ĐỪNG NHÂN DANH VĂN
HÓA
LỪA THIÊN HẠ
Nguyễn Văn Thịnh
{
Gần một
thế kỷ chiếm đóng, người Pháp luôn tuyên truyền giáo sỹ Đắc Lộ, tác giả của
cuốn Tự vị Việt-Bồ-La là người đầu tiên sáng chế ra chữ Quốc ngữ – như chiếc
hài thần cho người Việt bước tiến dài những 300 năm. Mưu toan vinh danh ông
bằng đủ mọi cách là điều chẳng mới mẻ gì.
Năm 1932, nhân kỷ niệm 300 năm ngày Rhodes đến
Việt Nam, người ta kêu gọi đúc tượng đồng tri ân Rhodes vì có công sáng chế ra
chữ Quốc ngữ. Tại Sài Gòn, báo Phụ nữ tân văn số 118 (4/2/1932),
học giả nổi tiếng đương thời Đào Trinh Nhất khẳng định: “Alexandre de Rhodes không phải là
người đặt ra chữ Quốc ngữ”. Rồi chẳng thấy ai hưởng ứng, ngay cả chính
quyền bảo hộ Pháp lúc đó cũng lờ đi! Trong thời thuộc Pháp, nhiều học giả
có uy tín như Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan… đã nêu ra sự thực ấy.
Theo hồi ký của nhà hoạt động văn hóa xã hội Nguyễn
Hữu Đang (1913 – 2013): Năm 1941, trong tình cảnh khởi đầu thế chiến II, với
dụng ý gây uy tín cho chủ nghĩa đế quốc Pháp, để nhắc nhở dân tộc Việt Nam chớ
quên “công ơn khai hóa” của họ, ở sau đền Bà Kiệu, xế cửa đền Ngọc Sơn, nhà
nước bảo hộ cho dựng tấm bia đá ghi công tích Alexandre de
Rhodes, một giáo sỹ Pháp sang truyền đạo ở nước ta vào những năm 1624-1645, được dư luận
mơ hồ coi là người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ (Xin lưu ý bạn đọc chỉ là tấm bia đá chớ không phải tượng). Dĩ nhiên trong lễ khánh thành phải có
kẻ tung người hứng. Kẻ tung đã được chọn là giám mục địa phận Hà Nội. Kẻ hứng
được hy vọng tất nhiên phải là ông Nguyễn Văn Tố, nhà cổ học nổi tiếng, Hội
trưởng “Hội truyền bá Quốc ngữ”, đang được cả nước hoan nghênh. Bởi vậy Ban tổ
chức mời vị đại diện Hội dự lễ khánh thành với hai yêu cầu cụ thể:
1- Ông Nguyễn Văn Tố đọc một bài phát biểu công nhận
giá trị khoa học và ý nghĩa lịch sử sự nghiệp của Alexandre de Rhodes (cả hai
mặt đều đã được thổi phồng trong bài diễn văn trước đó của vị giám mục địa phận
Hà Nội).
2- Học viên của
Hội ở thủ đô, tiêu biểu cho phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ sẽ đến đông đủ,
hoan hô và diễu hành.
Hội không có lý do gì chính đáng để từ chối. Riêng ông
Hội trưởng cứ ung dung nhận lời, nói trấn an mọi người: “Các ngài cứ yên tâm,
Hội trưởng sẽ biết múa võ không hở sườn. Xin hứa giữ toàn vẹn cả danh dự Hội
lẫn danh dự cá nhân”.
Giữ ra sao? Ông dặn Ban dạy học chỉ dẫn độ năm sáu
chục học viên nhỏ tuổi, đứng im lặng, hễ ông đọc xong bài phát biểu là tự động
giải tán ra về. Một giáo viên sẽ đến phân trần với Ban tổ chức là học viên
người lớn của Hội ban ngày bận đi làm, chỉ có một số ít học viên nhỏ này rỗi
phần nào là đi dự được. Họ đứng lâu sốt ruột lại thiếu ý thức trật tự, khuôn
phép nên tự động bỏ về, chúng tôi bực mình nhưng cũng đỡ lo vì nếu họ diễu
hành, đi gần đài bia tưởng niệm và các quan khách mà có cử chỉ, ngôn ngữ thiếu
lễ độ, tôn kính thì tai hại!
Còn bài phát biểu của ông Hội trưởng thì bằng những
dẫn chứng cụ thể và biện luận chặt chẽ, ông chỉ ra rằng chính các giáo sỹ
Tây-ban-nha (Spaint) và Bồ-đào-nha (Portugal) đã đến xứ này từ lâu trước
Alexandre de Rhodes và họ mới là người đầu tiên dùng chữ cái Latin phiên âm
tiếng Việt, sáng tạo hệ thống gần hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ hiện ta đang dùng.
Sau đó, Alexandre de Rhodes mới góp phần mình bằng những cố gắng qui tắc hóa và
đem phổ
biến hạn chế trong việc dịch kinh bổn và biên soạn tài liệu cho giáo hội.
Ông ta đáng khen ở chỗ thừa kế các bậc tiền bối mà có bổ sung trong chi tiết.
Những người nghe ông nói hoặc đọc bài phát biểu đăng trên một tờ báo Pháp ra
ngày hôm sau đều thấy rõ ông đã vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử để tuyên
truyền lừa bịp của bọn thực dân. Giới chức thế quyền và thần quyền đều chưng hửng!
Năm
2004, một số người nhân danh trí thức cấp tiến kiến nghị lên Bộ Văn hóa và Thủ tướng chính phủ phục hồi lại địa vị của giáo
sĩ này vì ông là người sáng nghĩ ra chữ Quốc ngữ(!), đồng thời đặt lại tên
đường và phục dựng
bia kỷ niệm ông ở vị trí cũ giữa lòng thủ đô. Buồn thay, trong danh sách ấy có
nhiều cây đa cây đề trong giới văn hóa đương đại nước nhà. Sự việc được các
phương tiện truyền thông rùm beng lên.
Năm
2009, một điêu khắc gia Kito hữu đã hoàn thành bức tượng Rhodes nặng 43
tấn bằng đá hoa cương trắng, sẵn lòng hiến tặng nhân dân thủ đô vào dịp kỷ niệm
1000 năm Thăng Long để đặt ở nơi trang trọng nhất. Được biết tượng hiện đang
lưu tại một giáo xứ ở Bình Dương.
Cuối năm 2018, vào dịp giỗ ông, người ta rủ nhau một
đoàn vượt hơn 6.000km tới tận xứ Ba Tư xa xôi, mang theo tấm bia đá xứ Quảng
Nam ghi sâu những lời tri ân, đặt lên mộ ông Rhodes và hứa hẹn vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày vua Khải Định xuống chiếu
chấm đứt các khóa học và khoa thi chữ Hán (1919), công nhận chữ Quốc ngữ là chữ
viết chính thức trên toàn cõi Việt Nam, tượng ông sẽ được dựng lên ở
cảng thị Nước Mặn – Quy Nhơn, nơi được coi là cái nôi của chữ Quốc ngữ, mà thực
ra là nơi các giáo sỹ thừa sai Dòng Tên Bồ Đào Nha lần đầu cặp cảng và nhiều
năm sau đó là nơi các giáo sỹ ẩn náu sự truy lùng gắt gao của triều đình nhà
Nguyễn!
Thật là nghịch lý, trong khi nấm mộ vị giáo sỹ bậc
thầy có công đầu lao tâm khổ tứ tạo ra chữ Quốc ngữ thì hương lạnh khói tàn,
nằm trơ trọi ngay tại đất Quảng Nam (nhà thờ Phước Kiểu – Thanh Chiêm – Điện
Bàn) mà chẳng mấy người biết đến!
Sau ngày thống nhất đất nước, con đường mang tên ông
được thay bằng tên một liệt sỹ rất xứng đáng tiêu biểu cho giới trí thức Sài
Gòn tân học cũng bị một ngài “phương diện quốc gia” buộc phục hồi ngay trong
đêm. Giá như được thay vì tên “Đường
Quốc ngữ” sẽ mang ý nghĩa văn hóa nhất vì nó vinh danh cả tập thể người ở
mọi thời đã góp công sáng tác và hoàn chỉnh nó. Khi văn hóa bị lợi dụng vào mục
tiêu bất chính sẽ thật là khó sửa!
Nhiều nhà khoa
học, nhà nghiên cứu lịch sử và tôn giáo có tâm huyết ở trong nước hoặc đang
sống ở nước ngoài như Trần Chung Ngọc, Bùi Kha, Charly Nguyễn, Phạm Văn Hường,
Cao Huy Thuần, Nguyễn Mạnh Quang… phản biện bằng những cứ liệu rất thuyết phục,
bà con xa gần đều biết.
Trên
nhật báo Tuổi Trẻ số 104-110/2019, ký giả Trần Nhật Vy khẳng định theo tinh
thần của các học giả tên tuổi tiền bối: Chữ Việt viết theo dạng Latin là công
trình tập thể của các giáo sỹ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và nhiều thanh niên có
học người bản xứ, mà công đầu là của giáo sỹ Francesco de Pina. Khi Rhodes đến xứ Đàng Trong thì chừng 10 năm
trước đó, tiếng Việt đã được Latin hóa với những dấu âm khá gần với chữ Quốc
ngữ hiện nay, và đưa ra thực giảng trong những buổi lễ đạo cho các giáo dân.
Chắc chắn giáo sỹ Pina còn đi xa hơn trước nữa. Nghĩa là chữ Quốc ngữ lúc đó đã
gần như hoàn chỉnh.
Nhờ sự may mắn của số phận, Rhodes được thừa hưởng các
di cảo của những người tiền khởi là hai cuốn Tự điển Việt-Bồ, Bồ-Việt của
Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa chưa kịp in ra và những vốn từ ngữ địa
phương của họ, cộng với công lao in ấn để cho ra đời hai cuốn Tự điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày.
Giáo sư sử học
Jacques Roland,
đại học Saint Paul, Ottawa, Canada nhận xét: “Tôn vinh
quá lố Alexandre de Rhodes trở thành truyền thuyết như là thần thoại, như là người có công đầu trong việc sáng lập ra chữ Quốc
ngữ, là một sự sai lầm về lịch sử”.
Vậy
lý do nào trải 400 năm rồi mà người ta vẫn dành sự ưu ái quá đặc biệt, thậm chí
là khiên cưỡng gán ghép cho vị giáo sỹ đàn em cái gọi là “công lớn” quá sức của
ông ta? Không khó nhận rõ hai điều liên quan mật thiết với nhau: Bởi Rhodes là
người Pháp đầu tiên phát hiện và hết lòng vận động chính quốc mau sang khai
thác xứ Viễn Đông đầy tiềm năng đang còn hoang hóa. Và bởi Rhodes còn là “người
vác Thánh giá Thầy” có công đầu trong việc giành đất Chúa cho “Hội thừa sai
Paris” ở bán đảo Đông Dương từ tay những thừa sai đến trước. Những ai tung hô
hưởng ứng nồng nhiệt và đeo đuổi chuyện này dai dẳng nhất? Nguyễn Văn Lục nói
rõ lý do mà giáo hội công giáo Việt Nam lúc nào cũng gán công lao tạo ra bộ chữ
Quốc ngữ để vinh danh Alexandre De Rhodes vì: “... Có thể nói tóm tắt, các giáo
sĩ dòng Tên mà người tiêu biểu nhất là linh mục De Rhodes là người mở đường,
người đặt viên đá đầu tiên xây dựng nên Giáo hội Thiên Chúa giáo ở cả Đàng
Trong đến Đàng Ngoài. Các thừa sai Ba Lê sau này nối tiếp sứ mệnh ấy..." (nguồn:dcvonline.net/ 2018/11/22/ nep-song-dao-mot-thoi-3a/)
1/ Về nhân thân ông Đắc Lộ: Không khó tra cứu trên nhiều tư
liệu. Có thể tóm gọn như sau: Rhodes (1593-1660) sinh tại Avignon, gốc Y pha
nho. Năm 1620, khi nhập giáo hội dòng Tên (Jesus),
hồ sơ ghi Alexandre Rhodes. Sau thời gian đi truyền đạo ở Đông Nam Á trở về Âu
châu, ra quyển từ điển Việt-Bồ-La thì
danh xưng được kèm thêm chữ “de” thuộc dòng quý phái. Đã tu hành mà chưa thóat
tục!
Năm 1623 khi đoàn của giáo sỹ Rhodes cặp cảng Đà Nẵng,
vào Hội An thì những giáo sỹ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã đến trước từ lâu và chữ
Quốc ngữ đã được dùng để rao truyền tân đạo. Đoàn ra Huế rồi ra Bắc kỳ đời vua
Lê Thần Tôn và chúa Trịnh Tráng. Với ít cống vật lạ lẫm xứ người đã mua chuộc
được giới cầm quyền bản địa ban nhiều ân huệ như cho xây cất nhà ở, nhà thờ,
lập họ đạo ở gần hoàng cung, được tự do truyền đạo, làm lễ rửa tội cho cả ngàn
dân chúng trong đó có cả một số công nương của triều đình.
Nhưng cơ cấu chính trị và xã hội Việt Nam xây dựng
trên quan niệm đạo đức “tam giáo đồng
nguyên”: tục thờ cúng ông bà, lòng Trung-Hiếu-Từ-Bi-Hỷ-Xả… trong khi tân
đạo lại phế truất các điều đó. Các giáo sĩ Cato đã dùng những lời
xúc xiểm, mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật giáo, Khổng giáo,
Lão giáo. Họ bài xích cả những truyền thống văn hóa thiêng liêng
của người bản xứ như tục lệ thờ cúng tổ tiên. Trong sách “Phép giảng tám
ngày”, Rhodes viết: “Như thể có chém cây
nào đục cho ngã, các cành ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích
Ca, là thằng hay nói dối người ta, ngã xuống, thì mọi chuyện dối trong đạo Bụt,
bởi Thích Ca mà ra có ngã với thì đã tỏ”, rõ ràng nó xúc phạm vào các
nguyên lý đạo đức, xã hội của người phương Đông. Do những việc làm của họ gây
bất an cho xã hội, bị dân chúng tẩy chay và giới cầm quyền không chứa chấp.
Sau 20 năm qua lại truyền đạo ở xứ Đàng Ngoài và Đàng
Trong, Rhodes gửi về một bản phúc trình mô tả tập quán, dân tình, tiềm năng
thương mại, chính trị và chiến lược, phóng đại về
tình hình cải đạo của dân chúng Việt Nam. Rhodes mặc áo chùng tu mà lòng
không quên trong mình mang dòng máu Gaulois. Ông nói: “Tôi nghĩ nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể
cung cấp cho tôi nhiều binh lính (plusieurs soldats) để chinh phục tòan cõi
phương Đông (la conquête de tout l’Orient)”. Ông qua La mã xin Đức Giáo
hoàng huỷ bỏ đặc ân Chúa dành cho Bồ-đào-nha đất Á Châu. Không được chấp nhận,
ông về nước vận động giới thương nhân, giáo sỹ, thậm chí cúi mình luồn cửa sau
“vận động hành lang” Hoàng hậu tâu lên Pháp hoàng Louis IV xin cung cấp những chiến sỹ đi chinh phục cõi
Đông phương giàu tiềm năng. Pháp hoàng Napoléon I từng nói về những nhà
truyền giáo của họ: “Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy mục đích chính trị
và thương mại. Họ chẳng mang một danh nghĩa chính thức nào mà lại tốn kém ít và
được người bản xứ kính nể. Họ không thể làm chính quyền phải liên lụy hay bị sỉ
nhục. Lòng nhiệt thành về tôn giáo khích lệ các tu sĩ làm việc và mạo hiểm hơn
cả một viên chức dân sự nhiều”.
Sử gia Pháp là ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en
Annam” xuất bản tại Hà Nội năm 1930 đã viết: “Vai trò của Alexandre de Rhodes trong việc thành lập“Hội thừa sai
Paris” đã đưa giáo hội công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm
soát của người Bồ Đào Nha, đã đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở
bán đảo Đông Dương”. Vào thời điểm ấy, do mắc kẹt bởi nhiều sự kiện lịch sử
bê bối, ý đồ của ông tu sỹ nhẹ việc đạo nặng việc đời này chưa nhận được sự
hưởng ứng của giới chức cầm quyền nhưng đã tạo tiền đề cho cuộc xâm lược nước ta
206 năm sau đó. Giám mục Puginier khẳng
định: “Không có giáo dân Việt Nam thì
Pháp không thể lập được nền đô hộ ở đây!”.
Cũng như ở Trung Hoa và Nhật Bản khi nhà cầm quyền
nhận ra và lo ngại các nhà truyền giáo phương tây mưu đồ tạo nên một tổ chức
Gia tô không cần biết đến các uy quyền truyền thống ngoài những người lãnh đạo
tinh thần của họ. Từ đó mới phát sinh ra luật cấm đạo. Luật càng bị chống đối
thì việc thực thi càng quyết liệt, thậm chí tới mức cực đoan quá khích. Các
giáo dân dung túng bao che bị trừng trị nghiêm khắc. Các giáo sỹ bị săn đuổi.
Rhodes không là ngoại lệ. Bị đẩy vào mãi chân giải Hoành sơn, Rhodes trốn sang
Trung Quốc rồi lại quay vào Đàng Trong. Năm 1645, bị bắt và khép án tử hình,
sau được xá tội và đuổi ra khỏi xứ. Lên tàu về
Áo Môn, Rhodes còn lưu luyến: “Thân
xác tôi rời bỏ Đàng Trong nhưng chắc chắn tâm hồn tôi vẫn còn ở đây... Tôi không thể tin được là tôi phải rời bỏ nơi chốn này”. Nhưng từ năm 1654, Bồ Đào Nha không cho tu sĩ Dòng Tên có quốc tịch Pháp đến
các miền Viễn Đông truyền giáo nữa, nên Bề trên Cả buộc lòng phải đưa cha Rhodes sang làm việc tại nhà Dòng ở xứ Ba Tư và chết ở đây!
Lịch sử 400 năm phát triển Cato giáo ở Việt Nam cho
thấy rõ một điều: Tôn giáo vừa ru ngủ lòng người cam nhận một sự ổn định tinh thần, lại
vừa kích động lòng người chống lại truyền thống dân tộc họ.
II/ Đừng
ngộ nhận rằng “Khi cho Việt Nam các
mẫu tự Latin, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”!
Ông Phan Văn Trường xuất thân từ gia đình đại
khoa bảng và là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sỹ Luật Khoa ở Pháp,
nhiều năm hoạt động xã hội và báo chí rất có uy tín ở Sài Gòn, đưa ra nhận xét
như sau: “Nước Pháp khi xâm chiếm nước An Nam và đặt ách thống trị của
mình không phải lên một dân tộc hoàn toàn vô học, mà là lên một dân tộc từng có
một quá khứ tương đối vẻ vang, và dân tộc ấy mặc dù chưa có những kiến thức
khoa học hiện đại như các nước châu Âu nhưng cũng đã tiến được đến một trình độ
văn minh và văn hóa khá cao.
Trước đó, nước An Nam đã có một hệ
thống dạy học giống như hệ thống dạy học ngày xưa ở bên Tàu, nghĩa là chỉ
chuyên dạy và chuyên học văn chương thi phú. Cái việc nước Tàu đang còn chậm
tiến về khoa học đã làm cho nhiều người tin rằng chữ viết của Tàu vốn không
giản dị như mẫu tự a, b, c… của phương Tây đã là một chướng ngại lớn cho việc
tiếp thu các kiến thức khoa học Âu Tây.
Nhưng họ không biết đến người Tàu đã
cải tiến công việc dạy và học của họ theo những cơ sở mới. Người Tàu đã dịch ra tiếng Tàu và bình luận bằng tiếng Tàu
hầu hết những tác phẩm văn học nổi tiếng của phương Tây. Nhờ đó mà có nhiều nhà
nho An Nam chỉ cần đọc một vài quyển gọi là “tân thư” của Tàu cũng đã hiểu rõ
những khái niệm tổng quát về các môn khoa học và nghệ thuật, về địa dư và lịch
sử của năm châu thế giới, trong khi những anh em
đồng bào của họ được đào tạo trong những trường Pháp – Nam thì chẳng biết một
tí xíu gì về những môn này, ngoại trừ những anh nào trong bọn họ tò mò tìm cách
tự học lấy trong sách vở. Ở Hà Nội có một nhà nho An Nam cao tuổi, đã một mình
nhờ mấy cuốn sách nho nhỏ của Tàu, học được môn vật lý và môn hóa học rồi tìm
cách ứng dụng những điều đã học được vào những công việc rất thú vị, hay ho.
Hiện nay chúng ta vẫn còn gặp nhiều nhà nho An Nam, tuy không biết một chữ Pháp nào cả nhưng lại biết rất rành
lịch sử nước Pháp, lịch sử châu Âu, rành hơn mấy anh học trò An Nam được đào
tạo trong các trường Pháp.
Phải đợi đến chiến thắng vĩ đại vang
dội khắp hoàn cầu của nước Nhật trong chiến tranh với Nga (1904-1905), người
châu Âu mới chịu tin rằng chữ Tàu nếu học đúng phương pháp thì cũng dễ như các
thứ chữ khác và không phải là một chướng ngại vật trong sự tiếp thu những tinh
hoa của khoa học phương Tây.
Về vấn đề ngôn ngữ, nước Nhật cũng
nằm trong một tình cảnh tương tự tình cảnh của nước An Nam trước khi bị Pháp
xâm chiếm. Họ có tiếng nói là tiếng Nhật như An Nam ta có tiếng nói là tiếng An
Nam, nhưng chữ viết của họ là chữ Tàu. Ngày nay ở Nhật, những văn thư hành
chính, những tạp chí, nhật báo lớn và những sách giáo khoa cho bậc học cao đều
viết bằng chữ Tàu, và chữ Tàu được xem là thứ chữ chính mà các cấp học trong
ngành giáo dục của Nhật đều phải dùng (mặc dù trước đó các giáo sỹ đã sáng
tạo ra chữ “romaji”
viết theo mẫu tự
Latin nhưng bị tẩy chay – NV). Tóm
lại, do hoàn cảnh mà dân tộc An Nam – một dân tộc thông minh không thua kém gì
những dân tộc khác ở Á Đông, bị đặt vào, tức là, như những người trong giới cầm
quyền thuộc địa vẫn nói, đang bị khai hóa dưới sự chăm sóc bảo hộ của nước
Pháp, nên hiện nay người An Nam đã trở thành một dân tộc lạc hậu nhất và dốt
nát nhất so với những dân tộc khác ở Á Đông” (Une histoire de conspirateurs annamites à Paris, où La vérité sur l’Indo-chine – 1923:
Chuyện một người An Nam tạo phản hay là Sự thực ở xứ Đông Dương, còn dịch Chúng tôi làm quốc sự)
Chữ viết đóng góp phần quyết định vào nền văn minh của
một dân tộc bởi nó là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền giáo dục quốc gia
bảo tồn văn hiến. Đầu thế kỷ XX, coi như nước Pháp hoàn thành công cuộc bình
định Đông Dương. Đồng thời với việc ra sức khai thác tài nguyên thuộc địa, thế
quyền và thần quyền hợp tác chặt chẽ và nhất quán với nhau đúng theo tinh thần
của Giám mục Puiginier: “Không đồng hóa chủng tộc được thì phải
đồng hóa trước là ngôn ngữ và sau là văn hoá để lập nên một nước Pháp nhỏ ở
Viễn Đông”.
Theo Hiệp ước Patenôtre 1884, người Việt Nam đã là dân
vong quốc thì vua chỉ là tay sai bù nhìn. Khải Định có ra chiếu chỉ bãi bỏ các
kỳ thi và trường học Hán-Nôm trong cả nước, tất nhiên phải làm theo lệnh của
nhà cầm quyền thuộc địa. Bới nó ra càng hổ thẹn với người! Bạn đọc nghĩ gì khi
đứng trước một tấm bia hay câu đối, bức thư pháp kèm bài thơ cổ, người trí thức
Nhật dò đọc và giải ra được ý, trong khi người trí thức Việt Nam đứng ngây như
“chúa Tàu nghe kèn” trước dòng lưu bút của chính tổ tiên mình?!
Sự mất đi ngôn ngữ Hán-Nôm truyền thống không khỏi kéo
theo hệ lụy là những bản sắc đặc thù
của một dân tộc có truyền thống văn hiến lâu đời bị mai một dần đi?! Ông G.Dumoutier, một nhà giáo dục học
người Pháp có lương tâm ở Việt Nam từng trăn trở: “Nếu những đứa trẻ An Nam
xuất thân từ các trường học của ta (Pháp), mà không biết đọc và viết chữ
Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước
của chúng”! GSTS Ngô Việt
Trung – một nhà toán học Việt Nam hiện đại, nhận xét: “Chữ tượng hình rất trừu tượng. Chính cái sự trừu tượng và tính tích hợp
trong nó lại có ý nghĩa cụ thể để tạo ra ý nghĩa khác, rất phù hợp với tư duy
toán học”.
Nhìn rộng ra cả hoàn cầu, nhiều nước vẫn dùng chữ viết
tượng hình mà sự phát triển vẫn đứng ở “top” đầu thế giới? Giám mục
Puginier luôn được nhà cầm quyền Pháp tôn trọng và nghe theo, nói: “Sau khi
đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam
(quốc ngữ), rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi
và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông. Khi
chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung hoa một
phần lớn ảnh hưởng tại An nam và phe trí
thức An nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt
dần dần”. “Ngu dân” là chính sách
nhất quán của chính quyền ngoại bang đô hộ mọi thời. Trước kia, Sỹ Nhiếp đem về
chữ Hán cho người Việt, sau này người Pháp với chữ Quốc ngữ nhưng đều chung mục
đích: Không nhằm mở mang trí tuệ mà chỉ cần dạy cho người bản xứ ít chữ đủ dùng
làm thư lại tay sai. Người
da trắng áp dụng một chế độ ngu dân tinh vi và khoa học. Trong giới cầm quyền họ nói với nhau: “Dạy người An Nam học
hoặc cho phép họ được học hành là cung cấp cho họ những khẩu súng bắn nhanh nhiều phát để họ bắn lại chúng ta”! Suốt 300 năm, chữ Quốc ngữ chỉ
được dùng hạn hẹp để giảng bài kinh kệ và giao lưu trong các nhà thờ. Và khi bị
cưỡng ép dạy kèm chữ Quốc ngữ với tiếng Pháp trong hệ thống giáo dục bảo hộ,
thâm ý của nhà cầm quyền là “cắm ngôn ngữ vào đất mới cho nó bắt rễ” cũng nhằm mục tiêu đồng hóa.
Nhưng người
Hán, người Pháp không dễ đồng hóa một dân tộc có nền văn hiến lâu đời. Yêu cầu được mở mang trí tuệ là khát
vọng của giới trí thức tiên tiến mọi thời, luôn có ý chí phục sinh dân tộc,
phục hồi tổ quốc. Chữ Nôm ra đời sau chữ Hán cả nửa thiên niên kỷ nhưng đã để
lại thành tựu mà chữ Hán so không lại. Nhà Quốc ngữ học Nguyễn Văn Vĩnh từng nói: “Kể những sách của
những bậc tài Nôm nước Nam để lại mà làm nền cho quốc văn thì thực hiếm, nhưng
tuy hiếm mà thực là qúy, thực là hay. Như văn Kim-Vân-Kiều mà đem vào kho tàng
văn chương thế giới kể cũng xứng, chớ không đến nỗi để người An Nam mình phải
hổ thẹn rằng nước không có văn”.
Ngày nay khi phân tích lý giải về các vấn đề xã hội người ta thường đưa ra
những yếu tố kinh tế, chính trị để giải thích sự biến động của tình cảm, đạo
đức, nhân tâm… chưa hẳn đã là đầy đủ.
Đặt vấn đề
phục hưng và phát triển văn hóa giáo dục quốc dân trong bối cảnh văn tự gốc của
nó đã bị bứng đi mà tân ngữ đã khẳng định được tính ưu việt của nó là điều
không dễ? Nhưng nếu
chữ Hán-Nôm bị coi như “đồ bỏ”, có là để mất một vật báu gia truyền? Giống như
con rắn thần mù không biết trên đầu mình có viên ngọc quý (R.Tagor). May thay,
giới trí thức Việt Nam tân tiến đã quen với việc thích nghi trong mọi hoàn cảnh
để vươn lên. Mặc dù người Pháp chủ trương “cởi
trói” trong việc sử dụng chữ Quốc ngữ và tiếng Việt
nhưng với thái độ dè dặt, cầm chừng, viện mọi lí do trì hoãn.
Vào những năm 1930-1940, cùng với cao trào giải
phóng dân tộc, phong
trào “truyền bá chữ Quốc ngữ” sôi
nổi chưa từng thấy khắp ba miền Bắc-Trung-Nam. Vị nhân sỹ tiêu biểu là học giả Nguyễn Văn Tố nói: “Dạy cho đồng bào Việt Nam biết đọc,
biết viết tiếng của mình để dễ đọc được những điều thường thức cần dùng cho sự
sinh hoạt hằng ngày. Cốt cho mọi người viết chữ Quốc
ngữ giống nhau”. Từ một thứ “chữ lạ” mà chỉ một
thời gian ngắn đã thành phổ cập trong mọi giới từ người bình dân đến người trí
thức. Phải chăng là ý chí vươn lên của dân tộc tiếp nối mục tiêu “khai
dân trí-chấn dân khí” từ phong trào Duy tân đầu thế kỷ. Từ đấy tạo ra một lớp người học thức tài hoa uyên bác
vận dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ của dân tộc mình ngoài ý đồ của kẻ ngoại bang đô
hộ.
Dù xu hướng chính trị
không giống nhau, nhưng tất cả những hoạt động báo chí và văn học bằng Quốc ngữ
khi nó được “cởi trói” đều có tác dụng phát triển tiếng Việt theo hai chiều nghịch nhau: Phía thực dân Pháp thì xem chữ Quốc ngữ là
công cụ hữu hiệu để đồng hoá dân tộc Việt Nam; Phía những sĩ phu yêu nước thì đều nhận thấy chữ Quốc ngữ là vũ khí
sắc bén trong công cuộc phổ biến tân học, truyền bá tư tưởng tiến bộ nhằm mục tiêu
giải
phóng dân tộc, đem lại độc lập cho nước nhà.
Khi nhân dân ta giành được quyền làm chủ vận mệnh tổ
quốc thì ý thức cần được khai thông
trí tuệ càng trỗi dậy mạnh mẽ. Giữa lúc quốc gia nguy biến, nhà nước
Việt Nam độc lập đặt ra ba yêu cầu bức bách mang tính sống còn: “Diệt giặc đói – Diệt giặc dốt – Diệt
giặc ngoại xâm”! Giặc
nào cũng làm cho mất nước. Chữ Quốc
ngữ được mạnh dạn cải tiến. Tiếng
Việt là thứ tiếng thống nhất trong cả nước nên việc phổ cập rất nhanh.
Trong lúc kháng chiến bộn bề, nhà nước Việt Nam độc
lập vẫn quan tâm đến việc “Giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt”. Chữ Quốc
ngữ được nâng cấp, phát triển toàn diện, bổ sung phong phú, đáp ứng được
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ sinh hoạt, tình cảm, trí tuệ, tâm linh tới
các lĩnh vực ngoại giao, quân sự, các bộ môn khoa học xã hội và tự nhiên hiện
đại rất phức tạp, là ngôn ngữ chính thống giảng dạy trong các trường từ mầm non
đến đại học, là điều được nhiều quốc gia khâm phục. Cụ Hồ và những lãnh tụ cách
mạng đồng thời là những nhà văn hóa lớn rất quan tâm và nêu gương trong việc
làm trong sáng tiếng Việt cả trong cách nói và cách viết. UNESCO đánh giá như sau: “Việc thanh toán được nạn mù chữ
là một thành tựu nổi bật ở Việt Nam. Đó là kết quả của các hành động, chính
sách, chiến lược không ngừng cách mạng của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”.
GSTS Trần
Chung Ngọc – một nhà khoa học uyên bác sống ở nước ngoài, nhận định bằng những
hình tượng sinh động: Sự phát triển Quốc ngữ cho tới ngày nay là do cha ông chúng ta biết dùng đòn “gậy ông đập lưng ông”. Dùng Quốc ngữ để mở mang dân trí người Việt, vô hiệu hóa âm mưu dùng Quốc ngữ làm
vũ khí văn hóa để nô dịch hóa đầu óc dân ta, để phổ biến tinh thần của các
cuộc cách mạng xã hội tiến bộ với tư tưởng “Tự Do-Bình Đẳng-Bác ái”
(Liberté-Égalité-Fraternité), đưa đến sự cáo chung của các thế lực ngoại bang
xâm lược, có được một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình ngày nay...
Chúng ta đang dùng chính vũ khí của địch để đánh địch. Noi gương người xưa như
Lý Thường Kiệt dùng chữ Hán viết “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư” xác nhận chủ
quyền của tổ quốc ta; Trần Hưng Đạo dùng chữ Hán viết “Hịch tướng sĩ” động viên
toàn dân chống quân Nguyên; Nguyễn Trãi dùng chữ Hán viết “Bình Ngô đại cáo”
thể hiện khí phách người Đại Việt. Đòn “gây ông đập lưng ông” cũng như “cướp
súng giặc giết giặc” là một chiến thuật truyền thống trong chiến đấu bảo vệ tổ
quốc của nhân dân ta.
Hãy hình dung một tên cướp đột nhập vào nhà ta với một
con dao bén phá phách nhà ta, giết hại người thân của ta. Khi bị chủ nhà chống
trả và rượt đuổi, tên cướp vứt bỏ lại con dao. Hành động đúng nhất là chúng ta
hãy sử dụng con dao tang vật đó vào những việc hữu ích và phòng vệ nhà ta. Có
ai dựng tượng, lập bàn thờ, ghi ơn tên
cướp đã “cho ta” con dao ấy? Chữ Quốc ngữ với người Việt Nam ta cũng vậy! Điều
chủ yếu là cần làm cho hậu thế hiểu rõ bản chất sự hình thành và phát triển
Quốc ngữ.
Chúng ta nên biết ơn ông cha ta đã linh hoạt
sáng tạo vận dụng vũ khí văn hóa đó hay biết ơn kẻ tạo ra nó với những ý đồ hủy
diệt chúng ta?
Tuần
báo Văn nghệ TPHCM
Số
547 Thứ năm ngày 23/5/2019
No comments:
Post a Comment