HÀ NỘI BỂ DÂU
*************************************************
TƯƠNG
LAI MUÔN SỰ BẤT NGỜ
***************
Cắm trong bình là hoa
Ném ra ngoài là rác
Hoa nào tươi mãi được
Rác biết đâu trổ hoa
Toán Thịnh
{
Lớp
chúng tôi bước vào tuổi thiếu niên đã đứng giữa cơn lốc xóay khốc liệt của chiến
tranh, có mấy ai đươc chọn cho mình một tương lai? Ngay cả sự may, rủi cũng
không biết đâu là họa, phúc. Bạn bè chúng tôi bị xô đẩy, lôi kéo, phân hóa…
nhưng không ai nghĩ sẽ là kẻ thù của nhau. Điều mong ước duy nhất là được sống
trong sự yên bình.
Vậy mà hòa bình đến chúng tôi vẫn ngỡ
ngàng tưởng như đang ở trong mơ. Niềm vui ào đến chỉ như một luồng gió mới. Rồi
lại là những bức bối buồn giận lo toan.
Mọi sự đến với tôi thật bất ngờ. Tình yêu
đến, tình yêu đi rồi tình yêu lại đến như một sự sắp xếp khôn ngoan tưởng như được
đền bù. Tôi thành bác sỹ. Rồi gia đình tôi hoạn nạn. Mẹ con tôi long đong gõ cửa
nhiều nơi chỉ nhận được những lời an ủi suông hay lời hứa hão. Người xưa từng
che chở nồng ấm với nhau nay sợ bị liên lụy, nếu không quay lưng lại cũng tảng
lờ đi! Tôi lao vào chuyên môn như một niềm vui, một sự giải thóat tinh thần. Thời
ấy, xã hội tuy nghèo nhưng tâm con người ta ít động vì coi khó
khăn trước mắt chỉ tạm thời thôi và còn tin vào một cái gậy thần. Những
người thầy thuốc chúng tôi trong điều kiện cơ sở vật chất và thuốc men rất hạn
chế nhưng không chịu bó tay, luôn vắt óc vận dụng kiến thức khoa học vào hòan cảnh
thực tiễn của nước mình, làm việc không toan tính thiệt hơn. Một kỷ niệm qua gần
nửa thế kỷ rồi đến nay nghĩ lại tôi vẫn thấy vui, coi đó như một phần thưởng vô
giá cho mình.
Một ông dáng nông dân, bận bộ đồ ta nâu, đội
mũ cối, tay xách cặp da đen to tướng, vẻ phờ phạc ngơ ngác như người mất sổ
gạo gõ cửa nhà tôi. Cánh cửa vừa mở, người ấy ôm chầm lấy tôi, nói như muốn
khóc:
- Nguy qúa! Con mình chết mất… Cố gắng cứu
vợ con mình với!
Đó là đồng chí Đinh Hoàng Can, Bí thư Huyện
ủy Kim Bảng, từng suýt chết trong cải cách ruộng đất vì là cán bộ cơ sở
nơi đơn vị tôi đóng quân. Gian nan cơ cực mãi, hiển vinh một chút mới sinh được
mụn con trai. Cơ sở y tế nông thôn lúc đó còn mỏng lắm và ý thức bảo vệ sức khoẻ
của dân mình cũng chưa cao. Sản phụ thường đẻ ở nhà. Bà mụ vườn tới đỡ và dùng
dao bẩn cắt rốn nên cháu bị… uốn ván! Uốn ván (tétanos) là một bệnh có tỷ lệ tử
vong rất cao, ở trẻ sơ sinh càng xấu. Tôi lao ngay xuống bệnh viện.
Sau cả tháng trời mày mò vất vả, cháu Đinh
Quốc Khánh thóat tay thần chết. Đó là một thành tích rất đáng khích lệ. Chuyên
gia Liên Xô làm việc với chúng tôi coi đó là một trường hợp điển hình dùng làm
bệnh án mẫu trong giảng dạy. Báo Nhân Dân đăng bài biểu dương khen ngợi. Khoa
được phong tặng danh hiệu Tổ lao động xã hội chủ nghĩa. Người đại diện
được nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua là một… y tá đảng viên! Thật sự lúc
đó tôi cũng thấy chạnh lòng nhưng thời gian qua đi cho tôi sự bình tâm nghề
nghiệp. Với người thầy thuốc cái được lớn nhất, phần thưởng quí báu nhất là cứu
được mạng người. Có thể chính người được sống lại không hiểu rõ việc mình làm
đâu nhưng mình tự vui với mình. Hướng về cội nguồn nghe được sự đồng tình. Nhìn
về tương lai cảm thấy yên tâm. Tôi không chút buồn vì cái gốc xuất thân gia
đình không cơ bản của mình. Tôi theo kháng chiến, theo cách mạng vì ghét tây,
yêu nước, nghĩ cho cùng là vì lẽ công bằng – bác ái – tự do chứ không vì
bát cơm manh áo. Tôi hài lòng vì lẽ mình không bị ràng buộc vào những cám dỗ
danh lợi tầm thường mà trước sau vẫn hướng tới một lẽ sống thanh khiết theo nếp
cha ông.
Nhiều bạn chiến đấu của tôi cũng gặp sự bất
ngờ. Giá như anh Nguyễn Đỗ vẫn được phát huy kinh nghiệm công tác của mình, anh
cũng thoả lòng. Đành rằng công việc xã hội dù “không cô thì chợ vẫn đông,
cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui”, thời nào cũng thế. Nhưng khi người ta
đã tự nguyện hết lòng hiến dâng thì chỉ cần được niềm tin đáp lại. Anh Thanh
Sơn cũng một thời trút bộ kaki đỏm dáng thay bằng bộ quần áo nâu đi lao động cải
tạo tít trên rừng sâu Việt Bắc. Mãi sau mới được phục hồi đưa về làm Giám đốc Sở
Xây dựng thành phố. Mỗi lần gặp nhau chỉ lắc đầu không một lời than thở…
Nhưng có lẽ vất vả nhất là các bạn học của
tôi bị dồn vào các trường sỹ quan quân đội ngụy.
Tháng 8/1951, chính quyền bù nhìn Bảo Đại ra lệnh
trưng tập học sinh tú tài vào học các trường quân sự để đào tạo sỹ quan người
Việt.
Tuyệt đại đa số không ai muốn đứng trong
hàng ngũ quân đội đánh thuê ấy cả. Nhất là chiến sự ngày càng ác liệt, càng
không ai muốn chết phí phạm cho một sự nghiệp đối lập với dân tộc và tổ quốc
mình. Phụ huynh và giới học sinh rất hoang mang, một số đoàn viên Học sinh
kháng chiến muốn thóat ra vùng tự do. Thực tế lúc đó ngòai hậu phương đang có
chủ trương giảm chính biên chế ở các cơ quan, đưa thanh niên ra bộ đội. Một số
thanh niên không chịu được, sống lơ phơ ở những nơi tụ hội đông người. Thậm chí
một số đoàn viên tự tìm cách trốn ra ngòai được rồi nhưng không ai tiếp nhận,
không nơi nương dựa, bơ vơ, lại hợp với một số người đó bỏ về thành. Tổ chức rất
lúng túng, đưa ra chủ trương không thực tế: Kiên quyết không nhận giấy tống đạt
nghĩa vụ quân sự hoặc tập trung vào trường sỹ quan! Trốn lính là yêu nước! Phản
chiến. Không bắn vào đồng bào mình!
Sống trong một thành phố bị phong toả chặt
chẽ, bị kiểm tra nghiêm ngặt bằng đủ mọi hình thức thì một thanh niên đang lớn
lên với bao nhiêu nhu cầu bức bách về cuộc sống, làm sao dám công khai trái lệnh
nhà chức trách hoặc ẩn mình lâu mãi được?! Số tự nguyện đi thì ít nhưng số bị lôi cổ đi thì nhiều. Lúc đầu anh em đấu
tranh hăng hái lắm tại các điểm tập trung, thậm chí ngay cả lúc đã vào trường
anh em còn phá phách các phương tiện học tập, đánh nhau với bọn quản đội tây,
hát bài ca cách mạng khi ra thao trường, đỉnh cao là tuyệt thực đòi về. Có một
chuyện cười ra nước mắt là tuyệt thực mấy ngày chỉ uống không ăn, có anh không
chịu được dấu anh em ăn vụng miếng lạp xường của gia đình gửi vào. Bị phát hiện.
Có ai treo cặp lạp xường lủng lẳng giữa phòng như một sự bêu riếu người ăn, nhắc
nhở người đang chịu đói! Chúng tôi chỉ biết động viên anh em không trốn tránh
được đành tạm thời chấp nhận rồi sẽ tìm cách liên hệ và làm nhân mối về sau. Có
anh được cấp cả giấy giới thiệu của Đoàn Học sinh kháng chiến Hà Nội để nếu có
dịp thì “móc” với các tổ chức kháng chiến địa phương. Nhưng đã vào tròng rồi
cũng bị gò dần vào kỷ cương thôi. Tết Nhâm Thìn năm ấy, bọn chỉ huy xuống nước
cho anh em năm ngày nghỉ phép về nhà ăn tết. Nhiều anh cù cưa không chịu quay về
trường đúng hạn thời gian. Quân cảnh đến từng nhà điệu đi mấy chục người và tống
thẳng vào trường sỹ quan Thủ Đức – Sài Gòn như đưa đi an trí!
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Chưa đầy một năm sau, chúng tôi xuống Nam Định phối hợp với anh
em tổ chức phá buổi lễ tốt nghiệp sỹ quan khoá đầu này. Nhưng tình hình thay đổi
nhiều rồi. Số đông an phận. Một số như chim sổ lồng thóat khỏi vòng kiềm toả của
gia đình, lại được phát phiếu BMC (Bordel Militaire Control = Nhà chứa quân đội
có kiểm tra) đi bar vào chiều thứ bảy và chủ nhật, thậm chí có người đã
mắc bệnh phong tình. Cùng với sự luôn bị xuyên tạc
lẫn lộn về chính nghĩa và phi nghĩa, đối kháng tinh thần quốc gia và cộng sản.
Không ít người dần dần lảng tránh phong trào. Chỉ còn số ít anh em bền lòng vẫn
kín đáo gửi báo cáo và tiền nguyệt liễm – thực ra là tiền ủng hộ kháng chiến, về
đóng cho tổ chức đều đặn.
Ra trường, một số được tuyển chọn cho đi
Pháp học Không quân, Thủy quân... lấy làm hãnh diện trên đường tiến thân. Một số
tỏ ra thích thú với cấp hàm Thiếu úy, Trung úy với đồng lương hậu hỹ, sắm sanh
áo quần sỹ quan bảnh bao kẻng mã ăn chơi tung tẩy. Nhiều anh em bị phân rải khắp
nơi từ Nam ra Bắc. Một số anh em tích cực hoạt động trong phong trào trước đây
nay buộc phải nhận cấp chức mà vẫn trông chờ được liên hệ với tổ chức nhưng
không có ai chỉ đạo. Tâm lý chung đa phần sợ chết. Dịp đó có người bị quân
kháng chiến bắt làm tù binh trên đường hành quân. Có người tử trận như anh Phạm
Chính Trực ở đồn La Tiến – Hưng Yên, gia đình mang xác về Hà Nội. Đoàn Học sinh
kháng chiến vận động bạn bè đi phúng viếng và đưa đám tang đông lắm. Qua đó tố
cáo nhà cầm quyền đẩy học sinh vào chỗ chết. Nhưng lại có tiếng nói phản bác:
Ai giết bạn của chúng ta? Trong bối cảnh ấy, nhận ra điều chân – giả
không dễ chút nào.
Chiến sự diễn biến rất nhanh. Sau chiến thắng
Tây Bắc tiếp đến chiến thắng Điện Biên Phủ và quân kháng chiến ào ạt tiến về giải
phóng đồng bằng Bắc bộ. Hiệp định Genève với quy định hai vùng tập kết đóng
quân. Tâm trạng của số đông anh em sỹ quan thấy thân phận mình như người lỡ bước
qua cầu rút ván không dám ở lại miền Bắc nữa. Vào miền Nam, đa phần xin giải
ngũ, người có khả năng qua Pháp học, còn lại đi học các ngành nghề hoặc làm
viên chức, thương nhân. Do một số chính sách cực đoan trong Cải cách ruộng đất
cũng như trong hòan cảnh kháng chiến nặng lo về quân sự, một số trí thức “thất
nghiệp” bị rẻ rúng coi thường đã bỏ về thành, lại bị kích động tinh thần gây
tâm lý hoang mang bất mãn, không loại trừ sự đố kỵ về quan điểm sở thích cá
nhân, một bộ phận có thái độ quay lưng đối kháng với chính quyền cách mạng. Số
này có vai trò khá quan trọng trong cơ cấu quân đội và chính quyền Sài Gòn suốt
hai mươi năm sau đó như Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị, Phó Quốc
Trụ, Phan Phụng Tiên…
Số anh em một lòng hướng về kháng chiến đã
thừa dịp phản chiến chạy ra hậu phương hoặc mau chóng liên hệ với cách mạng. Một
số ít được ta cài vào tiếp tục đi Nam. Một số được đón ra Thường Tín học tập và
ở lại miền Bắc. Anh em mau chóng hòa nhập lại với đời thường, vui vẻ học tập,
làm ăn lương thiện. Điều đáng buồn là mấy năm sau đó, số anh em này gặp nhiều
điêu đứng lao đao vì cái qúa khứ khó thanh minh giải thích của mình cùng với
cái nhìn qúa khắt khe định kiến của chính quyền với những người ở lại. Là một
cán bộ phong trào hiểu biết xuất xứ hòan cảnh xã hội và hòan cảnh riêng tư của
bạn bè, tôi đã giãi bày thanh minh cho một số anh em thoát được nghịch cảnh éo
le.
Anh
Quách Tất Đắc là người bạn gần gũi thân cận với tôi lúc hoạt động phong trào Học
sinh kháng chiến. Lúc bị động viên, anh luôn là nòng cốt vận động anh em đấu
tranh và thường xuyên gửi báo cáo và đóng nguyệt liễm đều đặn. Ra trường anh bị
điều động về đóng ở Thái Bình, có báo về cho tổ chức biết. Chúng tôi từ Hà Nội
đang định xuống liên hệ thì nơi anh đồn trú bị quân ta đánh vào. Anh chạy ra
theo quân kháng chiến, bị coi như là hàng binh. Khi hai bên trao trả tù binh,
anh đã lên Đài Phát thanh tuyên bố mình là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, không công nhận tên mình trong danh sách bên quân đội Liên hiệp Pháp đòi
trao trả. Trở về Hà Nội, anh học Sư Phạm và đi dạy. Sau đó người ta truy lý lịch,
anh thường bị truy xét, tường trình và nghi kỵ. Anh khai ra tôi là người có thể
biện minh được cho anh. Một đồng chí công an tới trường tìm tôi vào một buổi
chiều. Như thường lệ, tôi đề nghị làm việc tại Văn phòng Đảng uỷ mặc dù lúc đó
tôi chưa là đảng viên. Sau khi nghe tôi giải trình về hòan cảnh xã hội và cá
nhân bạn, đồng chí công an đứng dậy cảm ơn, ra về vội vã. Tôi cẩn thận hỏi lại
có cần giấy tờ tường trình và chứng nhận của lãnh đạo không thì đồng chí thật
thà vừa nói vừa đi ra như chạy:
- Thế là đủ rồi! Tôi phải về ngay kẻo 5 giờ
chiều nay xe nó đi bắt anh ta!
Tôi toát mồ hôi… mừng cho bạn và thiện cảm
với anh công an ấy.
Một
hôm anh Nguyễn Bội Tài đến nhà tôi than thở:
- Gay lắm mày ơi! Tao bị công an gọi ra hỏi
vặn. Họ hỏi ai có thể chứng nhận giấy kháng chiến cho tao? Tao khai ra mấy người
nhưng hình như không ai dám nhận cả. Thế nào họ cũng tới hỏi mày đấy!
Tôi biết mẹ anh là nữ hộ sinh cũng là một
cơ sở của kháng chiến. Em rể anh cũng là công an. Bản thân anh là một đoàn viên
Học sinh kháng chiến rất tích cực. Khi bị bắt đi học sỹ quan, anh là một trong
những người chủ xướng vận động anh em đấu tranh phá rối. Trong vụ tuyệt thực ở
trường Nam Định, chính anh là người treo cặp lạp xường trong phòng vừa riễu vừa
răn mấy anh lừng khừng nhát gan. Trong dịp nghỉ tết sau đó, anh cũng có trong số
hơn ba mươi học sinh sỹ quan ương bướng không chịu về trường, bị quân cảnh đến
từng nhà bắt giam rồi tống thẳng vào học trường Thủ Đức. Sắp ký Hiệp định, anh
về Hà Nội với lon Đại úy và cùng một số anh em khác ra Thường Tín liên hệ với
chúng tôi xin ở lại.
Anh vừa ra về thì có một đồng chí Đại úy
công an đến gặp tôi hỏi về chuyện ấy. Tôi giữ nguyên tắc những chuyện liên quan
đến chính trị phải nói có sự chứng kiến của những người có trách nhiệm. Tại Văn
phòng Đảng ủy trường, tôi trình bày một mạch hơn hai tiếng đồng hồ về bối cảnh
Hà Nội trong thời gian tạm chiếm và những hoạt động của bạn bè tôi trong phong trào.
Nghe xong, đồng chí công an không hỏi thêm gì nữa, cũng không yêu cầu tôi phải
viết giấy chứng nhận, vui vẻ bắt tay cảm ơn với lời giãi bày rất chân thành:
- Tôi từ miền Nam ra tập kết, không hiểu
gì về Hà Nội cả. Có nghe như vậy tôi mới vỡ ra và rất bổ ích cho tôi nhiều về
nghiệp vụ.
Khi anh về rồi, một đồng chí trong Đảng ủy
tiết lộ với tôi:
- Công an họ đi thẩm tra mấy nơi rồi nhưng
không ai dám chứng cho anh chàng Đại úy ngụy ấy cả vì ai cũng sợ liên lụy. Ông
đã cứu nguy cho bạn đấy!
Sau này anh Bội Tài là một thầy giáo dạy
giỏi có tiếng ở Thủ đô.
Trường
hợp của bạn Trịnh Thế Vinh cũng vậy. Hai chị em đều là đoàn viên Học sinh kháng
chiến hoạt động rất tích cực. Lúc bị bắt quân dịch, anh đến gặp tôi nằng nặc
đòi trốn ra ngòai hậu phương. Thương bạn nhưng tôi cũng bí, nói bốc lên:
- Tất cả đoàn viên Học sinh kháng chiến đều bỏ ra vùng tự do hết thì để lớp sỹ quan
ngụy cho ai lãnh đạo?
Anh
nghe theo, khăn gói đi Nam Định. Rồi cũng hăng hái đấu tranh và bị đẩy vào Thủ
Đức học truyền tin (Transmission). Lúc gần ký Hiệp định, anh từ miền Nam ra Bắc
tìm gặp chúng tôi. Chúng tôi phân tích tình hình, yêu cầu anh quay vào Nam hoạt
động nội tuyến. Lúc đầu anh khăng khăng không chịu. Nhưng nghe lời động viên,
anh chấp nhận, viết giấy cam kết để bảo lưu vào hồ sơ gốc. Nhưng khi vào Nam,
cô thượng sỹ truyền tin cùng đơn vị đã hớp hồn anh, hai người rủ nhau về Bắc
xây tổ ấm. Khi anh chị đưa nhau ra Hà Nội thì chúng tôi đã nhờ chị gái của anh
là Trịnh Thị An đi máy bay vào Sài Gòn mang theo một quyển sách có ghi các mật
khẩu, mật hiệu liên lạc tới nhà cơ sở để giao cho anh. Chị An đẹp người, hát
hay, là hoa khôi của trường Chu Văn An thời ấy. Chính chị hát phần lĩnh xướng
bài Trường ca sông Lô trong đêm văn nghệ đáng nhớ ở Nhà hát lớn năm ấy.
Chị quay ra Hà Nội thì cậu em đã ung dung ngồi ở nhà rồi. Coi như việc đánh
người của chúng tôi thất bại… Và bây giờ người ta nghi ngờ anh chị được đánh
ngược trở lại thì sao? Thật oái oăm. Tránh hổ mang lại gặp cá sấu! Anh dạy
học ở trường Chu Văn An vẫn luôn bị theo dõi, lại thêm cái gông gia đình tư sản
nên càng nặng nề. Đến nỗi ngày Thủ tướng về thăm trường cũ, anh bị nhà trường
yêu cầu vào ngồi trong lớp có học trò cờ đỏ đứng ngòai gác thầy! Anh kể
lại chuyện cũ nhiều lần vẫn không phai vị đắng:
- Tôi từng bị học trò giam lỏng!
Trường hợp này công an yêu cầu tôi viết giấy
chứng nhận chi tiết vì cả vợ chồng đều là sỹ quan và hạ sỹ quan thông tin. Ngay
chiều hôm ấy tôi qua phố Hàng Tre là nơi anh cư trú, đọc được trên tờ thông báo
của địa phương: Trịnh Thế Vinh, sỹ quan ngụy, quê ở Cự Đà, buộc phải về nông
thôn lao động cải tạo!
May là tờ giấy chứng nhận của tôi có giá
trị nên bạn tôi thóat cảnh long đong. Sau này anh là thầy giáo dạy lớp chuyên
tóan, có học sinh được giải trong kỳ thi quốc tế. Anh được phong danh hiệu Nhà
giáo ưu tú, cũng được đi làm chuyên gia giáo dục ở Algérie. Anh mất hơi sớm,
thời gian hưởng sự thanh nhàn chẳng bao lâu.
Ông Cự
Doanh là nhà doanh nghiệp gộc ở đất Hà thành. Ngày đầu kháng chiến, ông
tích cực tham gia đội tự vệ và bị tây bắt. Trong tù, ông bênh vực giúp đỡ bố
tôi vì thấy cảnh người già bị đày ải lòng ông không chịu được. Thời thành phố bị
quân Pháp chiếm đóng, nhiều nhà kinh doanh lớn là cơ sở nương náu của cán bộ và
là nguồn cung cấp hậu cần to lớn cho kháng chiến. Để chuẩn bị cho các lực lượng
vào tiếp quản thành phố, các bộ phận nội tuyến của ta đã vận động nhân dân nội
thành ủng hộ và được sự hưởng ứng nhiệt tình của họ. Cả nhà ông Cự Doanh không
ai theo vào Nam. Trái lại, ông bỏ vốn nhập nhiều máy thêu hiện đại để sau này
phát triển kinh doanh. Sau giải phóng, áo may ô Cự Doanh nổi tiếng một
thời. Chỉ vài năm sau, toàn bộ gia sản của ông nhập vào Công tư hợp doanh.
Cái tên Cự Doanh với lớp trẻ chỉ biết như một nhà tư sản lớn, bóc lột nhiều, cần
cải tạo.
Con trai ông là anh Trịnh Văn Cẩn bị động
viên và chạy được vào lính không quân. Khi giải phóng, anh là Hạ sỹ
trong bộ phận gọi là Psycho-Technique sắp sửa bị đưa đi cải tạo. Do có mối
quan hệ với các bạn đi học sỹ quan và yêu cầu công tác, tôi có thời gian tìm hiểu
tính chất của từng binh chủng trong tổ chức quân đội Pháp nên cùng anh Hùng Hậu
– một cán bộ hoạt động nội thành từng lãnh hai án tử hình của Tòa án binh Pháp
về tội phá hoại, sau giảm xuống tù chung thân, bị đày ra Côn Đảo, được trao trả
theo Hiệp định Genève, mát mặt một thời với cái ghế Phó Giám đốc một Sở lớn
nhưng rồi lãnh đạo không hợp với nhau, ông Phó bất mãn về vườn, hàng ngày cọc cạch
chiếc xe đạp chở đôi thùng đi gom nước gạo về nuôi lợn – bõ đời! Chúng tôi cùng
làm giấy xác minh cụ thể là Psycho-Technique khác Guerre-Psychologique
vì một đằng áp dụng tâm lý để lựa chọn khả năng thích ứng nghề nghiệp với một đằng
dùng các biện pháp tâm lý để phục vụ chiến tranh. Anh Cẩn vốn bị bệnh tim,
thoát được án đi cải tạo nên còn sống thêm được đến sau ngày nước nhà thống nhất.
Ngày
tôi đang hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên kháng chiến thành thì bị
lộ. Nhờ có ông Trần Văn Hiển lái xe tìm cách che mắt địch chở tôi thoát ra được
hậu phương. Ông người Nhật lai. Cha ông sang Việt Nam từ lâu, mở cửa hàng buôn
bán ở Hà Nội và lấy vợ người làng Nghĩa Chỉ – quê ngoại của tôi, nên hai nhà
quen nhau. Khi Nhật thua Đồng minh, cha mẹ và anh em ông đều theo về Nhật. Chỉ
có ông ở lại và lấy vợ nơi quê mẹ. Em vợ ông làm nghề lái xe nên dìu dắt anh rể
theo nghề. Mãi sau này chúng tôi mới suy đoán cha ông có lẽ là tình báo được
phái sang Việt Nam trước để dọn đường cho quân Nhật đổ vào Đông Dương. Khi chuyển
sang ngành quân báo, tôi vẫn dựa vào ông như một cơ sở nội thành. Ngày được lệnh
đánh người vào Nam, tôi đề nghị với trên cho điều ông đi cặp với tôi và
được chấp thuận với bí số của tôi là K030 và của ông là K031. Nhưng do có chuyện
bất thường vào giờ chót, tôi ở lại thì vợ chồng ông đã theo dòng người di cư xuống
Hải Phòng đi theo đường thủy. Khi nước nhà thống nhất, tôi vào Sài Gòn, ý tìm
những người xưa. Gặp người cùng huyện Tiên Du, biết được vợ ông đã vào chùa tu ở
dưới Vũng Tàu. Tôi tìm đến bà mới biết ông mắc bệnh lao và đã chết, để lại một
cô con gái học ở trường Luật. Cả hai mẹ con đều không biết gì về những việc ông
làm. Ngày ấy những người Bắc di cư còn bị định kiến khá nặng nề. Tôi báo cáo với
cơ quan gốc truy tìm hồ sơ tung tích và viết giấy xác nhận về ông. Cô con gái
có nhiệm sở, làm việc tốt, được kết nạp vào Đảng và được giao nhiệm vụ thẩm
phán ở một Tòa án Quận nội đô.
Thân phận những người lính yêu nước mặc áo
dân thường không ít cảnh thật trớ trêu.
Tuy
nhiên không phải trường hợp nào ý kiến của tôi cũng giải họa được cho tất cả
các bạn đâu. Có bạn vẫn bị đưa đi cách ly cải tạo, khi trở về vẫn chưa xóa được
sự nghi ngờ, vất vưởng bên lề cuộc sống đến lúc mãn đời chưa giải được nỗi oan.
Làm sao mọi sự khuất tất trong một đời người đều được minh giải thoả đáng? Chỉ
còn câu “số phận” để an ủi mình thôi! Tôi cũng có lúc tự an ủi mình như thế. Có
điều số phận là do trời định đành phải chịu thôi. Nhưng khi người ta định đoạt
số phận của nhau để mưu lợi cho mình lại nhân danh một mục tiêu cao cả thì chưa
biết cuộc đời sẽ biến đổi thế nào?!
Anh Tạ Dung Hải cũng là một sỹ quan Nam Định
chung số phận như nhiều anh em khác. Nhưng trước đó anh đã là nòng cốt tích cực,
được đồng chí V.Đ. là người trực tiếp phụ trách phong trào học sinh sinh viên
lúc đó kết nạp vào Đảng trong khi tôi mới chỉ là quần chúng thôi. Khi ra trường,
anh đeo lon Trung úy về đóng ở Hải Dương. Khi tôi vào thành hoạt động quân báo,
anh Lê Sỹ thay anh V.Đ. ở thành đoàn bàn giao anh Hải cho tôi. Anh làm ở tiểu
khu (secteur) Thanh Miện là vị trí quan trọng mà ta cần nắm. Tôi liên hệ với
anh để khai thác tình hình. Khi quân Pháp dồn dập bỏ đồng bằng Bắc bộ rút về Hà
Nội, tôi báo cáo tổ chức tiếp tục đưa anh tập kết ngược vào Nam nhưng
anh xin ở lại với lý do cưới vợ. Thật tình lúc đó tôi thất vọng vì anh là đảng
viên mà từ chối nhiệm vụ trong khi tôi chỉ là quần chúng lại động viên người
yêu của mình ra đi. Trường hợp này, đồng chí phó Ty Công an tới hỏi tôi. Tôi
nói đúng những gì tôi biết. Ít lâu sau, vẫn đồng chí phó Ty ấy tới hỏi lại tôi
xác định có đúng anh Hải là đảng viên không vì anh V.Đ. nói rằng không biết gì
về anh Hải và không kết nạp vào Đảng người nào có tên như thế. Tôi thật bất ngờ
vì lúc đang hoạt động phong trào học sinh, tôi biết chắc anh V.Đ. kết nạp anh Hải
và chị Thục Anh vào Đảng. Phải làm cho ra nhẽ. Tôi bàn với đồng chí công an :
- Tôi đang chữa bệnh cho con anh ta. Việc
điều anh ta tới nhà tôi rất dễ. Chúng tôi sẽ nói chuyện với nhau trong khi đồng
chí nằm trên giường của tôi ở ngăn sau kệ sách – Thời ấy chưa ai nghĩ tới có
máy ghi âm đâu.
Tôi và anh V.Đ. nói chuyện lan man. Tôi giải
thích cho anh về bệnh Sơ nhiễm lao của con anh không có gì bi quan như
thời 1951 anh bị lao phải chạy ra Thanh Hóa an dưỡng cả năm trời mà vẫn dây dưa
để lây sang cháu vì lúc đó chưa có thuốc Rimifon đặc trị. Hiện bệnh cháu
tiến triển tốt. Anh cảm ơn tôi. Vui chuyện, tôi nhắc về qúa khứ, thời hoạt động
học sinh, nhắc tới các bạn bè người đi người ở, người mất người còn. Tôi đá
sang chuyện thời ấy anh kết nạp Thục Anh vào Đảng rồi mê nàng luôn. Có lẽ vì thất
tình mà bệnh thêm nặng đấy! Chuyện tình cảm trai gái đã qua rồi chẳng có gì là
xấu. Anh say xưa kể về phong trào, kể luôn cả chuyện anh kết nạp Tạ Dung Hải
vào Đảng ở Hồ Tây nữa. Tôi cố tình nói to lên để anh yên tâm nhà chẳng có ai
ngòai hai đứa chúng tôi:
- Tại sao công an hỏi cậu lại nói không biết
gì về Dung Hải?
Bị bất ngờ, anh ta hơi lúng túng đành nói
thật ra
- Trường hợp này gay lắm, cậu không biết
đâu. Hải nó về làm sixième bureau (Phòng sáu: Bộ phận chiến tranh tâm lý cũng
thuộc Phòng Nhì) ở secteur (tiểu khu) Thanh Miện!
Thế là rõ. Anh ta sợ liên lụy nên bỏ bạn!
Cảm ơn tôi ra về, đồng chí Phó ty chia sẻ:
- Đảng ta có những cán bộ loại này thì
nguy hiểm qúa !
Đó chỉ là những cơn gió lạ lúc đầu thôi vì
thời ấy, những người tâm huyết còn nhiều. Nhưng rồi tâm huyết mà không được
nuôi dưỡng bồi bổ mãi cũng phai nhạt dần đi. Đến lúc những kẻ cơ hội thành người
đắc thắng thì niềm tin vào những người chính trực của lớp hậu sinh chỉ là sự
hão huyền như tin vào chụyện thực ít hư nhiều về thầy trò Tam Tạng thỉnh kinh. Con
hơn cha là nhà có phúc. Nếu lớp con em từ chối cha anh vì sự kém cỏi và trì
trệ là cái phúc đang đến với ta. Nhưng nếu chúng quay lưng lại với tiền nhân vì
sự đam mê thực dụng là cái họa chúng đang rước lấy.
Sự phản
trắc bước đầu từ bội nghĩa dẫn tới phụ tình rồi sẽ phụ tất cả. Tôi từng chứng
kiến không chỉ một lần sự bội bạc ấy. Khi lòng ham muốn trong con người đã biến
thành lòng tham vị kỷ thì cái tâm ác lắm. Nó không từ một hành động nào với bất
kỳ ai.
Người Chủ nhiệm Khoa của tôi thuộc lứa bác
sỹ đầu tiên của nhà nước Việt Nam độc lập, tham gia kháng chiến từ những ngày đầu
khói lửa, từng được ưu ái cho đi du học ở Liên Xô. Trở về với học vị Phó tiến
sỹ lúc đó là ghê gớm lắm. Lại là đảng viên, càng được trên tin dưới trọng.
Những nết xấu dễ được người ta xuê xoa khoan nhượng bằng cụm từ thiếu xót
trong sinh hoạt. Có nghĩa anh ta vẫn là người trung thành với Đảng và chế độ
– Đó là tiêu chuẩn số một của đạo đức giai cấp để đặt niềm tin và giao việc cho
ai.
Tôi tuổi đời, tuổi nghề thuộc lớp đàn em
nhưng cũng là một cán bộ kháng chiến nên có sự tin cậy hợp tác với nhau. Vợ anh
là nữ hộ sinh, lấy nhau trong kháng chiến. Vướng hai con nhỏ, chị phải vào
thành nhưng vẫn đợi anh… Một hôm anh gọi tôi đến nhờ khám bệnh cho vợ anh. Cháu
nhỏ mới sinh ba tháng. Chị nằm lơ mơ, đau bụng, rối loạn tiêu hóa. Cảm thấy
chân tay chị lạnh ngắt, mạch nảy nhanh và nhẹ. Tôi muốn đo huyết áp nhưng anh bảo
ở nhà không có máy. Cùng trong giới chuyên môn cả, tôi chỉ biết khuyên anh đưa
chị vào viện thôi. Anh cảm ơn với lý do nhà neo đơn, cháu nhỏ, để xem tiến triển
ra sao đã. Tôi quay ra, chợt thấy chiếc máy đo huyết áp trong góc tủ… Cảm giác
có chuyện gì khác lạ. Sáng hôm sau, đang giảng bài, tôi nhận được tin báo chị N
– vợ anh đã được đưa vào… nhà xác! Tôi lập tức xuống thăm. Thấy có những hiện
tượng bất thường: Anh yêu cầu được an táng sớm vì nghi vợ bị thương hàn nhiều
khả năng lây nhiễm! Bạn anh là Trưởng khoa Giải phẫu bệnh nên cũng đồng tình mà
không cần khám nghiệm tử thi. Nhưng sau cái chết ấy có sự xầm xì… Một cô giữ
hóa chất của phòng xét nghiệm tỏ ra lo lắng vì đã cung cấp cho anh hai gram arsénic
(thạch tín) ngòai qui tắc xuất hàng độc dược với lý do để anh nghiên cứu. Cô chạy
tới hỏi ý kiến tôi. Sự việc đã thế chỉ có cách báo cáo thực với lãnh đạo thôi.
Bên Công an phân vân vì đối tượng là một trí thức có học vị cao lại là đảng
viên, cần tránh tai tiếng oan tình. Lúc đó bên Công an chưa có bộ phận nghiên cứu
khoa học hình sự tầm cỡ như bây giờ đâu. Mọi vấn đề liên quan đến pháp y đều dựa
vào bộ phận pháp y của các bệnh viện và trường Đại học trong khi sự nghi vấn
này lại liên quan tới một cán bộ có uy tín trong ngành. Chuyện đơn giản thôi.
Chỉ cần khai quật tử thi lấy mẫu bệnh phẩm mọi sự rõ ràng ngay. Nhưng lại có dư
luận tung ra là anh đang có công trình nghiên cứu bệnh thương hàn ở trẻ con. Nếu
vợ anh chết vì bệnh ấy càng làm cho anh đau khổ hơn và khả năng lây nhiễm cho
những người thi hành công vụ chưa biết thế nào. Do có nhiều mối quan hệ với bên
Công an từ thời kháng chiến, được các anh tin tưởng nên có việc gì liên quan tới
nghiệp vụ hoặc người trong ngành y là các anh thường tham khảo ý kiến của tôi. Không
có cách nào khác ngòai việc phải khai quật tử thi để mọi sự tỏ tường. Dường như
anh chột dạ. Sau khi chị chết, chủ nhật nào anh cũng xuống nghĩa trang viếng vợ
và khi ra về anh đều như vô tình đặt vài viên gạch ở nơi nào đó bên mồ. Thừa dịp
Bộ Y tế điều mấy vị đầu ngành Nhi – Sản lên Tây Bắc kiểm tra công tác Bảo vệ
bà mẹ và trẻ em, người ta đã cho đào một hố sâu cách đầu mộ vài mét, từ đó
đào ngách vào nơi an táng, lôi quan tài ra thực hành việc điều tra khám nghiệm
tử thi. Sau đó lại trả về nơi mộ cũ mà các dấu vết bên trên hòan tòan được giữ
y nguyên. Mấy tuần sau trở về, việc đầu tiên là anh xuống thăm mộ vợ, lại lặng
lẽ ra về!
Tòa án tuyên phạt anh 20 năm tù giam vì tội
đầu độc vợ – Phúc thống lại phục nhân ngôn (arsénic) sao không tắc tử!
Bởi xét nhiều yếu tố khoan dung trong đó có nêu những khiếm khuyết của người bị
hại khiến bị can bức xúc làm điều mù quáng! Người có lương tâm không thể vui
khi một can phạm dù chỉ bị gia thêm hạn một ngày tù – Nhất nhật tại tù thiên
thu tại ngoại! Nhưng một ngày ta một vỡ ra: Cán cân công lý thời nào cũng
ngả nghiêng bởi quan tòa chỉ là điểm tựa mà cánh tay đòn hai bên là những thế lực
chi phối xã hội luôn luôn lúc ngắn lúc dài!
Chuyện
phụ tình già trẻ mỗi người một kiểu…
Một ông cấp Vụ trưởng có hai cô con gái rượu.
Cô chị Bác sỹ đã có một tổ ấm yên vui. Cô em Kỹ sư được một chàng trai xứ Nghệ
học giỏi đẹp trai đeo đuổi. Kể ra về sắc-tài thì cán cân lệch về chàng trai trẻ.
Nhưng về thế-quyền thì bàn cân bên cô gái nặng hơn. Duyên nồng bén rễ. Nhờ uy
tín của nhạc gia mà anh con rể có chỗ làm lý tưởng và được tổ chức quan tâm.
Chàng kỹ sư trẻ tuổi được ưu ái xuất dương qua Tiệp. Sau ba năm miệt mài đèn
sách, chàng trở về với tấm bằng đỏ Phó tiến sỹ trong tay. Vinh thê vững
ghế. Chàng rể khéo ở khéo ăn càng có cơ thăng tiến. Nhưng ba năm rồi vợ chồng vẫn
lẻ loi âm thầm kín đáo. Ông Vụ trưởng về hưu cáng nặng lòng thương con gái. Bỗng
một hôm vợ ông tái mặt tưởng như nghẹt thở đưa cho chồng xem tờ phán quyết
ly hôn của cô con gái kỹ sư với lý do chàng rể Phó tiến sỹ mà… bất lực!
Đời thật oái oăm! Ông thương con gái đã đành, cũng chạnh lòng thương thằng con
trai tốt dây thối củ! Chàng rể vui vẻ từ biệt ngôi nhà một thời
là tổ ấm, côi cút về ở tập thể cơ quan. Con gái ông trầm cảm! Nhưng chỉ nửa năm
thôi, ông bà hay tin thằng trời đánh kia cưới một cô kỹ sư trẻ đẹp cùng học với
nó ở Prague mấy năm xa vợ. Có người bênh bảo nó tìm được thầy lang miền ngược
có món thuốc gia truyền bí hiểm. Cô kỹ sư võ vàng cay đắng lỡ ăn phải quả lừa để
tan nát một đời hoa! Ông bà ngậm ngùi nuốt cục hận mà nó không trôi! Bà than thở
nỗi lòng kín đáo cùng chồng: Thời các cụ mình, người ta ghét nhau thường rủa một
câu thật độc: “Cho thằng xứ Nghệ vào nhà mày”! Một đứa đã tan nhà nát cửa
mà nỗi ghét cứ nhân lên theo số lượng hai, ba, bốn… thằng cho bõ! Ngày ấy tôi
đã bảo rằng đừng thì cha con ông hấm hứ cho là tôi lạc hậu. Bưng vào rồi bây giờ
mới thấm!
Tôi lại nhớ lời của bố: Chữ nhiều mà bất
nghĩa càng tệ hại hơn là vô học!
Có là sự ngẫu nhiên không khi người xưa lấy
biểu tượng tình yêu là chú bé mù có cánh, cung tên sẵn trên tay, bay lang thang
nhởn nhơ đây đó, vui buồn buông bật dây cung, mũi tên kia trúng ai nấy chịu!
Chẳng lẽ tình yêu là nỗi oan trái không
may người đời phải nhận ?

No comments:
Post a Comment