OAN NGHIỆT
************************************************************
CHƯƠNG KẾT
Hoàng Yến không hiểu được nàng đang sống trong thực hay hư.
Mới đây thôi nàng còn là cô chủ được mọi người kính trọng và mơ ước. Nàng là
người điều hành thông minh, tháo vát, người quản lý tận tụy trung thành một cơ
ngơi lớn đang trên đà phát triển và cái
cơ ngơi ấy sẽ là gia sản cho con trai nàng là người thừa kế đương nhiên. Thế mà
giờ đây cả hai mẹ con nàng đều bơ vơ không nơi nương tựa, phải sống tránh né
mọi người, không dám mở mặt nhìn ai ngay cả với cha mẹ ruột của mình. Cả một
chuỗi tháng năm u ám của quá khứ nặng nề hiện lên che khuất hướng tương lai.
Trước mặt nàng là cả một không gian mù mờ ảm đạm...
Hoàng Yến
nghỉ ở khách sạn này đã hơn một ngày rồi. Nàng chưa biết sẽ đi đâu, về đâu. Quá
khứ đã như một tấm cửa thép lạnh lùng khép chặt. Với nàng thật là đơn giản,
cuộc sống này càng sớm kết thúc thì càng mau được giải thoát thôi. Nhưng còn
đứa con nàng? Nó chẳng tội tình gì...
Đứa con
nào chẳng mong có mẹ. Nhưng đứa trước không được thành người, để ai oán cho nó,
chẳng lẽ nàng không có lỗi? Đến thằng Tý Ty này, đã thành người, nó không thể
xa nàng được nữa. Nhưng mẹ con sẽ sống thế nào? Nàng không thể để đứa bé phải
tủi hổ khi biết về mẹ nó. Nàng đã mang tội với đấng sinh thành, giờ lại thêm
tội nữa với con!
Mai là
Mồng Một Tết. Hôm nay là ngày cuối năm. Hôm qua nhìn thấy Quyền hối hả về quê
ăn Tết, Hoàng Oanh quay về thành phố lại với những trận cười cuộc vui nhàm
chán. Nàng đã không thể nhìn lại mẹ cha và bạn bè xưa cũ. Nàng cũng không thể
tìm đến với Hoàng Oanh để cả hai mẹ con cùng chui đầu vào thòng lọng.
Nhưng biết
đi đâu? Nàng hoàn toàn bế tắc. Nàng ra bàn, có để sẵn cuốn tập và cây viết.
Nàng tách một tờ giấy đôi ở giữa, cúi đầu ngồi viết. Mấy lần nàng viết được dăm
chữ vài dòng lại bỏ đấy ra ngồi với con rồi nằm vật trên giường ôm thằng bé vào
lòng và nàng thiếp đi...
Nàng đứng
trên con đường dài, nắng chiều vàng sắp tắt... Nàng bế thằng Tý Ty bước lên một
cây cầu, cây cầu dài mút mắt. Mặt sông mênh mang. Ánh trời vàng lung linh trên
sóng nước. Gió sông thổi lạnh run người.
Nàng nghe rõ tiếng khóc hay là tiếng gọi “A!... A!...” ai oán và gai lạnh. Nhìn
xuống dưới lòng sông: bóng nàng, bóng thằng con hòa lại thành một cái bóng đen.
Cái bóng đen ấy như cái đầu treo ngược lung linh chao đảo và lúc một to ra.
Kìa! Rõ ràng cái miệng nó há ra ngáp ngáp và từ đó phát ra những tiếng “A!... A!...”.
Nàng kinh hoàng, thằng Tý Ty trườn người ra tuột khỏi tay nàng rơi tõm đúng vào
cái miệng đen ngòm kia đang há ngoác ra. Nàng hét lên tiếng kêu “Con ơi!” xé
ruột và lao theo con xuống dòng sông đang chảy xiết...
Người dưới
nhà nghe tiếng hét thất thần tưởng có chuyện gì xảy ra cho thằng bé, họ chạy
lên, xô tung cánh cửa. Hoàng Yến ngồi đấy, mặt mày tái nhợt, tay ôm con trong
lòng mà cả hai mẹ con đều run lên. Mọi người xôn xao. Nàng lật đật thanh minh:
- Cháu nằm
mớ ghê quá!
Họ thăm
hỏi mấy câu rồi quay ra.
Chỉ còn
hai mẹ con, chẳng lẽ cứ ở lỳ lại đây từ năm này qua năm khác, nhà chủ dù có
không kiêng thì cũng chẳng thiện cảm với mẹ con nàng! Hoàng Yến chạy ra bàn ghi
thêm mấy dòng trên trang giấy đang viết dở. Nàng gom gọn tất cả trong túi nhỏ
cùng với những đồ trang sức. Không thể ở lại đây được nữa. Nó đã biết rồi. Phải
đi ngay thôi…
Xế chiều
rồi, nàng xuống nhà thanh toán và vội vã bế con đi như chạy trốn.
Chiếc xe
đò thênh thang chở hai mẹ con nàng về giữa lòng thành phố. Chiều cuối năm ai
cũng hối hả về nhà. Chỉ có mẹ con nàng bơ vơ vô định. Phố phường còn đông chen
những người đi sắm Tết muộn. Những xe xích lô, xe máy ngược xuôi tấp nập chở
ngất ngưởng những cành mai, dò quất, chậu kiểng... Nàng bỗng hốt hoảng, cập rập
bế con quay mặt nép sát vào ô cửa kính đầy hàng. Bên kia đường, từ trong khách
sạn bước ra, người ta lố nhố… Nàng nhận ra cha thằng Tý Ty mặt mày phờ phạc,
chập choạng đi từng bước nhỏ. Thằng Khanh mặt mày phỉnh phơ ôm eo một cô gái
trẻ vẫy gọi taxi. Nàng biết nơi này là một casino trá hình, ở đây người ta sát
phạt nhau ghê gớm. Nhìn cảnh này cũng đủ biết chồng nàng thiêu rụi cơ nghiệp
của bà Sáu mất rồi! Nàng xót xa ôm con vào lòng nghĩ đến cảnh đời của nó rồi
cũng xó chợ đầu đường. Có mẹ nó cũng không dựa được. Có cha nó cũng như không.
Chung quanh người ta vẫn tấp nập, ồn ào. Mẹ con nàng như lạc lõng giữa dòng
đời. Ở đây không chịu nổi!
Nàng vẫy
xe, cứ chỉ hướng trước mặt cho anh lái xe chạy tới. Những nẻo đường nào thưa
vắng thì đi. Xe qua Quận Năm… Quận Một… Quận Ba… Nàng nhận ra Lăng Ông Bà
Chiểu… Xe đi ra hướng ngoại đô. Người ta ở đây có vẻ lam lũ, bình dân. Tới ngã
tư, chỉ có ngả quẹo phải, đường lớn xe chạy tốt. Anh tài dừng xe muốn hỏi ý
nàng. Nàng chỉ cây cầu ý muốn hỏi anh.
- Đấy là
Cầu Đỏ đi ra Xa cảng!
Ra Xa cảng
làm gì? Còn đi đâu nữa? Và cái cầu kia? Thôi, nàng không muốn qua cầu. Nàng bế
con xuống xe. Anh tài không hiểu được cô khách trẻ đẹp mà sao âu sầu thờ thẫn
kỳ lạ thế…
Chiều Ba
Mươi Tết đã muộn rồi. Khúc này người đi đã vắng nhiều. Con đường thẳng hẹp và
xấu dần giống như con đường về quê. Nàng lững thững bế con đi. Thằng bé có lúc
sà xuống đòi đi bộ. Nàng dắt thằng con lẫm chẫm đi dò từng bước. Nàng cũng
chẳng vội gì. Nàng cảm giác như người mình lơ lửng, đôi chân mình bám không
chặt đất. Người đi đường thì tất tả vội vàng. Mấy chiếc xe rú ga phóng vèo vèo.
Nhưng nàng thì cứ nhẩn nha. Trong lòng nàng vẫn bị ám ảnh bởi giấc mơ u ám vừa
qua. Đầu nàng có những khoảng tối, sáng xen nhau lẫn lộn. Lúc thì bừng sáng lên
với tiếng gọi tiếng cười của đứa con thơ. Lúc thì nó tối tăm u uẩn với tiếng “A...!
A..!” réo gọi từ chốn thâm u của một bóng đen quá khứ... Và đây kia, rõ ràng
một cây cầu! Trước mặt nàng là một dòng sông chảy xiết. Cây cầu chênh vênh với
những cây giằng sắt kết nhau đan chéo như tấm mạng nhện khổng lồ. Dáng trời
chiều vàng vọt phủ trên sông. Những mảng lục bình trôi ngược theo con nước
triều lên lướt đi vùn vụt. Vài bông lục bình tim tím nghiêng ngả lắt lay. Trên cầu không một bóng người. Gió
sông lồng lộng vang lên tiếng sóng vỗ chát chao. Ôi! Có phải cây cầu nàng bước
tới trong cơn mộng mị lúc trưa nay? Nàng hốt hoảng và sợ run lên. Chẳng lẽ nó
ứng với cơn ác mộng: Cây cầu dài mút mắt. Mặt sông mênh mang. Ánh chiều vàng
lung linh trên sóng nước. Gió sông thổi lạnh run người. Ôi! Cuộc đời loanh
quanh luẩn quẩn, cả mẹ con nàng đều không thoát khỏi cái vòng nghiệt ngã...
Nàng nhìn xuống lòng sông. Trời ơi! Cái bóng nàng, cái bóng thằng con hòa làm
một thành cái bóng đen to tướng như cái đầu treo ngược lung linh chao đảo và
lúc một to ra. Cái bóng ma trưa nay! Nàng đã đem con đi chạy trốn mà nó lại đón
đợi ở đây! Kìa! Cái miệng nó há ra ngáp ngáp và từ đó phát ra những tiếng “A..!
A..!”. Nó gọi ai? Đứa con kia réo gọi đứa con này? Không thể được! Phải cứu đứa
bé này thôi! Nàng ôm chặt con trong lòng cầu cứu… Nhìn về phía trước mờ mờ xa
vắng… Nàng quay lại phía sau, bóng người phụ nữ trên chiếc xe đạp vừa nhô lên ở
đầu cầu. Nàng hoảng loạn hét lên:
- Không!
Không! Cho mẹ để em ở lại!
Nàng chạy
băng băng, tung cả đôi dép khỏi chân. Chiếc xe thắng gấp dừng lại vừa lúc nàng
xô tới, ấn cả thằng bé và cái túi vào tay người phụ nữ, nói như cầu khẩn trong
nhịp thở hào hển:
- Cho
tôi... gởi... con tôi!
Và nàng
chạy quay trở lại. Nàng không nghe thấy tiếng gọi từ sau: “Cô ơi! Cô ơi!” tha
thiết như ai đó nhận ra được người thân. Như có người thôi thúc hay rượt đuổi
đến cùng đường, nàng vọt qua thành cầu nhảy tùm xuống dòng sông nước đang chảy
xiết và tiếng vọng của nàng trong gió để người con gái bế đứa bé đứng ngẩn ngơ
kịp nghe ra:
- Mẹ xuống
ngay với... con đây!
Cô gái sợ
hãi ôm chặt thằng bé và quàng chiếc túi trên vai, chạy đuổi theo nàng nhưng tới nơi cô chỉ còn thấy mái tóc đen dầy
xõa ra thành một mảng bồng bềnh rồi lẫn vào một dề lục bình đang dập dềnh trôi
ngược... Để lại chiếc xe nằm chỏng trơ giữa cầu, cứ thế cô vừa chạy vừa la
thảng thốt:
- Bớ người ta! Bớ người ta! Có người nhảy xuống sông...
tự vẫn!
Và cô chạy biến đi...
Người ta tụ tập giữa cầu mỗi lúc một đông. Ai cũng nói
như chính mình đã chứng kiến một cái chết bi thương:
- Cô gái trẻ đẹp lắm, đi chiếc xe đạp này đến giữa cầu
đứng khóc nức nở. Khi thấy có người đi tới, cô quăng xe lại kêu lên “Má ơi!”
rồi nhảy ào xuống sông chìm nghỉm…
Cây cầu Bình Lợi này từ bao nay đã chứng kiến biết bao
cái chết oan khiên như thế mà nỗi u uẩn
của mỗi đời người bạc mệnh chỉ có dòng nước chảy qua đây mới hiểu...
Cô gái bế thằng bé chạy hớt hải về xóm nhà lá gần cầu.
Nhà cô ở đó. Một người đàn ông lớn tuổi đang cắm cúi trên bàn. Cô té lăn ra
giữa nhà, miệng ú ớ không nói được. Người đàn ông hốt hoảng lo lắng cho cô.
Thằng bé trước cảnh lạ lùng cũng run rẩy bám chặt lấy cô. Một lúc sau hồi tỉnh
lại, cô phải nói đi nói lại mấy lần người nghe mới hiểu:
- Cô... Cô...
Hoàng… Yến... trầm mình... dưới sông!
Người đàn ông hiểu ra cuống quýt:
- Ở đâu?
- Ngay cầu đó!
Người đàn ông lao vọt ra ngoài. Trời đã xập tối rồi...
Người đàn ông đó chính là Nguyễn Tuấn. Anh đôn đáo chạy
lên chạy xuống và thuê ghe xuôi ngược tìm xác nàng mấy ngày liền nhưng hoàn
toàn thất vọng. Nước sông thì cứ ngày hai lần lên xuống. Chiều nào cô gái cũng
bế đứa nhỏ lên cầu thắp hương cúng vọng vong hồn người bất hạnh...
Trong túi xắc của Hoàng Yến, Nguyễn Tuấn tìm được tờ giấy
ghi lộn xộn tâm trạng của một người rối trí :
“ Ba mẹ sanh
con làm gì để con thành một kẻ
khốn khổ lạc
loài?!
Con ơi! Sao con lại dại dột từ lòng mẹ sanh ra
để đời con ai oán?!
Tôi đã tìm mọi cách thoát ra khỏi nỗi ô nhục
mà Trời không tha !
Tôi muốn được hiến dâng cho người tôi yêu
mà không được nhận !
Tôi muốn được ẩn mình dưới bóng Phật từ bi quảng độ
mà tôi lại sợ làm uế tạp cửa Thiền !
Con muốn về tạ tội với mẹ cha mà con không dám
làm mẹ cha khổ đau thêm nữa vì con!
Tôi đã thấy
người yêu tôi mà không dám gọi
vì tôi đã hững
hờ hắt hủi người ta!
Tôi đã nhìn thấy bạn tôi mà không dám đến
vì tôi sợ cám dỗ và cạm bẫy !
Hỡi Trời cao Đất dầy !
Hoàn lương khó lắm hay sao để nỗi
bao người đành cam phận?
Cuộc đời này chật hẹp quá!
Đi đâu cũng không thoát vòng tay của nó!
Tôi muốn chết mà tôi không dám vì thương con tôi bơ vơ!
Nhưng nếu như mẹ không chịu nổi
mà dại dột chết đi
thì Tý Ty ơi đừng oán mẹ...
Mẹ chịu hết nổi rồi!
Có ông bà nào
phúc đức
cưu mang nuôi
dạy con tơi nên người thì tôi
dẫu trong lò
lửa ngục dưới địa đàng cũng xin
hướng về trần
thế quỳ lạy Trời Phật ban cho
Người hưởng
phúc lộc đời đời.
Ngoại cháu là thầy
giáo Minh dạy học ở trường... tỉnh...
Con là đứa bất hiếu!
Nhưng xin ba mẹ hãy rủ lòng thương cứu cháu.
Kiếp sau con xin được đền nghì!
Mẹ hối hận suốt đời vì đã không cho con thành người
để được hưởng tình
thương của mẹ!
Bây giờ con một thân côi cút bơ vơ!
Mẹ xin con, em
nó chẳng tội tình gì, đừng bắt nó đi!
Tôi như một kiếp người bị lưu lạc đọa đày !
Nguyễn Tuấn đã thuộc lòng những dòng tâm sự đau thương ai
oán ấy. Lâu nay anh cứ nghĩ sự khốn khổ của anh là ở đáy cùng rồi. Anh ân hận
chê trách mình không hiểu được người yêu.
Anh vẫn lùng sục cố tìm thi hài nàng để an táng coi như
một việc làm đền ơn đáp nghĩa lớn của đời anh. Mãi tới dịp rằm tháng giêng,
trong khi người ta tấp nập kéo nhau đi lễ các chùa cầu xin phước lộc thì anh
tình cờ đọc được mẩu thông báo trên một tờ báo lớn: “ Công an Quận X phát hiện
thi thể một phụ nữ chạc 30 tuổi, khó xác nhận đặc điểm vì thi thể đã bị hủy
hoại nhiều do thời gian ngâm dưới nước lâu ngày. Ai là thân nhân xin đến nhận –
Địa chỉ liên hệ…”.
Nguyễn Tuấn tìm đến ngay. Thi thể được phát hiện phía hạ
nguồn, cách nơi Hoàng Yến trầm mình hàng kilômét.
- Nước đã đưa em lên thượng nguồn rồi lại lôi em xuống hạ
nguồn. Chẳng lẽ đến chết thi thể em còn bị đắm chìm, nổi trôi phiêu dạt thế ?!
Khi người ta mang
xác lên, áo quần tươm nát nên đã bỏ đi. Nằm đấy chỉ còn là một thi thể trương
phình đang thối rữa không thể hình dung nhân dạng. Nguyễn Tuấn xin nhận được an
táng người xấu số.
Chiếc xe tang chỉ có Nguyễn Tuấn, cô Bé Tý và thằng Tý
Ty. Mộ chí là một phiến đá trắng xóa trên đó Nguyễn Tuấn cho khắc một bông lục
bình trôi.
Trước khi giã từ ngôi một trở về, Nguyễn Tuấn đứng trước
mộ đau thương thành kính nói với người nằm lại:
- Em ơi! Khi em còn sống anh không nhận ra em! Khi em
chết anh vẫn không nhận ra em! Anh thật không xứng với tình em! Đấy là hình
phạt với người nghệ sĩ. Anh xin cúi đầu chịu lỗi trước em! Nếu người nằm đây
không phải là em, xin vong hồn linh thiêng mang tới vong linh thiêng liêng nàng
Hoàng Yến lòng tri ân và tạ tội của tôi l Nguyễn Tuấn!
Anh vẫn lưu tâm theo dõi và một hôm nghe tin có một thi
thể trôi giạt dưới chân cầu. Anh chạy ra xem nhưng đấy là thi thể một người đàn
ông còn nguyên quần áo, nằm xấp mặt xuống bùn...
Đây là chỗ ở của cô Bé Tý.
Cô ta giờ đã thành một cô gái siêng năng và tần tảo, đã
kiếm được việc làm ổn định. Anh họa sĩ thường đi đó đi đây, lâu lâu ghé về
thành phố. Anh coi cô Bé Tý như người nhà và đến đây tạm trú.
Bấy lâu nay anh đi nhiều, vẽ nhiều. Ngoài những việc cần
làm để kiếm sống, anh tìm tòi thể nghiệm bút pháp của mình, quyết tâm có được
một phòng tranh. Anh chưa hài lòng về mình và chưa cho ai xem những bức tranh
anh đã vẽ. Chủ đề của anh là miêu tả những con người. Những con người thì đầy
ra đấy nhưng tìm ai để vẽ. Anh thật khó tính. Anh chỉ vẽ những người nào anh
hiểu họ.
Cô Bé Tý coi anh như thần tượng. Bạn bè cô toàn mới lớn,
không giàu nhưng họ đã thích thì cũng dám chi. Ai cũng muốn có một bức họa của
mình cho hợp model thời đại. Nhưng anh không chịu vẽ. Anh bảo vẽ người không
phải là vẽ “truyền hình” mà là vẽ cái thần của họ. Vậy cần phải biết họ sống
thế nào và yêu ghét những gì .
- Tôi sợ vẽ không thật giống các cô các cậu chê!
Các cô cậu bĩu môi:
- Người ta vẽ đầy ra ở Sở Thú, có chi mà ghê gớm vậy!
Anh không trách
họ. Anh ngồi nguyệch ngoạc vài nét vẽ hình con mèo, con chó, con gà đưa cho họ
xem và bảo:
- Các cô các cậu thích tôi vẽ kiểu này, tôi nhắm mắt vẽ
ngay cho mỗi người một kiểu không lấy tiền!
Họ cười, không ai dám nhận vì họ sợ họa sĩ vẽ mình giống mấy con vật ấy. Ngay cả cô Bé Tý anh
cũng chưa vẽ tặng cô một kiểu. Anh bảo vì anh chưa thấy rung động trong lòng.
Cô Bé Tý chưa hiểu rung động trong lòng của người nghệ sĩ là nghĩa làm sao. Cô
hơi buồn nhưng nơi cô ở vẫn là cái kho giữ tranh cho anh và cô làm người trông
nom quản lý thật cẩn thận và chu đáo.
Chưa bao giờ Nguyễn Tuấn thấy nhớ, thương, kính trọng và
yêu Hoàng Yến tha thiết như bây giờ. Chiều nào anh cũng ra cầu đứng lặng hồi
lâu nhìn con nước vơi đầy, nghe hơi thở của sông và hứng làn gió lao xao trên
sóng. Tối về nhà anh lại mở tấm vải che ngắm hình Hoàng Yến. Miệng lầm rầm đọc
lại những dòng tâm sự của nàng... Và một chiều anh bật nghĩ ra:
- Đúng rồi! Chỗ em đứng là đây! Từ chỗ này em đã trở về
nơi cội nguồn tạo ra em. Chỉ có nơi ấy mới tạo ra dáng đẹp thiên thần!
Léonado Vinci đã trăn trở nhiều để tìm ra khung cảnh cho
nàng Lagio Condo đứng với nửa thân…
Và chiều nào anh cũng đem bức tranh ấy ra vẽ lồng vào
khung cảnh cây cầu chênh vênh dài mút mắt, ánh trời vàng ngàn ngạt trên sông,
sóng nước mênh mang in hình người đẹp lung linh lẫn với trời mây bát ngát ở
dưới, ở trên... Đúng như nàng là con đẻ của tạo hóa hiển hiện ở chốn trần gian
này.
¶
Quyền
về ăn quê Tết. Thực lòng không phải là chàng muốn sum họp với gia đình. Chàng
muốn được thăm hỏi thầy Minh vì niềm hy vọng tìm được Hoàng Yến đã tới gần.
Càng ngày chàng càng cảm thấy lỗi của mình với thầy lớn lắm. Được an ủi thầy
cũng là cách chàng chuộc lỗi với người yêu. Chàng tin là Hoàng Yến vẫn còn và
nàng đã có một mối tình với ai nhưng mối tình ấy cũng truân chuyên lắm nên nàng
chưa dám về gặp mẹ cha. Chàng phải tìm nàng bằng được và đưa nàng về, hai đứa
cùng tạ tội thầy cô.
Ông Tư
không còn là ánh hào quang với Quyền nữa. Trước chàng, ông đã hoàn toàn là một
người trần mắt thịt. Chính kiến của chàng hoàn toàn độc lập và có nhiều điều
xung khắc với cha. Với ông Tư, Quyền đã là một thằng con hư hỏng, không xứng
đáng với những gì ông đã làm được cho chàng. Bà mẹ sợ cả cha lẫn con. Giữa hai
người ấy ngầm chứa một cái gì căng thẳng, bà chỉ lo có một sự va chạm nhẹ thôi
thì nó sẽ nổ tung lên. Bởi thế bà luôn tìm mọi cách để xả van cả chồng lẫn con
trai. Bà ngọt ngào chiều chuộng, xoa dịu cả hai người. Nhưng sức bà có hạn.
Bữa cơm
đoàn tụ thông lệ của đại gia đình vào chiều ngày mồng một Tết cả nhà chờ ông.
Sáng ngày đầu năm ông đã ra đi từ sớm. Mọi người vừa mệt vì chờ đợi vừa mong
cho chóng xong cái nghi lễ thủ tục này để còn lo việc của mình nhưng không ai
dám “phá mâm” trước khi có mặt ông vì ông là niềm vinh quang và tự hào của toàn
gia tộc. Đến tối mịt ông mới về. Mọi người uể oải vào mâm. Ông ngồi xuống cạnh
bà than thở:
- Tôi muốn
đứt hơi vì suốt ngày được phân công đi thăm các nơi chính sách!
Không ai nói gì. Ông giơ cao ly:
- Nào!
Chúc mừng thắng lợi!
Quyền
chẳng giơ ly, hỏi lại:
- Ai thắng
hả ba?
Ông còn phấn
chấn:
- Thắng
lợi chung của tất cả chúng ta!
Quyền vừa
gắp món ăn vừa nói:
- Cái việc
tình việc nghĩa ấy nó cũng giống như ngày giỗ ông bà. Ở trên thành phố con đã
thấy có nhà làm giỗ linh đình nhưng chưa hẳn tự lòng thành kính biết ơn các bậc
tiền nhân!
Bà mẹ lo
có chuyện xen vào:
- Sao đầu
năm con nói chuyện gì kỳ vậy?
Ông Tư chủ
động cho một lời khuyên:
- Nếu mỗi
người đều biết phát huy truyền thống gia đình, gia tộc nhà mình thì chỉ có tốt
đẹp vẻ vang thôi!
Nhân dịp
này Quyền muốn trách cha:
- Truyền
thống nào thì cũng lấy những điều nghĩa nhân làm gốc!
Ông Tư
chưa hiểu ý con. Ông muốn chứng minh về truyền thống nhà mình:
- Ông bà
dạy tôi từ nhỏ đã có ý thức làm những điều có ích cho mọi người, cũng là để xây
dựng sự nghiệp cho mình và cho mai sau!
Quyền
không kìm được nữa:
- Thưa ba!
Đồ trang sức thì ai đeo cũng được mà vẫn phải đeo đúng lúc. Nhưng tấm huân
chương thì dù có đúng lúc mà không phải ai đeo cũng được!
Ông nhìn
thẳng vào con:
- Đúng,
mình phải làm gì mới có được huân chương chớ!
Quyền đã
làm tắt đi rất nhanh niềm tự hào của ông:
- Dạ! Huân
chương ghi nhận giá trị của việc mình đã làm nhưng nó không phải là lá bùa hộ
mạng!
Ông Tư đập
bàn:
- Mày
không được xúc phạm!
Quyền bình
tĩnh:
- Thưa ba,
không ai được quyền xúc phạm đến tấm huân chương của người khác! Chỉ có người
được mang nó mới có thể làm mất đi giá trị của nó mà thôi!
Ông không
còn tự chủ được nữa:
- Tao đã
trải qua bao chông gai gian khổ cho mày được như ngày nay, vậy mà mày lại phản!
Quyền còn
nể cha, giọng chàng có dịu đi nhưng vẻ thì kiên quyết:
- Chưa bao
giờ con phản lại quá khứ huy hoàng của ba! Để chứng minh, từ nay xin ba cho con được hoàn toàn tự lực!
Bữa cơm
đầu năm chưa ai nuốt được miếng nào đã coi như là kết thúc trong không khí lo
lắng và buồn tẻ.
Sáng ngày
mồng hai Tết, Quyền chia tay mẹ:
- Má đừng
lo gì cho con. Con đã lớn rồi!
Bà nhìn
con nhận xét:
- Cha con mày y chang nhau: ngang ngạnh!
Thật ra trong tình cảnh này Quyền ở nhà thì không khí gia
đình càng nặng nề thêm. Bà nghĩ nó ra đi như một sự lánh mặt cần thiết. Bà
chuẩn bị cho con những món quà Tết đầy cả hai túi xách. Bà biết tính nó khí
khái nên bà gói bọc tiền để dưới đáy một cái túi nhỏ hơn và dặn đi dặn
lại:
- Cái túi này nhẹ, phải giữ gìn cẩn thận nghe con!
Trước khi rời nhà
Quyền mạnh dạn tới chúc Tết thầy Minh. Mấy năm nay chàng không dám thăm thầy
vào những dịp này, sợ thầy cô chạnh lòng nhớ con không dưng đầu năm lại đem đến
chuyện buồn. Khung cảnh nhà thầy cũng vui. Bạn bè họ mạc của thầy, học trò cũ
và bè bạn các con thầy... để lại ở đây những nét xuân đầm ấm. Chàng đắn đo lời
chúc tụng:
- Thưa thầy cô! Nhân dịp đầu năm mới con kính chúc thầy
cô mạnh khoẻ, sống lâu!
Thầy hiền từ nhận lời chúc Tết của chàng. Hai thầy trò
tìm những chuyện đâu đâu để nói cho nhau vui nhưng ai cũng hiểu trong lòng mỗi
người đều nén xuống tình cảm thương nhớ đến một
người và cũng chỉ họ mới hiểu được tình cảm ấy lộ ra trong giọng nói và
ánh mắt. Khi tiễn trò ra đến cửa, thầy nắm tay trò thật chặt và chúc lời đầu
xuân:
- Thầy chúc con thành đạt và hạnh phúc!
Giọng thầy run run. Một tay Quyền trong bàn tay thầy nắm,
một tay kia Quyền nắm tay thầy. Quyền nói nhỏ nhưng chân thật như lời tự thú
của tuổi học trò:
- Con xin thưa thật với thầy là nếu như chưa tìm được
người bạn gái của con về đây thì sự thành đạt của con chẳng nghĩa lý gì và liệu
rằng con có hạnh phúc hay không?
Hai thầy trò nhìn nhau yên lặng, tay vẫn trong tay, dường
như họ đã hiểu và thông cảm với nhau của một nỗi đau vẫn đang gậm nhấm trong
lòng...
Quyền chưa vội lên thành phố, chàng xuôi về miền Tây chơi
với bạn bè, chờ sau Tết cùng lên. Bạn bè cùng khoá với chàng đã nhiều người tốt
nghiệp. Mấy năm nay đầu óc chàng phân tán, có lúc chán nản nên học hành sa sút,
chàng còn nợ lại mấy học phần. Tới đây chàng phải ráng cho xong. Năm mới cũng
là năm vừa mừng vừa lo của các bạn như chàng. Đã đến lúc họ phải chấm dứt quãng
đời vô tư để lao vào cuộc sống từ nay tự mình quyết định. Các bạn thèm được như
chàng:
-Thằng Quyền thì khoẻ re! Cầm cái bằng Luật sư về tỉnh đã
có người dọn chỗ lót ổ cho rồi. Tương
lai cứ từ từ thăng tiến!
Quyền buồn rầu phân bua:
- Mình không về tỉnh đâu!
- Thì ra đầu óc mày còn sáng đấy! Chức sắc gì thì cũng là
dân miệt vườn thôi! Ở thành phố mặc sức đua chen! Lại sẵn hỗ dựa rồi, thiếu gì
đường phất!
Quyền giải thích cho các bạn hiểu được lòng mình:
- Tụi bay lầm rồi! Tao muốn tự lực, tự cường! Đời thằng
con trai cam phận làm thân cây leo thì
hèn lắm!
Chỉ riêng có việc phải đi tìm Hoàng Yến là chàng giữ kín
trong lòng. Trên thành phố, duy chỉ có mình Hoàng Oanh biết chuyện này dù rằng
nàng chưa biết đến căn nguyên.
Giữa giêng, Quyền cùng các bạn về trường. Dù sao vẫn còn
là tháng ăn chơi, nhất là giới nghệ sĩ cầm bút thì còn đang say sưa với hoa,
với cảnh, với chén rượu, cuộc trà... Chàng tìm đến mấy nơi quen biết nhưng
không gặp ai.
Một chiều chủ nhật, đi vơ vẩn từ phía ngoại thành về,
chàng tắt qua đường cầu Bình Lợi. Chiều muộn rồi, chỉ còn mấy giải nắng vàng
óng ánh dưới mặt sông. Gió sông mát dịu làm người ta cảm thấy dễ chịu và phấn
chấn sau cả một ngày gay gắt nắng phương nam. Càng lên gần mặt cầu, người xe
càng ùn ùn rì rì đi từng bước chậm. Không ai biết có vật gì cản phía trước
kia... Thì ra một anh họa sĩ đứng nép bên phía đường tầu hướng ra mạn cầu cặm
cụi vẽ vẽ tô tô, chẳng thèm để ý tới dòng người qua lại. Qua đó, ai cũng phải
chầm chậm bước chân để ghé nhìn bức vẽ dù chỉ là thoáng qua thôi... Quyền chẳng
vội gì nên chàng dừng xe ghé nhìn cho rõ. Vừa lướt mắt qua chàng đã giật mình:
cô gái áo vàng với mái tóc đen dầy... Chàng rời xe ghé tới gần bảng vẽ. Bỗng
chân chàng run lên... Chàng kéo xe sát bên lề và nhảy tới đứng bên họa sĩ...
Người qua lại la lối ầm ĩ về sự cản vướng đường đi chàng cũng mặc... Người con
gái ấy đang đứng đó bên thành cầu nhìn thẳng vào Quyền. Đôi mắt thăm thẳm buồn
mà nhân hậu. Đã mấy năm rồi giờ đây Quyền mới nhìn lại đôi mắt ấy, rất quen
thuộc và thân thương nhưng không long lanh ngời sáng như ngày nào. Quyền không
kìêm chế mình được nữa, chàng nắm tay người họa sĩ:
- Anh ơi! Như là anh vẽ Hoàng Yến của em?
Họa sĩ dừng tay vẽ nhưng không nhìn người hỏi, anh trả
lời từ tốn buồn rầu:
- Không còn có một Hoàng Yến nào ở trên đời này nữa!
Quyền ôm hai vai họa sĩ cầu xin một sự giải thích rõ
ràng:
- Sao thế anh?
Họa sĩ nhìn Quyền rồi nhìn ra hướng sông, nơi những giải
nắng vàng đã nhòa nhòa nhạt nhạt:
- Bởi chúng ta không biết trân trọng cái đẹp trinh
nguyên, thuần khiết, cao cả, thánh thiện của nàng, coi nàng như một sinh vật
hỗn tạp tầm thường nên Tạo hoá đã gọi nàng về lại chốn nguyên khai. Đấy là điều
bất hạnh cho tất cả chúng ta!
Cô Bé Tý bế thằng Tý Ty đứng đó không muốn để họa sĩ thêm
vướng bận hỏi Quyền:
- Anh biết cô Hoàng Yến?
Quyền mừng đã tìm được người cần gặp:
- Dạ!...Tôi rất... thân!
- Vậy anh hãy theo tôi!
Cô bế thằng bé đi tắt theo con đường ray tàu hỏa. Quyền
lật đật bám xe theo cô... Trong nhà ánh sáng lờ mờ. Cô Bé Tý bật đèn chỉ khách
ngồi và giải thích:
- Hai người ấy thương nhau lắm nhưng không hạp số hạp
duyên nên rồi mỗi người mỗi ngả. Hôm cuối năm, tình cờ gặp cô ở trên cầu. Cô
như người mắc bịnh tâm thần, ấn thằng nhỏ này vào tay tôi rồi chạy ào ào nhẩy
xuống sông nơi ấy!
Nói rồi cô Bé Tý lục trong túi xắc, lấy ra tờ thư Yến để
lại. Quyền run run cầm đọc... Đột nhiên chàng đứng dậy kêu lên:
- Trời ơi! Thì ra
em đã nhìn thấy anh mà sao anh không thấy? Sao đời em cay đắng thế em
ơi!
Vẫn tờ thư trong tay, chàng chạy vọt ra ngoài… lao xe vào
bóng tối. Cô Bé Tý đuổi theo tới đầu ngõ thì mất hút. Cô giậm chân lẩm bẩm:
- Toàn là những người khùng!
Quyền phóng xe như bay trên đường phố. Trong đầu chàng
chỉ một điều suy nghĩ:
- Yến đã gặp mình! Yến đã gặp Oanh! Mà sao không ai nhìn
thấy Yến? Yến đã chết rồi! Có thật thế không?
Ở thành phố này, chỉ còn có Oanh biết Yến mà thôi. Chàng
lao xe về nhà Oanh. Cửa ngoài khoá chặt. Chàng đứng lặng một hồi. Oanh thường
đến khách sạn Mây Tần! Chàng vọt xe tới đó… Mấy cô tiếp viên thấy khách quen
ríu rít:
- Anh Quyền! Từ năm ngoái tới nay mới gặp anh!
- Tụi em nhớ quá! Lì xì em đi!
Một cô âu yếm nắm tay chàng kéo lại gần. Không một lời
chào, Quyền sỗ sàng giật tay lại, hỏi như quát nạt các em:
- Hoàng Oanh có đây không? Cô ấy ở đâu?
Cô gái bị xử tệ ngoa nguẩy nhìn cái anh chàng đáng ghét,
chỉ tay lên phía lầu:
- Nó mới đi Đàlạt về chiều nay, đang nghỉ ở phòng hai…
ba… không ấy!
Quyền chạy ào lên gác. Một cô tiếp viên lo lắng cự:
- Mày!... Hoàng Oanh đang đi khách mà!
Cô kia trả lời giọng độc ác hả hê:
- Để xem hai thằng bồ một già một nhí gặp nhau, nó quậy
tưng bừng!
Cả tấm thân lực lưỡng của Quyền xô vào cửa phòng số 230
đóng chặt. Cánh cửa bật tung ra. Ánh sáng đèn phòng mờ mờ đủ nhìn rõ hai tấm
thân trần đang quần thảo xiết chặt lấy nhau. Tay cầm tờ thư của Yến, Quyền thét
lên như kẻ mất hồn:
- Hoàng Oanh ơi! Hoàng Yến chết rồi!
Hai cái thân thể ấy rời nhau ra ngơ ngác... Giọng một
người đàn ông lớn tuổi nạt nộ rất oai quyền:
- Oanh… Yến cái mả cha mày! Tao cho thằng đập bể sọ mày
ra!
Quyền như điên dại quay ngoắt lại bật đèn sáng trưng
lên... Bỗng chàng há hốc miệng ra, tay rời tờ giấy, ngã bịch xuống sàn nhà,
miệng thốt lên thảm thiết:
- Ba ơi! Ba! Oan nghiệt rồi ba!
Thoáng một cảm giác gì ghê rợn, chàng quay ra phía cửa và
hoa mắt lên... Bóng một người con gái mờ mờ ảo ảo với chiếc áo dài vàng và bộ
tóc đen dầy mướt nhởn nhơ đứng đó... Quyền lao ra... Cái bóng người ấy lướt đi
dọc hành lang... mớ tóc đen dầy lõa xõa đung đưa... Quyền chạy đuổi theo cái
bóng ấy… Trong mơ hồ ý thức chàng nhớ tới cái bóng vàng chớp chới trong đêm
khuya vắng ngày nào... Tiếng giầy của chàng vang động các phòng quanh đấy, ai
cũng hốt hoảng ngạc nhiên... Ra tới ban công, cái bóng vàng lững thững quay lại
nhìn Quyền, nét mặt mờ mờ trăng trắng... Quyền dướn tới... cái bóng vàng lướt nhẹ qua
thành ban công... Quyền nhảy vọt tới để bắt kịp nàng, miệng hét lên: “ A!…
A!…”. Tiếng hét âm vang cả dãy hành lang mờ tối nghe ghê rợn... Từ dưới nhà có
tiếng người la hoảng:
- Có người nhảy lầu!
- Có người tự tử!
Ông Tư xỏ vội chiếc quần hối hả chạy theo con... Ra tới
ban công đã có mấy người đứng đó… Nhìn xuống dưới sân người ta lố nhố ồn ào...
Ông thấy con ông nằm sóng xoài giữa sân trên vũng máu đỏ nhòa. Mắt ông tối sầm
và quỵ xuống, miệng ông hào hển:
- Con... ơi!
Hoàng Oanh còn kịp vơ tờ giấy Quyền để rơi trên sàn nhà,
chạy ra đã thấy mấy người ậm ạch dìu kéo một người, tiếng rên è… è… lẫn với
những tiếng kêu lai tỉnh lo âu:
- Anh Tư!
- Anh Tư ơi!
Cô chạy xuống tầng chệt. Chẳng ai còn lại trong phòng
tiếp tân. Ngoài sân khách sạn người ta lố nhố í ới tíu tít khiêng một người té
từ trên lầu xuống ra phía cổng kêu xe. Ánh đèn lấp loáng nhìn rõ vũng máu chưa
khô. Cô giơ tay che mặt lẻn ra ngoài cổng và mất hút trên đường phố ồn ào nhốn
nháo...
¶
Bà
Sáu từ ngày mất thằng cháu đích tôn, tinh thần bà sa sút hẳn. Bà lúc nào cũng
vơ vơ vẩn vẩn, bỏ mặc hàng họ cho mấy người phụ việc. Bà ở nhà, ra vào run rẩy
mà vẫn không yên. Cậu Hai chẳng còn thấy có
cái chi neo giữ với gia đình nữa. Nhà mình mà cậu coi như nơi ở trọ, lâu
lâu ghé về chỉ để moi tiền mẹ. Nhà của cậu là nơi sòng bạc và các ổ động có
những cô tiên giáng trần... Cậu được giới lêu lổng đua đòi tôn xưng là “ Công
tử chịu chơi”. Cô Đạm Yến lẽo đẽo theo anh chàng Việt kiều tốt mã phong lưu như
đã bị ăn phải bùa của nó. Lạ thay, cô cứ lần lượt đòi bà Sáu giao lại những món
đồ trang sức quí giá mà cô đã chi chút sắm sanh dành dụm làm của hồi môn gửi bà
Sáu giữ trong két sắt. Bà Sáu nghi ngờ:
- Nghe nói
ở bên Mỹ nó lắm của nhiều tiền thế nào tao không biết nhưng coi chừng gặp thằng
sở khanh đào mỏ đó con!
Nhưng cô đã mê muội trong chốn bể ái nguồn ân
rồi làm sao tỉnh được.
Bà Sáu vừa
đi kiểm tra các cửa hàng về. Các người giúp việc không thể làm thay những việc
của bà với con dâu trước đây. Con trai bà đã thành vô dụng với bà. Con gái bà
dù có ép uổng cho nó chịu làm thì bà cũng không tin. Các bạn hàng thưa vắng dần
đi. Hàng ứ lại nhiều mà nợ thì phải trả cứ rút dần hầu bao, két bạc của bà. Bà thấy
nguy cơ suy sụp đã đến gần mà sức bà không đủ khả năng chèo chống. Bà thấy kiệt
quệ cả về sức lực và tinh thần. Bà ngồi đờ đẫh trên chiếc ghế đệm giữa nhà.
Cô con gái
dẫn xác về. Bà nhìn cái dáng nó đi mà ngán ngẩm. Cái cổ nó dài ngẳng ra mà cái
áo nó rộng lùng thùng. Lâu nay bà mới để ý tới trang phục của con. Con gái chưa
chồng phải ăn mặc cho gọn gàng, cho dòn eo ả thì mới bắt mắt người ta. Bà chợt
nhớ từ ngày nó có thằng bồ, chuyện con gái đi sớm về tối bà bớt thắt ngặt đi
nhiều. Bà nghi ngờ dò hỏi nó:
- Chuyện
mày với cái thằng Ai Khanh, Ai Việt gì đó định đến bao giờ? Tao còn sống để tao
lo cho nó xong đi!
Cô ả ném
xoạch cái túi xắc trên bàn, ngồi bịch xuống, dựa lưng vào thành ghế, hai tay
giơ lên đầu, miệng trề ra õng ẹo mỉa mai:
- Nó yêu
theo kiểu Mỹ!
Bà chưa
hiểu yêu theo kiểu Mỹ là thế nào nhưng nó ngồi như thế kia bà thấy rõ cái bụng
nó lồ lộ ra. Bà cảm nhận rõ là mọi sự đã rồi! Bà rên rẩm sầu não:
- Chúng
mày bôi gio trát trấu vào mặt tao!
Con gái bà
nó nổi sùng lên:
- Thế ai
không dưng rước đĩ về nhà? Ai đã bôi gio trát trấu vào cái nhà này trước?
Bà không
ngờ con gái bà nó phản bà như thế. Bà điên tiết lên:
- Con cái
vô phúc! Tao từ chúng bay!
Thế mà nó
lại mừng:
- Từ cũng
được! Nhưng phải chia gia tài sòng phẳng đi rồi từ!
Đến nỗi
này thì không chịu được nữa rồi! Bị chồng phụ bạc từ hồi còn xuân trẻ, bà một
nách nuôi hai đứa con, sớm hôm tần tảo cực khổ một mình để cho chúng nó mát mày
mát mặt. Vậy mà… Bà phát uất lên, thấy tức ở nơi ngực và nghẹn ngào nơi cổ, mặt
bà tái đi, không nói được câu nào.
Bà Sáu như
người ốm dở mấy hôm nay. Con cái nó bỏ lửng bà. Bà phải tự lo mọi việc. Kiếm
người làm thì bà không dám. Thời buổi này rước người dưng về, nhà vắng hoe thì
có ngày nó cắt cổ bà thôi! Bà tự than phận cái thân mình không có tay nuôi
người: chồng, con trai, con gái, con dâu, con rể, người ở... đều phản phúc! Mà
bà ăn ở với ai cũng trọn vẹn, hết mình. Hay là cái số kiếp của bà như vậy?
Kìa! Thằng
con trai bà đẩy cửa ủ rũ bước về. Đi theo nó là mấy thằng bặm trợn. Một thằng
cắp cái cặp da đen, đeo cái kính mát to. Bà giật mình: như cảnh sát hình sự!
Chẳng ai mời, tụi nó túa ra ngồi rải rác trong phòng. Bây giờ bà mới nhìn đến
cái mặt thằng con: nó lỳ lợm vẻ vừa chán đời, vừa uất hận, vừa sợ sệt. Mặt nó
xanh xao, gân guốc, rờn rợn. Bà chưa hiểu cả cái đám này nó định tính chuyện gì
đây! Một thằng trong bọn hất hàm:
- Có mặt
cả nhà đây! Nói đại đi cho rồi!
Bà hồi
hộp... Có chuyện chi lạ vậy? Thằng con ngồi đấy như kẻ vô hồn. Giọng nó nói vừa
đủ nghe, khô mà lạnh tanh:
- Mạ! Tôi
thua bạc! Nợ nần người ta!
À! Ra thế!
Bà hì mũi:
- Mày mang
nợ thì mày phải trả, chớ sao mày lại đòi tao!
Con bà nó
quát lên:
- Tôi
không trả nổi!
Bà điên
lên, vừa mắng con và cũng để dằn mặt mấy thằng đứng đó:
- Mày
không trả nổi thì mày thế cái mạng của mày. Tao lo cho mày như thế chưa đủ hay
sao?
Nào ngờ
thằng nghịch tử nó bật đứng lên, trút mọi nỗi hờn căm vào mẹ nó:
- Bà sanh
ra tôi mà bà bỏ mặc xác tôi lúc tôi túng quẫn khốn cùng! Tôi nói cho bà biết:
Tôi đã cầm cố cái nhà này!
Bà thót
lòng, chạy lên gác. Bà mở két lục tìm tấm hồ sơ bằng khoán ngôi nhà này, chỉ
còn lại bản photo, bản chính bà lục lọi xáo trộn tùm lum mà không thấy. Bà te
tái chạy trở xuống nhà. Thằng kia đã mở cặp ra, đặt lên bàn bộ hồ sơ và kèm
theo tờ giao kèo cam kết mượn tiền thế chấp. Cô con gái bà giật lấy tờ giấy và
đọc to lên:
“GIAO
KÈO VAY NGÂN THẾ CHẤP:
Tôi là Nguyễn Hữu Đại Tôn, nhận có mượn của
ông Quách Hồng Khanh một trăm năm mươi cây vàng bốn số chín, chịu lãi suất mười
lăm phân/tháng. Tôi giao toàn bộ hồ
sơ ngôi biệt thự của gia đình tôi ở số... Đường... Quận... cho ông Khanh như là
vật thế chấp, định giá là hai trăm năm mươi cây vàng bốn số chín. Nếu tôi không
có khả năng hoàn trả, lãi xuất tính đủ giá trị ngôi nhà thì ông Khanh được hoàn
toàn sở hữu ngôi nhà nói trên.
Coi
như đã thỏa thuận về việc mua và bán ngôi nhà!”
Làm tại Sài Gòn ngày tháng
năm
Đồng ký tên dưới đây
NGUYỄN HỮU ĐẠI
TÔN QUÁCH HỒNG KHANH
Cô ta mới
đọc tới đó bà Sáu đã té quỵ xuống nhưng cô con gái không nâng bà mẹ dậy mà cô
lại nhẩy lồng lên, xé tờ giấy trong tay tan nát thành nhiều mảnh và hét lên
choe choé:
- Thằng
khốn nạn! Nhà này không phải của một mình mày! Mày không có quyền chiếm hết!
Tao không cho một đứa nào bước vào đây!
Một thằng
kéo bà Sáu ngồi dựa lên chiếc ghế đệm. Thằng đeo kính mát cầm tập hồ sơ ôm chặt
vào lòng và cười khà khà:
- Cô em
ơi! Tụi anh có cả chục bản photo như vậy. Bản gốc của nó không ai đụng tới được
đâu! Vả lại ngôi nhà này sẽ thuộc về vị hôn phu của em, có lọt vào tay ai đâu
mà tiếc nuối!
Cô Đạm Yến
vẫn tỏ ra đanh đá ranh ma:
- Dù là vợ
chồng cũng của ai nấy giữ! Bây chừ vẫn là của riêng tôi! Đứa nào yêu thương
thiệt tình không tiếc!
Thằng ấy
lại cười ngất:
- Chà! Cô
em cũng cao tay đấy! Cục mồi bự và hấp dẫn đó nghen! Đại ca mà từ chối thì anh
xin nhận. Nhưng này, không yêu thương thiệt tình thì sao cô em đã bế người ta
lên bụng để bồng lấy con? Trước sau gì rồi đứa con kia không hưởng của mẹ cũng
sẽ hưởng phần của cha nó chớ sao? Có thiệt chi đâu!
Cô ta
dường đã hết hơi, ngồi phịch xuống bên bà Sáu nhìn cả lũ lắc đầu bất lực. Bà
Sáu đã hồi tỉnh kịp nghe những lời đối đáp và hiểu ra cớ sự. Bà ôm ngực thều
thào:
- Trời ơi!
Nó ăn tàn phá hại của tôi! Ngôi nhà này giá năm bẩy trăm cây mà nó đem cầm cố
chỉ có vậy thôi! Nó đem mồ hôi công sức của tôi đổ xuống sông xuống biển rồi!
Thằng cầm
cặp vẫy cả bọn đứng lên:
- Báo cho
biết vậy được rồi! Mọi thủ tục chúng tôi lo đầy đủ!
Chúng
nghênh ngang kéo nhau đi như mọi sự đã xong rồi.
Bà Sáu
phải triệu cha của hai đứa con về. Ông nghe hết chuyện cũng chẳng góp được ý gì
ngoài một câu lặp đi lặp lại:
- Tùy bà
định liệu!
Lúc cùng
này bà mới trách ông về sự thờ ơ với gia đình:
- Ông bỏ
mặc mẹ con tôi bao lâu nay mà chuyện lớn, chuyện nhỏ cần hỏi đến ông cũng chỉ
nghe được một câu “tùy”, như thế phỏng ông còn là gì ở cái nhà này?!
Ông đã dùng đến cái lý cùng:
- Tôi
chẳng còn là gì ở cái nhà này thật! Từ lâu bà cũng bỏ mặc tôi. Tôi đâu dám can
thiệp vào những chuyện của bà!
Trong cái
thế bí cùng này, bà vẫn một thân già định liệu.
Con bà đã
chui vào cạm bẫy của một lũ mặc rô, ma cô đầu trâu mặt ngựa. Chúng cột lý, kết
hợp với sự đe dọa tính mạng thằng con, đe dọa cả đến công việc làm ăn trên đà
đổ vỡ và chúng còn hăm dọa cả bà. Một thân bà già cô đơn yếu thế đành phải bó
tay.
Con gái bà
nó không chia sẻ nỗi xót đau khốn khổ của bà mà nó lại lồng lên ganh tỵ, đòi
chia của xí phần. Bà bế tắc rối bời tâm can, bỏ nhà lên tịnh thất ở nơi thiền
viện. Bà cố quên đi những mất mát dày vò thường ngày nơi cõi tục. Lòng bà tạm
lắng xuống trong mùi hương quyện với những bài kinh kệ. Bà chạnh lòng nhớ tới
hình bóng cô gái hiền dịu ngày nào đã cùng bà thành tâm hướng về cõi Phật và rủ
rỉ thù thì chia xớt những oan trái đắng cay của đời người. Bà cố xem xét lại
trong mấy năm gần gũi sống chung với nó có điều chi đáng để trách chê. Thật sự
là bà chưa tin ai như nó. Những ngày có nó bà được an nhàn, thảnh thơi, vui vẻ.
Nó đỡ đần gánh vác cho bà bao nhiêu là việc. Bà tự hỏi nếu như còn nó ở nhà,
muôn sự có ra nông nỗi này không? Bà nhớ lại đôi mắt của nó như người sắp chết
khi nó cuống cuồng quì xuống lạy cầu xin một sự che chở của bà cùng những lời
nó tố giác thằng Khanh! Đúng là con cái bà đã rước loài yêu quỉ vào nhà và con
bé ấy cũng chỉ là một thân phận bị dày vò oan ức mà thôi! Nó đã hối cải và phục
thiện. Nó đã sống thiện chí, thiện tâm và hành thiện để thoát ra ngoài vòng oan
nghiệt mà khốn khổ thay cho nó, bà đã làm ngơ đi để cho lũ ác quỷ kia lại xô
đẩy nó vào cõi tai ương! Bà cảm thấy lỗi của mình quá lớn! Lời Phật dạy “cứu
một người phúc đẳng hà sa” bà đã để lỡ rồi! Bây giờ công lao của bà một đời
nước lã ra sông! Nó là nhân, là quả của một kiếp người! Lòng bà xôn xang hối
hận! Đêm đêm cầu kinh niệm Phật bà luôn nhắc tới nàng, cầu xin đức Phật từ bi
thông sáng hãy cứu vớt nàng khỏi bể trầm luân, cầu mong đấng Tối cao cho bà
được xoá nợ kiếp này! Đôi dòng lệ xót thương, ân hận nặng nề từ đôi mắt già khô
cạn rơi xuống thấm trên quyển kinh A di đà...
Bà Sáu dãi
bầy tâm can với các tăng ni, tín nữ về cảnh ngộ oan trái của mình. Mỗi người
thông cảm xẻ chia với bà nỗi đau thương cô quạnh và góp ý cho bà nhẹ gánh thế
nhân. Bà quay trở về thành phố, bán tất cả cơ nghiệp còn lại của bà. Bà làm
giấy tờ chia sẻ cho con trai, con gái đều có cơ sở làm ăn để chúng nó có chỗ
dựa tự lo. Hay dở từ nay mặc chúng. Còn lại bà đem cúng Chùa và làm những việc
nhân đức cho người. Từ nay bà hoàn toàn gửi hồn, gửi xác nơi cửa Phật. Lòng bà
thanh thản trong tiếng mõ câu kinh hôm sớm trước Phật đài. Bà đã trút đi được
gánh nợ đời.
¶
Nguyễn
Tuấn quyết định mở một phòng tranh, lượng tranh không nhiều nhưng đều là tâm
huyết của anh. Anh đã hoàn chỉnh xong tất cả, đặc biệt là bức tranh Hoàng Yến.
Món tiền mà nàng tặng đã là nguồn tài trợ thiết thực cho anh dốc công sức, thời
gian, trang bị, suy tư... đảm bảo cho tranh đạt yêu cầu về nội dung và chất
liệu. Anh đem chuyện ấy bàn với cô Bé Tý. Gì chớ những tranh của anh trưng bày
ra cho mọi người xem thì cô ưng liền. Trước đây anh vẫn coi cô là đứa cháu, đứa
em út trong nhà. Bây giờ cô đã là một cô gái đậm đà, sức vóc hơn anh. Cô chỉ biết
chuyên chú đi làm, dành dụm phòng thân và giúp đỡ gia đình. Cô không có quan hệ
với người đàn ông nào khác ngoài anh. Cô quí mến tin tưởng ở anh. Cô đã coi anh
như người em trai của mẹ và bây giờ như một người anh. Nhiều lúc nghĩ tới anh
cô thấy thương thương tội tội thế nào. Từ ngày có thằng Tý Ty, cô và anh lại
gần nhau hơn nữa bởi cả hai người phải phối hợp cùng nuôi thằng bé. Thằng cu
mau gắn bó với hai người vì thật ra không có ai ngoài hai người ấy chăm lo cho
nó. Tự nhiên nó gọi cô Bé Tý là “Má! Má!”. Cô chỉ qua anh, nó gọi “Ba! Ba!”. Cả
hai cùng cười, cảm như hạnh phúc đang trong tay họ. Từ đó hai người kêu nhau là
“anh”,”em” thật tự nhiên, không còn coi là sự lỡ lời như trước nữa.
Nhớ lời
Hoàng Yến, Nguyễn Tuấn mở phòng tranh ở một phố lam lũ đông người. Cô Bé Tý
bảo:
- Trưng ở
đây có ma nó xem!
Nhưng anh
tin rằng tranh của anh vẽ người lam lũ thì đồng giới, đồng nghiệp của họ cũng
thích xem. Anh ít vẽ cảnh vì thực ra anh bận bịu mưu sinh, từ đó anh gặp những
con người. Anh xúc động trước những cảnh ngộ và tấm lòng của họ. Anh coi họ như
bạn bè thân thiết của mình. Anh vẽ họ để tỏ lòng tri ngộ của anh với họ, cho
nên mỗi bức tranh là một kỷ niệm sâu sắc, bức nào anh cũng thấy thân thiết, gần
gũi với mình. Bây giờ đưa nó ra chốn công khai, anh hồi hộp lo lắng lắm...
Những người đến xem tranh đủ loại, liệu họ có biết quí mến, trân trọng những
người được anh biểu cảm ở đây. Nếu như bị người xem chê bai, dè bửu là anh đắc
tội với những người kia. Anh càng nghĩ nhiều tới Hoàng Yến, anh tìm sự cứu cánh
ở nàng.
Bức tranh
Hoàng Yến được anh đặt ở một nơi cách biệt nhưng phóng khoáng. Trên cái bệ gỗ ở
phía dưới bức tranh người đẹp, cô Bé Tý đặt một bình huệ trắng nhưng anh đã
thay vào đó bằng một bệ nước trong đó lênh đênh màu tím nhạt của mấy bông lục
bình. Hằng ngày cô Bé Tý lo gom những bông lục bình nổi trôi dưới chân cầu Bình
Lợi. Đêm trước ngày khai trương phòng tranh, anh thắp nén nhang, đứng kính cẩn
trước tấm hình nàng, anh run run cầu khấn:
- Hoàng
Yến ơi ! Tất cả những gì có được ở đây hôm nay là nhờ em đó. Nếu như được người
xem đón nhận, đấy là bởi em. Nếu như bị
người đời chê trách, đó là tự anh bất tài, anh sẽ càng nặng nợ với em và món nợ
này một kiếp nhân sinh anh không trả được. Anh cầu mong em linh thiêng về đây
trợ giúp cho anh!
Cả tuần
rồi người qua lại vẫn hững hờ. Lơ thơ có mấy cô cậu học sinh rủ nhau vào xem để
kéo dài thời gian ríu rít bên nhau. Mấy anh thợ, mấy anh phu cảng, xích lô đi
nghêu ngao rồi bước ra như chạy, miệng nói chuyện đâu đâu. Anh họa sĩ buồn
thiu. Cô Bé Tý tự hào về thần tượng của mình nhưng thắc thỏm trong lòng vì chưa
có ai động tới bức tranh nào. Không có ai mua tức là tranh chẳng ra gì! Cô lại
lo anh họa sĩ buồn! Cô đon đả đến với
những người xem mời mọc:
- Tranh
này đẹp lắm! Nhà mình lao động treo thì hạp chớ ai đi treo hình mấy tiểu thư,
bá tước!
Người ta
nhìn cô và lặng lẽ bỏ đi. Họa sĩ giảng giải cho cô:
- Chừng
nào người trong tranh với người đời biết đối thoại với nhau thì người ta mới
chịu bỏ tiền mua!
Cô bụm
miệng cười:
- Đúng là
nghệ sĩ, cái gì cũng khác người!
Anh biết cô không hiểu, vẫn ôn tồn giải thích:
- Nói là
người xem phải biết đọc tranh thì đúng hơn.
Cô lại
càng ngạc nhiên:
- Đọc thì
phải có chữ có nghĩa chứ!
- Chữ
nghĩa của tranh chính là các nét họa uốn, lượn, cứng, mềm; các mảng màu sắc mỏng,
dày, đậm, nhạt; các mảng tối sáng khác nhau; các dáng vẻ, tư thế... của mỗi con
người nói lên tâm tư của họ.
Và anh
hăng hái cầm tay cô dắt ra chỉ vào một bức tranh. Anh say sưa giải nghĩa:
- Bức
tranh này có chủ đề “Mưu sinh” của một người thầy thuốc. Ông bác sĩ già này sau
cả ngày làm việc giờ lại đến ngồi ở đây là để kiếm sống. Trong khi ngoài đường
phố nườm nượp ngựa xe với những ánh đèn màu nhấp nhoáng của các tiệm ăn, tiệm
nhảy thì ông bác sĩ tập trung vào người bệnh. Đứa bé phờ phạc nằm trong lòng mẹ
và đôi mắt người mẹ ngước nhìn ông bác sĩ vừa lo âu, vừa muốn gởi gắm lòng tin
của mình. Cả bức tranh đã nói lên được mối quan hệ giữa người với người, mối lo
toan riêng tư của mỗi người và gợi lên một nét buồn nhân thế. Khi ta đã đọc
được ý nghĩa của tranh như vậy rồi thì giữa ta với người trong tranh có sự
thông cảm với nhau. Nói đối thoại là như vậy đó!
Tay cô vẫn
trong tay anh. Cô hỏi anh như cô học trò nhút nhát hỏi thầy:
- Thế...
người nước ngoài đến xem họ có hiểu được những chữ ấy không?
- Đấy là
nét đặc trưng cao quý của hội họa! Chỉ cần sự đồng cảm là họ có thể hiểu được
nhau, không phân biệt giàu nghèo, chính kiến, sắc tộc, màu da, ngôn ngữ...
Tay anh
nắm mỗi lúc một chặt tay cô như muốn truyền qua cô những cảm xúc của mình. Lòng
cô bâng khuâng lẫn lộn giữa cái kỳ khôi mới lạ của nghệ thuật và con người đang
đứng đây. Cô mong bàn tay ấy không bao giờ rời ra nữa. Nổi lên những tiếng xôn
xao, hai người quay lại mới thấy sau lưng mình người ta lố nhố và chăm chú vào
bức tranh anh giảng. Có tiếng của một ông già:
- Thì phải
có ông giải nghĩa ra như thế tụi tui mới biết cái hay của nó chớ không thì mù
tịt!
Mọi người
cười ồ cả lên. Cô nữ sinh ngập ngừng:
- Dạ… thưa
họa sĩ, mà sao nhìn người ở đây không thật?
Họa sĩ sôi
nổi hẳn lên:
- Cái tự
nhiên dù đẹp mấy cũng không biểu hiện đầy đủ cái ẩn chứa bên trong của nó.
Trong hội họa được phép cách điệu bằng những dáng vẻ, đường nét, màu sắc... để
đưa được cái thật của nó ra. Đó là cái hồn, cái tài năng riêng của từng nghệ
sĩ.
Nghe một
lần người ta chưa dễ hiểu nhưng từ đó ngày nào anh cũng giảng tranh. Người ra
vào ngày một nhiều hơn, có lúc túm tụm nói cười vui vẻ. Lòng họa sĩ phấn chấn.
Cô Bé Tý nghe đi nghe lại nhiều lần như uống lời anh nói. Có lúc anh bận đi
đâu, cô vừa bế thằng Tý Ty vừa thay anh giảng giải tranh cho mọi người nghe.
Cảm nhận về cái đẹp của tranh còn tùy thuộc ở mỗi người nhưng điều họ nói lại
với nhau thì rõ:
- Cô họa
sĩ trẻ có đứa con đẹp quá, giảng tranh hết ý!
Nhưng cô
Bé Tý sớm nhận ra:
- Ở đây
người ta xem mãi rồi cũng chán. Không ai có tiền mua đâu! Vả có người ham lắm
mua về thì nhà đâu có chỗ nào treo! Buôn có bạn, bán có phường. Để em đi tìm
chỗ khác!
Anh ngần
ngại vì anh cũng tự ti và phần nữa là túi anh cũng xẹp, anh sợ lại mắc nợ nần.
Cô Bé Tý tỏ ra cả quyết:
- Vậy là
tranh của anh cũng khối người xem nhưng có ai dám mua không thì phải chen vào
chốn cạnh tranh mới biết được sức mình. Còn như không được thì mình đem về coi
chơi rồi tính làm chuyện khác. Thiếu gì cách!
Dù bắt đầu
ham thích môn nghệ thuật này nhưng cô biết lượng sức mình. Nguyễn Tuấn làm một
việc phiêu lưu theo ý cô gái trẻ. Cô Bé Tý đã bán đi số đồ tư trang ít ỏi của
mình để tìm một chỗ chen chân cho những tác phẩm của anh.
Những
khách xem tranh ở đây có khác. Họ như là vô công rồi nghề, cứ nhẩn nha đi lại,
qua chỗ này chỗ khác, đi vào đi ra, đứng gần đứng xa, nghiêng nghiêng ngó ngó.
Có người đã đeo kính còn cúi sát như dính mũi vào. Có người lấy móng tay út cạo
cạo lên tranh. Nét mặt họa sĩ hớn hở nhưng có vẻ bồn chồn hồi hộp. Cô Bé Tý
nghĩ:
- Có lẽ
mấy người này biết nói chuyện với tranh!
Lác đác có
mấy ông tây bà đầm xì xà xì xồ vào ra chỉ chỏ. Một bà đầm tóc bạc trắng, da mặt
đỏ au, vẻ phúc hậu cứ tần ngần nghiêng ngó trước bức tranh “Khát vọng” . Nguyễn
Tuấn đến bên tự giới thiệu. Bà ta nhìn vào bức tranh và hỏi anh:
- Hai đứa
trẻ lang thang đây! Chúng là hạt cát, hạt bụi của cuộc đời này nhưng chúng vẫn
là con người. Từ trong cát bụi, lầm than và khổ cực, chúng chấp nhận và miệt
mài kiếm sống. Nhưng những đôi mắt trẻ thơ kia tròn xoe mà trong sáng, vô tư
không vẩn gợn chút thù hận nào và vẫn muốn hỏi cuộc đời: Chúng có thể vượt qua
đống bùn rác này không?
Bà khách
trầm ngâm:
- Tôi liên
tưởng tới nỗi khát vọng trong ánh mắt những đứa trẻ của Murillo!
- Xin cảm
ơn bà! Trên thế gian này, nỗi khát vọng của đứa trẻ bất hạnh nào cũng như nhau.
Đất nước tôi từng chịu cảnh chiến tranh khốc liệt hàng thế kỉ nay. Phụ nữ và
trẻ con là những người phải gánh chịu nhiều nhất những hậu quả nặng nề lâu dài
của nó. Bao nhiêu trẻ mồ côi thất học bương chải từng ngày trong cảnh sống vất
vả nghèo nàn. Bản thân tôi cũng là một đứa bé mồ côi vì chiến tranh. Tôi tuy có
may mắn hơn là có được chút ít học hành nhưng không có người dìu dắt và định
hướng đi nên cuộc đời tôi cũng không khác gì đám lục bình kia trôi nổi bồng
bềnh!
Bà tháo
kính ra, mắt bà chớp chớp cảm động lắm. Nguyễn Tuấn cúi đầu:
- Xin cảm
ơn bà!
Bà đeo lại
kính và tự giới thiệu mình:
- Tôi làm
ở một tổ chức từ thiện lớn của Châu Âu. Có được bức tranh này treo ở nơi làm
việc là lời nhắc nhở chúng tôi phải quan tâm tới hàng triệu triệu trẻ em bất
hạnh ở Á Châu này!
Nguyễn
Tuấn run run xúc động:
- Thật là
quá vinh dự cho tôi!
Cả ngàn đô
la là điều cô Bé Tý chưa bao giờ nghĩ tới. Khi bà khách quay ra mà nước mắt cô
cứ chảy ròng ròng…
Khách hàng
tới phòng tranh của anh ngày một đông hơn. Bức tranh “Giọt mồ hôi” được một ông
nói là người của “Sở vệ sinh và môi trường” mua về để treo ở Nhà Truyền thống.
Có những chú “tây ba lô” rất trẻ, vẻ dãi dầu gió bụi phong sương bước vào phòng
tranh nghênh ngang líu ríu…
Bán được
vài ba bức tranh, Nguyễn Tuấn đã hài lòng và cho là đã đạt yêu cầu. Niềm vui
của cô Bé Tý lộ hẳn ra như là hạnh phúc của chính cô. Có một đoàn cả chục ông
tây bà đầm rầm rập bước vào phòng tranh . Họ túa ra đi loanh quanh ngắm nghía.
Một ông già đứng rất lâu trước tấm tranh Hoàng Yến. Lúc ông ngẩng cao đầu như
chiêm ngưỡng. Lúc ông cúi đầu buồn bã như luyến tiếc sự chia ly. Ông đi lại xem
hết số tranh còn đó. Ông cầm tay Nguyễn Tuấn dắt anh tới bức tranh “Niềm hi
vọng” – mô tả một người đàn bà trạc tuổi năm mươi đang đạp chiếc xe ba gác chở
đầy rau quả cồng kềnh:
- Ở nước
chúng tôi không còn nghề này. Nhưng ở Việt Nam còn là công việc nặng nhọc ngay
cả với đàn ông. Vậy bà đây không phải là một góa phụ thì cuộc đời bà chắc truân
chuyên lắm. Chiếc xe thì nặng nề mà bà thì nhỏ bé xác xơ. Tất cả cơ bắp của bà gồng
lên hết sức nhưng chiếc xe vẫn ì ạch, cái bánh xe kia xẹp xuống và quay rất
chậm. Nét mặt bà mệt nhọc nhưng dáng người vươn thẳng tỏ quyết tâm với công
việc của bà. Đặc biệt là đôi mắt bà nhìn xa về con đường phía trước ánh lên vẻ
tự tin. Tôi thật không hiểu được sự trái ngược giữa con người và cuộc sống ở
đây!
Nguyễn
Tuấn trầm lắng trả lời ông:
- Rất cám
ơn ông! Người đàn bà này tôi biết. Bà đã giúp đỡ tôi nhiều. Chồng bà chết trận
từ lâu. Bà nuôi con bằng cái nghề nặng nhọc vất vả này và đứa con đầu của bà đã
trúng tuyển vào đại học. Bà sẽ vất vả hơn nhưng đấy là niềm vui, niềm kiêu hãnh
của bà!
Ông tây
hiểu ra, vẻ xúc động lắm. Ông lại nắm tay anh kéo đến với bức tranh “Người đẹp vĩnh hằng” Hoàng Yến:
- Người
con gái này đẹp quá! Mái tóc đen dầy mượt mà thế kia đến gió sông lồng lộng
cũng không thể làm tung bay hết chứng tỏ sức sống của nàng mạnh lắm nhưng không
được thỏa nguyền. Nét mặt sáng tươi thuần khiết kia là của một tấm lòng nhân ái
vô biên chỉ các thiên thần mới có. Nhưng đôi mắt nàng xa xăm, vời vợi như chứa
đựng nhiều u uẩn. Những gam vàng ông dùng ở đây đắt lắm. Thật huyền diệu, nó
cao sang mà lại mơ hồ. Và dưới ánh nước kia bóng người đẹp lung linh in trong
đáy nước, in trên mây trời làm ta cảm thấy người đẹp này là sản phẩm tuyệt vời
của tạo hóa… Và như vậy thì số phận của nàng chông chênh lắm!
Ông nhìn họa
sĩ. Ông nhìn Hoàng Yến. Ông lại nhìn bể nước có bông lục bình trôi:
- Các dòng
sông, con kênh nào ở Nam Bộ cũng lênh đênh trôi những đám lục bình. Màu tím
nhàn nhạt của cánh hoa, màu xanh mướt của lá và sự nổi trôi trên sóng bồng bềnh
làm ta suy nghĩ tới số phận của một người đẹp bình dị, đa đoan!
Cả đám ông
tây bà đầm thù thì xí xố đi đi lại lại. Họ nhìn các bức tranh. Ông tây già tiến
lại gần anh:
- Tôi là
người Mỹ! Ba mươi năm trước tôi đặt chân lên đất nước này với nhiệm vụ của
người lính thập tự chinh cho nền dân chủ. Lúc đó, ở nông thôn tôi chỉ thấy đồng
ruộng hoang vu, làng quê xơ xác tiêu điều, người dân sống trong cảnh loạn li
nheo nhóc; ở thành phố này như là nơi tập kết các phương tiện chiến tranh và
lính tráng. Người ta sống vội vàng. Quanh tôi đầy rẫy những kẻ cắp đủ loại,
những kẻ đớn hèn xen vào đấy là những ánh mắt thù địch với chúng tôi. Bây giờ
trở lại, tôi thấy đất nước các bạn hiền hòa và thanh bình quá. Các dấu tích
chiến tranh trên mặt đất đã được xóa đi nhiều nhưng những dấu tích ấy còn hằn
đọng trên nhiều mặt của đời sống xã hội và con người. Tôi đặc biệt kính trọng
và cảm phục người phụ nữ Việt Nam! Họ hi sinh quá, nhân hậu quá, cao cả quá!
Nhưng tôi luôn tự hỏi vì sao họ vẫn là người phải gánh chịu nhiều đau thương
vất vả nhất trong đời sống thường ngày!
Và họ mua
mấy bức tranh trong đó có tấm “Người đẹp vĩnh hằng”
Nguyễn
Tuấn lịch sự đáp lời:
- Chúng
tôi chân thành cảm ơn quí bà, quí ông đã thông cảm với những suy tư trăn trở
của tôi. Chúng tôi hân hạnh có những bức tranh này được coi như là một kỷ niệm
về con người và đất nước chúng tôi và hi vọng rằng nếu chúng ta có duyên được
gặp lại nhau, chúng tôi sẽ hân hạnh một lần nữa được tặng quí vị những món quà
kỉ niệm ngọt ngào ấm áp hơn bởi chính lòng nhân ái đã làm cho mọi người ở khắp
thế gian này thấy cuộc đời thật đẹp, thật đáng yêu và đáng sống!
Anh ngập
ngừng với giọng rụt rè và run rẩy:
- Tôi chỉ
xin quí vị một điều là cho người con gái này được… ở lại đây!
Anh nhìn
các vị quí khách với vẻ cầu xin. Ông tây già thông cảm nắm chặt tay anh:
- Nếu tôi
là ông tôi cũng không bao giờ để mất cô gái ấy! Nhưng tiếc là chúng ta chỉ có
thể giữ được bóng hình nàng!
Nguyễn
Tuấn ngậm ngùi:
- Vâng!
Bởi chúng ta để mất đi nhiều cái đẹp nên phải giữ những gì còn lại!
Kết quả
của phòng tranh thật bất ngờ. Với một họa sĩ chưa thành danh như Nguyễn Tuấn
thì dù trong mơ cũng không bao giờ nghĩ tới. Anh coi đó là diễm phúc một đời
người. Qua phòng tranh, cô Bé Tý như được học một lớp vỡ lòng về hội họa:
- Thì ra
đối thoại với tranh cũng có nghĩa là người xem tranh nói chuyện với nhau, qua
đó họ quen nhau, hiểu nhau và có thể thân nhau!
- Nói cho
văn vẻ là qua hội họa người ta thông cảm và xích lại gần nhau. Đó là nghệ thuật
của tình hữu ái!
- Âm nhạc
có thế được không anh?
- Được
chớ! Nhưng hội họa thanh cao và trí tuệ hơn!
Cô vẫn còn
tiếc rẻ hỏi:
- Sao
không để cho họ bức họa ấy đi? Mình sẽ lại vẽ bức khác đẹp hơn, được không anh?
Nguyễn
Tuấn nhỏ nhẹ, từ tốn giải thích cho cô:
- Chớ nay
mai em sẽ sanh một, hai, ba đứa con nhưng có đứa nào y chang giống đứa nào
đâu!... Cảm xúc nghệ thuật nhiều khi chợt dến có một lần!”
¶
Chiều muộn ngày Ba mươi Tết, vào khắc giao thời của ngày và
đêm, mặt trời đã khuất dạng, chỉ còn ánh lên chút màu vàng đỏ trên đám mây cuối
trời và nó lại in hình trong đáy nước lung linh. Trên cầu Bình Lợi, hai người
đàn ông nét mặt sầu thảm mang vòng hoa lớn, cô Bé Tý tay cầm bó hương tay bồng
thằng Tý Ty, hươ hươ bó hoa hồng trắng nhỏ. Mùi trầm hương
tỏa ngát cho một cảm giác u buồn linh thiêng. Họ đi tới nhịp cầu nơi Hoàng Yến
đã trầm mình. Thằng Tý Ty ném bó hoa xuống dòng nước trôi man mác và nó hồn
nhiên vỗ tay cười reo vui vẻ. Cô Bé Tý giơ nén hương trước mặt lầm rầm khấn mấy
điều người bên nghe được:
-
Cô Hoàng Yến ơi! Cho em được làm mẹ
thằng Tý Ty này. Chúng em sẽ lo nuôi nó nên người.
Cô sống khôn thác thiêng xin phù hộ cho con và cho chúng em!
Nguyễn
Tuấn cùng Quyền thành kính, trân trọng nâng vòng hoa lên với qua lan can, lưu
luyến rời tay để nó nhẹ êm rơi xuống mặt sông. Vòng hoa chòng chành, chao đảo
xoay xoay theo con nước xoáy dưới chân cầu. Hai người đàn ông nét mặt u buồn
cùng chịu một nỗi đau mất bạn nhưng trong lòng mỗi người một tâm trạng khác
nhau. Trước cái chết oan khiên của người con gái, người bạn đầu đời thời cắp
sách coi như mình là nguyên nhân và người bạn đường đời coi như mình bất lực
trước lời cầu cứu! Mỗi người đều sám hối, không xin sự lành cho mình, chỉ xin
cho linh hồn người con gái thánh thiện an nhiên nơi cõi vĩnh hằng an lạc.
Cô Bé Tý
cắm những nén hương dọc thành cầu. Gió sông thổi mạnh làm những nén hương sáng
lòe lên, có khi bùng cháy. Làn khói tỏa ra bay đi mất hút trong không gian bao
la để lại hương trầm thoang thoảng. Cô khư khư ôm thằng bé Tý Ty như sợ ai
cướp đi mất nó. Nhìn hai người đàn ông, giọng cô run run thủ thỉ như một lời
thề:
- Tôi là
mẹ thằng bé này! Hãy đợi nó lớn lên cứng cáp. Không nên cho nó biết những khổ
đau quá sớm. Ai để nó vất vưởng, cù bất cù bơ, côi cút, khổ đau là có tội với
cô Hoàng Yến. Trời-Đất-Quỷ-Thần không tha thứ cho đâu.
Quyền nhìn
mọi người. Đôi mắt to sâu hoắm vằn lên những vằn đỏ dọc ngang. Giọng chàng lạc
đi:
- Hoàng
Yến ơi! Cái chết của em là sự trừng phạt với anh, với thói thờ ơ ích kỷ của con
người!
Anh bước
đi khập khiễng mang theo cái bóng hình nghiêng lệch thiểu não loạng choạng liêu
xiêu trong ánh trời chiều.
Nguyễn
Tuấn đứng lặng như trời trồng. Anh nhìn cô Bé Tý ôm thằng Tý Ty và áp chặt đôi
môi bên má nó như nâng giấc hạnh phúc của mình. Thằng bé vòng tay lên cổ và nép
mình tin tưởng dưới sự chở che của người mẹ trẻ. Lòng anh trào dâng niềm thương xót bâng khuâng. Trong đầu anh lóe lên ý phác thảo một
bức tranh: Tình yêu với đứa con là sứ
mệnh trần thế cao cả nhất của người đàn bà. Đó là nét đẹp thiên thần của
họ. Điều đó thật hiển nhiên nhưng đến bây giờ anh mới nhận ra mà biểu đạt nó
bằng hình tượng nghệ thuật thật vô cùng! Bất giác nước mắt anh túa trào ra và
bật lên những lời từ sâu thẳm trong lòng:
-
Hoàng Yến ơi! Nỗi đau lớn nhất của
em là bị cướp đi quyền làm mẹ!
Thành phố HỒ CHÍ MINH
Viết xong năm 2000
(Chỉnh sửa tháng 12 năm 2015)

No comments:
Post a Comment