CỜ ĐỎ CỜ VÀNG
Nguyễn Văn Thịnh
{
Người Việt xưa không có khái niệm
“quốc kỳ”. Bà con ta quen gọi “cờ vua” –
biểu trưng cho một triều đại hoặc một hoàng triều và “cờ xí” – biểu
trưng cho một đạo quân. Cờ và xí thường có ký tự bằng chữ Hán. Trong các dịp lễ
hội còn được trang trí bằng những lá cờ vuông ngũ sắc có diềm tua và những giải
phướn đủ màu.
Sau khi Pháp bình định xong Đông Dương, lá cờ tam tài
ra đời từ thời cách mạng 1789 ngạo nghễ phủ khắp xứ Đông Pháp xa xôi. Sang thế
kỷ XX mới thấy xuất hiện những lá cờ biểu trưng một đoàn thể, một chính thể,
một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Để tìm hiểu xuất sứ và ý nghĩa của những lá
cờ biểu trưng đáng nhớ xuất hiện trong lịch sử Việt Nam cận hiện đại, người viết
sưu tra tư liệu, đọc hồi ký của nhiều nhân vật lịch sử, tham khảo ý kiến của
hiếm hoi vị lão niên từng là chứng nhân qua các thời kỳ, giới thiệu với bạn
đọc. Dù chưa thỏa ý nhưng chí ít cũng giúp bạn đọc hiểu được phần nào.
1/ Cờ đỏ sao vàng:
Khởi thủy, lá “cờ đỏ sao vàng” (ngôi sao năm
cánh nằm chính giữa nền đỏ) xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) lúc ấy là xứ trực
trị của Pháp. Dù bị dìm trong biển máu nhưng lá cờ thật sự là biểu tượng của
truyền thống yêu nước Việt Nam, ý chí quật cường đấu tranh giành thống nhất non
sông, độc lập quốc gia và chủ quyền dân tộc.
Theo Sơn Tùng thì tác giả của lá cờ là
nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến (5/3/1901
– 28/8/1941, quê Hà Nam), là một trong tám chiến sỹ bị giặc Pháp tử hình
ở Ngã ba Giồng, Hóc Môn. Khi phác họa
lá cờ tổ quốc, tác giả giải thích bằng thơ:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền
cờ thắm máu đào vì nước
Sao
vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi
sỹ-nông-công-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Theo Lê Tú Lệ thì tác giả là nhà cách
mạng Lê Quang Sô, quê Gò công, Mỹ Tho.
Việc xác minh những sự kiện lịch sử
trong điều kiện hết sức khắc nghiệt thật vô cùng khó khăn vì sự việc phải giữ
kín tuyệt đối mà chứng nhân phần lớn đã hy sinh trong chiến đấu hoặc theo quy
luật nhân sinh và người còn lại thì khiêm nhường không muốn kể công mình. Cách
mạng tháng Tám thành công, Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, thống nhất họp
kỳ đầu tiên vào ngày 2/3/1946, quyết định lấy tên nước là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”; cũng như sau chiến thắng vĩ đại của
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quốc hội khóa VI họp ngày 24/6/1976, quyết định
đổi tên nước là “Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” và đều nhất trí lấy lá “cờ đỏ sao vàng” làm biểu tượng quốc gia và bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao làm quốc ca
như đề xuất trước đó tại “Quốc dân hội nghị” họp ở Tân trào chuẩn bị tổng khởi
nghĩa giành độc lập và thống nhất non sông. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta
trong Nam kỳ khởi nghĩa”. Dưới ngọn cờ ấy toàn dân Việt Nam “thề đem xương máu hết lòng chiến đấu cho
tương lai”, đã lập nên bao chiến công kỳ tích để có được một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập hôm nay. Lúc đầu, một số người cực đoan quyết
liệt phản đối, tới mức đòi tử hình người “vẽ” ra lá “cờ đỏ có sao vàng năm
cánh” vì theo họ, cờ cách mạng chỉ có thể là “cờ đỏ búa liềm” (1a) biểu trưng của phong trào cộng sản quốc tế!
Nhưng rồi cũng qua. Lá “cờ đỏ sao vàng”
theo cao trào cách mạng từ Nam ra Bắc, lại từ Bắc vào Nam. Vượt bao gian khó hy
sinh. Năm 1945, kết thúc gần một trăm năm mất nước, lá cờ tung bay trên khắp
non sông Việt Nam thống nhất và độc lập từ mục Nam quan địa đầu phía Bắc trải
tới cực Nam là mũi Cà Mau. Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trên trường quốc tế,
phái đoàn Quốc hội của nước VNDCCH do Phó trưởng Ban Thường vụ Quốc hội Phạm
Văn Đồng dẫn đầu sang thăm nước CH Pháp (từ 16/4 đến 23/5/1946) đã giương cao
lá cờ đỏ sao vàng tại quảng trường La Nation, Paris, trước sự chào đón nồng
nhiệt của đông đảo bạn bè Pháp và bà con Việt kiều yêu nước (Cục văn thư và tư
liệu nhà nước). Năm 1954, lá cờ được phất phới tung bay trên chiến trường Điện
Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống Pháp của nhân dân ta, đồng thời làm dấy lên cao trào giải phóng ở
các nước thuộc địa trên toàn thế giới. Và năm 1975, trời Sài Gòn ngợp bóng cờ
đỏ sao vàng, chứng kiến sự bất lực của đội quân viễn chinh hùng hậu nhất trong
lịch sử loài người cùng với đội quân tay sai hàng triệu người thảm bại, trước
sự kính phục của nhân dân yêu chuộng tự do công lý trên toàn thế giới. Trong
lịch sử Việt Nam, đó là lá cờ duy nhất biểu tượng cho một nước Việt Nam thống
nhất và độc lập. Trong lịch sử loài người có lá cờ nào biểu trưng cho lòng yêu
nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất giành độc lập tự do, lại trải
qua bão tố phong ba, thăng trầm mà oanh liệt vẻ vang như thế?
2/ Cờ long
tinh:
Sang đầu thế kỷ XX, sau khi bình định xong xứ viễn
đông, người Pháp thành lập Liên bang
Đông Dương còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp, gồm các vùng lãnh thổ: Bắc Kỳ
(Tonkin), Trung Kỳ (An Nam), Nam kỳ (Cochinchine), Campuchia, Lào, và Quảng
Châu Loan (nhượng địa của nhà Thanh). Hà Nội được đặt làm thủ phủ xứ Đông Pháp
xa xôi. Riêng ba vùng lãnh thổ An Nam, Campuchia và Lào, được người Pháp cho
duy trì chế độ quân chủ dù chỉ là về hình thức vì trên mỗi ông vua còn có một
nhiếp chính quan người Pháp gọi là Khâm sứ quyết định mọi việc kể cả đặt ai
ngồi trên cái ngai hoàng đế. Họ để cho mỗi vương triều được có một lá cờ làm
biểu tượng riêng. Cụ thể hoàng triều An Nam
kể từ đời vua Thành Thái (1889-1907) có “long
tinh kỳ” (hai giải bên màu vàng, giải
giữa màu đỏ), mang ý nghĩa trên đất hoàng triều này có dòng máu của người
Lạc Việt và Quốc thiều là bản “Đăng đàn
cung” (Không có lời ca). Thực sự “long tinh kỳ” chỉ được thượng lên tại
hoàng thành Huế và vùng lãnh thổ Trung kỳ hoặc theo nhà vua mỗi khi xa giá, nên
chỉ xuất hiện đôi lần ở Bắc kỳ, chưa từng được xuất hiện ở Nam kỳ. Vì thế “long tinh kỳ” không thể là biểu trưng
cho một quốc gia Việt Nam thống nhất và độc lập.
3/ Cờ quẻ ly:
Thời kỳ đầu của Thế chiến II, chỉ sau
chín tháng tuyên chiến với Đức quốc xã, đế quốc Pháp mau chóng đầu hàng. Ngày
25/6/1940 Pháp chính thức mất nước! Chính quyền thực dân ở Đông Pháp xa xôi vội
vàng mở rộng cửa rước quân phát xít Nhật vào! Để rảnh tay lo việc chiến tranh,
Nhật sử dụng Đông Dương như một căn cứ tiền phương mở đường hành quân và cung cấp
hậu cần cho vùng Đông Nam Á miễn là bộ máy cai trị thực dân ở đây muốn tồn tại
phải phục vụ đắc lực ý đồ của Nhật. Chính quyền tay sai bản sứ nhẫn nhục cam phận
bù nhìn. Nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh một cổ ba tròng, càng thêm điêu đứng!
Giữa năm 1944, nước Pháp được quân Đồng minh giải phóng, cùng với sức phản công
mãnh liệt của Hồng quân Liên Xô trên mặt trận Đông và Tây Âu, phe trục phát xít
đến ngày tàn! Tháng
2/1945, Thủ tướng Nhật Bản–Hoàng tử Fumimaro Konoe, viết thư trình Hoàng đế
Hirohito: “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại
của Nhật Bản là không thể tránh khỏi”! Không chịu để bị đâm từ phía
sau lưng nên ngày 9/3/1945 phát xít đảo chính thực dân và bày trò trao trả độc
lập cho mấy nước Đông Dương. Hoàng đế Bảo Đại đưa ra tờ chiếu với lời tuyên cáo hão huyền: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện
tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước bảo hộ ký kết
với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền
của một Quốc gia độc lập”! Ngài sao không biết trên mình vẫn là bộ máy cai trị của
Nhật thay thế hoàn toàn ách cai trị của Pháp trước kia! Dưới sự thúc ép của
chính quyền phát xít, ngày 17/4, danh sách thành viên tân chính phủ được đệ
trình hoàng đế Bảo Đại trước sự có mặt của tối cao cố
vấn Nhật Yokohama. Ngày 8/5/1945, tân nội các
do Trần Trọng Kim làm Tổng trưởng chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt
Nam! Vua nào tôi nấy, nhà nho đầy bụng chữ mà mụ mẫm ra lời tuyên cáo với đồng
bào: “Quốc dân phải cố gắng sức làm việc,
chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp tác với nước Đại Nhật Bản”! Ông Lưu Văn Lang, người xứ Đông Dương đầu
tiên đậu trường Bách khoa kỹ nghệ Paris được mời ngồi ghế Bộ trưởng Công chánh
nhưng từ chối khéo: “Tôi già rồi không thể
làm tay sai được nữa”! “Cờ long tinh”
được thay thế bằng “Cờ quẻ ly” (là chủ
phương Nam, biểu tượng cho lửa, chỉ sự sáng suốt của đấng quân vương). “Quẻ ly”
(có ba sọc đỏ mà sọc giữa thì đứt ra làm
hai khúc) bị người Huế biếm ngôn là
“vương rút ruột”, ám chỉ một thực tế
là vương triều Nguyễn lúc đó chẳng còn giá trị gì! Quốc
thiều vẫn là bản “Đăng đàn cung” và
lời bài “Long vân ca” (không rõ tác
giả) được lấy làm quốc ca. Người viết may mắn được hai nhà giáo
lão thành Trần Thanh Đạm và Đinh Nho Hoan giúp hoàn chỉnh lời bài quốc ca thời
đó: “Kìa núi vàng bể bạc. Có sách trời,
sách trời định phân/ Một lòng ta gây dựng non sông vững chắc/ Đã ba ngàn mấy
trăm năm/ Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc/ Văn minh đào tạo, màu gấm hoa
càng đượm/ Rạng vẻ dòng giống Tiên Long/ Ấy công gây dựng từ xưa đà khó nhọc/
Nhớ ơn dày nặng, lòng trung quân đã sẵn/ Có yêu nhau thương nhau một niềm/
Nguyện nhà Việt muôn đời thịnh trị”*.
Cái Chính phủ của ông Trần Trọng Kim khác nào đứa hài nhi lọt lòng lúc mẹ nó đang
hấp hối. Một số trí thức do muốn giúp đồng bào
trong lúc quốc gia hữu sự cũng chỉ hợp tác cầm
chừng. Trước sự kìm kẹp chặt chẽ của Nhật cả về chính trị lẫn kinh tế và
quân sự, nội các thành vô dụng và ngày 5.8.1945, các thành viên đồng loạt đệ đơn từ chức. Một
ngày sau, nhà vua chấp nhận nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập
nội các mới. Trước sự thắng lợi của các lực lượng dân chủ trên toàn thế giới và
sự suy yếu của các thế lực xâm lược ngoại bang, khắp cả nước sôi động phong
trào đấu tranh giành độc lập, tự do, dân chủ. Người thức thời không ai chịu hợp
tác với đám vua quan bù nhìn chờ phút cáo chung! Vậy là cái nội các lọt ra từ
tay phát xít Nhật trong cơn hấp hối tồn tại hình thức chỉ hơn ba tháng (từ 17/4
đến 5/8/1945, nếu tính đến khi nhà vua tuyên cáo thoái vị thì được 4 tháng 14
ngày)!
Lúc này, nước Nhật đã kiệt quệ lại bị
người Mỹ dội hai trái bom nguyên tử đẩy nhanh quá trình suy sụp. Quân đội Mỹ đặt
được chân lên đất Nhật, cùng lúc Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông,
chiếm được vùng lãnh thổ Mãn Châu rộng lớn. Trong khi tại Việt Nam, thừa cơ lúc
quân Pháp bỏ chạy, quân Nhật đầu hàng, chính quyền phong kiến bản địa gần như
tê liệt, phong trào Việt Minh phát triển nhanh và rộng khắp, lôi cuốn nhân dân
Việt Nam nhất tề đứng lên tự giải phóng mình. Ngày 31/8/1945, lễ thoái vị của
vua Bảo Đại tại quảng trường Ngọ môn, trước quốc dân đồng bào, nhà vua tuyên bố:
“Trẫm quả quyết thoái vị để nhường quyền
điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ cộng hòa”. Lá “cờ quẻ ly” bị kéo xuống và thay thế bằng
lá “cờ đỏ sao vàng” trước sự hân
hoan phấn chấn của hàng vạn người dân, chứng kiến sự chấm dứt của chế độ phong
kiến hàng ngàn năm và hàng trăm năm của một vương triều nô lệ tay sai.
4/ Cờ Thanh niên
tiền phong:
Khi Thế chiến thứ II sắp kết thúc, phát
xít Nhật ngoài trò trao trả độc lập cho mấy nước Đông Dương, còn muốn nắm lực
lượng thanh niên để phục vụ cho mưu đồ riêng của chúng.
Theo hồi ký của Trần Văn Giàu qua sự
quen biết của Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch với Minoda, Tổng lãnh sự Nhật ở Nam kỳ và
Taurachi, Thống chế Tư lệnh quân đội Nhật ở Nam Đông Dương – Bọn Nhật hoàn toàn
không biết anh là đảng viên cộng sản và càng không biết đứng sau anh là Xứ ủy
Nam kỳ đang tìm kiếm một hình thức tổ chức công khai trong hoạt động của thanh
niên không đi theo phương hướng Đại Đông Á, mà nằm trong phương hướng chính trị
yêu nước và độc lập dân tộc. Được sự chấp thuận của Hà Huy Giáp và Trần Văn Giàu,
bác sỹ Phạm Ngọc Thạch mời kỹ sư Ngô Tấn Nhơn đứng ra vận động tập hợp thanh
niên. Cũng phải nói thật nếu không được sự đồng ý của Xứ ủy thì dầu có ai đó
đứng ra làm cũng không gây được một phong trào rộng lớn. Và nếu việc quan trọng
đó không được một đồng chí có nhân cách, tài ba như Phạm Ngọc Thạch và các bạn
thân thiết của anh đứng ra phụ trách, thì Xứ ủy cũng không biết lấy ai đảm
nhiệm công việc lớn lao này. Tháng 5/1945, tại vườn Ông Thượng Sài Gòn, tổ chức
Thanh niên tiền phong do Xứ ủy gợi ý
ra đời với một ban lãnh đạo đầy uy tín, nhiều năng lực. Lá “cờ nền vàng sao đỏ” trong tay lớp thanh niên mang “tinh thần mới, theo mục đích mới” cùng
những từ mới gây rạo rực lòng người như “giải
phóng dân tộc”, “cách mạng”, “độc lập”, “thống nhất” vang lên, tiếp theo là cuộc diễu hành khí thế trong
nhịp bài Đoàn ca “Lên đàng” rộn rã,
tạo không khí rất sôi động, cuốn hút giới thanh niên.
5/ Cờ Thanh niên
tiền tuyến:
Cùng thời gian đó, nhà cầm quyền Nhật
cũng vận động luật sư Phan Anh là Bộ trưởng Thanh niên trong chính phủ Nam
triều lập tổ chức thanh niên. Lúc này ở Bắc Kỳ đã có “Đoàn Thanh niên cứu quốc”
trong đoàn thể Việt Minh. Tổ chức “Thanh niên Phan Anh” ra đời ở Huế. Qua số
bạn bè trí thức, Luật sư Phan Anh đã gia nhập Đảng Dân chủ, ủng hộ Việt Minh. Ông
bàn với giáo sư Tạ Quang Bửu là người có ảnh hưởng rất lớn trong giới học sinh
ở Huế đứng ra mở trường “Võ bị thanh
niên tiền tuyến” và mời ông Phan Tử Lăng – võ quan chỉ huy lực lượng Bảo an
binh ở kinh đô Huế và cả Trung kỳ, làm Hiệu trưởng. Các ông đều có tinh thần
dân tộc. Nhà trường kêu gọi: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học, có hiểu
biết về quân sự” và hứa: “Học xong không bắt buộc ra làm việc cho chính phủ”!
Thực chất là chủ động chuẩn bị bổ sung cho lực lượng vũ trang yêu nước khi cần.
Số người ghi danh vào học khá đông, có cả một số sinh viên từ Hà Nội vào theo
học. Lá “cờ quẻ kiền” (ba sọc đỏ, tượng trưng cho người quân tử
trên nền vàng), được lấy làm biểu tượng của thanh niên Võ bị.
Vị lão tướng Mai Xuân Tần đậu thủ khoa
tú tài Toán tại trường Quốc học Huế năm 1945, dự học khóa đầu tiên của trường
Võ bị, kể rằng: Lúc ấy phong trào Việt Minh lan rộng khắp miền Trung. Ngày 5/8,
chính phủ Trần Trọng Kim đổ nhưng trước đó giáo sư Tạ Quang Bửu và ông Phan Tử
Lăng đã tiếp xúc với Việt Minh Nguyễn Tri Phương (Huế). Trường Võ bị hầu như đã
được Việt Minh hóa. Số vũ khí của nhà trường coi như đã nằm trong tay quân cách
mạng. Học sinh của trường chủ yếu là con em các gia đình trong phố, có học thức,
có đạo đức và hoạt động rất sôi nổi nhiệt tình, được nhân dân Huế tin tưởng,
thương yêu. Cách mạng thành công, đổi tên là “Trường võ bị Thuận Hóa” và mở rộng thành phong trào “Thanh niên tiền tuyến”, góp phần đẩy
mạnh phong trào “Nam tiến” sôi động
trong cả nước, bổ sung tiếp ứng kịp thời cho mặt trận phía Nam. Cuộc trường kỳ
kháng chiến giành thống nhất, độc lập kết thúc thắng lợi, tám học viên khóa đầu
của Trường võ bị được phong quân hàm cấp tướng.
Điều cần lưu ý bạn đọc là thời tiền khởi
nghĩa, nhiều đoàn viên của phong trào thanh niên học sinh, sinh viên là những
“tráng sinh” của tổ chức Hướng đạo sinh
do nhà giáo Hoàng Đạo Thúy xuất thân từ một gia tộc nho giáo có truyền thống
yêu nước, sáng lập ra từ năm 1930, có nhiều hoạt động phong phú mang tinh thần
yêu nước rất hấp dẫn giới thanh niên ở cả ba kỳ. Số đông thanh niên học thức
này đều trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ và nhiều vị trở thành những cán
bộ cao cấp trong các lĩnh vực quân sự, khoa học, văn hóa và giáo dục. Trước
mắt, những phong trào Thanh niên này đã đào tạo ra nhiều cán bộ làm nòng cốt
trong việc xây dựng và phát triển lực lượng võ trang cách mạng ở Nam bộ và Trung
bộ hồi đầu kháng chiến. Nước nhà
vừa độc lập thì bước ngay vào cuộc kháng chiến từ Nam lan nhanh ra Bắc. Tổ chức
thanh niên Tiền phong và Tiền tuyến chấm dứt vai trò lịch sử, hợp nhất vào tổ
chức “Thanh niên cứu quốc” trong “Mặt trận Việt minh”.
Trước khi quân Pháp mở rộng chiến tranh
xâm lược ra Bắc kỳ, cố vấn Vĩnh Thụy được cử đi công cán ở Trùng Khánh – thủ
phủ của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, để tranh thủ dư luận thế giới ủng hộ Việt
Nam, nhưng đã đào tẩu qua Hồng Kông. Chủ trương “tốc chiến tốc thắng” thất bại,
buộc quân viễn chinh phải chuyển sang đánh lâu dài với chiến lược “Lấy chiến
tranh nuôi chiến tranh – Dùng người Việt đánh người Việt”. Giữa năm 1948, nhằm
gạt bỏ chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra, tìm đại diện cho nhân dân Việt Nam
theo mưu tính của mình, Pháp ký với đại diện của Bảo Đại dù là lúc này phế đế
không đại diện cho ai (!) cái hiệp định Hạ Long, công nhận nền độc lập của Việt
Nam (?) nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Ngay lập tức, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên
bố cảnh cáo rằng: “Chính phủ và nhân dân
Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy. Đối với các
nước trên thế giới, tôi thay mặt chính phủ và nhân dân nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa trịnh trọng tuyên bố không bao giờ thừa nhận những giấy tờ gì do bọn
bù nhìn ấy ký kết với bất cứ nước nào”. Bọn thực dân xâm lược “cố đấm ăn
xôi”, chúng lôi từ tay áo ra cái chính phủ Việt Nam thống nhất lâm thời, do
Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Ông tướng thuộc địa này quên hết tiếng mẹ đẻ,
chỉ biết nói tiếng vợ đầm. Trong đám quân sư có người từng tham gia các phong
trào thanh niên ở Hà Nội, Sài Gòn và Huế đề xuất phục dựng lá “cờ quẻ kiền” (nền vàng có ba sọc đỏ) làm quốc kỳ và lấy bài hát “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước
nghe hào hùng khí thế làm quốc ca. Đám quân sư hưởng ứng tán vào: “Quẻ kiền” tượng trưng người quân tử
trọng điều nghĩa hiệp; Màu vàng gợi nhớ thuở hoàng triều và Ba sọc là ba dòng máu Bắc-Trung-Nam hợp lại,
người theo Chúa thì nghĩ tới ba ngôi trong kinh Thánh! Ông Thủ tướng mất gốc
chỉ biết nghe và gật. Mối tình chủ tớ gá cạp dễ hợp dễ tan! Ngồi chưa nóng chỗ,
ông chủ lại đặt Bảo Đại lên ngai Quốc trưởng kiêm luôn vai Thủ tướng! Cái gọi
là “Quân đội quốc gia” gấp rút được
nặn ra. Với lệnh Tổng động viên, học sinh trung học ở các thành thị trong vùng
tạm chiếm bị dồn vào các trường sỹ quan trù bị Nam Định, Thủ Đức và Võ bị Đà
Lạt. Từng được theo học trường chính trị ở nước mẹ Đại Pháp nhưng vốn tính háo
sắc, mê bài bạc và ham săn bắn, chuyện chính sự đã có “nước mẹ” lo, cựu vương
chẳng quan tâm! Đúng như nhận xét của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Là một người dễ dãi, ít yêu sách đòi hỏi cho quyền lợi của người Việt
và nuôi vài hy vọng hão huyền, Bảo Đại hoàn toàn không có khả năng cầm quyền”.
Lá
“cờ quẻ kiền” đương
nhiên đại diện cho chính thể quốc gia trong hoàn cảnh ấy. Từ đấy nó hết đi sau
những lá “cờ tam tài” rồi lá “cờ hoa” trong những cuộc trà sát khủng
bố của quân ngoại bang xâm lược trên khắp đất nước ta. Gần ba mươi năm sau, hết
trào thuộc Pháp tới trào thuộc Mỹ, hết thể chế phong kiến rồi qua thể chế cộng
hòa mà chưa có văn bản pháp quy nào hợp hiến xác nhận quốc kỳ với quốc ca biểu
trưng cho một quốc gia! Lá cờ với bài ca vốn ra đời từ phong trào yêu nước sôi
nổi chống ngoại xâm nhưng đã bị những kẻ phản bội bắt làm con tin cho cái chính
phủ quốc gia ngụy tạo! Bà con ta mỉa mai gọi là “cờ ba que” như cách nói nhạo báng dân gian. Chiến tranh càng kéo
dài, hận thù càng sâu. Cái danh “quốc gia”, “cộng sản” càng bị ngộ nhận và
xuyên tạc. Theo hiệp nghị Genève, tháng 10/1955, quân đội Liên hiệp Pháp bao
gồm quân viễn chinh Pháp và quân đội Việt Nam cộng hòa rút khỏi miền Bắc Việt
Nam kể từ giới tuyến 17 thì lá cờ “ba sọc” cũng theo lá cờ “tam tài” tập kết ở
phía Nam. Và khi quân đội Pháp mất chỗ đứng ở Việt Nam thì có quân lực đồng minh
Mỹ thế vào. Nhưng khi Mỹ cút thì ngụy tất phải nhào! Kết cục là ngày 30/4/1975,
trong khi lá “cờ hoa” được viên đại
sứ già “nhét vội” vào cặp, ôm chặt vào lòng cùng con chó cưng lên máy bay lao
ra tàu đợi ở ngoài khơi, thì bà con ta ở phía Nam khắp chợ cùng quê chứng kiến
cảnh lá “cờ quốc gia” tả tơi rách
nát rụi theo những đồn bót, căn cứ quân sự trước những đống vũ khí, quân dụng,
áo quần, giầy mũ… rải khắp đường mòn, lộ lớn, những bãi trống, những bến tàu
xe… giữa hàng triệu sỹ quan, binh lính quân lực Việt Nam cộng hòa mình trần
chân đất theo nhau tháo chạy!
Người viết xin phép dẫn nhận xét của
giáo sư Nguyễn Mạnh Quang trên trang WEB SÁCH HIẾM / Cali để bạn đọc tham khảo:
“Vì tính cách ô nhục của lá cờ này (nền
vàng ba sọc đỏ), cho nên suốt thời gian từ ngày nó được cho ra đời (5/6/1948)
đến khi nó bị khai tử chung số phận với cái “chính quyền quốc gia” đã lấy nó
làm biểu tượng, không một nhạc sĩ nào tìm thấy nơi lá cờ này một nguồn cảm hứng
để sáng tác ra một bài quốc ca, dù rằng trong thời gian từ ngày 5/6/1948 cho
đến ngày 30/4/1975, có hàng trăm nhạc sĩ tài ba sống trong vùng do Liên minh
xâm lược Pháp - Vatican kiểm soát ở miền Nam vĩ tuyến 17. Vô kế khả thi, thế
lực “đen” ở hậu trường sân khấu cái “chính quyền quái đản” này mới “cuỗm” bài hát “Tiếng Gọi Thanh
Niên” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã sáng tác trước đó hơn 6 năm trời để làm quốc
ca. Đây là một trong những đặc tính nghịch thường trong tiến trình hình thành
quốc kỳ và quốc ca của cái gọi là "chính quyền quốc gia Việt Nam”. Không
ít người đương thời nhớ đến một bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác trong đó
có hai câu:
Trách ai bán nước cầu vinh / Bán quê
hương lại quên tình nước non”!
7/ Cờ Nam kỳ quốc:
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân
ta giành lại độc lập thống nhất giang sơn. Dù đã yếu thế trong khối Đồng minh
nhưng thực dân Pháp vẫn dã tâm tái chiếm Việt Nam. Năm 1946, trong khi đại diện
chính quyền Việt-Pháp đang bàn việc kiến tạo hòa bình và nối tình hữu nghị giữa
hai dân tộc thì thế lực hiếu chiến Pháp cho ra đời cái gọi là Cộng hòa Nam Kỳ quốc, với lá cờ biểu
trưng “hai giải vàng kẹp giải trắng ở
giữa có ba sọc xanh” đại diện cho ba con sông Tiền, sông Hậu và sông Đồng
Nai – huyết mạch của vùng lục tỉnh, nơi trước đó gần một trăm năm, Phan Thanh
Giản đã lừa vua dối dân cắt dâng cho giặc! Cái chính phủ này người Việt Nam coi
chẳng ra gì! Tám câu mở đầu bản trường thi “Chinh phụ ngâm” do Võ Văn Lúa phổ nhạc được lấy làm quốc ca như cái
điềm đoản mệnh ứng ngay vào ông bác sỹ Thủ tướng sớm chết treo ngay tại phòng
mạch của mình lấy làm Văn phòng chính phủ ở giữa Sài Gòn mà chẳng ai cần biết
vì lý do gì! Đầu năm 1949, ông chủ lại bày trò ký hiệp định Élysée, giải thể
cái Nam kỳ quốc, trao cho Bảo Đại
một quốc gia Việt Nam gọi là đã hoàn toàn thống nhất! Nhưng lá cờ “quốc gia” vẫn không đủ tư cách đại diện
cho cả nước Việt Nam vì lúc đó chính phủ hợp hiến, hợp pháp Hồ Chí Minh đang
lãnh đạo kháng chiến được nhân dân cả nước sôi nổi hưởng ứng khiến đội quân
viễn chinh xâm lược bị đồn vào thế bí!
Sự thật lịch sử là trong năm 1945, đất Nam kỳ
đã ba lần đổi chủ: Đầu tháng 3, Nhật đảo chính Pháp, lấy gọn Việt Nam trong đó
có cả Nam kỳ, giao cho Nam triều. Ông vua An Nam mơ được tháo cũi sổ lồng dù
biết nền độc lập ấy chỉ là giả hiệu! Bốn tháng sau, Nhật thua trận, quân Đồng
minh ở phía Nam là Anh, ở phía Bắc là Tàu, vào giải giáp đám hàng binh Nhật đưa
về cố quốc! Nhân dân Việt Nam ủng hộ và hợp tác với Đồng minh, gặp vận hội kết
đoàn vùng lên tự giải phóng mình. Ngày 31/8, Tại Huế, trước thần dân trăm họ,
vị hoàng đế giãi tỏ nỗi lòng: “Sau hai
mươi năm ngai vàng bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm
vui được làm dân tự do của một nước độc lập”. Ngày 2/9, giữa thủ đô Hà Nội,
trước hàng chục vạn công chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ lâm
thời của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam phát lời Tuyên ngôn độc lập: “Sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt
Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem
tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và
độc lập.”. Nhân dân cả nước và thế giới đều nghe. Nước Việt Nam thật sự đã
là của người Việt Nam. Người Pháp không còn cơ sở pháp lý nào dính dấp đến xứ
sở xa xôi này nữa. Tổng thống Pháp trao cho Quốc trưởng bù nhìn của ăn cướp mà
họ không giữ được! Ngài Quốc trưởng đa tình ôm vào lòng cái bóng mỹ nhân!
8/ Cờ Hoàng triều
cương thổ:
Quốc sách của quân xâm lược thời nào cũng thế: vừa dùng vũ lực vừa thực hiện chính
sách chia để trị. Năm 1948, quân chiếm đóng Pháp dựng lên tại biên giới tây-bắc
một khu gọi là Liên bang Thái tự trị gồm các cư dân Thái, Lôlô, Hmông… Năm
1950, sáp nhập thêm cao nguyên Trung phần, gọi chung là Hoàng triều cương thổ, lấy biểu tượng lá “cờ hai giải bên màu lam, kẹp giải trắng giữa có ngôi sao đỏ 16 cánh”.
Mỗi cánh biểu thị một vùng thổ cư các sắc tộc sinh sống giữa núi rừng xa xôi
trùng điệp. Cờ chỉ được treo tại mấy trại “lính thổ” vùng sơn cước. Năm 1955
khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam thì đám tàn quân thổ phỉ này bầy đàn tan tác.
Lá cờ ấy quăng ở sườn đồi khe suối nào không ai còn nghĩ tới!
9/ Cờ Mặt trận dân
tộc giải phóng:
Theo hiệp định Genève 1954, nước ta tạm
chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 có sông Bến Hải làm giới tuyến và hai năm
sau, hai miền Nam-Bắc sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Năm 1956,
chính quyền miền Nam được Mỹ hậu thuẫn, không chấp nhận hiệp thương tổng tuyển
cử. Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Lãnh thổ Hoa
Kỳ kéo dài từ Alaska tới vĩ tuyến 17”! Đám tay sai vong bản ngang ngược hô
hào “Lấp sông Bến Hải” mở đường “Bắc tiến”! Để “giành lại chính nghĩa từ tay
cộng sản”, chính quyền tay sai ngoại bang ra sức đàn áp khốc liệt những người
từng tham gia kháng chiến chống Pháp và đòi hòa bình thống nhất đất nước. Tính
sơ bộ từ 1954 đến
1959 có khoảng 400.000 người bị bắt bớ tù đày, gần 70.000 người bị giết hại. Năm 1960, Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, lấy biểu tượng lá “cờ giải phóng” (nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng chính giữa) với sự hưởng ứng của
nhiều tầng lớp nhân dân và những nhà trí thức, tiêu biểu như Luật sư Nguyễn Hữu
Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… Lá cờ tập hợp đông đảo dân chúng phía Nam và
được nhân dân yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa trên thế giới đồng tình ủng hộ. Nhạc
sỹ Lưu Hữu Phước lại là tác giả bài ca “Giải
phóng miền Nam” vang lên mỗi khi lá cờ mặt trận thượng lên trong vùng kháng
chiến cũng như cả nước và trên chính trường quốc tế. Ngày 19/1/1969, khi Hội
nghị Paris bàn về hòa bình ở Việt Nam với bốn thành phần tham dự, người ta thấy
lá cờ này tung bay trên đỉnh tháp cao nhất của Nhà thờ Đức Bà (Tuổi trẻ số 98+99/2019),
là điều chưa từng có trong lịch sử hơn 800 năm của nhà thờ. Được sự chia sẻ chi
viện tối đa của hậu phương phía Bắc, sau 15 năm chiến đấu cực kỳ gian khổ mà
anh dũng, lá cờ đã hoàn thành sứ mạng giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất
nước nhà. Từ đây tổ quốc Việt Nam sang trang sử mới.
**Lời bàn:
Mỗi lá cờ đều có xuất xứ riêng, mang một
ý nghĩa riêng và có tác động tới xã hội khác nhau. Hoàn cảnh đến dưới cờ của
mỗi người một khác. Trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt đã qua, người Việt Nam
không dễ chọn một lá cờ theo tâm nguyện của mình. Nhưng khi đất nước đã thống
nhất độc lập rồi thì quốc kỳ không thể theo ý của một ai, cũng không thể đại
diện riêng của phe này phái nọ. Nó được định đoạt bởi quyền lực của nhân dân
thông qua hiến pháp.
Dù sao những lá cờ cần được lưu giữ
trong các bảo tàng như những chứng tích lịch sử, có ghi chú rõ ràng. Khi lớp
người sau được biết tận tường sự tích mỗi lá cờ hẳn sẽ không có chuyện một lá
cờ nào đó xuất hiện lạc lõng vô duyên giữa nơi công chúng.
Tiến sỹ vật lý Trần Chung Ngọc là một
nhà khoa học chân chính mà hoàn cảnh lại
trớ trêu. Nhưng ông dám nói: “Tôi đứng
trong đội quân thua cuộc nhưng khi nói Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ và
thắng Mỹ, tôi rất tự hào!”. Tuy nhiên tại bàn làm việc của ông, ngoài tấm
hình Phật Thích Ca đặt nơi trang trọng, ở một góc kệ vẫn treo lá cờ nhỏ “ba sọc
đỏ nền vàng” – Đó là kỷ niệm một thời của riêng ông. Tuy vậy, thái độ ông dứt
khoát: “Quốc kỳ là biểu tượng của một
quốc gia có chủ quyền, có một lãnh thổ riêng biệt. Những người dân trong một
quốc gia thường có cùng một nguồn gốc, và theo nghĩa lịch sử, có cùng tổ tiên
và các hậu duệ. Vì lẽ đó lá “cờ vàng ba sọc đỏ” đã không đại diện cho bất cứ
ai, khoan nói là đại diện cho hơn hai triệu người Việt di cư”. Đó là một
trí thức sở học căn cơ, nhân cách, bản lĩnh vững vàng.
Hai ông Trần Chung Ngọc và Nguyễn Cao Kỳ
đều là học sinh cùng thời ở trường Chu Văn An Hà Nội, cùng lứa học viên khóa
đầu trường sỹ quan Nam Định. Vào Sài Gòn, mỗi người một địa vị khác nhau. Sau
năm 1975, định cư ở Mỹ, mỗi người một nghề. Bởi cá tính mỗi người một khác nên
không bao giờ quan hệ với nhau. Tuy nhiên, hai ông có cùng cách nhìn về một lá
cờ. Trong hồi ký “Đường về”, ông Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ngày xưa tôi đã từng phục vụ dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ. Từ Tổng thống
Mỹ cho đến vua Thái Lan… đều phải đứng nghiêm chào khi lá cờ được thượng lên.
Việc giữ gìn màu cờ sắc áo không phải là chuyện muốn đem cờ ra múa may ở đâu
cũng được, mà là vẫy ở chỗ nào và vẫy như thế nào? Nếu không làm tăng được giá
trị của nó, tại sao không mang cất đi trong tâm khảm, trong một chỗ nào mình
trân quý, có phải hay hơn không?”.
Lẽ phải bao giờ cũng dễ thuyết phục lòng
người. Một người Mỹ gốc Việt ở Quận Cam viết: “Bất cứ tổ chức chính quyền nào ủng hộ lá cờ cũ (vàng ba sọc đỏ) là lá
cờ chính thức của Việt Nam đều vi phạm luật quốc tế. Những người chống
Cộng quên rằng Mỹ đã coi lá cờ đó như là một cái gì expendable, muốn bỏ đi lúc
nào thì bỏ. Trước khi lên án các quốc gia khác về vi phạm nhân quyền, nên
nhìn vào hồ sơ nhân quyền của
nước Mỹ. Kỳ thị chủng tộc chắc chắn là vi phạm nhân quyền, và kỳ thị chủng tộc
thì vừa là hệ thống vừa là định chế ở nước Mỹ. Về tham nhũng thì ở Mỹ cũng
không thiếu gì các viên chức tham nhũng, nhưng họ che đậy kỹ hơn. Ai cũng biết
rằng phải có rất nhiều tiền, thường là từ những tổ chức đóng góp để mưu lợi, để
thắng trong một cuộc bầu cử ở Mỹ”.
Một sinh viên USC trao đổi với bạn:“Cuộc tranh đấu ngày nay tuyệt đối không thể
là cuộc tranh đấu Quốc-Cộng như khi xưa mà phải là cuộc tranh đấu để xây dựng,
cải thiện xã hội”.
Từ chuyện những lá cờ rút ra bài học:
Chính là phận người, phận nước quyết định phận cờ.
Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Số 402 Thứ năm ngày 19 tháng 5 năm 2016
* GS Trần Thanh Đạm chỉ
nhớ một đoạn bài gọi là “Đăng đàn cung”. Sau nhờ có sự bổ sung của nhà giáo
Đinh Nho Hoan (Quỳnh Đôi–Quỳnh Lưu–Nghệ An) người viết mới hoàn chỉnh được toàn
bài. Nhưng theo cụ Đinh tên bài hát là “Long vân ca” (VNTPHCM số 421). Bạn đọc
Vũ Trung Kiên đặt vấn đề phải chăng “Đăng đàn cung” là quốc thiều, còn “Long
vân ca” là quốc ca (VNTPHCM số 425)? Thực tế, trên thế giới cũng có quốc gia
chỉ có quốc thiều mà không có quốc ca (Tây Ban Nha).
*Tài
liệu tham khảo:
- Lịch sử Quốc hội Việt Nam
- Hồi ký Trần Văn Giàu
- Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội –
Hồi ký
Mai Xuân Tần – Thiếu tướng QĐNDVN
- Hồi tưởng – NGND, GS Trần Thanh Đạm
- Người vẽ cờ đỏ sao vàng – Bài viết của
Song Tùng
- Chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại – Bài viết
của Lê Tú Lệ
- Các bài viết của Trần Chung Ngọc
- Đường về – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ
- Hồi ký Đỗ Mậu – Thiếu tướng QLVNCH
- Wikipedia: Hình ảnh cờ Việt Nam qua
các thời kỳ
\


No comments:
Post a Comment