OAN NGHIỆT
******************************************************************
CHƯƠNG BẨY
a{b
Con hẻm rộng và sạch sẽ. Một dẩy nhà trệt nằm san sát im lìm
lúc nào cũng như ngủ say, tường hoa kín mít, giàn hoa ớt, hoa tigôn, hoa giấy…
phủ kín cái sân nhỏ phía trước, người đứng ngoài dù cố ý nhìn vào cũng không
thấy được phía trong nhà với cánh cửa lúc nào cũng chỉ hé mở hờ thôi. Khanh bấm
chuông một ngôi nhà cửa sắt bít bùng. Có tiếng chân người lạch sạch đi ra. Một
ô nhỏ trên cánh cổng lộ ra, đứng ngoài nhìn chỉ thấy một con mắt dò hỏi, quan
sát từ phía bên trong. Như người quen lắm, Khanh lên tiếng:
- Ông Hai
về chưa?
Cánh cổng
từ từ mở rộng, Khanh dắt xe và đưa mắt bảo Hoàng Yến cùng vào. Cánh cổng khép
lại ngay, cài chốt và bấm thêm ổ khoá. Người đàn bà giúp việc tuổi chừng bốn
chục, ăn mặc sạch sẽ gọn gàng, nói với Khanh vẻ như đã quen thân:
- Ông Hai
có dặn cô đến thì cứ ở lại đây!
Khanh nhún
vai:
- Tôi đã
là người thừa! Vậy là tôi xong việc. Tôi giao cho bà cô khách này và cũng là cô
chủ của bà đó!
Y quay qua Yến:
- Chào em! Chúc em mọi sự tốt lành!
Ydắt xe ra. Bà giúp việc đứng nói chuyện với y một lúc ở
phía ngoài cổng rồi trở vào, cánh cổng lại cài then khoá chặt. Những căn nhà
kín đáo, bí ẩn thế này nàng không lạ, nhưng bây giờ làm chủ nó nàng hơi lo: Ở
vậy lỡ sao chết thối chưa ai hay! Nàng chột dạ thấy mình chỉ nghĩ điều xui. Bà
giúp việc mời nàng vào phòng khách, nhanh nhẩu tự giới thiệu mình:
- Thưa… Tôi thứ Mười, để cô kêu!
Bà có vẻ thành thạo với công việc này. Yến ngồi yên lặng
trên ghế salon, mắt hờ hững nhìn hàng gạch bông trên nền nhà loang loáng. Nàng
chẳng nghĩ gì, chẳng cần xem xét cái gì. Nàng tưởng như mình ngồi trên chiếc
thuyền giữa biển cả bao la, không biết đâu là bến là bờ, mặc cho nó lênh đênh,
trôi về đâu cũng được. Bà Mười tới bên nhắc nhở làm nàng giật mình:
- Cô đi xem khắp nhà cho biết!
Nàng ngẩng đầu lên nhìn quanh gian phòng rồi đứng dậy đi
theo người chỉ dẫn. Căn nhà thật gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ và êm ả. Mọi tiện
nghi đều đầy đủ. Các phòng trang thiết kế sang trọng tân kỳ khang trang, lịch
sự. Nếu tình cảnh không trớ trêu thì nàng chẳng ao ước gì hơn. Bà Mười nhắc
nàng sắp xếp chuẩn bị để đón ông về.
Từ phòng tắm bước
ra, Yến như một cô học trò trẻ đang ở nhà mình với bộ đồ nhàn nhạt màu da trời
rất vừa và hợp với nàng. Cả một tủ đầy quần áo mới dường như đã được chuẩn bị
chu đáo để dành riêng cho nàng.
Quá trưa ông Hai mới từ Sở làm về. Xe đậu ngoài đường
lớn. Ông đi bộ vào lững thững như một người khách lạ, không làm kinh động đến
ai. Ông bước vào nhà. Nàng đứng dậy cúi đầu, môi mấp máy câu chào nghe không
rõ. Đã chủ động tình huống rồi, ông vồn vả đỡ hai vai nàng dìu ngồi xuống ghế,
ông ngồi sát bên:
- Anh xin lỗi không ở nhà đón em vì anh phải chủ trì cuộc
họp không thể vắng mặt được! Em chờ anh có lâu không ?
Bà Mười đã có mặt ngay:
- Thưa ông, mọi việc đã xong! Xin mời ông! Mời cô chủ!
Ông Hai xúng xính trong bộ pyjama sọc nhạt dắt nàng ra bộ
bàn ăn dọn sẵn: rất thịnh soạn và lịch sự với lọ hoa tươi để ở đầu bàn. Chỉ có
hai người thôi. Nếu như ông trẻ lại được vài mươi năm nữa chắc không hạnh phúc
nào bằng: chồng có địa vị cao sang giàu có, vợ trẻ đẹp xinh tươi hiền thục. Ông
cảm động và trang nghiêm nói:
- Anh đã chuẩn bị cho ngày này từ lâu và anh tin em sẽ
hài lòng mọi việc. Em không phải lo gì hết. Anh mong có một cuộc sống êm đềm và
hạnh phúc với em!
Giọng ông trầm ấm
mà nhẹ nhàng. Ông tình tứ chiều tiếp người đẹp như thời ông còn trai trẻ. Nàng
lặng lẽ chấp nhận sự chiều chuộng của ông như một sự an bài.
Ông tập kết ra Bắc lúc còn rất trẻ. Vốn có chút văn hoá
trước khi đứng vào quân ngũ, ông là lớp đầu tiên của Trường Văn hoá Bổ túc Công
- Nông. Hết bậc trung học, ông được Nhà nước cho đi du học ở nước ngoài. Cái
chất người lính Giải phóng quân hun đúc ông từ ngày còn niên thiếu theo các chú
các anh chiến đấu cho một mục đích rất rõ ràng cụ thể là giải phóng quê hương
ông khỏi ách đô hộ của ngoại bang, mang lại độc lập thống nhất tổ quốc, luôn
thôi thúc ông siêng năng miệt mài học tập. Ông ý thức rõ ràng rằng ông học để
góp phần xây dựng quê hương xứ sở của ông. Tốt nghiệp Đại học loại ưu, ông được
tiếp tục làm nghiên cứu sinh và đã giành học vị Phó tiến sĩ trong vinh dự sau
gần mười năm lưu học. Trở về nước ông được giao một trọng trách ở cơ quan kinh
tế Trung ương, nắm khâu đầu mối điều phối chi viện tài chính cho cuộc chiến đấu
của cả miền Nam. Ông xác nhận vị trí công tác mới cũng như vị trí của một người
lình ở tiền phương.
Dù sao ông cũng sống trong một khung cảnh tương đối hòa
bình và yên ổn. Cuộc chiến đấu ở miền Nam vẫn đang là một cuộc đấu trí, đấu lực
không cân sức dù rằng bản thân ông cũng như bao nhiêu ngườivẫn xác định một
quyết tâm sắt đá. Nhưng nhu cầu xây dựng một tổ ấm là điều thúc bách tuy hoàn
cảnh của ông có éo le. Đồng chí, bạn bè và tổ chức thông cảm với ông. Và ông đã
có một gia đình hạnh phúc và đầy đủ so với mức sống chung của mọi người lúc đó.
Khi đất nước hòa bình thống nhất, ông trở về miền Nam với những chức quyền ngày
càng thăng tiến. Những mối quan hệ và giao du của ông ngày càng cầu kỳ và cách
biệt. Ngay tại quê hương, cha mẹ ông cũng không còn, anh em họ hàng tứ tán xa
xôi, những mối giao cảm thân tộc, làng xóm chỉ còn là những kỷ niệm xa xưa.
Cuộc sống thực tế cứ như một cơn xoáy lốc nó bốc ông lên cao nhưng chung quanh
mù mịt toàn gió bụi. Các con ông lớn lên nó lao vào cuộc mưu sinh mới. Chúng
biết triệt để khai thác cái nền tảng mà mấy mươi năm ông gây dựng nên mới có.
Vợ ông thật sự là người mẹ, người thầy, người trợ thủ đắc lực đầy uy tín cho
các con ông. Bà khéo léo điều hành công việc của ông kết hợp nhuần nhuyễn
phương châm “ích nước lợi nhà”. Thật tình là nhiều khi ông cũng day dứt đắn đo.
Nhưng vợ ông giải thích cho ông:
- Chúng ta đã có sai lầm trong thời gian dài là chỉ biết
kêu gọi mọi người hy sinh cho cái chung, cái riêng ít quan tâm tới hoặc có
chăng nữa thì cũng chỉ là những lời hứa hẹn hão huyền. Tới lúc về già mỗi người
mới ngỡ ngàng thấy mình tay trắng. Có
kêu cứu thì trời cũng bó tay. Lớp già
ngao ngán và bất mãn. Lớp trẻ chán chường đổ vỡ niềm tin. Bởi vậy Nhà
nước kịp thời điều chỉnh lại với phương châm ba lợi ích: Nhà nước, Tập thể, Cá
nhân và kêu gọi hãy hành động để “tự cứu mình”! Mỗi địa phương phải tự cứu
mình! Mỗi tập thể phải tự cứu mình! Và mỗi cá nhân cũng phải tự cứu mình!”
Rõ ràng là vợ con ông rất nhậy cảm với chủ trương chính
sách và biết vận dụng thời cơ. Chuyện làm ăn xoay sở vợ con ông định đoạt.
Cuộc sống của ông cứ ngày một đầy đủ hơn lên. Về nhà ông
chẳng thiếu gì. Bước ra khỏi cửa ông được mọi người tung hứng. Nhưng trong lòng
ông cảm thấy một khoảng trống cứ ngày một lớn dần ra. Một nỗi buồn bàng bạc cứ
tỏa lan ra như sương mù mà không có người san sẻ.
Ông đã ngoài sáu mươi rồi nhưng ông chưa về hưu vì cấp
trên vẫn tin ông và vì thế mà cấp dưới vẫn nể ông. Đúng là khó tìm được một cán
bộ có bề dầy thử thách và lại được đào tạo bài bản chắc chắn như ông. Tuy nhiên
con người ta càng về già càng hay hoài cổ. Ngày còn trẻ, ông sống cả chục năm ở
nước ngoài và cũng hơn bấy nhiêu năm ở ngoài Bắc. Những tập quán, phong tục hòa
trong lời nói, cách ứng xử, cả trong các món ăn, cách uống … ông dễ thích nghi
và thấy thỏa mãn bởi biết được nhiều cái hay, cái lạ. Từ ngày trở về miền Nam,
tuy sống giữa phố phường đô hội, người ta tứ xứ nhưng ông đã sửa lại âm giọng
của mình cho đúng gốc quê hương. Cái âm miền Bắc thanh cao ông nghe nó lanh
lảnh chói tai. Cái âm miền Nam thanh trầm ông nghe sao êm ái ấm lòng. Vợ con
ông lại ít khi thủ thỉ những lời âu yếm tâm tình. Những chuyện bàn kể cả trong
bữa ăn, giấc ngủ với vợ lại toàn là những chuyện gay cấn như góp vốn làm ăn
hoặc cách xoay chuyển đồng tiền… nên lời nói thường là nặng nề chát chúa, nhiều
lúc vừa điên đầu vừa muốn thót tim. Đôi lúc giải khuây, bạn bè đưa đi vui vẻ,
được nghe rù rì bên tai những âm từ ấm áp: “ Ăn ơi… Nghe em nào!”, “Ăn
hứa rồi nghen!”, “Em thương ăn chứ bộ!”, “Hổng dám đâu!”… Ông nghe nó cứ
thấm vào lòng như được say với men rượu quê hương. Nhiều lúc ông nhớ một tô canh chua với những
trái đậu bắp, một con cá lóc nướng trui, miếng cá kho tộ đậm đậm ngọt ngọt nhai
lụp cụp với những hạt tiêu cay đó mà thơm. Ông phải tìm đến những quán ăn đặc
sản ở đường Nguyễn Du, ở chợ Cầu Muối và ông nhận ra rằng một món ăn ngon không
phải chỉ là cách nấu, nó còn phải được đậm thắm tình người trong một không khí
vui vẻ gia đình hoặc với bạn bè thân
thiết. Chớ như ở nơi quán xá ồn ào ô hợp thì có khác chi mấy anh tây qua ta nếm
thử món ăn dân tộc hoặc nó cũng giống như ông đã từng ăn món sà lách Nga hoặc
xuýt xoa khó chịu vì cái vị cay nồng của
thứ mù tạt tây nổi tiếng.
Bây giờ ông có người đẹp kề bên lúc nào cũng ngọt ngào âu
yếm. Một căn nhà thật yên ả. Những bữa ăn chỉ có hai người thủ thỉ thù thì cùng
với những món ăn đậm vị quê hương làm ông nhớ lại bàn tay của mẹ. Những câu
chuyện giữa hai người lúc nào cũng như nước chẩy mây trôi mặc dù họ có một
khoảng cách tuổi tác quá xa vời. Hoàng Yến biết rằng đàn ông ai cũng ham vui, hiếu sắc nhưng ông
là người có học và đúng mực. Ông cần ở nàng một sự dịu dàng và âu yếm. Ông chu
cấp cho nàng mọi thứ. Ông coi nàng là
báu vật cuối cùng cho đời ông cần phải giữ. Ông tôn trọng nàng và không bao giờ
nhắc nhở tới quá khứ của nàng không phải vì ông mê muội. Ông ít thiện cảm với
lớp người xướng ca đú đởn làm vật mua vui, nhưng ông là người từng trải, với
con mắt tinh đời ông phân biệt được Hoàng Yến là một trường hợp khác thường. Và
ông hài lòng về nhận xét của mình. Chỉ qua một thời gian gần gũi sống chung,
ông dần dần thấy nuối tiếc những ngày qua sao mà nhạt nhẽo. Con người ta nếu
chỉ cần lo cho cái dạ dày cùng với mấy thứ nhu cầu lặt vặt thôi thì chẳng tội
gì mà long đong lận đận. Bây giờ ông mới tỉnh ra và thấy rằng mình còn rất cần
đến một cái gì đó mà lâu nay ông cứ như người ngủ quên cam phận. Nàng âu yếm ân
cần săn sóc ông như người tình thật sự. Ông nhớ lại một thời trai trẻ, lúc vợ
chồng son, vất vả thiếu thốn như vậy mà sự đam mê về nhục thể của hai người đều
thỏa mãn song lại rất ít quan tâm đến sự yêu chiều ve vuốt với nhau. Bây giờ
cái sức lực một thời xuân trẻ đã qua đi, cái sự vuốt ve chiều chuộng, những lời
nói ngọt ngào êm ái làm cho ông bồi hồi tưởng như đến cuối đời mình mới được
yêu. Tình cảm của ông với nàng càng nồng nàn thắm thiết. Ông thấy chán nản với
cảnh bon chen quay cuồng của cuộc đời thường nhiều lúc làm cho tim ông tưởng
chừng muốn ngừng đập nhưng rồi nó lại nhẩy cuồng lên đánh trống thình thình!
Dần dà ông cảm thấy lo sợ, chán chường và mệt mỏi mỗi khi phải gần với vợ con
bởi họ bắt ông chạy đua nước rút ngược chiều với thời gian tuổi tác…
Những thay đổi của người chồng trước sau gì rồi người vợ
cũng nhận ra. Mà với ông Hai, đã ở vào tuổi lục tuần rồi, có địa vị, quyền thế
và cuộc sống đầy đủ rồi thì có thay đổi chi nữa ngoài cái chuyện đèo bòng. Bà
dư biết rằng cả một ngàn ông Giám đốc thời nay thì có tới một ngàn lẻ một ông
ít nhiều đều có chuyện “mèo mả gà đồng”. Nhưng bà hiểu chồng bà. Ông là người
chín chắn, thận trọng và kín đáo. Vậy nên đã dính vào chuyện đó thì hệ trọng
hơn nhiều. Bà là người khôn khéo, thức thời. Bà biết thời thế này biến động
khôn lường nên không để lỡ thời cơ. Bà hiểu rằng dù bà có tài tháo vát và xoay
sở là bản năng của cô gái Hàng Đào, Hàng Ngang Hà Nội, nhưng nếu không có vị
thế của chồng thì mẹ con bà khó mà bật lên được như ngày hôm nay. Hai đứa con
gái lớn đã có chồng con. Chúng đều được Nhà nước cho đi du học vì công lao của
bố nhưng chúng nhạy bén sớm thích nghi với cơ chế thị trường, đứng ra thành lập
những Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn và có cả cơ sở ở nước ngoài. Đứa con gái thứ
ba tuy còn đang học Đại học nhưhg bà chuẩn bị cho nó thay thế vị trí của bà ở
một Công ty kinh doanh lớn. Bà phải dằn lòng lại là điều bà rất khổ tâm. Gái
nào là gái chẳng ghen, nhưng ở tuổi bà cái ghen nó khác và với địa vị của chồng
bà không thể đánh ghen như chuyện người ta thường tình được. Bà kín đáo giấu cả
các con. Bà lo chúng nó trẻ người non dạ mà có những phản ứng bốc đồng bất lợi.
Điều bà lo lắng cho ông không phải là khả năng chung sống vợ chồng. Bà hiểu
tình đời là mấy lão già dại gái dễ mất khôn. Rồi là của cải trong nhà cứ úm ba
la tuồn qua cho gái để nuôi béo gia đình
nó và bao lại mấy thằng bồ. Lỡ đổ bể ra một đứa con, chưa chắc đã phải
là con của ông mà rồi để người lạ nhẩy vào, gia đình xào xáo loạn lên để tai
tiếng cho con cháu và bia miệng cho đời. Bà quản lý chặt chẽ những người có
quan hệ kinh tế với chồng. Và cả gia sản to lớn này bà khéo léo chuyển quyền sở
hữu chủ cho các con hoặc đích danh bà. Riêng chuyện cô bồ nhí bà tạm để yên
cho. Một chỗ bà theo dõi được. Làm động ổ ông nhẩy lung tung hỏng việc nhà lẫn
việc ở ngoài đời …
¶
Xưa nay ông Hai vẫn là người chân chất, chăm chút gia đình,
chí thú với vợ con. Ông thường ví bà như cái đăng cái đó, ông như người ngư
phủ. Ông đi thăm dò luồng lạch, rung chà gõ nhịp đánh động cho cá dồn vào nơi
đơm đó đặt đăng. Ông yên tâm vì cái hom tấm chắn của cái đó cái đăng. Thật ra, để bảo bọc cho
một tình nhân hiền lành yên phận không đòi hỏi gì quá mức như Hoàng Yến, ông
không cần phải động tới ngân quĩ gia đình. Cái nhà này bạn bè sắp xếp, bảo nó
sang tên mấy hồi. Người ta còn tặng cho nhau cả cái sân quần vợt, cả ngôi nhà
lầu to đùng đáng bạc tỷ kia chớ căn nhà trệt như cái lỗ mũi này đâu có đáng gì.
Mỗi tháng dăm ba chục triệu là chuyện nhỏ. Những chiếc phong bì, những gói quà
riêng trong cặp ông tuần nào chả có. Ông biết đời ông đã về chiều. Nhiều lúc
ông giật mình thấy cuộc đời trôi đi nhanh quá. Dẫu rằng luyến tiếc nhưng kiểm
lại cả một đời người, ông cho là thỏa mãn. Thế hệ của ông muốn sống đúng nghĩa
làm người là phải lựa chọn. Hoặc là tự mình lựa chọn cho mình một hướng đi.
Hoặc là may rủi. Ông đã lựa chọn và có gặp may được thuận theo dòng lịch sử nên
ông chẳng ân hận gì về phận làm trai. Ngày xưa xem chuyện Tàu, Trương Lương,
Phạm Lượng đều là tài giỏi ngang nhau nhưng một người gặp thời tìm được minh
chủ đã làm nên nghiệp lớn, công thành, danh toại; một người lỡ vận gặp phải u
vương nên sự nghiệp tiêu tan để đến nỗi chết trong đau buồn tủi hận. Ông cũng
có một thời chông gai gian khổ nhưng ông thành thật nhận ra ông có ba điều may
lớn : Một là ông được sống nguyên vẹn cho đến ngày sự nghiệp thành công. Hai là
ông được chăm lo học hành xứng đáng với cái mũ cao áo dài ông đang xúng xính
trên người. Ba là con đường công danh của ông thuận buồm xuôi gió. Duy chỉ còn
một điều lâu nay ông dấm dứt mà không tiện nói ra sợ vợ con buồn – đó là ông
vẫn khao khát được đứa con trai. Dù ai nói sao thì nói, trai có phận trai, gái
có phận gái rõ ràng. Ông đã có một đứa con trai với mối tình đầu, nhưng thời
tao loạn quê hương ông ngập tràn lửa khói, mẹ con nó đã bỏ xứ chạy lên thành
rồi mất tích. Ông âm thầm chôn vùi niềm thương nhớ ấy và rồi ông cũng khuây khỏa
với những niềm vui và hạnh phúc mà vợ con hiện đem đến cho ông. Ông ráng sinh
thêm đứa thứ ba cũng là vì cái niềm mong mỏi ấy. Rồi là cuộc sống lúc ấy khó
khăn cùng với áp lực xã hội mà cả vợ chồng ông đều không thể coi thường. Rồi
cuộc sống cứ ào ạt trôi đi, lúc thoát được ra khỏi những ràng buộc thì vợ ông
không còn khả năng sinh đẻ nữa. Ông đành tặc lưỡi cố quên đi. Bây giờ có người
tình trẻ đẹp, cái niềm ao ước bấy lâu tưởng đã nguội lạnh rồi bỗng lại bùng
lên:
- Em ráng
sanh cho anh đứa con trai. Anh sẽ dành cho mẹ con em một nửa số gia sản của
anh!
Ông tưởng vậy thôi chứ vợ ông tính trước ông
rồi. Ông đâu có biết gì những việc bà làm. Điều mong ước của ông cũng trùng hợp
với mong ước của nàng. Chưa bao giờ Hoàng Yến mong mỏi có một đứa con như lúc
này, bởi nàng đã yên phận rồi. Với nàng dù trai hay gái cũng là con của nàng,
nó có cha hẳn hoi. Cha nó là người đàng hoàng tử tế. Nàng sẽ bế con về cho nó
chào ông bà ngoại, cho nàng được nhìn lại mẹ cha. Tuy là nghịch cảnh nhưng chắc
rằng cha mẹ sẵn lòng tha thứ cho nàng. Các người sẽ ôm cả con với cháu vào lòng
mà khóc và nàng cũng được trút ra tất cả những giọt nước mắt đỏ ngầu, đục lờ
của những cay đắng, tủi nhục bấy nay. Rồi nàng thanh thản với số phận của mình.
Nàng yêu chiều chăm chút và có ý thức rõ ràng với ông những lúc giao hoan, ông
càng cảm động nhớ lại ngay cả thời còn cường tráng sung sức với vợ ông, chuyện
chăn gối vợ chồng nhiều khi chỉ là một nhu cầu cần thiết và tưởng như người ta
chỉ vui vẻ với nhau tí chút mà lại sinh ra những đứa con. Bây giờ cả ông và
nàng đều chăm chút và ý thức rất rõ ràng về một cái mầm sống mà cả hai người
cùng mong đợi. Không ít người cung cấp cho ông những phương thuốc cường dương
bổ thận. Chỉ có loại thuốc mới Viagra là ông không dùng đến vì báo chí còn nói này
nói khác. Để được một sinh mạng mong manh mà mạng sống của ông chấp chới thì
ông chẳng dại gì. Các phương thuốc dân gian từ trên rừng dưới biển đến cả loại
rượu bí ẩn nơi cung đình như thang thuốc “ Nhất dạ lục giao hoan” của vua Minh
Mệnh ông đều có cả. Ông còn dùng cả những thang thuốc Bắc được ghi theo toa từ
đời nhà Minh, nhà Thanh của vua Càn Long và Thái hậu Từ Hy. Ông được một trận
cười thật vui vẻ khi một cộng sự trẻ trung biếu ông thang thuốc quí với câu
chuyện kể không biết thật hay hư:
- Thưa anh
Hai! Đây là toa thuốc bí truyền từ thời Trung Hoa cổ đại mới được tìm ra. Nó là
thuốc cải lão hoàn đồng thượng thặng, được mang cái tên ngồ ngộ: Thuốc “Gà Trọc
Đầu”!
Ông lẳng
lặng ngồi nghe. Nhưng Hoàng Yến trố mắt ngạc nhiên thật là ngây thơ, hấp dẫn:
- Chẳng là
một viên quan đại thần dùng nó, phu nhân ngài không sao chịu nổi! Còn lại mấy
viên, bà dấu chồng ném qua cửa sổ. Mấy chú gà trống nhặt được, vậy là cả bầy gà
mái đầu không còn lại một cọng lông!
Anh ta nhìn ông Tư và Hoàng Yến kết một câu dí
dỏm:
- Nhưng
anh Hai chớ để chị Hai em… trọc lốc thì hại lắm đó nghen!
Ông Hai
cười khà khà. Hoàng Yến đỏ mặt chạy biến vào nhà nghĩ mà ghê… Rồi ông Hai cũng
âm thầm rút ra một kết luận cho mình: “ Dù gì đi chăng nữa cũng chẳng thể cưỡng
lại với luật của Trời!”
Hoàng Yến
còn mong đợi hơn ông. Đôi lúc nàng nghĩ vẩn vơ: Hồi ấy mình với Quyền có gì
đâu, vậy mà cũng thành người! Nàng chột dạ nhớ lại cái hình người quái dị lộn
ngược lửng lơ trước mặt với cái miệng nó ngáp ngáp đen ngòm… “Hay là nó oán!”.
Nàng sinh ra mê tín. Nàng ăn chay định kỳ và đọc kinh sớm tối. Nàng tâm sự với
ông:
- Em cầu
Trời khấn Phật cho chúng mình có một đứa con!
Ông càng
cảm động và cũng theo nàng ăn chay, niệm Phật. Tháng tháng đúng dịp kinh kỳ
nàng càng bồi hồi thấp thỏm. Có lúc nhớ lại thời kỳ ăn ở với Khanh, lúc nào nó
cũng bắt nàng làm những động tác tránh thai. Tuy là nàng không ưa gì nó nhưng
nàng biết nó thương nàng, nhiều lúc nàng giấu nó, liều cho có một đứa con để
ràng buộc nó rồi tìm cách thoát thân nhưng cũng không thành. Có lần nàng khóc
với nó và nói lên sự ân hận đã làm một việc mà nàng cho là thất đức rồi sẽ hại
một đời. Thằng Khanh cầm cả chai rượu dốc vào miệng rồi cất tiếng cười vang:
- Nếu nó
“ám” thật thì phúc cho mình. Cứ tự nhiên thoải mái là OK nhất! Em đừng lo! Con
người càng văn minh càng man rợ. Em chỉ giết có một thằng nhưng em có biết
không, mỗi lần sung sướng, hàng mấy chục triệu cái mầm sanh bị chúng hùa nhau
nhốt trong bọc cao su rồi ném vào sọt rác! Bao nhiêu những tổ kén trong mụ đàn
bà cứ mòn mỏi đợi chờ rồi biến thành rác rưởi trôi lềnh bềnh trong những dòng
kinh mỗi tháng!
Nàng nghĩ
mà rùng mình!
Ngày tháng
cứ qua đi, nàng sống trong thắc thỏm đợi chờ. Ông sống đầy thỏa mãn với hạnh
phúc của một đời người cần có …
¶
Nhưng
cuộc sống không bình lặng với ông. Những đổ vở của các công ty một thời mọc ra
như nấm có quan hệ về tài chính với ông cứ dồn dập như những cơn địa chấn lan
truyền. Người ta dần dần phanh phui ra những vi phạm về nguyên tắc quản lý tiền
tệ của các Ngân hàng. Ông toát mồ hôi chạy ngược xuôi đôn đáo. Cái tổ ấm gia
đình với vợ con ông bây giờ cũng nhào nháo xáo xào! Ở cơ quan ông đã điên đầu.
Về nhà tâm trí ông càng rối loạn. Vợ con không giúp gì ông gỡ rối những việc cơ
quan. Họ chỉ quan tâm đến việc phân tán tài sản và thúc ép ông giải ngân nhanh
chóng các khoản có liên quan tới họ. Ông nặng lời với cả con và vợ. Bà chẳng
còn bình tĩnh, đáp lại ông:
- Tôi với
ông ăn ở với nhau có tới ba mặt con. Trải qua bao nhiêu sướng vui, buồn khổ,
tôi hết lòng vì ông, vì con. Đấy là hạnh phúc chung của vợ chồng. Tôi chưa bao
giờ lừa dối ông!
- Tôi cũng
một đời tận tụy lo toan cho mẹ con bà. Có được cơ ngơi như thế này, con cái
phương trưởng như ngày nay, cũng là của chồng công vợ. Há chăng tôi không một
lòng vì vợ con sao?
Bà ngồi
xuống nói từng câu chậm chạp và rành rẽ:
- Không!
Trước khi lấy tôi ông đã có vợ con rồi! Lấy ông một thời gian sau tôi mới biết.
Nhưng thời thế lúc ấy chuyện như vậy chẳng phải một mình ông. Tôi cũng bỏ qua,
chẳng trách cứ làm gì. Lúc tôi đã có hai mặt con với ông, gia đình yên ấm là
thế, có điều kiện trở về miền Nam, ông lại âm thầm dấu diếm tôi đi tìm tung
tích vợ con ông! Nhưng người ta có luyến tiếc gì ông! Anh không chung thuỷ thì
em cũng đâu có thủy chung. Ông đã trắng mắt ra chưa? Cũng chỉ có con này là thu
vén cho chồng, cho con, gây dựng nên cơ nghiệp ngày nay. Gia đình đang yên vui
như vậy nào ngờ sướng quá ông dửng mỡ! Ông no cơm ấm cật rồi, ông dậm dật… đủ
thứ!
Giọng bà
đay nghiến, chì chiết dồn ông vào thế bí. Ông nổi sùng lên tìm cách thoát ra:
- Bà nói
kỳ! Tôi đang ở thế ngồi trên lưng hổ này cũng tại bà! Chính là vợ con cứ thúc
ép tôi làm những điều vô nguyên tắc! Bà có nhớ chính mẹ con bà cứ ngày đêm rỉ
rả với tôi: Thời buổi bây giờ khác trước, mỗi người phải biết tự lo cho mình.
Cái địa vị của mình cũng là do mồ hôi xương máu của mình mới có, mình phải biết
khai thác nó! Thời này ai cũng thế thôi!
Bà bị ông
điểm trúng huyệt, ngồi yên. Ông tiếp tục dồn bà:
- Mẹ con
bà lúc nào chẳng tỉ tê: Bố là bề trn cc Giám Đốc Ngân Hàng, kiếm tiền là lương
thiện nhất. Mình cho vay có nơi có chốn, chủ nợ có tên tuổi chức tước hẳn hoi
chớ mình có dấm dúi cho ai hoặc là biển thủ tiền của Nhà nước đâu. Đứa nào vay
mượn mà không trả nợ được thì nó chịu, chớ mình can chi! Còn ai muốn vay được
tiền thì họ phải cảm ơn tập thể, cảm ơn mình. Đó là cái tình cái nghĩa mà nó
cũng là cái luật làm ăn, ai có thể nói xấu được mình?! Rồi mẹ con bà chỉ chọc,
bày tính với bọn tín dụng, bọn kiểm tra thế chấp, bày đặt ra những luận chứng
kinh tế trời ơi đất hỡi, bịa ra đủ thứ các công ty mẹ, công ty con … tới tấp
vay tiền … Bây giờ mới té ngửa ra cả ngàn tỷ đồng chúng nó vay mà không có khả
năng chi trả! Tôi là thằng vô khám đầu tiên, mẹ con bà có biết không?
Nghĩ tới
thân phận mình rồi đây sẽ ra sao, ông ngồi rũ xuống.
Bà thấy thương chồng. Trong lỗi của
ông cũng có lỗi của bà. Giậu đổ bìm leo, bây giờ vỡ ra, bao nhiêu điều rối rắm
ập vào. Bà lau nước mặt đi tới tủ lấy ra một phong bì dầy cộp. Bà đưa nó cho
ông:
- Bố nó
xem đi!
Đó là một
tập ảnh. Mỗi tấm ảnh cầm lên, tay ông run bắn mạnh hơn, tấm ảnh rời ra, rơi lả
tả xuống nền nhà. Mặt ông tái mét tưởng như người chết trôi. Ông thở dồn dập
như sau một cuộc chạy đua dài quá sức. Vợ ông thương hại, gom những tấm ảnh và
đặt lại nó vào chiếc phong bì. Bà ngồi bên chồng nói trong nước mắt:
- Chuyện
đàn ông lang chạ gió trăng đời nào chẳng có. Tôi cũng già rồi, chỉ cần lo cho
các con, lo cho gia đình yên ấm, đẹp mặt chồng là được lòng mình. Nhưng ông có
biết chúng nó phản ông không? Chính thằng Khanh đã đưa cho tôi tập ảnh này.Tôi
đã phải tống vào họng nó hàng chục cây vàng để nó ỉm đi. Trước mắt là nó tống
tiền mình nhưng cần phải xem đây là việc làm của nó hay nó chỉ là một thằng láu
cá trong cả một đường dây có tổ chức hẳn hoi! Bạn bè, đồng chí ngày nay nó khác
xưa ông ạ. Ngày xưa, tình nghĩa con người được thử thách bằng sự trung thành
với mục tiêu lý tưởng. Bây giờ mục tiêu là địa vị với đồng tiền! Không tin ai
được đâu ông ạ!
Ông nhìn
vợ mà nước mắt ông cứ chảy ra. Ông nghẹn ngào không nói được nên lời. Tập ảnh
chụp tất cả những cảnh diễn ra giữa ông với Hoàng Yến trong những sinh hoạt
bình thường và cả những lúc kín đáo riêng như của vợ chồng. Nhưng ai đã chụp
được những cảnh ấy trong khi ở nhà chỉ có một người giúp việc? Bà lại an ủi
ông:
- Chuyện
này tôi biết từ lâu cho nên tôi đã đề phòng. Tất cả tài sản tôi chuyển qua cho
các con quyền sở hữu. Tôi với ông chỉ có cái nhà này gốc của nó là do Nhà nước
cấp cho. Nếu có thu hồi thì tôi với ông đi ở nhà thuê, không can cớ gì đến các
con đâu. Bây giờ chuyện với con nhỏ đó ông phải cắt đứt hẳn đi, đừng tơ vương
gì nữa để chúng nó lợi dụng dịp này có thêm cớ mà dìm mình xuống!
Ông nhìn
vợ với lòng cảm ơn sâu nặng. Ông mở cặp lấy ra tờ Fax cấp trên kêu ông ra Hà
Nội gấp, công việc tạm giao cho người phó điều hành. Ông còn lưỡng lự chưa muốn
nói ra sự thật thì bà đã nói thay ông:
- Lần này
kêu ông ra là để ở trong này họ rảnh tay rà soát mọi việc ông làm. Ông nên
bàn với chú Tư hãy nhân danh tỉnh nhận
lãnh món nợ mà mình đã cho Phòng đại diện Thương mại của họ vay một khoản tiền
khá lớn để kinh doanh, cũng nhẹ gánh được một phần nào, mình sẽ hổ trợ thêm
vào. Hai bên là chỗ quê quán thân tình, biết đâu rồi sẽ là chỗ sui gia thông
cảm giúp đỡ lẫn nhau. Chắc là chú ấy không nỡ lịng từ chối!
Vẻ mệt mỏi
lo lắng ở ông:
- Hôm qua
tôi đã điện bàn với nó rồi. Nó chưa trả lời dứt khoát cứ ợm ờ nói là để chờ họp
bàn tập thể xem sao!
Bà nổi
giận đùng đùng, đứng dậy thét toáng lên:
- Ông xem,
lúc có lợi lộc cá nhân thằng nào cũng nhân danh quyền này chức nọ, tự quyết
chẳng cần ai. Lúc nuốt không trôi nó đem ra tập thể để bàn. Chẳng ai gật, chẳng
ai lắc, rồi để đó ngâm tôm! Hèn gì mà tập thể cứ ngày một teo tóp lại trong khi
cá nhân thì cứ béo trương ra! Tôi nói để ông biết chớ ba cái Phòng đại diện gì
đâu ở thành phố này cũng chỉ là nơi gây dựng quĩ đen cho mấy thằng cha qua lại
đi về có tiền xài chơi, có chỗ móc máy rủ rê nhau đàn đúm đó thôi. Đồng hương đồng khói cái gì mà ông
cứ bùi tai nghe nói ngon nói ngọt. Chuyện bể ra chỉ mấy thằng tép riu chịu tội
có xứng đáng với cái thân bại danh liệt của ông không?
Câu nguyện
đi vào bế tắc, ông quay qua hỏi bà về chuyện con gái út:
- Chuyện
con Thanh Bình với thằng Quyền bà thấy thế nào?
- Ba nó là
lớp đàn em của ông, lại là ở chốn quê hương, lâu nay đi lại quan hệ với nhau
không có trở ngại gì. Hai đứa nó cùng học lại thân thiết với nhau, để nay mai
ra trường rồi tính. Nhưng bây giờ dính dấp vào chuyện này, chưa biết sẽ ra sao
đây!
Trước ngày
ra Hà Nội, ông nói như năn nỉ và xin lỗi bà:
- Tôi cảm
ơn bà vì những việc bà đã làm cho chồng, cho con. Ngay cả vợ chồng, đến lúc
hoạn nạn sai quấy mới hiểu hết lòng nhau. Rồi đây chưa biết cơ sự làm sao. Cuộc
đời mình đã tưởng được sống yên đến lúc xuôi tay nhắm mắt nhưng tự mình lại
khuấy động nó lên… Tôi chỉ xin bà cư xử rộng lịng với cô ấy.
Bà nhìn
ông buồn rầu xót xa lắm:
- Đời
người, ông thấy đấy: cha mẹ rồi cũng chết đi, anh em mỗi người mỗi phận, con
cái lớn lên nó cũng lo phận nó. Chung qui còn lại cũng chỉ vợ với chồng. Nếu
không hiết giữ gìn thì chỉ còn độc cái thân mình bơ vơ, trơ trọi ở cái tuổi già
chẳng ai thương được nữa. Tôi giận ông thì có giận thật nhưng thương thì vẫn
thương ông, một đời tận tụy, trung thành. Tôi không bỏ ông đâu! Bỏ ông tôi đâu
có còn ai ở nơi xa lạ xứ người này: cha mẹ chẳng còn, anh trên em dưới thì
không…
Bà tủi
thân, sụt sịt nhưng rồi bình tĩnh lại, nhỏ nhẹ nhắc nhở ông mấy điều:
- Liên can
thì có liên can rồi. Chạy chọt lúc này cũng vô ích thôi. Trên dưới người ta
lánh xa mình để khỏi liên lụy vào thân. Ông cứ thật thà khai ra hết đi, đừng nể
nang che giấu cho ai. Ông có trách nhiệm phần ông nhưng việc ông làm đâu phải
chỉ mình ông biết. Mình không gắp lửa bỏ tay người nhưng cũng đừng để cho những
quân ăn ngập họng rồi ngoảnh mặt làm ngơ mặc cho mình chết. Tôi chỉ cầu mong
ông nhẹ tội, cho dù người ta có đuổi ông
về vườn nuôi gà cũng được!
Bà quệt
ngang nước mắt như cố nuốt đi cơn giận để chồng bớt khổ lúc bước chân đi:
- Còn con
nhỏ đó ông để tôi lo. Suy cho cùng lỗi cũng ở ông. Các ông đi làm cách mạng
tưởng là đánh đổ được tất cả những cái dơ dáy bất công. Vậy mà các ông lại dính
dấp vào! Các ông hứa hẹn tùm lum nhiều quá rồi làm không xuể. Xưa còn nghèo khổ
chẳng có gì thì các ông hăng lắm, làm chẳng cần gì, nói chẳng sợ ai. Nhưng khi
đã được giàu sang, địa vị, có chức tước quyền hành rồi thì các ông quên đi
nhiều quá, có khi nói ngược, lại còn bày đặt ăn chơi chẳng thua gi những kẻ
ngày xưa các ông vạch tội. Bây giờ con nhỏ ấy nó nhìn ông cũng như nhìn một lão
già háo sắc tham lam. Ông đang từ chỗ là người được kính trọng trở thành kẻ tầm
thường. Để tôi xem nó ra sao rồi tôi sẽ có cách cư xử với nó. Ông đã biết rồi,
tôi dù sao cũng không phải như loài lang sói tàn ác nhẫn tâm đâu!
Rạng ngày,
lúc chờ xe đón ông lên đường, hai ông bà lặng ngồi bên nhau hồi lâu, tưởng như
đây là phút chia tay cuối cùng. Dường như phải dồn hết nghị lực, bà ghé tai ông
buông nhỏ từng lời như những giọt mưa thu nặng hạt đều đều mà buốt giá vào
lòng:
- Mấy hôm
rồi tôi nói với ông, nghĩ lại có điều khôn, điều dại, chỗ đúng, chỗ sai. Ông để
thời gian suy ngẫm cho chín mà hành xử . Tôi đàn bà, học ít lại không từng trải
lăn lóc bằng ông. Có điều là việc mình làm đổ bể ra rồi, rào đón chối quanh chỉ
làm cho người ta thêm ghét. Phải biết gánh sao cho nhẹ tội thôi. Đành rằng có
người này, người nọ liên quan kẻ ít, người nhiều nhưng mà có kẻ yếu, người mạnh.
Kẻ dưới, người trên đâu phải ai cũng dễ chịu nhận tội vào mình. Họ cũng thiếu
gì mưu ma chước quỉ, kẻ đỡ người nâng. Còn mình thì đang sa cơ thất thế, như
cọp sa bẫy rồi, càng gầm gào rẫy đạp càng bị siết cứng lại thôi, khéo là mất
mạng! Ngày xưa cơ đồ còn như “trứng để đầu đẳng”, người có chức vụ càng cao,
trách nhiệm càng nặng, càng lắm cơ cực hiểm nguy. Có vậy thì người ta mới nghe
và theo mình. Bây giờ công thành danh toại rồi, ai ngờ lại náo loạn lên. Ông
lớn lợi lộc lớn. Ông bé lợi lộc bé. Chức càng to thì quyền càng lớn, bổng lộc
càng nhiều, không ai dễ để mất nó đâu. Người sống hiền lành chân thực thì chỉ
bị lợi dụng mà chẳng ai tin dùng hoặc cất nhắc lên. Bỗng dưng mình cũng bị quay
cuồng vào cái vòng danh lợi. Có ai tình nghĩa gì đâu! Khi vui, khi lợi thì vỗ tay vào, rủi khi
hoạn nạn thì nào thấy ai đđâu! Lúc gặp vận hạn, giật mình tỉnh lại thì muộn quá
rồi. Thế mới thấy đồng tiền nó l ma là quỉ, nó đưa mình lên Thiên Đường rồi nó
lại đẩy mình xuống Địa ngục như chơi! Ông ơi, tôi sợ lắm! Phải coi chừng kẻo lại mắc thêm tội
“phạm thượng khi quân” thì dù bị xử “lăng trì” cũng không có ai đứng ra can
gián, bênh vực cho mình đâu. Phải tỉnh táo, khéo xử, khéo lời ông ạ. Nếu chẳng
may ông lỡ làm sao thì tôi nào sống được! Con cái có lông có cánh cả rồi, nó
cũng chẳng cần mình nữa đâu!
Ông nhìn
bà bằng đôi mắt buồn rười rượi và sâu thẳm lòng thương cảm, biết ơn. Giọng ông
run run, rầu rĩ :
- Bà nói
đúng đấy! Giảo hoạt quá cũng chết! Thành thật quá nó cũng không tha! Mình sống
gần trọn đời rồi mà vẫn còn mơ hồ mê muội. Bao nhiêu năm sống thanh bạch, thật
ra có khổ chỉ là những ai chớ mình đâu đến nỗi nào. Lợi danh thì ai cũng biết
nó là bả độc mà vẫn đam mê, không ai biết phải dừng lại ở chỗ nào nên mới sa
vào cạm bẫy. Đó là cố tật muôn thuở của
người đời. Một khi người ta đã dùng quyền lực để giữ danh lợi cho riêng mình
thì nó tàn độc lắm! Hôn quân, bạo chúa, phát xít, hoạt đầu, bạc tình, bội nghĩa
… cũng từ đó mà ra cả! Nhưng rồi sướng không trọn đời, chết không yên mả! Bây
giờ mình như con cá trong dòng chảy xiết, biết thân phận đang lao vào cái đăng
cái đó mà không quẫy ngược lại được nữa rồi! Đời tôi từ nay không còn dựa vào
ai được nữa ngoài bà!
Từ đôi mắt
buồn thảm của ông lăn ra những giọt lệ nặng nề rơi xuống tay bà.
Bà nuốt
nước mắt vào trong để chồng ra đi đỡ tủi.
¶
Bà
Mười nghe chuông réo chạy ra. Từ cái cửa sổ nhỏ trên cánh cổng, bà hỏi người
khách lạ:
- Bà có
nhầm số nhà không?
- Không!
Đây là nhà ông Hai Lực!
- Ổng đi
vắng mấy hôm nay!
- Có cô
Hoàng Yến ở nhà!
- Mà bà
hỏi có việc chi?
- Tôi là
vợ ông Hai Lực!
Bà Mười
quíu giò nghiêng ngả chạy vào báo cho cô chủ. Hoàng Yến run rẩy không biết
đối phó làm sao. Bà Mười đành ra mở
cổng. Bà Hai bước vào, theo sau là một cô gái khoẻ mạnh đẫy đà. Bà đi thẳng vào
phòng khách. Hoàng Yến quýnh quáng run rẩy cúi đầu chào lễ phép:
- Thưa…
bà!
Bà Hai chủ
động ngồi xuống ghế. Nhìn thái độ, bà đã đoán biết được đó là Hoàng Yến nhưng
bà chưa tin ở mắt mình. Bà hỏi dằn từng tiếng:
- Cô là
ai?
Nàng lập
cập trả lời lí nhí:
- Dạ!
Thưa… con là… Hoàng… Yến!
Bà soi mói
nhìn nàng đứng đó từ đầu tới chân, toàn thân run lên như con dẽ. Bà thở ra một
hơi dài rồi chỉ chiếc ghế đối diện làm hiệu cho Hoàng Yến ngồi. Bà quay lại
nhìn bà Mười và cô gái cùng đi theo bà, nói như ra lệnh:
- Hai cô
ra đợi ở ngoài kia!
Hai người
nem nép đi ra sân phía cổng. Hoàng Yến ngồi nép vào một bên thành ghế. Lần đầu
tiên nàng gặp huống cảnh này. Nhìn bà còn hơn tuổi mẹ mình mà đầy oai quyền
nàng sợ vô cùng. Bà Hai nhìn cô gái trẻ nghỉ thầm trong bụng: “Con cái nhà ai mà
đẹp lồ lộ thế này, mấy thằng trẻ ranh còn chết huống chi mấy lão già!”
Hoàng Yến
thấy ở cử chỉ của bà oai quyền nhưng không độc ác dữ dằn cố ý hại người nên
nàng cũng dịu đi nỗi sợ. Nhìn vẻ đẹp và thái độ khiếp sợ của nàng bà Hai thấy
nhói trong lòng. Nhưng dù sao bà vẫn phải ra oai:
- Cô biết
tôi là ai chưa?
Hoàng Yến
gật đầu mà không dám ngẩng lên.
- Cô là
thế nào với ông Hai Lực?
Nàng lắc
đầu, nước mắt rơi xuống ướt đầm hai vạt áo. Bà Hai hỏi dồn:
- Cô có
biết ông ấy đã có vợ con không?
Nàng gật
đầu, bưng mặt khóc lên thành tiếng. Bà Hai thấy máu trong người như muốn sôi
lên. Lời bà phát ra giữa hai hàm răng:
- Thế mỗi
tháng ông Hai cho cô bao nhiêu tiền để gởi về cho cha mẹ?
Hoàng Yến
như dựng người lên. Đầu nàng lắc mạnh hất mái tóc dầy ra sau. Nàng ngồi lại
thẳng người. Tay nàng chống lên thành ghế, mắt nàng như toé lửa, mặt nàng đanh
lại. Nàng đáp lại bà như kẻ ngang hàng:
- Thưa bà,
ba má tôi không can cớ chi vào những chuyện này!
Bà Hai
giật mình chột dạ trước phản ứng mạnh mẽ bất ngờ của cô gái trẻ. Bà hơi sững
lại. Trong đầu bà một ý nghĩ thoáng qua:
“Một đứa biết giữ danh dự cho mẹ cha là đứa trẻ có giáo dục và chưa phải là
hoàn toàn hư hỏng!”. Bà kịp thời trấn tĩnh lại mình. Giọng bà có dịu bớt đi
nhưng còn đay nghiến:
- Thế cô
có cho ông Hai bùa mê thuốc ngải gì không?
Nàng nhìn
thẳng vào bà Hai, lắc đầu dứt khoát:
- Không!
Chính ông Hai đã bỏ tiền ra mua tôi từ
trong tay của thằng Khanh!
Bà khựng
lại: “Thằng Khanh xảo trá đểu cáng thật!”. Bỗng dưng bà thấy thương cô gái nhỏ.
Bà nhìn nàng với ánh mắt hiền từ. Lời bà không còn gay gắt nữa. Bà hỏi nàng như
người lớn tuổi hỏi lớp cháu con:
- Thế ông
Hai có hứa hẹn gì với cô không?
Nàng lại
cúi đầu xuống trả lời buồn bã:
- Thằng
Khanh đưa con về đây trao cho ông Hai. Bà bảo con còn biết làm gì được nữa?!
- Ngoài
ông Hai ra còn có ai đến đây không?
- Có bà
Mười là người giúp việc mà cũng như để canh chừng. Nhưng nếu không có bả con
cũng không muốn quan hệ với ai. Con mong được sống yên thân!
Bà Hai tin
ở lời nàng. Bà cảm thấy mủi lòng và tỏ ra thương xót:
- Thế gia
đình cô đâu?
Nàng ngước
lên nhìn bà, ánh mắt ấy thăm thẳm đau buồn. Nàng nói như muốn khóc:
- Con xin
bà đừng động đến gia đình ba má của con!
Bà Hai
lặng người ngồi suy nghĩ hồi lâu. Bà không còn cật vấn cô nữa. Bà đứng lên đi khắp
trong ngoài nhà xem xét. Bà nghĩ con bé này không phải là đứa hám tiền hư hỏng,
cũng không phải là quân trốn chúa lộn chồng, chắc là con gái nhà lành có uẩn
khúc chi đây, lỡ sa vào tay bọn buôn người rồi không lối thoát. Nhưng cũng phải
dấu kín nó đi đâu thì mới dứt ông ấy ra được. Bà đến ngồi sát bên Hoàng Yến. Bà
rút từ trong túi sắc ra tập ảnh đưa cho nàng. Hoàng Yến nhìn những tấm ảnh rồi
lại ôm mặt khóc. Bà Hai đã hoàn toàn bình tĩnh, bà tỏ ý thương hại cô gái trẻ:
- Thằng
Khanh đưa những tấm hình này để tống tiền tôi. Vậy là cô vẫn chưa thoát khỏi
tầm nanh vuốt nó đâu. Đây vẫn là nơi hang hùm nọc rắn, chưa thể là chỗ cô nương
thân được. Ông Hai là người tử tế. Ông có ý định giúp cô thật sự nhưng ông đang
gặp nạn. Tôi có thể giúp cô thoát khỏi chốn này!
Bà ghé sát
bên cô thì thầm. Chỉ thấy Hoàng Yến gật đầu tỏ lòng chấp nhận. Trước khi đứng
lên bà lấy ra từ cái túi xắc, đặt vào tay nàng một cọc tiền:
- Cô nghe
tôi đi! Đấy là giải pháp tốt nhất cho cả cô và ông ấy!
Nàng chỉ
cúi đầu như người cam chịu.
Khi bước
chân tới cổng, con chó từ sau nhà đi ra, thấy người lạ nó nhe răng gừ gừ. Bà
Hai quắc mắt nhìn bà Mười giúp việc, tay chỉ con chó:
- Này cô!
Chó mà phản chủ thì phải làm gì, cô có biết không?
Bà Mười
tái mặt cúi gầm đầu xuống ấp úng trong miệng không thành lời.
Mấy hôm
sau, trời vừa sáng, có người của ông Hai tới kêu Hoàng Yến đến gặp ông tại một
nơi ông đang đợi. Nàng xách túi và xắc đi theo. Mọi việc gọn gàng nhanh lẹ như
đã sắp xếp sẵn rồi.
Bà Mười
giúp việc sinh nghi chạy vào phòng xem xét, thấy một số đồ dùng và quần áo cần
thiết không còn. Bà tức khắc gọi điện thoại báo cho thằng Khanh biết.

No comments:
Post a Comment