OAN NGHIỆT - CHƯƠNG CHÍN

OAN NGHIỆT



******************************************************************


                              
CHƯƠNG CHÍN
                                         
                                     
Hoàng Yến ra chiếc xe nhà chờ sẵn nơi đầu ngõ đưa nàng đi Đàlạt. Trên xe đã có một bà trạc tuổi mẹ nàng. Cả hai người được bà Hai Lực cho biết trước nên đều chủ động làm quen nhau dễ dàng:
- Thưa dì thứ mấy?
- Thứ Sáu! Con là cháu ông Hai?
- Dạ, thưa con tên Yến!
- Tội nghiệp con gái, trẻ đẹp vậy mà truân chuyên dữ hi!
Bà Hai đã nói với bà Sáu về đứa cháu của chồng bà:
- Ba má nó xuất cảnh nhưng nó nghe thằng bồ ở lại. Ba má nó gởi chúng tôi. Chẳng may thằng bồ phụ bạc. Con bé chán chường bế tắc. Chi bằng cho nó tạm nương nhờ cửa Phật họa chăng sẽ quên đi. Chúng tôi sẽ báo cho gia đình cháu biết, liệu cách tính sau.
 Bà cũng căn dặn cho Hoàng Yến yên tâm:
- Cô có xây dựng một cái thất trên Đà Lạt đặng hàng năm lên đó vừa để nghỉ ngơi, vừa để tĩnh tâm. Lần này cô mắc việc gia đình, có bà bạn quen cũng thích vui thú cảnh chùa, cô gởi con lên ở cùng bà cho có bạn. Dưới cửa Thiền, ăn chay niệm Phật, tĩnh tâm tu tỉnh, thoát mọi vướng bận việc đời, con sẽ thấy lòng mình thanh thoát!
Hoàng Yến chưa hiểu tâm ý của bà nhưng phận nàng đang như cá nằm trên thớt, bà bảo gì nàng chẳng phải nghe.
Bà Sáu có cảm tình ngay với cô gái trẻ. Thấy cô cháu vẻ âu sầu, bà nhẹ nhàng khuyên:
- Vợ chồng là duyên số. Dù yêu thương nhau mấy mà trời không định thì cũng không thành. Cho dù mình muốn cải mệnh nhân định thắng thiên cũng chỉ được một lúc nào thôi, sau rồi cũng không thoát khỏi định mệnh đâu con ạ!
Bà nói đến duyên số làm nàng chạnh nghĩ tới Quyền, tới chàng Họa sĩ. Nước mắt nàng chảy xuống ròng ròng. Bà Sáu thấy thương con nhỏ quá, xinh đẹp, nết na, hiền dịu thế này. Trong đầu bà thoáng nhớ tới cậu con trai duy nhất của bà, gần bốn mươi tuổi đầu mà duyên phận vẫn chưa yên. Hoàng Yến thì nhớ lại những lời khuyên nhủ của bà vợ ông Hai Lực:
- Lẽ ra cái tội cướp chồng người không ai tha được! Nhưng xét lại cô chỉ bằng tuổi con gái út của tôi thôi và tôi thấy cô cũng không phải là loại gái điếm đàng hư hỏng. Ông Hai thiện cảm cứu vớt cô ra cũng là vì thế chứ ông không phải là loại người ham chuyện bướm ong đâu. Nhưng thằng Khanh nó độc lắm. Nó gài chuyện cô để tống tiền ông ấy và nó vẫn chưa chịu nhả cô ra đâu. Con mẹ Mười này là chân tay của nó cài vào! Bây giờ cô hãy kín đáo lánh đi để thằng Khanh không biết đường đâu mà dò tìm cô nữa. Một thời gian mọi chuyện êm đi, lúc ấy tôi sẽ bàn với ông Hai giúp cô trở về với gia đình. Chớ cô còn trẻ, vẫn còn nhiều thời gian để làm lại cuộc đời!
Nàng không hiểu được những lời bà Hai nói là thật lòng hay dối dạ, nhưng tình thế được êm như vậy cũng là may. Nàng nói như sự cảm nhận lòng tốt của bà:
- Cô tha lỗi cho con! Con không muốn thế mà cảnh đời nó cứ đưa đẩy con đến nỗi này!
Và bây giờ nàng đang sống ẩn dật dưới rừng cây của một Thiền viện thâm u. Cái thất này đẹp quá. Nó sang trọng, tiện nghi nhưng không cầu kỳ. Nó kín đáo nhưng không tách biệt với thiên nhiên. Đó là một ngôi nhà nhỏ xinh xinh chia làm hai thất vừa riêng biệt lại vừa gần gũi với nhau. Ngoài giờ tịnh thất hai dì cháu có bạn tâm tình. Nàng cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm và quên đi những năm tháng ồn ào chua cay.
Bà Sáu tĩnh tâm dưỡng sức ở đây vài tuần rồi về thành phố. Bà có cửa hàng buôn bán lớn nên không thể xa lâu. Bà hẹn với Hoàng Yến:
- Con cứ ở yên chốn này đi, quên hết những vướng bận ở đời cho lòng thư thả đã. Dì về dưới đó ít lâu rồi xem có thể giúp con điều gì.
Những buổi sáng sương mù giăng khắp dưới rừng cây âm u heo hút gió, cái lạnh làm tê tái thịt da càng làm cho ruột gan nàng quặn thắt nghĩ tới cảnh đời cay đắng bấy nay. Không dưng nàng đang từ nơi yên ấm lao vào một cuộc sống cuồng si và tủi nhục, cứ như có một bàn tay ma quái nào dắt đi trình tự do có một người sắp đặt. Đêm đêm trong tiếng lá cây xào xạc văng vẳng theo gió đưa về một tiếng chim khuya rời rạc, đứt đoạn, buồn bã. Nàng thót ruột tưởng như tiếng kêu kiệt sức của mẹ cha đã mòn mỏi bao lâu. Nàng cố quên đi trong các bài kinh kệ và cần mẫn giúp nhà chùa những công việc vặt. Các vị tăng già và các tín nữ  đến đây tu niệm và làm công quả đều quí mến cô gái dịu hiền và kín đáo này. Chiều chiều nàng khoác chiếc lam y cùng mọi người đọc kinh và được nghe các thầy tăng giảng pháp. Nàng ít hiểu những điều triết lý trong giáo lý cao siêu của nhà Phật nhưng nàng cảm thấy lòng mình yên lắng. Được sống trong khung cảnh thanh tĩnh u trầm thế này có khác chi nàng vừa thoát cơn giông tố lớn, vào náu mình  nơi cửa Từ bi. Dường như trong ánh mắt của mọi người nhìn nàng có vẻ cảm mến khác hẳn với những con mắt sắc lẻm, tinh quái nhìn nàng với vẻ nhục cảm trần tục như bấy lâu nay. Nàng thấy tin mọi người, họ đến đây với lòng sùng kính Phật và trong mỗi lời nói cũng như việc làm họ đều tu chỉnh để thể hiện được sự thiện tâm. Nghĩ tới mẹ cha nàng chỉ còn thương nhớ chứ không xót xa như trước, vì nếu như các người có thấy nàng ẩn náu nơi cửa Thiền cũng không phải là điều tủi hổ. Lòng nàng quyến luyến không muốn dứt ra khỏi nơi này. Nàng nảy ra ý muốn theo chân các vị tăng ni để được ẩn mình dưới chân đức Phật từ bi quảng độ. Hồi còn trẻ thơ vẫn theo ba mẹ đi lễ Chùa, dưới làn khói hương bảng lảng, nàng chỉ thấy một cảm giác thiêng liêng mơ hồ ở một đấng cao siêu trác việt, nàng cúi đầu thành kính cầu xin Người ban phát cho những ân huệ ngọt lành. Bây giờ nghe các thầy giảng giải về đạo pháp của Người, nàng lõm bõm hiểu rằng ai theo chân Người sẽ thoát được mọi khổ đau nơi trần thế. Nàng đem ý định tỏ bày với một vị lão tăng. Phong độ ngài lúc nào cũng ung dung tự tại, tính tình Ngài trầm tĩnh và mực thước, da mặt ngài phẳng lặng không vướng bụi thời gian, không hằn một nét suy tư trần thế. Nàng tưởng như Ngài không có tuổi nhưng nàng lại tin là Ngài đã cao niên lắm:
- Thưa thầy! Cho con được theo Người để được thoát ra ngoài vòng tục lụy. Con chấp nhận cuộc đời khổ hạnh của kẻ tu hành. Con cầu xin được đến gần ánh Phật quang để tâm con được thức tỉnh và dứt ra khỏi những đau khổ đọa đầy!
Vị cao tăng nhìn nàng rồi ngài đưa mắt nhìn lên đấng Như Lai đang ngồi thiền dưới gốc Bồ đề. Lời ngài trầm ấm vang ra như tâm sự với chúng nhân:
- Con tưởng người tu hành là khổ hạnh hay sao? Không! Họ là người sướng nhất ở trên đời. Biết bao chúng sinh đang chìm đắm trong sông mê sóng dục rồi khi đã nếm đủ mùi họ mới nhận ra là mình đau khổ và họ tưởng như từ  khước mọi sự ràng buộc của vật chất để tự hành xác trong nếp sống khổ hạnh là sẽ được giải thoát ngay. Nhưng họ vẫn không tránh khỏi những khổ đau thất vọng. Đức Như Lai đã từng đi qua con đường ấy và Người dạy rằng đấy không phải là Chân đạo. Người tu hành chân chính không phải là người đi trốn những lạc thú đam mê hoặc những khổ đau đày đọa của cuộc đời này. Cũng không phải vì nhận thức giữa người với người không thể sống chung nên đi ở ẩn. Vì một lẽ lánh nạn cho mình, cửa Thiền chỉ là nơi trú chân cho kẻ lữ hành lỡ bước. Muốn đến được chân lý bất diệt của Đấng Cao siêu chỉ có cách tự tu tự ngộ. Mỗi người tự mình đi đến chớ không ai đi thế được cho ai. Người chân tu phải hiểu được cái lẽ vô thường vô ngã. Sướng đấy nhưng không phải là bất tận. Khổ đấy nhưng không phải là mãi mãi. Ta đấy nhưng không phải là ta. Người đấy nhưng không phải là người. Ta với người là một. Thực mà hư. Hư mà thực. Sắc sắc, không không!
Đôi mắt vị cao tăng như nhìn vào cõi xa xăm thăm thẳm, lời người thoang thoảng như tiếng sóng xa theo gió vọng về:
- Thật là xa, thật xa khoảng cách giữa đất và trời! Thật là xa, thật xa khoảng cách giữa bờ biển bên này với bờ biển bên kia! Thật là xa, thật xa khoảng cách giữa nơi mặt trời mọc và nơi mặt trời lặn! Nhưng còn xa và còn xa hơn nữa là con đường đến gốc Bồ đề bên Đức Như Lai khi lòng mình chưa giác ngộ. Chỉ một con đường ấy chúng sinh tự giải thoát mình để đến được với Người trong ánh Phật quang nơi cõi Niết Bàn!
Nói rồi vị sư già tự tâm tĩnh tại, tay lần tràng hạt, tay gõ nhịp đều đều tiếng mõ “cốc… cốc… cốc…” điểm vào giữa tiếng chuông ngân như nhắc nàng tự hỏi lại mình.
Nàng chưa hiểu hết ý nghĩa thâm thúy trong lời nói của vị tăng trưởng nhưng nàng mơ hồ hiểu rằng nàng chỉ là một khách lữ hành lỡ bước và nơi đây chỉ là chỗ trú chân! Con đường về nhà với mẹ cha lúc này thật dễ dàng. Ở đây không ai theo dõi hoặc cầm giữ chân nàng. Ra khỏi cửa chùa, lên một chuyến xe đò… Nhưng mang cái thân tả tơi rơi rụng này về để làm gì? Nghĩ đến bước đường đi lòng nàng càng bối rối. Ở yên nơi cửa Thiền này nàng không lo sợ điều chi.
Nàng không chờ đợi ai. Nàng cũng không để ý đến thời gian nữa …

                                       

Bà Sáu lại lên Chùa.
- Ở trên này thì nóng ruột công việc ở nhà. Về nhà vài hôm dì thấy chóng mặt, muốn bỏ lại tất cả mà đi. Con cái dì mà nó được như con thì dì sẽ giao cho nó tất cả rồi lên đây ở với con luôn!
Bà thăm dò nàng với vẻ hơi khác lạ:
- Này con! Ông Hai là chỗ thế nào với con?
Nàng chột dạ nhưng ráng giữ vẻ bình tĩnh:
- Dạ, ổng với ba là chỗ bà con nhưng con không rõ thế nào!
Chỉ có hai người mà bà vẫn ghé sát nàng nói nhỏ thì thào:
- Con đã biết chuyện gì của ông Hai chưa?
Tim nàng đập thình thình, nàng hồi hộp và lo lắng. Nàng không dám nhìn bà, chỉ biết lắc đầu.
- Ông Hai… chết rồi con!
Nàng bủn rủn chân tay, mặt mày tái nhợt. Bà Sáu áp sát lại, hai tay đỡ vai nàng. Bà nghĩ con nhỏ xúc động vì ổng chết đi nó không còn chỗ dựa! Nhưng bà vẫn phải báo cho nàng về cái chết của ông:
- Ổng treo cổ tự vẫn! Chỉ trong một tháng trời, hai cha con đều chết oan nghiệt thảm thương. Thật là đại họa!
Tai nàng ù đặc. Đầu óc nàng mung lung. Nàng không còn nghe được bà Sáu nói gì.
Nàng không oán trách ông Hai điều gì. Nếu ông là cha nàng, ông sẽ là người cha thật tốt. Ông không phải là người tình của nàng vì nàng chưa bao giờ rung động với ông. Người ta bảo nàng là “bồ nhí” là “vợ bé” của ông. Nhưng thật tình nàng không biết mối quan hệ giữa nàng với ông gọi thế nào cho đúng. Nàng không coi ông là khách qua đường. Rõ ràng là ông hiểu được nàng. Ông không hề có lời nói hoặc cử chỉ coi thường khinh thị nàng. Ông không có ý dùng đồng tiền để mua chuộc dụ dỗ nàng. Ông yêu chiều âu yếm nàng nhưng dường như có điều chi sợ sệt. Với nàng, ông như một người già yêu trẻ, được bồng bế trên tay một đứa bé ngộ nghĩnh xinh xinh, ông âu yếm hôn hít nó, nó cười vui vẻ hồn nhiên, ông thèm muốn ước ao nó là của mình nhưng ông lại biết chắc điều đó chỉ là giả tưởng. Nó nằm gọn trong vòng tay ông nhưng nó chẳng là gì. Ông biết nó sẽ không là của ông mãi mãi nhưng ông lại không muốn rời ra! Nó rất gần mà lại rất xa và ông thiết tha mong ở nàng một điều ân huệ. Nàng kính nể, yêu quí và có tình cảm với ông. Trong những phút ái ân, nàng không đam mê hứng cảm mà chỉ coi như một sự đền đáp với ông. 
Từ khi bước chân ra khỏi nhà, thời gian nàng sống với ông là yên ổn nhất. Giá như có với ông được một đứa con, nàng cũng không có điều chi ân hận.
Ngay tại trong thất nàng ở, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Bà Sáu biết là nàng thắp nhang thành kính nhớ thương ông. Nàng ngày đêm cầu khẩn trong lòng: Cái chết của cha con ông không liên can gì tới mối quan hệ của nàng. Nàng lựa lời hỏi dò bà Sáu:      
- Mà sao hai cha con ông lại chết thê thảm thế?
- Trời ơi! Con không biết gì đó thôi. Vụ việc của ông đổ bể ra lớn chuyện lắm. Người ta đồn đại ầm ĩ khắp chốn khắp nơi. Con gái thì tủi vì cha! Cha thì hổ với đời! Tuy nhiên những người biết ông, giận thì có giận nhưng lòng vẫn thương!
Nàng dần hiểu ra nguyên do cái chết của ông. Nàng vừa trách ông vừa giận đời:
- Sao ông dại thế! Nếu ai cũng vì vậy mà treo cổ mình lên thì đời này… vô kể!
Nói rồi nàng mới chợt thấy lỡ lời. Mấy năm trong nghề nàng đã hiểu rất rõ những vị giàu sang ấy là ai. Lúc đầu nàng tỏ ý coi thường những người cùng hội cùng thuyển kể cả Hoàng Oanh nữa, nhưng họ thẳng thắn đốp lại nàng:
- Ừ thì mình có bất lương nhưng chúng nó còn bất lương gấp vạn lần mình! Mày có mở mắt ra không?
Họ diễn đủ kiểu để moi móc các ông, có người xính vính và họ lặn biệt tăm.
Nhân một lúc chuyện trò, bà Sáu nói thật ra với Yến:
- Bà Hai đã sang lại cho dì cái thất này. Bà ra Hà Nội ở với chị em, ở trong này bà ấy không chịu nổi!
Từ khi biết tin ông Hai mất, nàng đã tính đến chuyện của mình. Nàng còn đang dùng dằng nửa ở nửa về nhưng mà về cũng dở mà ở cũng không xong. Bà Sáu nói ra có nghĩa là bà định gì đây. Hoàng Yến vẫn ngồi thừ người ra nghe bà nói tiếp:
- Bà Hai buồn bã đến nỗi quên luôn con! Dì có hỏi bà ấy cũng chỉ nói một câu: Tùy ý nó! Dì thấy con cũng tội, chỉ còn có một thân một mình!
Bà nhìn Hoàng Yến dò xem ý tứ của nàng. Nàng thấy yên tâm vì đến bây giờ bà Sáu vẫn chưa biết sự thật về nàng. Bà Sáu nói luôn ý định của bà:
- Nếu con còn buồn thì cứ ở trên này trông thất cho dì, ít tháng dì lên một lần, có dì có cháu cũng vui. Nếu ở đây lâu buồn quá con có thể xuống ở với dì, phụ cho dì trông nom cửa hàng dưới đó!
Bây giờ thì nàng thật sự như được tháo cũi xổ lồng. Nhưng lòng dạ nàng chưa biết tính sao. Chỉ có một con đường về nhà là yên ổn nhất. Nhưng sau những năm tháng đắm đuối xác xơ, nàng thấy hổ lòng với mẹ cha và với các em. Hoàng Oanh không phải là nơi nàng nương thân được. Và nàng nghĩ tới Nguyễn Tuấn… Nàng thấy thương anh… Giá như ngày ấy nàng đã dứt đi được những mối dây ràng buộc như bây giờ… Nhưng nàng sẽ mang lại cho anh điều gì? và nàng có quyền gì để mong anh chờ đợi? Nhưng tự đáy lòng nàng cảm thấy mối tơ vương chưa dứt. Nàng cũng có thể ở lại nơi đây – chốn đìu hiu thanh vắng nhưng thực lòng vẫn không thanh thản, đúng như vị tăng già ám chỉ: Nàng không có căn tu! Vậy thì cứ nấn ná lấy cửa Từ bi làm chỗ trú chân, có khác chi là dối Trời, dối Phật lại càng thêm tội…
Và nàng chấp nhận cùng bà Sáu xuống núi về lại chốn thị thành.

                                       

Cái chết của ông Hai Lực làm dư luận thành phố xôn xao một thời. Sáng ra người ta thấy ông chết treo lủng lẳng dưới cành xoài ở góc vườn, ngón chân ông gần chạm đất ngay tại nơi có bộ bàn ghế đá mà ông vẫn ngồi với bạn bè ngắm cảnh. Có người nói là ông bị rối loạn tâm thần sau những chấn động tinh thần liên tiếp, đặc biệt là sau cái chết của cô con gái út. Có người còn thêm thắt vào một câu chuyện ly kỳ là do ông cay cú bọn đàn em nhân ông giậu đổ bìm leo đã bày cách bắt cóc cô bồ nhí trẻ trung xinh đẹp và lấy lại ngôi nhà. Có người cho rằng ông chết đi là một sự tính toán khôn ngoan. Trước kia ông đã hy sinh một thời trai trẻ vì nước vì dân. Bây giờ ông hy sinh tính mạng vì nhà. Không ai truy tố một người không có khả năng tự biện bạch cho mình. Vợ con ông an toàn thoát nạn. Rõ là một tấm gương đáng nể “hy sinh đời bố củng cố đời con” của những bậc cao thủ thời nay. Lại có người nhân chuyện ấy làm máu hình sự nổi lên, họ đặt vấn đề cái chết ấy có phải bởi một âm mưu? Những việc ông làm không thể chỉ riêng mình ông làm được. Người trên phải gật. Người dưới một lòng thì ông mới dám mạnh tay cầm bút ký biết bao văn bản sai trái pháp qui trong bấy năm trời…
 Nhưng dù sao thì ông đã thành người thiên cổ. Ông đã đi vào cõi lặng im để lại cho cuộc đời này bao nhiêu huống cảnh dở khóc dở cười với bao nhiêu câu hỏi. Trong đó có một câu hỏi bức xúc quan thiết nhất của Quyền:
- Hoàng Yến ở đâu?
Từ khi gặp Hoàng Oanh, Quyền có linh cảm mình đã lần đến một đầu dây. Ở cô gái này gợi lại nhiều nét hao hao của người yêu cũ nên Quyền thường đến với nàng. Từ ngày Hoàng Yến bước ra đi, Hoàng Oanh tuy có thương nhớ bạn nhưng trong tâm trạng sâu xa có nhen lên chút tỵ hiềm. Rõ ràng nàng đã  dưới cơ Hoàng Yến. Những con mồi lớn chỉ ham tìm tới Yến và Oanh chỉ như một kẻ thế chân! Thật bụng nàng cũng ao ước được một người nào đó rước đi để có một chỗ yên thân nương dựa. Và nàng cứ đợi chờ hoài… Nàng đã qua một đôi lần mừng hụt với những mối tình hờ. Nàng đã tỉnh táo sớm nhận ra và kịp rút chân, không để xảy ra cảnh “hao tài tốn sức” như bao bạn bè nàng đã gặp. Tuy vậy nàng vẫn rất buồn. Nàng nhận ra rằng nàng bắt đầu xuống nước và nàng hối hả lao vào những cuộc vui chơi gấp gáp để chuẩn bị cho mình khi ánh sao lu. Dù sao Hoàng Oanh vẫn là một cave hấp dẫn cả về nhan sắc và tài nghệ. Lớp đàn em mới lớn đạt được trình độ như nàng cũng còn lâu. Sắc tài đột xuất như Hoàng Yến không dễ mấy hồi có được. Và anh chàng trai trẻ non nớt mới nhập môn như Quyền ngẩn ngơ lạc vào ổ nhền nhện này vẫn là một sự hấp dẫn với các cô cave lão luyện. Hoàng Oanh không khó để làm chàng ta nghiêng ngã. Hoàng Oanh không tiếc rẻ từ chối một ông khách lớn tuổi giàu sang để cặp đôi với chàng trai khoẻ mạnh, khôi ngô, nét mặt lúc nào cũng suy tư và đôi mắt cứ ngơ ngẩn tìm ai… Trong một phút giây lơ lửng cả hồn, cả xác giữa làn sóng nhạc dập dìu, Quyền đột nhiên so sánh:
- Hoàng Oanh, Hoàng Yến, hai loài chim ấy dễ lẫn với nhau. Giả như có một Hoàng Yến thật ở đây thì với Hoàng Oanh này có khác gì nhau?
Hoàng Oanh bị hỏi bất ngờ và chợt xúc động nhớ tới người bạn cũ, nàng buồn rầu buông câu trả lời khó hiểu:
- Hai con chim ấy khác nhau xa lắm nhưng oái oăm thay chng lại giống nhau… đều l chim cảnh!
Mắt Quyền sống động hơn. Chàng nắm chặt đôi bờ vai Oanh, lắc mạnh:
- Có không? Em có quen Hoàng Yến?
Hoàng Oanh trở về thực tại. Nàng đang nắm trong tay mình một chàng trai trẻ mà nàng vẫn khát khao. Dù nàng không đủ sức cưỡng chế được chàng nhưng chàng vẫn phải nhường bước chân nàng từng nhịp và thấp thoáng trong ký ức là đứa bạn đồng sàng nhưng bây giờ nó đã yên phận trong một tổ uyên ương mặc dù có là nghịch cảnh… Hoàng Oanh lắc đầu. Quyền thất vọng và chàng bộc phát lòng mình với cô gái nhảy:
- Anh có mối tình đầu sâu nặng với một người tên là Hoàng Yến. Đột nhiên nàng đã bỏ đi. Mối tình ấy anh không sao quên được. Sự ra đi của nàng là lỗi ở anh. Anh đã mất nhiều công sức tìm nàng. Chẳng lẽ nàng chỉ như một cơn gió thoảng, một áng mây bay qua cuộc đời anh!
Chàng đau đớn ghì chặt Hoàng Oanh và cắn vào cổ nàng như nàng đúng là Hoàng Yến. Hoàng Oanh ứa nước mắt chịu đựng nỗi đau và tin rằng nàng đang ôm gọn người tình của Yến trong tay. Nàng thấy xót thương người bạn gái mà nàng hằng cảm phục và cám cảnh phận mình. Nàng nói ra nỗi ấm ức từ trong nước mắt:
- Đàn ông các người lớn bé già trẻ gì cũng như nhau. Họ như con ong đực, gặp trái non phải châm cho bằng được rồi bay biến luôn, chẳng cần biết cái trái ấy héo hon thui chột vì mình!
Mặt Quyền tái nhợt, bước chân chàng chập choạng… Hoàng Oanh phải dìu chàng về chỗ nghỉ.
Hoàng Oanh dằn vặt có nên nói thật hết ra về người bạn gái với Quyền? Nhưng để làm gì? Yến đã chẳng nói rằng nó đang từ cái lồng chuyển qua cái cũi và nó yên lòng cam phận. Dù là Oanh, Yến sống gần nhau và thường rủ rỉ tâm tình nhưng chuyện gia đình và quá khứ của mình Yến không hề hé môi. Có lần Oanh khơi gợi:
- Chị cảm thấy em có một quá khứ thật hạnh phúc mà sao như em muốn chôn chặt nó trong lòng?
Yến cố giữ bình tĩnh để trả lời mà giọng cứ run run:
- Bây giờ thì chúng mình như nhau cả. Nói ra để làm gì… lỡ người nghe được động lòng xót xa. Thôi… cứ coi như mình bất hiếu! cứ coi như mình đã chết rồi!
 Và lúc này, tình cờ nàng lần tìm được le lói ra một chút quá khứ của người bạn gái. Nhưng đó là chuyện đã qua rồi. Giờ đây Oanh đang có mối cảm tình đặc biệt với Quyền. Cho dù tình cảm  ấy chẳng là chi nhưng nó cũng là sự rung động, sự ao ước của người con gái… cho nên nàng vẫn giấu Quyền.
Nghe được trong giới các quí ông rì rầm về cái chết của ông Hai Lực, một thành viên khả kính một thời, Hoàng Oanh thấy lo cho Hoàng Yến quá. Dù sao công ơn của nàng, tấm lòng chân thiện của nàng cũng dập tắt đi trong lòng Hoàng Oanh ngọn lửa nhỏ nhen của sự tỵ hiềm. Hoàng Oanh đã kể hết chuyện về Hoàng Yến với tấm lòng kính nể và quí mến của nàng, Quyền ngồi nghe mà như người mất hồn, rồi chàng đưa hai bàn tay bưng mặt và khóc nấc lên:
- Thầy ơi! Tội của con lớn lắm!... Em ơi!... Nếu phải đổi cả cuộc đời anh để chuộc lại lỗi lầm anh cũng không ngần ngại!
Và chàng lao vào một hướng mới đi tìm Hoàng Yến.
Việc học hành của chàng sa sút. Chàng càng lầm lũi. Ông Tư không sao bảo được con. Hai cha con giờ thành xung khắc. Ông Tư chán nản và thất vọng thành người chểnh mảng với vợ con. Dưới mắt các bạn sinh viên, Quyền đã thành anh chàng hoang bụi! Hoàng Oanh không thể lôi kéo Quyền vào  trong vòng tay mình được nữa.

                                                

Trong khi đó Hoàng Yến đã thành người thân thiết và tin cẩn, một người giúp việc đắc lực ở nhà bà Sáu.
Bà Sáu hay đi Chùa vì bà có nỗi buồn riêng. Gia đình bà thuộc loại gia thế ở Huế vào sinh sống ở thành phố này từ lâu và đã gây dựng được một cơ nghiệp khá. Bà có tới mấy cửa hàng đầu mối lớn. Ông Sáu làm Chủ thầu khoán khá thành đạt. Nghề của ông thường giao tiếp rộng và hay đi lang bạt đó đây nên cái cảnh vợ chạ con chung đã như thứ bệnh thâm căn giới nghiệp. Bà Sáu là chính thất, thuộc dòng dõi Công Tằng. Bà có với ông một trai, một gái cũng đã ở tuổi “nhi lập” cả rồi mà đâu đã thành thân! Chuyện chồng con chẳng được như ý muốn nên tính khí bà nhiều lúc thất thường. Với chồng bà coi như món nợ đời tiền kiếp. Với các con bà vừa yêu thương cưng chiều nhưng lại vừa coi như tai ách trời gồng lên cổ nên nhiều khi tất cả những nỗi bực tức, uất ức của cuộc đời bị cô đơn phụ bạc bà dồn lên đầu vai chúng thành ra mẹ con cứ như người xa lạ đối nghịch với nhau. Các con chỉ lễ phép cung kính với mẹ những lúc cần tiền và nhân dịp ấy chúng lại được nghe những khúc Nam bình, Nam ai của bà réo rắt, kể nỗi đoạn trường. Ông lâu lâu có đáo qua nhà, mặt mũi lúc nào cũng tươi rói và sẵn sàng cười hề hề với tất cả mọi người. Bà coi ông như khách. Con chẳng dựa được vào cha việc gì thì cha đâu có thể dạy con. Vài câu chuyện lạt lẽo bâng quơ còn thua người hàng xóm. Các con bà đều học dở dang, chẳng có ai hướng nghiệp hay vạch đừng chỉ lối nên chúng ngơ ngơ ngáo ngáo giữa đời. Tiền thì chẳng thiếu, chẳng cần. Chúng thích gì làm nấy. Học nghề này chưa xong đã chán bỏ theo nghề khác thành ra bá nghệ. Chán học thì đi làm cốt để cho vui chớ mấy đồng lương chúng không cần lãnh, tưởng rằng như thế người ta kính nể nhưng chẳng bè bạn được với ai lâu.
Mấy năm trước, cậu Hai lêu têu chán chê rồi mang về một cô gái trẻ đẹp rỡ ràng, một mực đòi mạ cho cưới cô ta làm vợ. Bà không thèm nhìn mặt, cái loại con gái lăng loàn ấy làm sao xứng để lọt cửa nhà bà. Nhưng bà tất bật đi buôn đi bán suốt ngày, nhà cửa thì rộng mênh mông, nó ở lỳ lại, bà lên gác nó xuống nhà, bà xuống nhà nó vọt lên lầu   thượng… chả hơi sức đâu mà đưổi được nó đi. Bà triệu ông về năm lần bẩy lượt mà ông thì làm sao còn dạy được con. Trước sau ông chỉ một lời:
- Chuyện đó tùy bà!
Bà con bạn bè can gián, bà đành chép miệng gật đầu, hy vọng thằng nghịch tử có vợ có con nó sẽ chỉn chu tu tỉnh rồi bà còn phải lo giao cho nó cả cửa nhà cơ nghiệp để mà làm ăn chen lấn với người ta, chớ bà mệt mỏi quá rồi. Bà cắn răng lo cưới hỏi linh đình cho xứng đáng với gia phong gia thế nhà bà. Nhưng công lao vun đắp của bà cũng chẳng đem lại cái tích sự gì. Bà giao cho vợ chồng nó trông nom cai quản một cửa hàng để quen việc dần đi nhưng hàng bán ra bà phải lo bù lại mà tiền thu về thì không đủ vốn. Mang danh là giao cho chúng nó cửa hàng nhưng không mấy khi chúng có mặt ở nhà. Sẵn tiền nó tiêu xài xả láng. Tối về khuya. Sáng dậy muộn. Dăm ngày lại biến mặt, lúc đi Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt… có khi biệt dạng mươi ngày nửa tháng mà chẳng hiểu nó đi đâu, bà điên ruột lần mò ra mới biết chúng nó đi “tour” du lịch! Mối manh bạn hàng phàn nàn kêu ca làm bà giảm chữ tín. Tới mức không sao chịu được bà buộc lòng phải “tốp” lại thôi. Tụi bay nghỉ làm thì cũng nghỉ chơi. Bà chỉ chi cho chúng một khoản tiền nhất định đủ cho việc sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng nó thành ra lục đục, có khi hỗn cả với bà. Con dâu chê bà “mệ keo kiệt”. Thằng con trai phụ họa thêm vào oán trách mạ làm khó con dâu. Bà càng căm gan tím ruột, xiết chặt hơn các nguồn chi phí. Vợ chồng nó không còn được thỏa chí ăn chơi thì bày chuyện cãi vã rồi đánh chửi nhau. Cuối cùng chúng đem nhau ra tòa ly dị. Cô con dâu đời mới nhắn lời từ biệt mẹ chồng:
- Tưởng lấy chồng giầu thì an nhàn sung sướng. Nào ngờ gặp phải bà gia hắc ám. Nay mai chết xuống âm phủ cũng thành ma đói!
Bà thương con lại cho nó tiền và nó cứ đi biền biệt…
Thằng con trai đã vậy, đứa con gái cũng chẳng khá gì hơn. Nó không đẹp, không xấu, nhưng nhà giàu thì cũng chẳng lo. Nhưng tính khí nó chẳng ra sao. Không ra tiểu thư khuê các cũng chẳng ra lam lũ bình dân, cứ dở dở ương ương, con gái đã ngoài ba mươi rồi mà chẳng chỉn chu nền nếp, chỉ ích kỷ hẹp hòi, việc làm ăn thu vén chẳng lo chỉ nghĩ chuyện xí phần xí của. Nhà chỉ có hai anh em mà cứ mở miệng ra là chúng nó cãi nhau, không đứa nào chịu nhịn đứa nào. Bà vừa là mẹ, vừa là quan tòa và cũng vừa là người… bị hại! Buồn bã, nhiều khi bà muốn quên phắt đi cái chuyện chồng con, tìm nơi ẩn dật, ăn chay, niệm Phật cho nó tĩnh tâm để lòng thanh thản. Nhưng ngặt nỗi việc buôn việc bán không đẩy được cho ai, nó như là nghiệp chướng không thể dứt ra. Bà Sáu quen bà Hai Lực là thế. Hai bà gặp nhau ở cảnh chùa chiền. Mỗi người một cảnh ngộ nhưng cái tâm của ai cũng đều thành kính hướng về một đấng thiêng liêng cầu xin được đến ngày giải thoát. Bà thèm khát được như bà Hai. Bà ấy thật tốt phúc: vợ chồng quyền quí cao sang, con cái biết lập thân lập chí, gia đình êm ấm. Trái ngọt này chắc tự cái nhân lành tiền kiếp. Thế mà đùng một cái tất cả tan tành, hơn cả trời long đất lở. Thế mới biết địa vị, giàu sang có khi là điều oan nghiệt. Cuộc đời này chẳng nghĩa lý  gì… Và bây giờ, cái sự thể gia biến của bà Hai đã đưa đẩy đến nhà bà cô con gái sắc nước hương trời mà ngay từ buổi đầu gặp gỡ bà đã thấy mến mến thương thương.
Hoàng Yến đã mau chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của bà Sáu. Là người sùng mộ Phật nhưng lại lăn lóc chốn thương trường từ thuở thiếu thời nên lòng bà tuy dễ thương người nhưng chiếm được lòng tin của bà thật khó. Có chăng chỉ là những phút giây xúc động mủi lòng. Bà xét nét để ý nàng từng ly từng tí. Lúc đầu nàng giúp việc nhà, từ hột cơm vương vãi đến cách chi tiêu tiền chợ bà nhận ra con bé căn cơ. Rồi nàng giúp bà tính toán sổ sách thu chi, bà biết con bé này cẩn thận và chu đáo. Bà đưa nàng đi theo đến các cửa hàng, nàng nhanh ý và nhớ lâu nên nhiều khi giúp bà điều hành công việc bán buôn. Nàng cố tránh những chỗ đông người. Trong cửa hàng nàng luôn ngồi chỗ khuất, chăm chỉ công việc và có những ý kiến xác đáng khiến bà Sáu là người từng trải cũng phải ngạc nhiên. Đôi lúc bà cũng hồ nghi con bé, còn ít tuổi mà sao kín đáo khôn ngoan thế. Nàng giải thích cho bà:
- Con phụ mẹ buôn bán từ hồi còn nhỏ nên mẹ khuyên con chẳng cần học cao làm gì, cứ nối nghiệp mẹ đời cũng chẳng thua ai. Phi thương bất phú mà. Cha con có điều kiện đưa cả gia đình đi xuất cảnh nhưng con lỡ đem lòng thương yêu một người nghệ sĩ. Anh ấy đẹp như tranh, hát hay, đàn giỏi, nói năng ngọt ngào tình cảm nghe cứ như ru. Con không dứt ảnh ra được. Cha mẹ ra đi, để lại cho con cả cửa hàng, nhà cửa. Ảnh khuyên con bán hết cơ nghiệp, lập một gánh hát tư nhân. Nào ngờ bà bầu lại chính là vợ ảnh. Thế là anh theo đoàn hát đi mút mùa đây đó, để con ở lại bơ vơ! May gặp ông bà Hai, nghĩ tình với cha mẹ con đã kéo con ra khỏi cơn bế tắc, chứ nếu không thì…
Bà nghe nàng kể mà lòng cứ ngùi ngùi. Con bé có nét tương đồng với bà một thời con gái. Bà an ủi nàng mà cứ như vỗ về mình bằng những lời ai oán:
- Đàn bà như hạt mưa sa, cứ nghe những lời ngọt nhạt bùi tai của thằng đàn ông thì hại cả một đời!
Lạ thay, Hoàng Yến có sức quyến rũ kỳ lạ với cậu con trai bà Sáu. Từ ngày nàng về ở nhà này cậu ta ít bỏ đi chơi, chỉ quanh quẩn ở nhà. Mỗi khi Hoàng Yến theo bà Sáu ra các cửa hàng, cậu cũng kiếm cớ tới lui lăng xăng giúp mẹ, giúp “cô em” chuyện này chuyện khác. Lúc đầu bà Sáu cũng cho là chuyện thường tình, bà chẳng lạ gì cái máu “trụ tam đợi” của cha con nhà nó chẳng ai chịu nhường ai. Nhưng bà thấy cậu con trai trở nên được việc. Bà sai những việc lặt vặt, cậu làm nhanh nhẩu chẳng từ chối việc chi. Bà cười thầm trong bụng:
- Tổ cha mấy thằng háo sắc! Hiếu nghĩa chi mi! Chẳng qua mi làm bộ vậy vì cái chi? Cha con mi cùng một giuộc. Bà có lạ chi mô!
Nhưng bà cứ để xem sao…
Cậu Hai rà rê tán tỉnh cô gái trẻ:
- Ai đặt cho em cái tên đẹp răng rứa. Từ cặp dò, đôi mắt, nét mặt, giọng nói, dáng người… chẳng khác chi con chim yến nhỏ, dáng vẻ nhẹ nhàng, thanh toát, kiêu sa!
Lúc nào cậu cũng dập dìu sát bên người đẹp, áo quần chải chuốt, mặt mũi bảnh bao. Với Hoàng Yến, những lời tán tỉnh chẳng có nghĩa gì hoặc như trước những cử chỉ thượng lưu hay sàm sỡ, nàng đều có cách ứng xử không mất lòng ai mà vẫn giữ được vẻ duyên dáng, cao quí và hấp dẫn của mình. Bà Sáu thầm cảm phục con bé nết na. Cậu Hai lại càng cố lân la để chiếm bằng được trái tim nàng. Với kinh nghiệm nhiều năm trong chốn trường đời nàng hiểu rằng trước một người đàn ông muốn đến với mình hãy đừng tỏ ra kiêu căng nhưng cũng đừng dễ dãi vội vàng, phải giữ một khoảng cách đủ gần và cũng đừng xa để họ chờn vờn sẽ biến người con gái thành cục nam châm cực mạnh và các chàng si chẳng khác gì thỏi sắt quẩn quanh trong vòng từ trường của nó. Cậu Hai mê mệt với nàng. Bà Sáu thử tiến tới mức bảo con trai chở Hoàng Yến đi đó đi đây làm những công việc bà giao. Nàng thường khéo léo tìm cách chối từ nhưng cũng có lúc phải làm theo ý của bà. Ra đường nàng thường đội nón rộng vành và mang kính mát lớn phòng hờ lỡ gặp người quen. Nàng chỉ tiếp xúc với người cần thiết và xong công việc là trở về ngay. Cậu Hai nhiều lần rủ nàng ghé chơi đây đó nhưng nàng một mực chối từ. Có lần chẳng cần hỏi han, cậu chở thẳng nàng vào một nhà hàng lớn. Hoàng Yến hết hồn vì đấy là nơi nàng đã quá quen thuộc trước kia. Nàng bỏ mặc cậu Hai loay hoay ở đấy, chạy thẳng ra đường kêu taxi về. Tới nhà, nàng vừa tủi thân, vừa lo sợ một điều gì bất chợt ập đến để lộ ra chuỗi quá khứ mà nàng muốn chôn chặt nó đi, nàng ôm mặt khóc. Bà Sáu hỏi nàng không chịu nói. Cậu Hai mãi chiều tối mới về, say khướt mà không la ầm ĩ như mọi khi, bây giờ cậu rền rỉ, i ỉ hát bản tình ca sầu não:
Đừng làm sầu này tràn bờ mắt / Đừng làm cuộc tình thêm thương đau / Đừng làm giọt lệ cay đôi môi / Vì người đi xa xôi phương nào / Anh không bên em ai hôn môi / Ai nắm lấy tay / Unbreak my heart… Trái tim ơi đừng tan vỡ!”
Bà Sáu nhìn con trai lắc đầu và bà đưa mắt nhìn cô gái yêu thương…
Cậu Hai trổ đủ ngón chinh phục đàn bà con gái nửa được di truyền, nửa tích lũy được trên chốn trường tình mà chưa khuất phục được cô em bé nhỏ thương thương này. Cậu càng si mê Hoàng Yến và cuối cùng phải cầu cứu mẹ.
- Mạ! O này con cái nhà ai mà dễ thương quá hi!
Bà Sáu cũng đã suy xét chuyện này. Bà thấy con bé được đủ  điều nhưng hiếm một nỗi bà không biết rõ gốc gác nó ra sao. Người ta vẫn chẳng bảo “ Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống” đó là gì. Bà giàu nhưng con cái bà dở ông dở thằng, cao không tới, thấp không thông. Tìm nơi quyền thế gia phong thì người ta chẳng đoái, mà đám hạ lưu tàng tàng thì bà lại sợ nó chở của về nhà… Nhưng như con bé này không phải bà gặp nó ở ngoài đường, ngoài chợ. Chẳng qua là gia cảnh nó trớ trêu thôi. Nó được người, được nết: nhanh nhẹn, tháo vát, mà lại kín đáo tiện tằn. Con gái đẹp hơ hớ mà cứ như người muốn đi ở ẩn. Con gái bà chỉ cần được một góc của nó cũng đã thật có phúc cho bà. Bà mắng vốn con trai:
- Con nhà người ta ai dạy mà khôn? Cái cỡ như mi có tán rã họng nó cũng chẳng thèm đâu con ạ!
Cậu Hai biết “cô em gái” rất trọng nể bà nên cậu vò đầu bứt tai xuống nước:
- Thì bây chừ mạ biểu răng con chịu rứa chớ con có dám trái ý mạ chi mô!
Bà biết nó nịnh bà:
- Cha tổ mi, được lợi cho mình thì mạ mạ con con, hết lợi rồi thì mạ với con lại như trời với đất!
Mà thực tình thì từ khi có con bé ấy về đây, con trai bà bớt đi nhiều chứng tật. Biết đâu là cái duyên trời định, thiếu gì con vợ nó bảo được chồng. Bà vẫn ao ước có  một ngày được giao lại cả cái cơ nghiệp một đời bà lăn lóc đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được này cho các con bà để bà được thư nhàn thoát ly thế tục, chớ bà cũng đã mệt mỏi, chán ngán cái cảnh bon chen lặn hụp ở chốn thương trường và phải sống giả dối, hờ hững ngay cả với những người thân. Bà ướm thử lòng Hoàng Yến:
- Chuyện của con chẳng may lở dở, con có định đi theo ba má, chớ cha mẹ nào mà chẳng thương con?
- Ba má con nghiêm lắm. Vì rất thương con nên ba má cũng rất giận con chẳng biết nghe lời. Lúc ra đi, ba uất nghẹn nói: “Ba má biết bao công sinh thành dưỡng dục mà mày không tin, đi nghe theo đứa ở đâu chẳng biết. Từ nay ba má coi như mất một đứa con!”. Bây giờ dầu có chết con cũng chẳng dám nhìn ba má! Thôi thì lỗi mình làm mình chịu!
Nàng nghĩ tới ba má đang đau khổ ở nhà, nước mắt nàng rơi tầm tã. Bà Sáu thật sự xúc động và thêm quí mến nàng hơn. Lựa một dịp hai dì cháu tâm tình, bà Sáu thổ lộ với nàng:
-  Phận nữ nhi cực lắm con à! Không chồng thì lẻ loi vò võ chẳng ai san sẻ nhưng việc tình việc nghĩa vẫn phải chu toàn, vậy mà vẫn mang cái tiếng là gái vô duyên! Có chồng lại cũng rủi may nhờ vào số phận, nhiều khi nghĩ thà đừng đa mang vào nó còn hơn. Như dì đây “cũng là phận gái mà đào – người thì gặp được anh hào đảm đang – mình thì cũng dự phấn hương – gặp nơi lêu lổng chẳng thương chút nào!
Bà quen chảy nước mắt vào trong nhưng nói ra những câu này với người bạn gái tin cẩn, nước mắt bà chảy ra lã chã. Nàng chẳng biết nói gì để an ủi người đang bảo bọc giúp đỡ nàng. Bà quệt ngang những giọt nước mắt, nói những điều suy nghĩ của mình:
- Dì có một thằng con trai và một đứa con gái mà lòng lúc nào cũng canh cánh buồn phiền. Đã quá lứa nhỡ thì cả rồi mà chúng nó cứ nhởn nhơ chẳng biết lo cho cái hậu. Đời người ngắn ngủi lắm, chẳng mấy đâu, ào một cái là qua. Dì thấy thằng Hai nó cảm mê con lắm. Dì là mẹ nó đấy nhưng dì chẳng phải là mai mối đưa đẩy gì đâu. Con dì, dì biết. Nếu con thấy có thể chắp cánh liền cành với nó thì dì cũng thuận tình. Có mẹ có con hiểu được lòng nhau thì dì cũng đỡ. Giá như con gái dì mà nó được như con thì đời dì đỡ khổ biết bao nhiêu!
Hoàng Yến cũng thưa thật với bà như với mẹ mình:
- Một đời con đã lỡ dại nghe lời người ta để khổ mẹ cha mà cũng mang tiếng xấu cho mình. Có ai thương  thì liệu người ta có hiểu cho chăng? Chớ đàn ông lúc bồng bột thì họ đam mê nhưng lúc chán chê rồi thì họ tìm đủ lý lẽ để mà gian cách. Con sợ lắm. Dì cho con nương tựa như vậy là quí lắm rồi. Lúc vui con giúp đỡ dì mọi việc. Lúc buồn con lên trông thất cho dì, chẳng phải vướng bận điều chi!
Bà Sáu càng cảm cái nết thật thà, chín chắn. Con nhỏ mới tí tuổi đầu mà nó nghĩ sao giống mình là một bà già! Vả con trai bà cũng đã qua một đời vợ cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt rồi. Và bà hết lòng vun vào cho hai đứa.
Từ ngày Hoàng Yến được đưa lên Đà Lạt ở chùa, nàng cảm thấy ngọn lửa tình yêu trong lòng mình như đã tắt. Nàng không nghĩ tới một hình bóng nào đã qua đi trong đời nàng từ Quyền đến Nguyễn Tuấn và cả ông Hai Lực. Dường như tình yêu không dành cho nàng. Nàng sinh ra để gánh chịu những bất hạnh và những đa đoan thay cho người khác. Vậy thì còn nghĩ đến nó làm gì. Hãy quên đi! Quên đi! Nàng chỉ mong muốn một điều duy nhất là được sống yên thân cho đầu óc nàng thanh thản. Lòng thương nhớ mẹ cha cũng nguôi ngoai nhàn nhạt. Nàng tự an ủi lòng mình: “Tất cả chúng sinh đều là con của Trời, của Phật. Không gặp được nhau lúc này sẽ gặp được nhau lúc khác. Không được gần nhau ở chốn này, chốn khác sẽ được gần nhau”. Những giờ tịnh tâm hướng niệm, lúc nào nàng cũng cầu xin Trời Phật cho mẹ cha nàng an khang  yên hưởng tuổi già. Nàng không cầu xin cho riêng nàng một điều gì.
Từ khi xuống núi cùng bà Sáu về chốn thị thành, Hoàng Yến lại bị cuốn hút vào những chuyện đời, nàng thấy cũng vui. Nàng làm việc hết lòng mình như là cách nàng đáp trả  tấm lòng chân thiện với người của bà Sáu. Cậu Hai không thể là người để lòng nàng xao xuyến mộng mơ. Nếu như không có chuyện cậu bộc lộ những tình cảm đặc biệt, nhiều khi quá trớn thì nàng cũng thực bụng coi cậu như một người anh. Nhưng rồi đến tình cảm chân thực của bà Sáu muốn vun đắp vào làm nàng suy nghĩ. Suy cho cùng mối quan hệ của nàng với bà Sáu thực chất cũng chỉ như người làm công với bà chủ mà thôi. Nàng vẫn là thân phận ăn nhờ ở đậu không nơi nương dựa lâu dài. Cho dù có trở về được với mẹ cha thì nàng có khác chi một kẻ giang hồ tay trắng hết thời quay về tổ dựa dẫm vào cha mẹ già nua tuổi tác. Với  cậu Hai, nàng chẳng hề yêu nhưng có gắn đời mình với cậu thì nàng mới có chỗ dựa lâu dài và có dịp để báo đáp tấm lòng bao dung của bà Sáu bấy nay. Nhưng điều mà nàng lo sợ nhất là lỡ lộ ra tung tích, lúc ấy còn khốn khổ hơn… Nàng như một người khách qua sông trên con thuyền tình do người khác đẩy đưa cặp bến bờ cậu Hai con bà Sáu. Cô vợ đã ly dị của cậu Hai đến quậy tưng bừng làm nàng khiếp vía. Bà Sáu phải đấu dịu vừa lý vừa tình dúi vào tay nó cả chục “cây” vàng mới tống khứ được cái con nặc nô ấy đi cho yên chuyện. Tiền bạc với bà chẳng nghĩa lý gì. Bà mừng là đã chọn được người gửi gắm cơ nghiệp và nương dựa lúc về già.
Đám cưới cậu con trai được bà Sáu lo theo thủ tục gia đình. Bà cũng chẳng muốn làm rình rang vì cũng không hay ho gì cái chuyện vợ nọ vợ kia để người đời vừa được ăn lại vừa được đàm tiếu chuyện con cũng giống cha. Hoàng Yến cũng vui vẻ với mẹ chồng vì nàng không muốn có mặt ở những chỗ đông người. Bà Sáu thì hiểu là một đời con gái mà nó vẫn khiêm nhường không đòi hỏi eo xèo như đứa con dâu trước. Bà càng hài lòng với sự chọn lựa của mình. Bữa tiệc gia đình  tổ chức tại nhà cũng vui và đầm ấm.



No comments:

Post a Comment