HÀ NỘI BỂ DÂU - CHUYỆN NGƯỜI NGHỆ SỸ


   Tưởng nhớ một trí thức tài năng, tâm huyết,                               trọn đời dấn thân vì Chân–Thiện–Mỹ   
                                                 {

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946.
Quân Pháp cấm trại 100%.
Thành phố yên ắng lạ. Đâu đó vẫn vang lên tiếng đục phá tường quen thuộc. Từng tốp nhỏ đồng bào tản cư vừa đi vừa nháo nhác nhìn lại ngôi nhà, đường phố của mình. Từng toán vệ quốc quân gọn gàng tề chỉnh với súng trường, bom ba càng, mã tấu… trong đội ngũ hành quân lầm lũi vội vã đi vào giữa lòng thành phố. Loáng thoáng từng tốp tự vệ đi kiểm tra đứng chặn từng ngã tư đường, đầu ngõ hẻm canh phòng bọn lưu manh lợi dụng cơ hội này vào các nhà vắng chủ khua khoắng.
Một ngày qua đi thật nặng nề căng thẳng, hệt như ngày lặng gió trước cơn giông. Ngột ngạt, bức bối, hồi hộp đợi chờ nhưng lại bồn chồn lo lắng rồi điều gì sẽ đến.
Trời vừa tối, tại ngôi nhà trụ sở, anh đội trưởng tự vệ trải tấm bản đồ vẽ tay sơ sài trên tấm phản giữa nhà, mọi người vừa chụm lại thì cùng lúc đèn phụt tắt. Bóng tối ào chụp xuống trong khi mặt đất rung lên bởi những tiếng nổ. Ngoài trời chớp lóe những ánh lửa đạn đỏ rực lên, loáng trên tường thấy rõ hai chiếc kim đồng hồ chỉ qua con số 8 và gần con số 1: 8 giờ 4 phút ! Mọi người chạy túa ra cùng với những tiếng reo hò vang lên tứ bề:
- Nổ súng rồi!
- Đánh rồi!
- Phá được nhà Máy Đèn rồi!
Trên không, những viên đạn pháo lừng lững vạch những đường đỏ trên nền trời đen kịt từ bốn phía hướng vào thành phố. Những tiếng reo to sung sướng:
- Pháo ta từ phía Láng, Xuân Canh, Nhật Tảo, Thổ Khối nã vào Thành và cầu Long Biên!
- Mọi người tản khai ngay về vị trí đề phòng nó phản pháo.
Từ đâu đó còn phát ra những tiếng la thét của đàn bà, tiếng khóc của trẻ con, tiếng gọi nhau í ới thất thanh. Anh đội trưởng tự vệ lầm bầm:
- Vẫn còn nhiều người kẹt lại!
Đoành! Đoành!…Đoành! Đoành!
Cùng lúc với những tiếng nổ chát chúa là khói bụi mịt mù, tiếng mái ngói sập đổ rào rào, đất đá văng tung toé cùng với tiếng răng rắc của những cành cây gẫy… Tiếng ai đó quát lên như ra lệnh:
- Moọc chi ê từ Đồn Thủy bắn ra! Hãy bình tĩnh trong hầm trú ẩn.
Khoảnh khắc im lặng kéo dài. Bỗng bật lên tiếng thét xé ruột:
- Ối trời đất ơi… Anh Năm tôi… chết rồi!
Tiếng chân người dồn dập chạy ra.
Cô Thêm đầu tóc rũ rượi, nước mắt đầm đìa, ôm xác người anh gào lên thống thiết:
- Ối anh Năm ơi… làm sao bây giờ?
Mọi người xúm xít bên thi thể một chiến sỹ tự vệ trên mình còn đẫm máu. Cô em rũ người xuống, gục vào vai người bên nức nở. Anh Năm là chiến sỹ của đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu mới được bổ sung vào Ban chỉ huy đội tự vệ chiến đấu ở Tiểu khu này. Cô Thêm là em út, học sinh trường áo tím rất hăng hái tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc và cứ nằng nặc đòi ở lại làm nhiệm vụ tiếp tế cho anh em chiến đấu bảo vệ Thủ đô…   
Sáng hôm sau, tờ Thư kêu gọi đồng bào toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch được phân phát tới từng đơn vị. Anh đội trưởng trang nghiêm xúc động đọc to lên, từng lời rõ ràng mạch lạc:
“… Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ !
Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.
Mọi người phân ra từng bộ phận bàn công việc với ý thức kỷ luật chặt chẽ.
Bây giờ số người còn ẩn khuất trong các nhà dân mới thật sự tin là chiến tranh đã đến rồi. Họ hoảng hốt, lo sợ, đùm đề lếch thếch kéo nhau chạy ra hướng cửa ô. Tiếng la hét thất thanh. Lớn bé, già trẻ nhớn nhác, mếu máo, kêu khóc ầm ĩ, loanh quanh luẩn quẩn không biết chạy đi đâu.
Anh em tự vệ chạy tới lui kêu gom bà con lại, sẽ có người chỉ dẫn đường hướng di tản về đâu. Ủy ban Kháng chiến tiểu khu nhận định lúc này địch còn vướng chân trong thành phố chưa bung ra được, phải kịp thời cử người dẫn dắt đồng bào tản cư về hậu phương an toàn. Phải khó khăn lắm vừa động viên vừa dỗ ngọt cô Thêm mới chịu nhận. Cô học sinh trường áo tím chưa qua nỗi đau thảng thốt vừa mất người anh ruột dẫn dắt cô bước vào con đường tranh đấu. Ông phó cạo từ đâu chạy đến níu tay cô, rì rầm bên tai:
- Cho gửi theo nhà tôi và mấy cháu! Vợ con tôi quen lam lũ nên bỏ đằng nào cũng chẳng chịu chết đâu. Tôi ở lại còn được khối việc. Cụ Hồ bảo kháng chiến trường kỳ thì không thể để anh em mình thành người rừng được! 
Ông đằm thắm nhìn vợ, tay xách thùng đồ nghề, tay nương bốn đứa con:
- Nhớ nghe lời đẻ nhé, đứa lớn ráng giúp mẹ, trông em. Có người có ta, đi đâu cũng đất nước mình cả thôi. Cụ Hồ bảo kháng chiến nhất định thành công, nước nhà nhất định độc lập mà!
Nhìn đoàn người nheo nhóc lôi thôi này, họ đi không nỡ, ở không đành. Ngày mai xa nơi bom đạn hiểm nguy nhưng họ sống bằng gì? Cái chết của người anh vẫn để lại trong lòng cô Thêm cảm giác bàng hoàng. Lúc triển khai kế hoạch tác chiến, hai anh em cùng đứng bên nhau, vậy mà chỉ một thoáng qua, anh đã thành người thiên cổ và cô là người thân thiết ruột già duy nhất tẩn liệm người anh chiến sỹ trong một chiếc chăn chiên lại thêm chiếc chiếu bên ngoài, đặt xuống cái huyệt đào vội vã ngay tại bãi trống sau nhà trong một ngày cuối năm lạnh giá. Lòng cô gái ngổn ngang trăm mối…         
Đám người này quê quán tứ phương, phần lớn họ xa xứ lâu rồi và ít quan hệ với quê hương bản quán nên cứ nấn ná chần chờ. Bây giờ nước đến chân rồi, không biết nhẩy về đâu và họ ao ước có được một nơi nương dựa thâm tình. Họ đã đi không định hướng suốt ngày đêm trong cái giá lạnh căm căm của những ngày cuối năm. Buổi sáng tạm dừng chân, hỏi ra mới biết họ đã đi sâu vào địa phận tỉnh Hà Đông. Mới thế thôi mà nhìn ai nấy đã thấy xơ xác hoang mang, trên những nét mặt hốc hác hằn sâu nét sợ hãi lo âu.
Làng xóm nào cũng chen chúc đồng bào tản cư, ngổn ngang đồ đạc. Các cơ quan di chuyển cồng kềnh những công cụ tác nghiệp. Người ta run rẩy rủ nhau ra các giếng nước, ao, hồ tạm gột đi những bụi bẩn của cuộc hành trình đường xa vội vã nhưng nước giá buốt làm cho họ lạnh cóng và cơn đói rét dội lên, hai hàm răng dập vào nhau lập cập, họ co ro cúm rúm chụm lại với nhau và chen vào các nhà trống vắng tìm nơi trú ẩn. Bà vợ ông phó cạo kiếm đâu ra đôi quang gánh, đặt hai đứa bé con ngồi trong hai cái thúng. Con chị tí tởn cười như nắc nẻ. Thằng bé trai hí hửng ôm thêm con chó. Chúng tùm hum trong hai mảnh chăn mỏng, lộ ra bộ mặt tái xanh với đôi môi tím ngắt nhưng đôi mắt mở to vừa tinh nghịch vừa thích thú nhìn mọi sự đang diễn ra thật lạ lùng. Hai đứa lớn lếch thếch lôi thôi lẵng nhẵng chiếc bị và tay nải.
Ngôi nhà ngói năm gian đã thành chật chội. Trong nhà chen chúc những người, từng tốp người chụm lại che chắn cho nhau trên cái sân gạch hun hút gió. Dưới gốc cây mít ở đầu hồi, chiếc đàn dương cầm của khách tản cư đặt chênh vênh trống trải dường như chủ nhân nửa không thiết tha gì nửa vẫn còn lưu luyến nó. Bên ánh lửa của cây đèn bão chỉ còn là một đốm vàng mờ nhạt dưới ánh sáng ban mai lờ mờ, một chàng trai trẻ dáng cao thanh nhã, áo quần phong sương, đôi mắt to đen thâm quầng, bộ râu quai nón lởm chởm, mái tóc xoăn rủ xuống trên những phím đàn, anh mải mê cắm cúi như là quên hết mọi sự chung quanh, ngay cả cái tê giá của buổi sớm mùa đông bên khu vườn trống trải cũng không bén đến những ngón tay anh đang nhấn lướt lúc uyển chuyển mềm mại, lúc ào ào mạnh mẽ và từ dưới những ngón tay ấy bật lên những nốt nhạc réo rắt thiết tha hùng tráng cùng hòa với tiếng lòng anh trầm bổng…
Cô Thêm nhận ra người quen, chạy tới bên, tay đặt lên vai và đầu cô gục trên vai kia của người nghệ sỹ:
- Anh Thi… Anh Thi… Anh Năm em…
Nghệ sỹ ngước mặt lên mà các ngón tay anh vẫn như nhịp sóng lượn trên các phím đàn chưa dứt mạch cảm hứng trào dâng… Tiếng khóc nghẹn ngào nức nở hòa trong tiếng đàn cùng với cảm giác nóng ướt một bờ vai. Nghệ sỹ định thần nhìn lại và nhận ra người em gái bạn mình. Anh thõng xuôi hai tay, nhìn cô gái, giọng đầy cảm xúc:
- Em… Sao?!
- Anh còn ngồi chơi nhạc đây mà anh em thì…
Cảm nhận thêm lại một điều đau đớn đã xảy ra, anh bần thần đứng lên, ngước mắt đau đáu nhìn những cuộn khói đang ngùn ngụt  bốc lên và tản vào bầu trời đông xám xịt. Nắm tay người em gái đang nén chịu nỗi đau, chỉ lên bầu trời, môi anh mím chặt hồi lâu mới gặng được câu:
- Hà Nội đang bốc cháy!                  
Mọi người lòng quặn thắt nhìn theo mắt anh…
Không mấy ai biết đấy là một chiến sỹ cách mạng đầy nhiệt huyết, một nghệ sỹ tài hoa. Khi còn học trường Bưởi, anh từng bị bắt giam vì hoạt động tích cực trong phong trào học sinh yêu nước và đã được người thầy danh tiếng là giáo sư Nguyễn Mạnh Tường trực tiếp gặp viên Thống sứ Pháp bảo lãnh người học trò xuất sắc mà ông hy vọng sẽ là nhân tài của đất nước sau này. Khi là một sinh viên trường Luật, người trí thức trẻ ấy sôi nổi dấn thân vào con đường tranh đấu với trái tim khao khát tự do. Anh từng bị giam cầm trong ngục thất Hỏa Lò khét tiếng và bây giờ anh là người đại biểu trẻ tuổi nhất trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong sự xúc cảm đột khởi trước biến cố hùng vĩ của lịch sử, thay mặt những chứng nhân anh đang tạo nên bản nhạc bất hủ về nơi lắng hồn núi sông ngàn năm.
Trong mưa phùn gió bấc, anh em chia tay mỗi người một nẻo chưa biết về đâu. Nghệ sỹ mở cuốn sổ tay lấy ra một tờ giấy nhỏ đặt vào lòng tay người em gái, nói thay lòng mình.                 
Trên con đường vô định, một lúc dừng chân, cô Thêm ngậm ngùi kín đáo mở ra tờ giấy có ghi một bài thơ:
                            
                             KHÔNG NÓI
                                *********
Dừng chân trong mưa bay
Liếp nhà ai ánh lửa
Yên lặng đứng trước nhau
Em, em nhìn đi đâu?
Em, sao em không nói?

Mưa rơi ướt mái đầu
Mỗi đứa một khăn gói
Ngày nào lần gặp sau?
Ngập ngừng không dám hỏi
Chuyến này chắc lại lâu!

Đoàn thể gọi…
Chiều mờ gió hút
Nào, đồng chí  – bắt tay
Em…
        bóng nhỏ…
                            đường lầy!

Thời gian thấm thoắt thoi đưa quên ngày, quên tháng, cuốn hút bao nhiêu con người vào cuộc trường chinh kỳ vỹ…
Dường như đối phương đã đánh hơi thấy bộ đội ta kéo quân lên Tây Bắc nên  những tuyến đường chính đều bị máy bay thả bom phá, bom cháy, bom nổ chậm… Khúc đường vượt qua sông Đà bộ đội công binh làm phà trong đêm trời rét căm căm mà anh em vẫn xoay trần đầm mình dưới nước. Ngước nhìn lên đèo dốc ngoằn ngoèo, những ngọn đuốc bập bùng đỏ rực trên triền núi: công binh và thanh niên xung phong đang bạt rừng xẻ núi mở đường kéo pháo. Bộ đội với dân công cùng đi trên một con đường. Bộ đội vừa đi vừa hát:Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa / Suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua bộ đội ta vâng lệnh cha già / Về đây giải phóng quê nhà / Đất nước miền Tây Bắc, đau thương từ bao lâu / Dưới ách loài giặc tàn ác / Quân với dân một lòng không phân biệt suôi ngược / Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù”...
Tiếng hát vang vào vách núi dội lại nghe lòng nao nao. Đoàn quân đi trùng trùng rung lá ngụy trang trông oai hùng biết mấy. Trong khi đoàn dân công lặc lè ậm ạch, người gò lưng gùi hàng, người lệch vai vác nặng, người gồng tay xoải chân gân cổ đẩy chiếc xe kềnh càng lên dốc. Những con dốc dài trâu đi còn muốn khóc. Anh dân công đứng nghỉ ở lưng chừng dốc hổn hà hổn hển còn cố thở than với bạn:
- Người ta bảo: Ngày xưa ai ngược Sơn La / Đường thủy đường bộ những ba mươi ngày / Lưng đèo trắng xoá mây bay / Ngựa đi ba ngày chưa đến đỉnh non Đi một chuyến này về nhà bu cháu tịt… mấy lứa đẻ!
Mùi khét lẹt của bom cháy âm ỉ làm ai nấy muốn nghẹt thở không thể cười lên được. Đoàn bộ đội dẻo chân nhẹ vai băng băng vượt qua quay lại động viên:
- Cố lên nào… anh chị em ơi!          
Mấy cô dân công nhao nhao lên:
- Anh bộ đội ơi! Đánh thắng nhé… Chúng em chờ.
Mấy anh dân công thấy thế lại ganh:                     
- Mình kè kè suốt ngày đêm mà chẳng được nghe một câu ngọt ngào. Con gái thấy bộ đội là mắt la mày lét!
Mấy anh bộ đội nghe được còn chọc tức thêm:
- Ba năm du kích nằm kề… Không bằng chủ lực nó về một đêm!
Một giọng nữ nói vuốt lòng cả hai bên:
- Một đêm đã nước non chi… Con gà vội gáy… đã mần gì đâu anh!
Cả bộ đội và dân công hồn nhiên cười thoải mái.

Quả đồi Him Lam (Béatrice) là tiền đồn vững chắc ở hướng đông bắc cứ điểm Điện Biên Phủ. Trung đoàn Sông Lô (209), đại đoàn Chiến thắng (312) nhận nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn đánh chiếm vị trí tiền tiêu này. Tiểu đoàn 1 làm chủ công. Trong căn hầm tiểu đoàn bộ, tiểu đoàn trưởng Thiết Cương đang lúi húi trên tấm bản đồ rà soát mũi tiến công để nổ phát súng đầu tiên của chiến dịch với tinh thần đã đánh là phải thắng. Chuông điện thoại réo vang, chiến sỹ thông tin tay đưa chiếc bộ đàm, miệng lắp bắp:
- Báo cáo có điện khẩn từ chỉ huy sở tiền phương.
Tiểu đoàn trưởng giật máy đưa sát vào tai, liên tục trả lời:
- Báo cáo… Tôi… tiểu đoàn trưởng… chờ lệnh…
- Báo cáo… chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Đình Thi đang ở ngoài chiến hào kiểm tra, động viên bộ đội đào công sự…
- Báo cáo rõ! Tuân lệnh!
Anh trả máy lại, hối hả giục:
- Ra tiền tiêu gọi chính trị viên về ngay nhận lệnh khẩn!
Chiến sỹ trinh sát túc trực ngoài cửa hầm ôm khẩu AK47 chạy vọt đi. Tiểu đoàn trưởng lo lắng lầu bầu:
- Tưởng đánh… lại dừng! Kéo pháo vào lại kéo pháo ra… Chuyển phương hướng tấn công… Hố, hào cứ suốt đêm đào ngày ngủ chẳng yên, ầm ĩ những tiếng pháo, tiếng máy bay thả dù, trinh sát… Bộ đội mệt muốn đứt hơi! Lệnh nổ súng còn sức đâu mà xung phong phá rào chiếm lĩnh!
Một người tuổi trung niên dáng cao dong dỏng bước vội vào hầm. Tiểu đoàn trưởng nói nhanh với người đồng cấp:
- Anh Thi… Bộ tư lệnh mặt trận gọi về gấp! Chả hiểu có chuyện gì? Hết «đánh nhanh, thắng nhanh», rồi «đánh chắc, thắng chắc»… Giờ lại gì nữa đây?
Chính trị viên từ tốn:
- Cứ tin tưởng ở trên, tôi đi ngay để kịp sớm quay lại với anh em!
Anh vào góc hầm xách chiếc ba lô nhẹ tênh khoác lên vai, chân bước ra miệng nói:
- Tinh thần bộ đội quyết tâm cao nên tâm trạng rất nôn nóng!
Tiểu đoàn trưởng đưa mắt nhìn chiến sỹ liên lạc đang đứng nghiêm chờ lệnh. Chính trị viên vỗ vai người lính, mắt nhìn bạn đứng sâu trong hầm tối:
- Đồng chí Tiểu đoàn trưởng, đường về tôi biết, đi một mình càng nhanh. Tôi sẽ về kịp trước giờ nổ súng!
Chân anh bước sải ra khỏi hầm chen ngay vào con đường chiến hào bộ đội đang xuôi ngược. Mặt trời khuất sau những dặng núi, dưới thung lũng chỉ thấy bóng người hối hả và tiếng súng chạm nhau lách cách.
Con đường rừng chìm trong bóng đêm lúc càng sẫm lại. Càng đi bóng người càng thưa, người về loáng thoáng, người ra tuyến trước thì nhiều. Người xuôi kẻ ngược cập rập như ma đuổi. Thỉnh thoảng có bóng người lạch bạch chạy vọt qua chính trị viên mặc dù sải chân anh đã dài mà còn bước đi vội vã.
Mặt trời lấp ló ở đồi phía đông thì Nguyễn Đình Thi về đến căn cứ Bộ tư lệnh tiền phương. Cán bộ trạm tiếp đón nhận ra anh, nói:
- Các thủ trưởng vừa vào họp, chắc chờ cũng lâu. Anh xuống lán phía dưới nghỉ tạm. Cơm nước có cấp dưỡng lo. Chừng nào thủ trưởng họp xong tôi sẽ báo cáo, thủ trưởng hẹn gặp tôi sẽ báo anh.
Nhìn người «khách» quen, anh mỉm cười nháy mắt:
- Có bài gì mới, kỷ niệm anh em đọc cho khí thế!
Khom mình chui vào lán, nhà thơ-nhà văn chiến sỹ tháo bi đông nước tớp một hơi, đặt ba lô xuống làm gối lăn kềnh ra đánh liền một giấc… Cảm giác có người lay mạnh dưới chân, anh giật phắt mình ngồi ngay dậy. Dưới thung nắng chói lòa, trong lều, mấy bóng nắng lọt qua những tán lá lung linh, anh cười thân thiện. Người cấp dưỡng đưa anh gói cơm bọc trong lá chuối rừng tươi lẫn ít muối vừng. Nghệ sỹ ngồi trên nệm lá, xúc miệng xùng xục rồi nuốt luôn vào bụng cũng là cách tiết kiệm từng giọt nước. Anh bẻ nắm cơm, chấm muối vừng, nhẩn nha từng miếng ngon lành…
Anh cán bộ trực ban chạy xuống báo:
- Thủ trưởng cho gọi anh lên!
 Nhà văn bật dậy, khoác ba lô, chỉnh chiếc nón nan có lá ngụy trang cho ngay ngắn và chân đi những bước dài mau lẹ, còn nghe lời dặn với :
- Thủ trưởng mấy hôm nay đau đầu. Bác sỹ dặn cần gì thì nói nhanh, rút lẹ!
Trong căn hầm khá rộng, ánh sáng được tăng cường bằng mấy cây đèn điện ắc quy. Quanh chiếc bàn tre dài chừng hơn chục người nói cười và làm những động tác thư giãn nhẹ. Đại tướng, vẻ mệt, quay lại, nét mặt hơi xanh, đầu cuốn giải lá thuốc nam, vẫn nụ cười tươi rất hiền, hỏi trước:
- Thi tới lâu chưa? – Ông đưa tay ra hiệu đón.
 Nhà văn dừng lại, thẳng người, giơ tay chào, nghiêm chỉnh:
- Báo cáo Đại tướng… Tôi, Nguyễn Đình Thi – Chính trị viên tiểu đoàn 1, trung đoàn 209, đại đoàn 312 có mặt!
Đại tướng thân mật vẫy nhà văn lại:
- Thôi được, đủ rồi… Người nhà cả đấy!
Đây không phải lần đầu hai người mới gặp nhau. Từ ngày anh sinh viên nổi tiếng tài hoa, sôi nổi, tâm huyết thường đến nhà thầy Đặng Thai Mai, từng gặp bạn thầy là giáo sư dạy sử Võ Nguyên Giáp ở đấy, họ biết nhau có hoạt động trong đoàn thể, và đồng cảm quý mến nể trọng nhau. Ông quay qua giới thiệu với các đồng sự:
- Người này nhiều anh đã biết. Ai chưa từng quen thì cũng đã nghe danh. Nếu đất nước ta không xảy ra sự cố bất thường thì tương lai hy vọng lắm. Tài hoa, hăng hái, nhiệt tâm và từng có lúc được nhà nước bảo hộ mời vào Hỏa Lò nghỉ mát… – Ông cười nhìn chính ủy Trần Độ: Nhị vị có biết nhau không?
Và khoát tay rộng ra, ông chỉ những người ngồi theo từng nhóm:
- Các anh Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Lê Trọng Nghĩa, Đặng Kim Giang trong Bộ chỉ huy mặt trận. Các anh chỉ huy cánh: Vương Thừa Vũ, Song Hào 308 (Quân Tiên phong); Lê Trọng Tấn, Trần Độ 312 (Chiến thắng); Hoàng Minh Thảo, Lê Chưởng 304 (Vinh quang); Lê Quảng Ba, Chu Huy Mân 316 (Bông Lau) và Đào Văn Trường, Phạm Ngọc Mậu 351 (Công pháo) – Đây chính là cú đòn hiểm bất ngờ nhất giáng lên đầu Cogny và Navarre đấy!
Quay lại phía nhà thơ, nét mặt ông tươi lên hồ hởi:
- Người này đa tài: thơ, văn, nhạc, hùng biện… đủ cả. Nhưng còn một tài chắc là các anh chưa biết.
Ông đặt tay thân mật lên vai người bạn trẻ:
- Anh ấy hát không thua ca sỹ… Để giải tỏa căng thẳng trước khi bước vào chiến đấu, Thi hát tại đây cho anh em nghe đi! Bài gì nhỉ? – Tay gõ lên trán rồi ông bật ra: A… bài «Người Hà Nội»! Những người ngồi đây phần lớn không sinh ra tại Hà Nội nhưng đều có duyên nợ với Hà Nội nặng lắm đấy!
Tuân lệnh, nhạc sỹ đặt ba lô sát tường, chọn tư thế đứng:
- Thưa… hát không đàn! Bài này tôi sáng tác ngày chúng ta ra đi để lại kinh thành nghi ngút cháy sau lưng mà lòng ai cũng quặn thắt nỗi đau nhưng quyết hẹn ngày về… Lướt nhìn từng người, anh cất giọng gửi gắm lòng mình:  
Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây / Đây lắng hồn núi sông ngàn năm / Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu! / Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời / Hà Nội hồng ầm ầm rung / Hà Nội vùng đứng lên / Hà Nội vùng đứng lên /  Sông Hồng reo Hà Nội vùng đứng lên / Hà Nội đẹp sao /  Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng / Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng  / Hồng Hà tràn đầy, Hồng Hà cuốn ngàn nguồn sống tràn đầy dâng / Hà Nội vui sao / Những cửa đầu ô / Tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm / Sống vui phố hè / Bồi hồi chàng trai, những đôi mắt nào / Quanh co chen quanh rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ / Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai / Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu / Mỗi tấc đất Hà Nội đượm thắm máu hồng tươi / Một ngày thu non sông chiến khu về, đường vang tiếng hát cuốn lòng người / Đoàn quân Việt Nam đi / Hà Nội say mê chen đón Cha về, kín trời phơi phới vàng sao / Ngày ấy chói vinh quang vang ngàn phương lời thề nước Việt Nam yêu dấu ngả soi bóng sông Hồng Hà / Hà Nội cháy khói lửa ngợp trời / Hà Nội hồng ầm ầm rung. Sông Hồng reo / Thét lên xung phong căm hờn sôi gầm súng / Bùng cháy, khắp phố ta ơi / Vùng lên chiến sĩ ta ơi / Trời Hà Nội đỏ máu / Bụi hè đường cuốn bốc tung bay, xác thù rơi dưới gót giày / Ầm ầm cười tiếng súng vui thay vang ngày mai sáng láng / Này lớp lớp người đi ánh sao tưng bưng chói lói lòng ta / Mai này lớp lớp người di thét vang vang trời khải hoàn / Nhìn đây máu chúng ta tươi bao nhiêu đất này ta tưới ngày mai vút lên / Hồng Hà réo sóng say sưa trông Cha bóng Người mênh mông / Mắt Người sáng láng vầng sao thắm tươi, trán Người mái tóc bạc thêm / Bóng cờ bát ngát ngày vui nước non reo cười trên môi Người cười / Tiếng cười / Ngày về chiến thắng!”.
Tiếng hát ngưng rồi mà căn hầm trùm một bầu không khí yên lặng thiêng liêng quá. Người hát đứng nguyên đó, đôi mắt mơ màng gửi chốn xa xăm. Chưa bao giờ anh được hát bài ca của mình trước một số ít cử tọa gần như tiêu biểu cho tinh hoa của một thế hệ như thế. Cảm xúc về quê hương, về thủ đô thân yêu của tổ quốc thân yêu tràn ngập lòng người hát, người nghe. Từ khóe mắt lăn ra những giọt nước đọng trên những khuôn mặt chai sạn, từng trải, nhiều lần đối mặt cái chết mà cứ để nguyên không giấu giếm. Ca sỹ không chủ động được mình, môi anh mấp máy rung rung.
Cuối cùng thì người “anh cả của quân đội” đứng lên, ôm chặt ca sỹ vào lòng nói lời xúc động:
- Cảm ơn nhà thơ, nhạc sỹ, ca sỹ đã thay mặt chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta nói lên tấm lòng thiết tha vô hạn yêu tổ quốc và nhân dân mình. Sông Hồng đang dậy sóng. Tổ quốc ta đã đứng lên. Hà Nội đã đứng lên và ở đây chiến sỹ chúng ta quyết đứng lên, đạp trên đầu thù giành chiến thắng để đón Bác Hồ, cha của chúng ta trở về Thủ đô trong khúc khải hoàn ca.
Cơn xúc động được giải tỏa, tiếng cười chen tiếng nói:
- Hát bài của mình sáng tác khó ai hơn được!
- Anh Văn gọi Nguyễn Đình Thi về đúng lúc đấy!
Đại tướng ân cần nói với người trí thức trẻ:
- Ở tuyến trước không thiếu gì người làm được việc của anh. Nhưng ở tuyến sau đang rất cần người làm được những việc như anh. Anh Lê Liêm sẽ giao việc cho anh Thi!
Chính ủy Trần Độ thanh minh:
- Tôi có biết anh Nguyễn Đình Thi về 312 nhưng nghĩ rằng anh là ủy viên Ban thường trực Quốc hội, được phái về cơ sở chiến đấu là để nắm tình hình đời sống và tâm tư của chiến sỹ ta, báo cáo lên Quốc hội để toàn dân biết nên đâu dám có ý kiến gì!
Chủ nhiệm chính trị Lê Liêm nói:
- Thiếu gì việc đang chờ người. Trước hết anh làm thơ, viết văn, viết báo động viên bộ đội. Cũng có thể giúp cho “Ban binh địch vận”. Và khi chiến dịch nổ súng, nhất định tù binh địch trong đó có đủ loại sỹ quan lớn bé sẽ bị bắt hoặc đầu hàng ngày càng nhiều. Giao cho anh phụ trách “Ban khai thác tù binh” vì công việc của anh là phải hiểu tâm lý con người và tiếng Pháp tìm một người như anh không dễ.
Nói rồi, Chủ nhiệm chính trị kéo tay nhà thơ nhạc sỹ đi theo mình.
Lúc đó vào trưa ngày 13 tháng ba và chỉ mấy giờ đồng hồ sau, lúc 17 giờ 05 phút,  tiếng súng khai trận rền vang cả một vùng núi đồi không khác gì cơn địa chấn. Người nghệ sỹ-chiến sỹ bồn chồn nghĩ đến các bạn chiến đấu đang xông lên trong lửa đạn. Anh cũng không quên gửi tặng các chiến sỹ vệ binh một bài thơ:              
                        
                         ĐẤT NƯỚC
                          ********
          Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác heo may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu may áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Giây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn


Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà

Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng

Ngày nắng đất theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh

Súng nổ rung trời giận giữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!

Rạng sáng ngày 14 tháng ba, trong một cánh rừng bộ đội và dân công vừa dừng chân nghỉ bỗng thấy tiếng hò reo cứ lan dần lan dần. Người ta nghển cổ lên nghe rồi khi nghe được tin truyền thì ai cũng nhẩy dựng lên:
- Đêm qua bộ đội ta nổ súng tấn công Điện Biên Phủ và đã đánh chiếm được đồi Him Lam ở cửa ngõ phía đông do một tiểu đoàn lính lê dương chiếm giữ, giết chết cả tên Thiếu tá và tên Đại úy chỉ huy. Tên Trung tá chỉ huy pháo binh ở Điện Biên Phủ tự sát ngay tại chỗ vì không ngờ bộ đội ta có thể kéo nhiều pháo lớn lên tận đỉnh núi nã vào đầu chúng!
Người ta hò reo rát cổ, ôm chầm lấy nhau chia vui không kể thân sơ…
Đánh giặc ai mà không mong thắng nhưng thắng lợi đến rồi vẫn thấy bàng hoàng.
Chiều ngày 7 tháng 5, tiếng reo hò lan truyền như sóng, vang dội núi rừng.
- Thắng lợi rồi! Ta thắng ở Điện Biên Phủ rồi! Tây thua rồi! Chúng nó kéo cờ trắng ra hàng nhiều lắm! Bắt sống tướng De Castrie!         
Mấy thương binh đang được khiêng về tuyến sau truồi ra khỏi võng lồm cồm bò ngược lại về hướng chiến trường. Dân công vứt lỏng chỏng cáng võng, xe, hàng… nhẩy lên tưng tưng hò la rầm rĩ.
Mấy đơn vị hành quân tiếp ứng “nhỡ tàu” đua nhau chạy ào ào ra phía trước…
Hàng vạn tù binh được giải về tuyến sau. Số binh lính quân đội ngụy quyền đa phần được phóng thích ngay tại chỗ. Số còn lại được giải về khu căn cứ trong đó có hàng ngàn tù binh Âu Phi.
Nhà thơ, người trí thức trẻ có vốn học vấn rộng được giao phụ trách «Ban khai thác tù binh».
Hôm nay làm việc với một viên sỹ quan học thức giữ nhiệm vụ đặc biệt, Trưởng ban trực tiếp xuống khai thác tù binh.
Viên quan tư cao gầy, mặt lúc nào cũng rầu rầu. Thấy có sự khác thường, dường như nghĩ mình quan trọng khi được vị sỹ quan trưởng thẩm vấn, y mào đầu lý lẽ:
- Đề nghị các ông đối xử với chúng tôi theo luật tù binh quốc tế!
- Đây là cuộc chiến tranh không tuyên chiến. Nhưng nếu chúng tôi không tôn trọng những công ước quốc tế thì tất nhiên các anh đã không còn! Anh là sỹ quan Phòng Nhì? Vậy sau khi khai thác tù binh của chúng tôi anh có biết số phận họ làm sao không?
- Việc đó không thuộc trách nhiệm của tôi.
- Khi Chính phủ các anh cho quân đội nổ súng bắn vào những người yêu nước chúng tôi, giày xéo lên đất nước chúng tôi có nghĩa là các anh đã coi dân tộc Việt Nam không được quyền sống bình đẳng vơí các dân tộc khác thì còn có cơ sở nào để các anh tôn trọng luật pháp với chúng tôi?
- …!                                        
- Tôi hỏi anh một số điều cần thiết và yêu cầu anh hãy tỏ ra thiện chí bằng sự trả lời đúng các câu hỏi của tôi.
- Là sỹ quan quân đội Pháp, tôi sẵn sàng trả lời ông những điều tôi tự thấy có thể trả lời được.
Trưởng ban nghiêm nét mặt, ngắt lời y:
- Ở trên đất Pháp trước đây, nếu có một tù binh quân phát xít Hitler trả lời một sỹ quan quân đội của Chính phủ kháng chiến De Gaulle như vậy thì anh xử thế nào?
Hắn cúi đầu xuống, mặt tái đi và tỏ ra lúng túng.         
- Tôi yêu cầu anh hãy trả lời đúng như anh đã biết. Những điều gì anh không biết vì không thuộc phạm vi trách nhiệm của anh thì đã có hàng trăm sỹ quan tù binh Pháp khác kể cả cấp Tướng đang ở trong các trại giam của chúng tôi trả lời thay anh. Là tù binh, anh không được nói là anh muốn hay không muốn trả lời các câu hỏi của chúng tôi và chúng tôi có cách kiểm chứng những câu trả lời của anh có đúng hay không.
Hai tay hắn run run, trong ánh mắt hắn lộ vẻ bối rối.
- Là sỹ quan chuyên nghiệp, anh có bao giờ nghĩ tới một kết cục xấu cho trận chiến này không?
- Từng trận đánh, thậm chí từng chiến dịch chúng tôi cũng nghĩ tới kết quả không như mong muốn. Nhưng với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ này thì khác! Không phải là chúng tôi kiêu ngạo và khinh địch đâu. Trải nghiệm qua hai cụm cứ điểm Hoà Bình năm 1952 và Nà Sản 1953, ở đấy chúng tôi có mấy tiểu đoàn thôi nhưng các ông chỉ dám đánh tiêu hao bên ngoài, đụng đến cứ điểm trung tâm các ông đã bị tổn thất nặng nề. Huống chi ở đây chúng tôi giăng cái bẫy lớn khủng khiếp với những phương tiện chiến tranh tối tân mà nhiều nhân vật nổi tiếng như Tướng Charles Loewen – Tư lệnh quân Anh-Ấn ở Viễn Đông, Ngài Tổng Cao uỷ Đông Nam Á Mac Donald và Cố vấn Stewart, người Mỹ có Trung tướng Trapnell, Đại tướng O’ Daniel – chỉ huy Bộ binh Mỹ ở Thái Bình Dương… đều đến thăm Điện Biên Phủ và cùng một nhận định như tướng Navarre: Đó là một căn cứ bất khả chiến thắng!
- Vì thế ở Tổng hành dinh Hà Nội, các anh đã thay mặt De Castrie cho máy bay giải truyền đơn khiêu khích Đại tướng Võ Nguyên Giáp có giỏi hãy đem quân đến đó?
- Đúng, Tướng De Castrie không biết việc này! Chúng tôi tin Điện Biên Phủ sẽ là mồ chôn quân chủ lực Việt Minh. Khi ấy toàn chiến trường Đông Dương chúng tôi làm chủ!
- Trái lại nó là mồ chôn chủ nghĩa thực dân Pháp!
- Đại tướng của các ông giỏi thật và binh lính của các ông rất dũng cảm. Giá như binh lính của Bảo Đại cũng được như vậy thì các ông không thắng nổi!
- Người Pháp thích khôi hài! Làm sao có chuyện lừa mang xương thánh được!
- …!
- Anh có nghĩ rằng sau thất thủ này, Bộ Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương có thể vẫn tiếp tục cho xây dựng thêm nhiều tập đoàn cứ điểm còn mạnh hơn gấp mấy lần Điện Biên Phủ và nhất định sẽ giành thắng lợi như Tướng Navarre tuyên bố?     
Viên sỹ quan tù binh cười mai mỉa: 
- Những cái đầu điên rồ vẫn được tự do suy nghĩ để cái miệng phát ra thành lời. Nhưng thực tế thì đào ở đâu ra những tiểu đoàn quân mạnh như thế? Và tiền của thì lấy ở đâu ra? Nước Pháp không đủ sức trừ khi có sự viện trợ cấp thời to lớn toàn diện của một đại cường quốc…
- Người Mỹ bỏ Dollar vào Việt Nam ngày một nhiều. Riêng năm nay đã lên con số tỷ. Tại sao người Mỹ không cứu các anh?
- Đó là một câu hỏi lớn. Tôi chỉ có thể nói với ông suy nghĩ của riêng tôi.
- Anh được tự do nói ra suy nghĩ của mình!
- Thứ nhất là nước Pháp không gánh nổi cuộc chiến tranh này nên rất cần sự viện trợ của người Mỹ nhưng không đồng nghĩa là người Pháp sẽ giao xứ Đông Dương cho họ. Trong khi đó áp lực đòi hoà bình làm lung lay giới cầm quyền nước chúng tôi. Họ lưỡng lự muốn vớt vát cho nước Pháp còn có ảnh hưởng ở đây. Đó là bi kịch cho nước Pháp và là sự may mắn cho các ông. Thứ hai là người Mỹ không muốn máu của họ đổ ra thay cho người Pháp trừ khi họ được toàn quyền hành động mà người Pháp lại không muốn thế. Thứ ba là người Mỹ vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, họ không muốn một mình gánh lấy những tổn thất tuy rằng họ không muốn cho Trung Cộng tràn xuống vùng Đông Nam Á châu này nên họ muốn quốc tế hóa cuộc chiến tranh, lôi kéo thêm đồng minh và các nước trong khu vực, coi đó như một liên minh quốc tế do họ cầm đầu để ngăn chặn làn sóng đỏ. Nhưng làm việc đó không dễ và Chúa đã rủ lòng nhân từ dành thời gian cho các ông!
- Người Pháp lãng mạn đến mức ảo tưởng. Năm 1940 khi người Nhật sang chiếm Đông Dương, lẽ ra họ hợp tác với chúng tôi chống Nhật thì họ vẫn còn có chỗ đứng ở đây. Năm 1946 nếu như họ chấp nhận thực tế Việt Nam đã là một nước độc lập và sẵn sàng nằm trong khối Liên hiệp Pháp thì họ không đến nỗi đổ ra bao nhiêu xương máu rồi vẫn trắng tay!
- Vâng, lẽ ra ông La Fontaine của chúng tôi sinh vào thời này mới đúng!
- Anh có hy vọng gì vào Hội nghị đang họp ở Genève?   
- Nếu không có Điện Biên Phủ  thì hội nghị chỉ là nơi các nhà ngoại giao trổ tài đấu khẩu để đánh lạc hướng dư luận nước Pháp và thế giới. Nhưng bây giờ Điện Biên Phủ đã là một hậu quả bi thảm thì chính giới Pháp phải thực tâm thôi! Sớm muộn là tùy thuộc vào cuộc thương lượng của hai bên, họ có chịu nhìn nhận thực tế để nhân nhượng nhau như thế nào. Các ông nên hiểu rằng mất Đông Dương không chỉ là mất một xứ thuộc địa giàu có và để nó lọt vào vòng tay Cộng sản, là người Pháp không làm tròn sứ mệnh với Đồng minh. Tất nhiên vai trò của nước Pháp sẽ giảm đi rất nhiều trên trường quốc tế!   
- Anh nghĩ rằng hòa bình sẽ đến và anh mong muốn điều gì?
- Tôi mong chóng được về gặp vợ con tôi. Điều này đang tùy thuộc ở các ông. Tôi sẽ giải ngũ về với vườn nho và những thùng rượu vang. Tôi sẽ không tham gia bất cứ cuộc chiến tranh nào nữa.   
- Giả như nước Đức quốc xã hồi sinh và lại giày xéo lên nước Pháp? Liệu anh sẽ theo De Gaulle hay Pétaine?         
- Lúc đó là bắt buộc. Pétaine đã làm nhơ nhuốc hình ảnh quân đội Pháp
- Anh có nghĩ rằng giới thực dân Pháp cũng đã từng dồn dân tộc chúng tôi tới con đường cùng đó hay không? 
- Và nước Pháp đã phải trả giá bằng hàng chục ngàn sinh mệnh thanh niên, bằng sự chậm hơn con rùa bò trong phát triển xã hội, bằng sự mất niềm tin về những giá trị tinh thần của mình và bây giờ đang là sự chia rẽ trong nội bộ nước Pháp. Nó kéo theo hàng loạt những phản ứng dây truyền không lường trước được trong khối Liên hiệp Pháp hiện nay!
- Tôi tin rằng không lâu đâu anh sẽ đạt được điều mong muốn.
- Cám ơn ông!                                  
- Khi rời mảnh đất đã làm cho anh khốn khổ thế này anh có suy nghĩ gì không?
- Thật là khủng khiếp! Năm mươi lăm ngày đêm sống ở Điện Biên Phủ là thời gian dài sống trong địa ngục! Tôi như từ cõi chết trở về. Nhưng tôi cần nói rõ rằng không phải là các ông đẩy chúng tôi tới thảm bại này. Chính là do những cái đầu hung hăng hiếu thắng trong giới cầm quyền ở nước chúng tôi! Lậy Chúa…
Y làm dấu thánh:
- Không lý gì nền văn minh Pháp lại sinh ra những cái đầu như thế!        
- Nước Pháp từng là cái nôi của nền văn minh nhân loại. Anh nghĩ gì về lời nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào trước ngày cuộc chiến tranh Pháp – Việt này bùng nổ: “Nước Pháp là một xứ sở kỳ lạ. Nó đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó”?
- Tôi nghĩ rằng Chủ tịch Hồ Chí Mính là đối thủ nguy hiểm nhưng chưa bao giờ là kẻ thù của nước Pháp! Tôi thật không hiểu nổi tại sao trước lưới lửa đạn khủng khiếp của chúng tôi mà những người du kích Việt Nam vẫn xông lên với tiếng thét xung phong đáng sợ… Và khi ngã xuống họ còn vươn lên hô to HỒ CHÍ MINH! HỒ CHÍ MINH! như con chiên gọi Chúa?!
- Điều ấy thật đơn giản vì nhân dân chúng tôi tha thiết với một nước VIỆT NAM ĐỘC LẬP mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng! Nước Việt Nam từng nhiều lần bị ngoại bang xâm chiếm. Người Việt Nam không bao giờ quên tội ác của quân xâm lược đã gây ra trên đất nước mình nhưng sẵn sàng tha thứ và sống hiếu hòa một khi kẻ thất trận thật lòng tôn trọng nền độc lập và toàn vẹn biên cương lãnh thổ của chúng tôi. Đó là kế sách giữ nước vững bền muôn thuở từ xa xưa ông cha chúng tôi truyền lại!   
- Tôi nhận ra người trí thức Việt Nam am hiểu khá sâu văn hóa Tây phương. Những ai giữ được truyền thống văn hoá Á Đông làm nền tảng tinh thần họ xứng đáng là người dẫn dắt của một nước Việt Nam mới. Rời bỏ đất nước này tôi vỡ ra một điều như là nguyên lý: Khi một dân tộc thiết tha với Tổ quốc của mình thì họ không sợ bất kỳ sự dọa dẫm nào.
Y chột dạ không hiểu sao nét mặt vị sỹ quan trưởng đang hỏi cung mình bỗng chùng xuống lộ rõ vẻ buồn. Ông ta nói tiếng Pháp rất điêu luyện, dáng vẻ sang trọng của người có học thức cao, mà sao bỗng dưng ông ta im lặng, dưới đôi lông mày rậm là cặp mắt to đen mơ màng đang chăm chăm nhìn xuống đất, dường như không muốn người đối diện biết ông ta lộ ra một nét yếu lòng?
Đúng! Y sẽ không bao giờ hiểu được người sỹ quan trẻ ấy là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ sỹ tài hoa luôn nghĩ về cái chết của người bạn chiến đấu Thiết Cương. Hầm của  Ban chỉ huy tiểu đoàn lĩnh gọn một trái pháo 155ly. Không một ai toàn thây! Anh thấm thía cái giá của dân tộc mình phải trả để có độc lập tự do. Lúc này anh chợt nhớ tới vị Đại tướng trí thức và nhân hậu. Giá như không có lệnh của Đại tướng gọi về trước giờ nổ súng thì sao lúc này anh được đối diện với kẻ thù trong tư thế người chiến thắng. Anh lặng lẽ đứng lên đi ra phía cửa rừng. Ngoài kia  tiếng hát vang lên theo khí thế quân hành dồn dập: “Đây miền Tây Bắc ta phá đồn giặc tan / Nương lúa xanh về ta vui sống trong tự do / Miền rừng núi hướng về Bác Hồ / Từ đây đời sống chan hoà / Chiến thắng miền Tây Bắc / Hân hoan một niềm vui thoát ách loài giặc tàn ác / Tay nắm tay vui mừng không miền xuôi ngược / Cùng dựng xây tươi đẹp nước non này”... Nhà thơ ngoái lại, thương hại nhìn theo viên sỹ quan bại trận của đội quân danh tiếng một thời lủi thủi đi vào trong hang đá.

Con đường ngày nào người xe nườm nượp vượt suối trèo đèo cheo leo lên núi rừng Tây Bắc hôm nay lại đổ về xuôi. Dòng người lũ lượt chảy cùng chiều với những con sông nên càng nhanh hơn. Nơi cuối kia là những cánh đồng quánh đỏ phù sa lơ thơ gốc rạ, là quê hương thân yêu với những rặng tre xơ xác tiêu điều, dưới những mái tranh xiêu vẹo bao người mẹ còm cõi ngóng chờ, những người con gái, những đứa trẻ thơ trong cơn mê ú ớ giật mình – bóng giặc dày vò những nét môi xinh (!), là kinh thành quay cuồng trong tiếng nhạc thác loạn với những tiếng giày đinh khủng khiếp khiến bao nhiêu người thao thức trong đêm.
Bộ đội, dân công, tù binh chen nhau trên con đường trở về xuôi. Đoàn quân chiến thắng trùng điệp hối hả tiến về đồng bằng giải phóng quê hương. Quân đi không cần lá ngụy trang, không cần chờ trời tối, hào hùng hát vang bài ca chiến thắng: Đèo Phạ-Đin (Trời-Đất) trập trùng quanh co sao mà hùng vĩ. Đôi bờ sông Đà bãi cát nâu vàng mịn màng trải dài theo cánh rừng xanh ngằn ngặt soi bóng xuống dòng nước trong xanh êm ả lững lờ trôi. Ôi, Tổ quốc ta đẹp biết bao nhiêu. Đoàn dân công vừa đi vừa hò vang dậy núi rừng: Sông Đà nước chảy về xuôi / Hù hò khoan… Mang theo chiến thắng / Hù hò khoan… Điện Biên cùng về… là hù hò khoan a lý khoan hò khoan…
Đám tù binh đi thất thểu ngơ ngác nhìn theo dòng người cuồn cuộn như nước lũ chảy xuôi…     
Tới chân đèo Lũng Lô người ta ùn lại. Có lệnh phân tán nhỏ ra. Vừa có máy bay oanh kích trên đường. Người ta rải ra tản mạn. Nhìn lên đèo chỉ thấy khói đen đặc. Đám tù binh nhớn nhác…
Lệnh đi tiếp. Tới lưng chừng đèo thấy một đám người xúm lại. Trưởng đoàn dẫn giải tù binh, rẽ ra xem có chuyện gì. Tấm giá vẽ đổ nằm ngang đưa một cái chân gẫy chỏng lên. Mấy người đang giơ cao một bức tranh vẽ dở cảnh bộ đội hành quân. Bức tranh nhoe nhoét máu lẫn với đất và rách một góc. Cách đấy một khoảng, mấy người trẻ tuổi ngồi bên cúi đầu ủ rũ, một cô gái đeo cái túi lớn có dấu chữ thập đỏ, úp mặt vào lòng hai bàn tay, vai rung rung, nức nở. Nhà thơ tới bên và nhận ra người chiến sỹ quân y ấy chính là người em gái bạn anh năm nào. Tay vỗ vỗ vai an ủi cô em và mắt anh dò hỏi…
- Họa sỹ Tô Ngọc Vân! Ông ấy đứng đây, đang vẽ…
Giọng cô em càng dấm dứt nghẹn ngào…
Ấy là lúc đoàn tù binh vừa tới chân đèo đột nhiên nghe tiếng nổ và tiếng rú của máy bay.
Nhà thơ buông thõng tay, nhìn cuộn chăn loang lổ máu bọc kín một thi thể. Anh đi tới bên thi hài người họa sỹ cúi đầu lặng lẽ. Lại một trí thức tài danh quên mình vì nước! Mắt anh chớp chớp, mím chặt môi để khỏi bật lên tiếng nấc.
Lệnh đi tiếp, hai anh em vội vã chia tay mỗi người một ngả. Nhà thơ níu tay cô em hỏi:
- Em có gì mới chưa?
- Chúng em hẹn nhau chờ ngày chiến thắng... mà…
- Mà sao... Yêu chưa?
- Chưa biết thế nào… Đi suốt, có gặp mấy đâu!
- Có thấy nhớ không?
- Nhớ chứ! – Cô gái buồn, cúi đầu tủi thân…
Người anh an ủi:
- Thế là yêu đấy… Có yêu thì mới nhớ!
Anh mở sắc cốt, lấy một tờ giấy từ trong cuốn sổ, đưa cho cô em:
- Tặng em bài thơ đọc cho đỡ nhớ!
Cô em mân mê tờ giấy, nói như muốn khóc:
- Chả biết thế nào, cứ xa nhau biền biệt!…
Nhà thơ với mảnh giấy, kê trên sắc cốt, ghi nhanh mấy dòng, đưa lại cho cô em kèm lời động viên:
- Càng xa càng gần… chúng ta yêu nhau là thế!
Anh chạy theo trầm lặng đi bên đám tù binh Pháp. Mãi tới lúc lên tới đỉnh đèo bóng người mờ mờ như đi trong sương, vị Trưởng trại tù binh buồn rầu nói với mấy tên sỹ quan đi bên ông:        
- Một họa sỹ danh tiếng của chúng tôi – ông Tô Ngọc Vân, vừa bị máy bay của các anh sát hại trong khi ông đang vẽ!
Mấy tên tù binh âu sầu sợ hãi cúi đầu làm dấu thánh. Một tên nói:
- Ở Hà Nội tôi có vào thăm Trường Mỹ Thuật và nghe danh ông.
Nhà thơ nói to cho cả đám tù binh cùng nghe:    
- Những bức tranh nổi tiếng của ông vẽ người đẹp với hoa huệ, hoa sen… Ông từng được vời vào trang trí cung đình Huế. Ông chuyên vẽ về cái đẹp của con người và thiên nhiên của tổ quốc chúng tôi. Ông từng nói với bạn bè, đồng nghiệp: “Có vay thì có trả. Nhận của nhân dân cơm áo chúng ta phải trả lại nhân dân bằng hội họa”. Ông đã trả nợ non sông bằng máu của mình… Cuộc đời ông tuyệt đẹp!
Đoàn bộ đội hành quân mang vác nặng mà vẫn băng băng vượt qua đám tù binh thất thểu uể oải kéo lê từng bước cố lết qua con dốc dài. Lời hát hân hoan hòa nhịp bước quân hành làm nôn nao náo nức lòng người:
Vì nhân dân quên mình vì nhân dân hy sinh / Anh em ơi vì nhân dân quên mình / Đoàn vệ quốc chúng ta ở nhân dân mà ra / Được dân mến được dân tin muôn phần / Thề vì dân suốt đời thề tranh đấu không ngừng / Vì đất nước thân yêu mà hy sinh / Thề diệt hết đế quốc kia giành tự do hoà bình/ Đoàn vệ quốc quên mình vì nhân dân /... Thề noi gương Bác Hồ vì nhân dân gian lao / Trong bao năm người tranh đấu không ngừng / Người chỉ biết có dân ngày ngày lo sao cho / Toàn dân ấm toàn dân no được học hành / Người chỉ vui khi nào toàn dân hết đau thương / Người tranh đấu đem tương lai về cho dân / Đoàn Vệ quốc chúng ta là con yêu của người / Thề noi gương suốt đời vì nhân dân...”.
Nhiều năm sau cô học trò trường áo tím Hà thành năm xưa đã có hạnh phúc đủ đầy nhưng trong tập lưu niệm để đời vẫn giữ một tờ giấy nhuốm màu thời gian có bài thơ đặc biệt với nét chữ đẹp của người anh, người nghệ sỹ tài danh ghi tặng trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, được coi như kỷ niệm vô giá của gia đình.
                                     
                                      NHỚ
                                        ****
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sỹ dưới đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sỹ dười đèo mây

Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương sớm tối vô ngần
Anh nhớ em những bước đường anh bước
Những tối anh nằm những bữa anh ăn

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau
               kiêu hãnh làm NGƯỜI!

và một khổ thơ ngắn không đề:
                                               
                   Chúng ta như hai vì sao
                   Hai đầu chân trời lấp lánh
                   Trong không gian
                                      mênh mông xa nhau
                   Chiều chiều sáng lên ánh sáng
                                      không tắt bao giờ

Vào một ngày xuân, người nghệ sỹ đa tài, đa tình, đa truân vĩnh viễn đi vào cõi CHÂN – THIỆN – MỸ. Ngoài những người ruột rà, thân thiết, là rất đông những người thuộc nhiều thế hệ ngưỡng mộ ông, mến yêu ông, đến từ biệt ông lần cuối. Người đứng chật nhà tang lễ, đầy sân, lấn ra cả một đoạn đường. Đạt ngưỡng tuổi trời, người ra đi cũng chẳng ngoái đầu lại nữa. Sự tiếc thương trầm lắng đọng. Hơn mọi lời ai điếu, khi bài thơ LÁ  ĐỎ của ông được nhạc sỹ Hoàng Hiệp phổ nhạc vang lên hào sảng, chẳng ai bảo ai, mọi người đứng sát lại, nắm tay nhau, ngước nhìn tấm hình ông… Nụ cười ông tươi rói: “Gặp em trên cao lộng gió / Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ / Em đứng đứng ở bên đường / Như quê hương vai áo bạc quàng súng trường / Đoàn quân vẫn đi vội vã / Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa / Chào em… em gái tiền phương / Ơi em gái… tiền phương / Hẹn gặp nhé… giữa Sài Gòn / Hẹn gặp nhé… giữa Sài Gòn”…
Người ta chợt nhận ra đó là lời tiễn biệt nhau của NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG THỜI ĐẠI…

                                      Nhân 15 năm ngày giỗ người nghệ sỹ tài danh
                                                          (18/4/2003 – 2018)

No comments:

Post a Comment