. Người trí thức không chỉ hoạt động
trong một lĩnh vực chuyên môn mà có thể vươn tới nhiều lĩnh vực và tạo ảnh hưởng
xã hội rộng rãi. Người Mỹ nói: “Nhân tài của quốc gia giống như vàng trong
khoáng sản”, hàm ý phải đãi, phải luyện mới ra nhân tài. Ông cha ta có sự
thận trọng trong từng cách gọi: nho sỹ, sỹ phu, kẻ sỹ, người tài, hiền tài hàm
ý phẩm chất khác nhau. Hiền tài mới
là nguyên khí quốc gia.
Người tự trọng không ai tự nhận mình
là kẻ sỹ hay là trí thức. Căn cứ vào sở học, sở hành mà cộng đồng thừa nhận họ.
Cần phân biệt rõ bản chất của những cặp từ:
Người “có học” – là người
có học vấn và hiểu biết chuyên môn, không đồng nghĩa với người “trí thức” hay là “kẻ sỹ” – dành cho những người mà học
vấn và việc làm cùng phẩm hạnh
và nhân cách của họ xứng đáng được xã hội kính trọng, tôn vinh.
Nhìn vào một số tên tuổi được mấy người “cấp tiến” tung hô là chí sỹ, là
nhà văn hóa, là trí thức tiên phong… (cả người đã chết và người đang sống) khiến
người ta không khỏi băn khoăn: Truyền thống đích thực của kẻ sỹ Việt Nam là gì?!
Trong
bối cảnh nước ta luôn biến động và du nhập các ngưồn văn hóa ngoại lai, nay lại
trong trào lưu “mở cửa” với “không gian mạng” toàn cầu, văn hóa thập cẩm tứ
phương tác động, xu hướng “tự khẳng định mình” trong mỗi con người càng có cơ hội
tung hoành. Khổng Tử xưa đã phân biệt sự khác nhau giữa bậc “nho quân tử” với hạng “nho tiểu nhân”: “Nho quân tử” là người học đạo thánh hiền để sửa mình cho thành người
có phẩm giá tôn quí, dẫu bần cùng cũng không làm điều trái đạo. “Nho tiểu nhân” là người mượn tiếng học đạo
thánh hiền để cầu danh cầu lợi, miệng nói những điều đạo đức mà bụng nghĩ làm
những việc bất nhân bất nghĩa”. Bây giờ ta gọi là “trí thức chân chính” và “trí
thức cơ hội” – thậm chí còn tệ hơn!
Cùng với việc mở mang giữ gìn bờ cõi
là công cuộc xây dựng phát triển đất nước phục vụ dân sinh, trong xã hội hình
thành nhiều thành phần dân chúng: sỹ–nông–công–thương và quyền công
dân được minh định. Thực ra xã hội nào cũng có lúc yên lúc biến hoặc song song
tồn tại những con sóng ngầm dưới mặt nước yên.
Công việc tổ chức quản lý quốc gia
cùng lúc phải tiến hành: phát triển kinh
tế, văn hóa và quân sự. Trong thế giới hiện đại, nền tảng kinh tế quyết định trình
độ văn hóa, sức mạnh quân sự của mỗi nước. Một cường quốc phải có cơ sở kinh tế
và quân sự tương xứng hỗ trợ cho nhau. Những phát minh khoa học vừa phục vụ cho
các hoạt động dân sự và quân sự. Đội ngũ trí thức càng phát triển trên căn bản
đó.
Đương nhiên không thể như ông Chu Hảo
cho rằng thời thuộc Pháp, với “văn minh phương tây và chữ Quốc ngữ là bối cảnh
tích cực cho sự ra đời tầng lớp trí thức đầu tiên, có chỗ đứng khá độc lập với
chính quyền”!
Cần hiểu rõ lớp trí thức mà ông Chu Hảo
nói ra đây là lớp trí thức thuộc địa đầu tiên của người Pháp, bởi giới trí thức
đầu tiên của Việt Nam đã hình thành từ ngày lập quốc. Chữ Quốc ngữ không phải là điều kiện tiên
quyết để hình thành giới trí thức (kẻ sỹ) Việt Nam, bởi từ lúc khởi đầu dựng nước,
người Việt đã có chữ Khoa đẩu,
còn gọi là Hỏa tự. Chữ
đó bị người Tàu tuyệt diệt, người Việt tạm dùng chữ Hán để truyền bá văn hóa và
lại sinh ra chữ Nôm cho riêng
mình. Chữ Nôm đang trong quá trình hoàn thiện thì nó bị chính quyền thực dân
Pháp bức tử, thay thế bằng thứ văn tự mới gọi là Quốc ngữ do các giáo đoàn đạo Gia tô dùng để truyền bá một niềm
tin mới, mở mang thánh địa, trùng hợp với ý đồ xâm chiếm thuộc địa của các nước
phương tây.
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh là người hăng hái đi tiên phong
trong việc truyền bá Quốc ngữ, bởi đó là thứ chữ dễ phổ cập để mau chóng nâng
cao dân trí, còn như nội dung giá trị của chữ Nôm ông vẫn nhận định rất sáng suốt
rằng: “Văn chương An Nam diễn dịch điều
gì, về khoa nào cũng có thể diễn dịch được”. Và “Như văn Kim-Vân-Kiều mà đem vào kho tàng văn chương thế giới kể cũng xứng
chớ không đến nỗi để người An Nam mình phải hổ thẹn rằng nước không có văn”.
Giả như không có chữ Quốc ngữ
thì người Việt có gây dựng được cho mình một nền văn hóa riêng chăng?
Năm 1923, trong cuốn tự truyện “Chuyện một người An Nam tạo phản ở
Paris, hay là Sự thực ở xứ Đông Dương” (Une
histoire de conspirateurs Annamites à Paris, ou La vérité sur l’Indo-chine), ông Phan
Văn Trường – xuất thân từ một gia đình nho học truyền thống khoa bảng và là người
Việt Nam đầu tiên đoạt bằng Tiến sỹ Luật khoa ở Paris, nhận xét: “Về vấn đề ngôn ngữ, nước Nhật cũng
nằm trong một tình cảnh tương tự tình cảnh của nước An Nam trước khi bị Pháp
xâm chiếm. Họ có tiếng nói là tiếng Nhật như An Nam ta có tiếng nói là tiếng An
Nam, nhưng chữ viết của họ là chữ Tàu. Ngày nay ở Nhật, những văn thư hành
chính, những tạp chí, nhật báo lớn và những sách giáo khoa cho bậc học cao đều
viết bằng chữ Tàu, và chữ Tàu được xem là thứ chữ chính mà các cấp học trong
ngành giáo dục của Nhật đều phải dùng… Phải đợi đến chiến thắng vĩ đại vang
dội khắp hoàn cầu của nước Nhật trong chiến tranh với Nga (1904-1905), người châu
Âu mới chịu tin rằng chữ Tàu nếu học đúng phương pháp thì cũng dễ như các thứ
chữ khác và không phải là một chướng ngại vật trong sự tiếp thu những tinh hoa
của khoa học phương Tây… Với chủ trương thuộc địa là vùng đất để khai thác,
người da trắng áp dụng tuyệt đối đường lối thống trị phải là một chế độ ngu dân tinh vi và khoa học để
giữ dân bản xứ mãi mãi trong tình trạng yếu ớt về thể chất và kém cỏi về trí
tuệ. Kết quả là dân tộc An Nam – một dân tộc thông minh không thua kém gì những
dân tộc khác ở Á Đông, bị đặt dưới sự chăm sóc bảo hộ mà người Pháp rêu rao đến
đây “khai hóa”, đã trở thành một dân tộc lạc hậu nhất và dốt nát nhất so với
những dân tộc khác ở Á Đông”.
Dù sao thì cũng phải đến khi
người Việt Nam giành được độc lập, chữ Quốc ngữ mới được phổ cập để nâng cao
trình độ dân trí toàn dân và mau chóng có được một lớp trí thức đông đảo.
Đã có lúc nào ta tự hỏi mất đi chữ Hán Nôm người Việt như mất viên ngọc
quý? Cụ thể chưa có ai dùng chữ Quốc
ngữ vượt qua các bậc danh sỹ tiền nhân với chữ Nôm mà đạt tới đỉnh cao tư duy và mỹ cảm? Đã có ai nghĩ rằng
cùng với sự lãng quên dần tới sự phủ định chữ Hán Nôm, chúng ta đã để mất đi những giá trị cao quý nào? Chúng
ta là người Á đông không thể tách mình ra khỏi nền văn hóa cổ truyền vĩ đại ấy.
Hồ Chí Minh khi còn là anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, đã
sớm phát hiện ra: “Marx xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất
định của lịch sử nhưng lịch sử nào – Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là cái gì? –
Đó chưa thể là toàn bộ nhân loại” và Người đề nghị “xem xét lại chủ
nghĩa Marx về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng vốn dân tộc học phương Đông”.
Hiện nay, phương tây đang hướng về văn hóa Á đông với nhiều kỳ vọng. Chúng ta sống
bên cạnh người láng giềng Trung Hoa vĩ đại, quan hệ hai nước có những lúc ấm lạnh,
thậm chí không chỉ một lần từng gây họa lớn cho ta, nhưng chúng ta vẫn tồn tại
vững vàng là bởi vì ông cha ta thấm nhuần sâu sắc văn hóa Á Đông. Chúng ta đã nếm
mùi vị đắng cay thế nào khi coi nhẹ truyền thống văn hóa ruột của mình? Bây giờ
chỉ người điên mới bày chuyện dùng lại chữ Hán-Nôm nhưng trí thức Việt
Nam có trách nhiệm phục hồi những
gì và xây mới những gì là giá trị căn cơ của tinh thần Đại Việt?
Biết vậy mới thấy thời nào văn hóa Việt
cũng phải chịu những thăng trầm khốn khổ và sức trỗi dậy của kẻ sỹ Đại Việt bền bỉ kiên cường quyết
liệt tới đâu? Đó mới là niềm tự hào chính đáng của người Việt nói chung và của
giới trí thức Việt nói riêng.
Còn như ý kiến “dưới thời thuộc
Pháp, tầng lớp trí thức Việt Nam có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền”, liệu có đúng không?
Giáo sư bác sỹ Hồ Đắc Di xuất thân từ
một danh gia vọng tộc, ba đời làm quan đại thần ở triều đình Huế. Ông được hưởng
một nền giáo dục căn cơ cả Á và Âu. Sau 13 năm du học và làm việc tại Paris với
tấm bằng Tiến sỹ Y khoa danh giá, tưởng rằng về nước với lòng chứa chan hy vọng
được đem tài năng ra giúp ích cho đồng bào mình nhưng với tâm trạng dày vò đau
khổ, ông đã thốt lên: “Phẫu thuật đối với tôi là lẽ sống, là niềm tự hào. Thế
nhưng người Pháp cai trị có đếm xỉa gì đến cái điều tôi tha thiết đó. Nỗi cay đắng
đã làm tôi thấy rõ thêm một điều mà trước đây tôi mới chỉ mường tượng thấy:
Chung quy chỉ tại mình là dân mất nước! Là một người thầy thuốc, tôi đã trở
thành một người bệnh về tâm hồn!”. Khi đất nước được độc lập ông đã không
ngần ngại đi theo tiếng gọi của tự do bởi vì: “Lần đầu tiên trong đời tôi được
thấy mình làm chủ con người mình, đất nước mình mặc dù tôi chưa thể hình dung
được rõ tương lai của đất nước và tương lai mình sẽ ra sao” và ông dấn thân
vào con đường gian khổ chông gai, suốt 40 năm của nửa phần đời còn lại cống hiến
tài năng cho đất nước: “Những ước mơ xưa kia tôi vẫn hằng ấp ủ nay đã hồi
sinh. Tôi rất vui được truyền thụ những hiểu biết về khoa học của mình cho các
lớp trẻ của đất nước” (Hồ Đắc Di – Con người và sự nghiệp – NXB Y học 1999).
Hầu như đa phần giới trí thức nước nhà từ quan lại trụ cột triều đình đến trí
thức tự do giữa thế kỷ XX đều hành xử như ông. Năm 1945 khi Nhật bày trò trao
trả nền độc lập cho Việt Nam và dựng lên chính phủ Nam triều do học giả Trần Trọng
Kim làm Thủ tướng. Ông Lưu Văn Lang còn được gọi là “Bác vật Lang”, người mà giới
trí thức Nam kỳ kính nể như người anh cả, được mời tham gia chính phủ nhưng ông
đã từ chối thẳng thừng: “Tôi đã quá già để
làm tay sai”!
Sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, nhà triết học trẻ
Trần Đức Thảo từ Paris gửi thư về Hà Nội: “… Khi nhà cầm quyền Pháp cho phép những thanh niên Việt Nam gia đình khá
giả vào theo trung học và đại học là hy vọng rằng họ theo học Pháp mà quên đi
những ý niệm yêu nước của các nhà nho thời xưa và sẽ đứng về phía người Pháp ở
thuộc địa hợp thành một giai cấp thống trị mới Pháp-Nam, có học vấn như nhau,
quyền lợi cũng giống nhau. Nhờ đó người Pháp sẽ có thể đứng vững ở nước này…”.
Thực chất đó là lớp trí thức “tay sai” hoặc là “phản bội”!
Người được gọi là nhà thông thái
Trương Vĩnh Ký từ một chuyến công cán ra Bắc kỳ, gửi báo cáo về các quan thuộc
địa ở Nam kỳ: “Các quan lại Nam triều thường nói với tôi rằng nước Pháp cố ý
xâm chiếm xứ này. Tôi trả lời là không! Tất cả qúy vị đều phải thấy rằng nếu
nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ đã có thể làm việc đó từ lâu
một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những
kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, quý vị chỉ nên
tin vào người bạn đồng minh tiếng tăm và phải dựa vào họ một cách thành thật để
đứng lên,
nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra
với họ chứ không phải một cái chìa ra cái bên kia thì giữ lại. Bằng ngược lại,
mệt trí vì những do dự, những điều nói nửa vời đầy âm mưu của quý vị, nước Pháp
buộc lòng phải ngưng che chở và bỏ mặc quý vị với số phận” (!)
Trong học thuật, ông ta khoe với Hội đồng thuộc địa: “Muốn chứng tỏ với quý
vị rằng trong 13 cuốn sách đã xuất bản, tôi
chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp là sự biến đổi và đồng hóa dân
tộc An Nam” (!) Đành rằng trong những điều kiện lịch sử nhất định người
trí thức cũng lực bất tòng tâm
nhưng kẻ sỹ biết chọn cách ứng
xử thích hợp.
Cùng thời, ông đại quan đầu triều Phan
Thanh Giản từng ra bản tuyên ngôn dụ hàng dân chúng: “Số phận đã định rằng:
Người nào định theo lòng Trời thì còn, người nào nghịch theo lòng Trời thì chết.
Chúng ta yếu ớt, không chống nổi người Phú-lang-sa, tướng soái lính tráng đều bị
đánh bại. Người Phú-lang-sa muốn đến đâu cũng đặng, những đồn lũy chắc chắn
cũng phải bể. Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như các tướng võ
hãy bẻ gãy giáo gươm khỏi chống lại. Hỡi các quan và lê dân, các người có thể sống
dưới sự điều khiển của người Phú-lang-sa, những người này chỉ đáng sợ trong lúc
chiến tranh mà thôi!”. Phải qua cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ hy sinh
bao xương máu mới rõ ra ai thuận lòng Trời và ai nghịch lòng Trời?
Trách nhiệm lớn nhất của công dân là bảo
vệ quốc gia dân tộc và xây dựng tổ quốc phồn vinh. “Quốc gia hưng vong, thất
phu hữu trách”, chẳng lẽ kẻ
sỹ không bằng kẻ thất phu sao? Rất nhiều minh chứng còn rành rành trong sách sử
và trong trí nhớ của nhiều người về thân phận bao nhiêu kẻ sỹ được nhân dân tin yêu và gửi gắm nhiều kỳ vọng như: Nguyễn
Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân, Trần Cao Vân, Phan Bội Châu, Huỳnh
Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh… và ngay cả với những người tân học
còn ở độ tuổi vị thành niên như vua Duy Tân, Kỳ Đồng (Nguyễn Văn Cẩm)… có chỗ đứng
nào gọi là độc lập với chính quyền thực dân đô hộ? Chẳng lẽ các nhà trí thức Việt
Nam hiện đại chóng quên đến thế! Rõ ràng, trong giới học thức thời thuộc địa, có hai lớp người nhân cách
và uy tín trái nghịch nhau. Chỉ những người trí thức chân chính biết gắn bó vận
mệnh của mình với cộng đồng dân tộc mới thật sự xứng danh kẻ sỹ - hiền tài. Những tượng đồng
bia đá kia sẽ mòn đi nhưng bia miệng vẫn còn trơ trơ mãi. Một công trình nghiên
cứu về giới trí thức Việt Nam mà thiếu sự phân minh rạch ròi không khỏi ảnh hưởng
tới sự hình thành nhân cách của lớp trí thức trẻ trong hòan cảnh xã hội còn nhiều
điều bất nhất.
Đề cập tới lớp trí thức từ sau khi nước
nhà độc lập, ông Chu Hảo gọi là lớp trí thức Việt Nam hiện đại. Nhận xét của
ông là “trí thức chưa có điều kiện phát huy vai trò và giá trị của mình”!
Nhà nước mới đã rất quan tâm đào tạo nên một đội ngũ trí thức đông đảo nhưng
giá trị thế nào là tự mỗi người làm nên. Trong khi lớp thanh niên cùng trang lứa
chịu đựng mọi khó khăn gian khổ lao vào công cuộc sản xuất và chiến đấu thì bản
thân ông Chu Hảo cùng nhiều người khác được nhà nước ưu ái cho xuất dương học
hành chu đáo thành tài, khi trở về với những học vị danh giá lại được nhận mũ
cao áo dài hưởng lộc hơn người mà hỏi được mấy ông để lại một công trình giá trị
hay chí ít một tấm gương sáng nào về nhân cách cho lớp hậu sinh?! Các ông còn
đòi điều kiện gì nữa để “phát huy vai trò
giá trị” của mình?
Sự hình thành giới trí thức là một hiện
tượng ngẫu nhiên và họ cũng có sự phân hóa trong một điều kiện lịch sử nhất định.
Người trí thức chân chính biết đem sở học cùng uy tín của mình, thậm chí khi cần
có thể quên thân phụng sự tổ quốc và nhân dân – Đó là sự hiển hiện tức thời lý
tưởng Chân-Thiện-Mỹ. Nhà trí thức
Thái Văn Lung, Nguyễn Ngọc Nhựt… sẵn sàng rũ bỏ cái gốc “làng Tây” để đứng về
phía dân tộc ngay trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến đúng với cái nghĩa “đền
nợ nước”. Nhà ký sinh trùng và côn trùng học Đặng Văn Ngữ đang có những công trình
nghiên cứu đầy triển vọng về miễn dịch và di truyền học đã bỏ lại trong các phòng thí nghiệm hiện đại ở Tokyo để về nước tham gia kháng chiến.
Giữa rừng già Việt Bắc, ông đã dùng nước thân cây ngô làm dung môi sản xuất
dung dịch Péniciline chữa cho thương binh. Và sau này, giữa rừng già Trường
Sơn, ông lấy thân mình làm vật chủ cho muỗi đốt để nghiên cứu một loại vaccin
trị sốt rét và hy sinh dưới làn bom B52, để lại sự nghiệp còn dang dở! Nhà khoa
học Trần Đại Nghĩa được nhà nước bảo hộ Pháp cấp học bổng qua Paris học chuyên
ngành cầu đường nhưng ông lén học phương pháp chế tạo súng, rồi theo Cụ Hồ về
nước khi Tổ quốc cần và ông đã có đóng góp thế nào? Nhân dân ghi nhớ công tích
và tôn vinh các ông là những anh hùng. Nhiều nhà trí thức danh tiếng của miền
Nam như Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn
Phát, bà Luật gia Trần Thị Thanh Vân (Ngô Bá Thành)… bằng tài năng, nhân cách
và hành động đã là ngọn cờ tiêu biểu trong công cuộc đấu tranh cho hòa bình thống
nhất đất nước. Kỹ sư trẻ Nguyễn Thái Bình ngay giữa lòng nước Mỹ đã dũng cảm tố
cáo tội ác xâm lược bất chấp sự đe dọa đến tính mạng của mình. Rất nhiều nhà
khoa học tạm gác lại ước mơ, bỏ dở những công trình nghiên cứu lâu dài, lăn vào
bom đạn tìm ra những giải pháp thiết thực giải quyết thành công những yêu cầu cấp
bách của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần không nhỏ vào thắng lợi
chung của dân tộc. Phải chăng cuộc kháng chiến vĩ đại chống ngoại xâm nửa sau
thế kỷ XX do Đảng CSVN lãnh đạo đã tạo điều kiện cho người trí thức Việt Nam đứng
dậy? Nhiều người trí thức không có điều kiện tham gia vào cuộc kháng chiến đó vẫn
có cách ứng xử thích hợp với hoàn cảnh của từng người. Những người trí thức
chân chính, tự gạt bỏ điều u uẩn riêng tư, lấy đại nghiệp quốc gia làm điều chân nghĩa. Dù đứng ở đâu họ không hề
làm vật cản trên con đường giải phóng non sông. Trong chiến thắng chung của dân
tộc họ cũng có phần đóng góp. Ngay từ những ngày đầu nhân dân ta giành được độc
lập, những người trí thức chân chính hướng về dân tộc đã ủng hộ Cụ Hồ. Nhà văn
Thiếu Sơn, tiêu biểu cho những nhân sỹ lớn, trước sứ mệnh cao cả của tổ quốc,
trong giờ phút thăng trầm của lịch sử, đã vượt qua mọi thử thách cam go, đồng
hành cùng dân tộc: “Bọn xâm lăng không nhằm
cá nhân tôi mà xúc phạm. Chúng đã xúc phạm tới cả một dân tộc! Tôi thấy tôi
không thể tách rời khỏi dân tộc mà có được sự kính nể của ngoại bang”. Thời
kỳ cuối của cuộc chiến tranh, những Mặt
trận II (Liên minh đa chính kiến thành phần), Mặt trận III (Hoà giải hoà hợp) được rất nhiều trí thức ở Sài
Gòn hưởng ứng. Người trí thức không nhất thiết duy chỉ làm chuyên môn, học thuật.
Lịch sử và nhân dân bức thiết cần gì, họ hết lòng phụng sự. Trong hoàn cảnh đặc
biệt của đất nước, giới trí thức Việt Nam cống hiến toàn bộ trí tuệ, sức lực và
đã hoàn thành sứ mạng cao cả của mình. Vai trò và giá trị của kẻ sỹ là ở
đó!
Trí
thức có thể hình thành một tầng lớp xã hội riêng chăng? Cùng với
sự phát triển của xã hội, mặt bằng dân trí được nâng lên, lớp người có học ngày
càng đông đảo. Dù tài năng cá nhân vẫn được khẳng định nhưng địa vị độc tôn của
trí thức không còn nữa. Đành rằng công việc của người trí thức có những đặc thù
riêng và trong mối đan xen chằng chịt những phát kiến khoa học, họ vận dụng những
thành tựu của nhau nhưng họ dồn tâm sức vào những công việc khác nhau và cá
tính nghề nghiệp rất mạnh mẽ. Kết quả việc làm của họ ảnh hưởng tới từng bộ phận
dân chúng khác nhau và uy tín của họ nổi lên trong đó. Trí thức là người đại diện
cho dân chúng nói lên ước vọng của mình và đi đầu hướng dẫn họ hành hương tới
chân trời chân lý. Chỉ gắn kết với cộng đồng, người trí thức mới có thể phát
huy tài năng và gây dựng uy tín rộng lớn, càng phát huy tác dụng cho mình.
Ngài Tiến sỹ nêu ra thiên chức của trí thức trên cả thế
giới là: “Tiếp thu và truyền bá tri thức khoa học – công nghệ hoặc văn học,
nghệ thuật; sáng tạo các giá trị mới của khoa học – công nghệ hoặc văn học, nghệ
thuật; đề xuất phản biện một cách độc lập các chính sách giải quyết các vấn đề
xã hội; dự báo và định hướng dư luận xã hội” và phẩm tính của trí thức được nhân loại đúc kết chung lại là: “Tôn
thờ lý tưởng Chân-Thiên-Mỹ; độc lập tư duy; hoài nghi lành mạnh; tự do sáng tạo”.
Thưa, giới trí thức năm châu bốn biển ra tuyên ngôn này vào lúc nào và ở đâu
hay đó chỉ là sản phẩm trí tuệ của riêng ông Chu Hảo?!
Người trí thức là người làm khoa học. Thiên chức của trí thức là sáng tạo bởi
khoa học là sáng tạo. Proudhon nói: “Khoa học là sự nổi loạn của tư duy”
bởi mọi sự ổn định chỉ là giả tưởng. Khoa học không có sự thoả mãn, nó đòi hỏi
luôn phải tìm ra cái mới và mới nữa. Khổng Tử nói: “Kẻ sỹ mà cứ muốn ở yên
thì chưa đủ gọi là kẻ sỹ”. Ở yên đây có nghĩa là hết năng lực sáng tạo, thỏa
mãn với thành tựu nhất định ủa mình rồi. Chân lý khoa học đồng nhất với mục
tiêu của trí thức là Chân-Thiện-Mỹ
nhằm giải thoát con người khỏi những ràng buộc của tự nhiên và xã hội để được tự
do–bình đẳng–hạnh phúc. Còn như người
trí thức làm được những gì và làm được đến đâu là tùy theo khả năng của họ và
tùy thuộc vào điều kiện xã hội họ đang sống. Người trí thức cũng là công dân
nên lúc nào, ở đâu họ cũng phải gương mẫu làm tròn trách nhiệm công dân. Điều
này tùy lúc tùy nơi, người trí thức tự chọn cách hành xử của mình sao khỏi hổ
danh và giới chức cầm quyền tạo điều kiện cho họ làm được tới đâu. Người trí thức
nào cũng sống trong một xã hội với những điều kiện vật chất và tinh thần nhất định
không khỏi tác động tốt xấu tới sự phát triển tài năng của họ. Vấn đề là ý chí
chủ quan của người trí thức, tính quang minh chính đại của mục tiêu xã hội và sự
hợp tác chủ động tích cực của giới cầm quyền để người trí thức phát huy tối đa
tài năng của họ cho sự nâng cao chất lượng cuộc sống của xã hội đương thời. Thực
tế là không ít bậc đế vương hoặc nguyên thủ quốc gia không có phẩm học cao tột
đỉnh mà vẫn được kẻ sỹ–trí thức
mọi thời suy tôn là thánh đế, minh quân hay là nhà lãnh đạo tài ba sáng suốt.
Có hiền tài mới có minh quân và có minh quân mới xuất lộ hiền tài. “Hiền tài
là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên
cao; Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Các đấng thánh đế minh
vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun truyền
nguyên khí làm việc đầu tiên” (Thân Nhân Trung).
Theo ông Chu Hảo thì phẩm tính của trí thức ở một số nước
như: Mỹ là thực tế, Đức là chính xác, Nhật là khiêm tốn, Trung quốc là thâm
thúy… Dường như ông Tiến sỹ lẫn lộn giữa phẩm tính của người trí thức với đặc
tính dân tộc mà người trí thức nào cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường sinh sống
của mình? Trí thức càng lớn thì phẩm tính của họ càng gần lại với nhau. Pascal
nói: “Sự hiểu biết của một người cũng như
diện tích hình tròn mà chu vi của nó là vòng giới hạn. Diện tích hình tròn càng
rộng thì chu vi của nó càng dài”. Einstein nói: “Càng học cao càng thấy mình kém cỏi”. Sách “luân lý giáo khoa thư”
Việt Nam có câu: “Càng học càng thấy dốt”.
Khiêm nhường là một đức tính quý báu của người trí thức cũng như có tính chính
xác mới làm nên nhà khoa học. Đặc biệt ông Chu Hảo lại cho rằng phương châm
hành xử của trí thức Việt ta là “cấp lưu dũng thoái” (gặp dòng nước xiết
phải biết dũng cảm rút lui), nghĩa là sống tùy thời – chắc ông Tiến sỹ không muốn
nói là “láu cá”! Nếu quả thật
người Việt mình, kẻ sỹ Việt mình xấu xí như vậy mà nói thẳng ra cũng chẳng có
chi là xấu hổ. Nhiều bạn đọc chưa quên tại trường “Đông kinh nghĩa thục” xưa ở phố Hàng Đào Hà Nội, nhà chí sỹ
Lương Văn Can thường nhắc nhở một câu mà giới sỹ phu ta nhập tâm, lại truyền
cho con cháu là: “Bảo quốc túy – Tuyết quốc sỉ”, nghĩa là phải giữ gìn
cái tinh hoa của dân tộc mình, phải rửa sạch nỗi nhục của tổ quốc mình – là mất
nước. Các thế hệ con cháu người đã rửa được nỗi nhục mất nước rồi. Còn cái tinh
hoa tức là cái quốc túy – cái hồn
Việt ta là gì thì các nhà trí thức Việt Nam hiện đại cần tìm cho ra. Nếu nó mất
rồi thì ta dựng lại, nếu nó ẩn khuất dưới dạng nào thì đưa nó ra dạy cho đàn
con cháu về sau nhận dạng đúng chân dung ông bà tổ tiên ta. Người viết có suy
nghĩ rằng, chỉ nguyên một việc nước Nam ta tồn tại hàng mấy ngàn năm bên một quốc
gia phương Bắc mạnh như thế, thâm hiểm như thế, tàn độc như thế trong khi bao
nhiêu quốc gia hàng xóm lân bang đã bị họ nuốt chửng rồi thì không phải là
không có những điều gì kỳ lạ? Lại nữa, những cường quốc mọi thời với những dấu
ngựa, vết giày của họ tới đâu cũng làm cho bao nhiêu dân tộc khiếp vía qui hàng
mà người Việt mình biết bảo nhau chống lại, đuổi được chúng đi, bảo tồn được
non sông nòi giống thì dân tộc ấy, tiêu biểu là giới trí thức nước ấy không phải
là lũ láu cá bạc nhược hèn nhát chỉ biết “cấp lưu dũng thoái”! Kẻ sỹ nước
Nam ta luôn “lấy điều liêm
sỷ làm trọng” (sống trong sạch và biết hổ ngươi). Sống trong sạch
để giữ mình. Biết hổ ngươi tất không làm điều xấu và không chịu nhục. Nhờ thế
mà giữ được mình, được nhà, được nước.
Ông Chu Hảo và những người đồng hội đồng
thuyền ưa nói đến cái gọi là Xã hội dân sự hay xã hội công dân
(société civile). Nó được hiểu là “sự kết nối xã hội giữa một bên là cá nhân
hay một nhóm người có lợi ích chung, với một bên là nhà nước hiện đại, nhằm giải
quyết hài hòa các vấn nạn nảy sinh từ đời sống thường nhật đến cả các vấn đề
chính trị xã hội” (theo Bách khoa toàn thư Anh - Britannica). Với khái niệm dân
chủ kiểu đòn sóc hai đầu này của phương tây, dễ làm ngòi nổ cho các cuộc cách mạng
đủ loại màu sắc: Cách mạng nhung, Cách mạng hoa hồng, Cách mạng cam, Mùa xuân Ả
Rập… Và khi thời cơ đến thì các tổ chức phi chính phủ (NGO) – thực chất là những
tổ chức chính trị trá hình nhảy vào đúng lúc.
Mọi chuyển động của xã hội đều không
thể thoát ly những yếu tố chính trị, văn hóa, thế nước, lỏng dân trong từng thời
điểm lịch sử cụ thể. Trên cơ sở quốc gia ổn định và phát triển, giá trị về nhân
quyền mới được đề cao. Và cũng trên cơ sở pháp quyền được tôn trọng, xã hội kỷ
cương mới có thể ổn định và phát triển. Dân chủ luôn là đích đến của một xã hội
văn minh, và nó giống như “đường chân trời” vậy.
Với người trí thức, làm và được làm cho điều thiện là động lực phát triển trong
khi Tiến sỹ Chu Hảo đánh giá: “Điểm mạnh của trí thức XHCN là: yêu tổ quốc,
yêu CNXH, trung với Đảng, hiếu với dân, cần cù, thông minh, sáng tạo, dũng cảm,
không sợ khó khăn gian khổ và điểm yếu là: hời hợt trong tư duy, thiếu nghiêm
túc trong nghiên cứu và có tính cơ hội”. Trong cái mớ nhận xét lộn xộn tùm
lum ấy, ngoài mấy khẩu ngữ mơ hồ thì điểm nào là chính yếu? Trong mấy điểm yếu ngài
nêu ra: Hời hợt trong tư duy
thì làm sao sáng tạo? Thiếu nghiêm túc
trong nghiên cứu thì sao có thành công? Và kẻ sỹ mà cơ hội thì đại họa – Lịch sử đau thương của tổ quốc ta
cho thấy những người có học vấn càng cao mà cơ hội thì gây tai họa cho dân tộc
sâu xa dai dẳng biết chừng nào!
Chẳng lẽ gần hai phần ba thế kỷ rồi,
xã hội ta chưa đào tạo ra được một lớp trí thức tử tế, đàng hoàng?! Khi đưa ra
nhận xét này, ông Chu Hảo có trừ mình ra?
Xã hội nào cũng sản sinh ra lớp trí thức
theo yêu cầu của giới cầm quyền. Và giới cầm quyền nào lúc khởi nghiệp cũng đại
diện cho xu thế tiến bộ của thời đại ấy. Từ xưa ông bà ta đã nói: “Cho con đi học chữ, học nghĩa”. Chữ
và nghĩa
mang nội dung khác nhau nhưng quan hệ mật thiết với nhau. Chữ hàm ý là vốn kiến thức.
Nghĩa
hàm ý là trách nhiệm làm người. Học càng cao, chữ càng nhiều, nghĩa vụ làm người
càng lớn lao nặng nề, khi cần thì “xả
thân dĩ thủ nghĩa” (quên mình vì việc nghĩa). Trí thức chân chính (nho quân
tử) thì chữ và nghĩa phải tương xứng với nhau mới
ích cho nhà cho nước. Tuy nhiên nghĩa có lúc thường lúc biến, người
thức giả hiểu sâu xa về điều nghĩa sẽ không là kẻ phản thần hay kẻ
ngu trung. Thời nào cũng có những hạng người không có được sự tương xứng giữa chữ và
nghĩa.
Có chữ
mà bất
nghĩa, ấy là kẻ ích kỷ vô nhân.
Có
nghĩa mà vô học thì làm sao biết lẽ phải trái để chọn đường ngay lối thẳng
mà đi, dễ bị kẻ vô nhân chăn dắt. Hai loại người ấy tác hại như nhau!
Trong cơn biến động xã hội hạng người
cơ hội nảy ra như nấm sau mưa, hay dở khó phân, thật giả khôn lường, người tài
thành vô dụng, kẻ bất tài ở ngôi cao, thiên hạ tù mù, chẳng có kỷ cương, luân
thường điên đảo, xã hội nhiễu nhương. Khác với thời thịnh trị, việc học hành
nghiêm chỉnh căn cơ, phụ huynh chăm lo dạy dỗ con em từ tuổi ấu thơ, thầy là
gương sáng cho trò, mệnh quan (cán bộ) trước cần cái đức thương dân như con sau
mới làm việc hết lòng vì dân như kẻ tôi tớ trung thành, dân tin quan như con
tin cha mẹ, trên dưới mỗi người một phận rõ ràng, xã hội kỷ cương, chan hòa
nhân ái. Phế hưng là ở đó. Tệ hại nhất là loại nho tiểu nhân (trí thức cơ hội)
lại được giao quyền sinh sát, mặc sức lộng hành, khi hết thời mãn thế mà lòng
tham-si-hận vẫn nặng, kích xúi thiên hạ gây rối loạn nhân tâm! Thói đạo đức gỉa
được che đậy bằng những học vị chức danh và những mưu mô xảo trá dối trên, lừa dưới,
làm đạo đức xã hội càng mau băng hoại, chẳng những che mắt được người đương thời,
lâu dài làm sai lạc lịch sử lừa người đời sau hàng trăm năm nữa.
Giới trí thức là một thực thể của mọi
xã hội. Kẻ sỹ đích thực ở thời
nào đều có cách ứng xử chuẩn mực với vai trò của mình trong từng hoàn cảnh lịch
sử cụ thể. Trần Ích Tắc, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là thứ nho gì? Kẻ sỹ lớn
như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp bất dung thời thế
mà tiếng thơm vẫn để đời. Nhà nho Huỳnh Thúc Kháng, Học giả Nguyễn Văn Tố, Giáo
sư Hồ Đắc Di, Bác sỹ Đặng Văn Ngữ, Kỹ sư Trần Đại Nghĩa, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… là tấm gương sáng ngời của người trí thức đem vốn
học rộng tài cao cống hiến quên mình vì sự nghiệp độc lập của tổ quốc và hạnh
phúc của nhân dân. Vậy giá trị thực của người trí thức là ở những việc làm có
ích cho dân có lợi cho nước chứ không phải là ở bằng cấp, chức danh. Trọng
khinh là ở đó.
Ông Phan Khôi nhận xét thâm thúy lắm:
“Ở xã hội ta nhà nho bao giờ cũng có sẵn
rìu búa trong tay, gặp lúc thì giở ra để duy trì nhân tâm thế đạo”. Câu nói
tưởng chừng phi lý mà lại là sự thật. Một nước nhỏ luôn sống giữa sự đe dọa bị
nuốt chửng của các nước lớn cường quyền mà trong giới những người có học luôn bị
phân tâm chia rẽ bởi những thế lực ngoại xâm, nội phản. Kẻ sỹ Việt Nam không thể
chỉ biết chăm vào chữ nghĩa mà còn phải thủ sẵn rìu búa nữa! Có điều là rìu búa
để duy trì cái nhân tâm thế đạo của người quân tử thì đại phúc cho dân. Còn như
rìu búa để duy trì cái nhân tâm thế đạo của kẻ tiểu nhân là đại họa cho nước!
TP Hồ Chí Minh,
tháng đầu năm 2019
No comments:
Post a Comment