HÀ NỘI BỂ DÂU
HOA NGỌC HÀ
**********
Người dũng sỹ lòng đầy tin tưởng
Khi quên mình cho một chiến công
Nhân dân lòng
muôn vàn yêu qúy
Dành cho anh lời
vĩnh biệt cuối cùng (Victor Hugo – Năm khủng khiếp)
{
Cẩm
Nhung dỡ chiếc mũ rơm rộng vành ra khỏi đầu, móc vào tay lái xe, ngập ngừng đến
gần anh lính gác cổng sân bay. Anh lính chăm chăm nhìn cô gái trẻ trên mình đầy
bụi cát:
- Chị đến tìm ai?
- Tôi muốn gặp anh Huỳnh Anh Dũng?
- Ở đơn vị nào?
Cẩm Nhung lục trong túi xách đưa ra chiếc
phong bì. Anh ta liếc qua rồi nhìn cô gái dò xét :
- Anh ấy làm nhiệm vụ gì?
- Lái máy bay!
Anh lính hỏi vặn :
- Chị với anh ấy là thế nào?
Cẩm Nhung ấp úng :
- Là… bạn!
Anh lính cười :
- Bạn cấp mấy mà dám vượt đường xa nguy hiểm
đến tìm nhau lúc này ?
Cẩm Nhung hơi khó chịu nhưng cố làm lành :
- Vâng… Tôi từ Hà Nội lên! Anh thông cảm
cho tôi được gặp anh ấy để còn về kịp trong ngày.
Anh lính kiểm tra giấy tờ hợp lệ rồi mới
đi vào quay chiếc máy bộ đàm đặt trên nóc tủ trực ban. Khi trở ra, anh ta vui vẻ
:
- May đấy, sắp đến giờ người ta trực chiến.
Chị đi thẳng đường này, tới ngã ba rẽ phải, đi một khúc qua dãy nhà A, rẽ trái,
tới dãy nhà bê (B), hỏi tới nhà xê (C) là nơi dừng chân sơ bộ. Sau đó tuỳ tình
hình sẽ được dẫn tới nhà dê (D) hay đê (Đ) gì cũng được – Anh ta tủm tỉm cười dặn
với:… Nhớ khẩn trương tranh thủ mà về, chớ có ham qúa mà xơi bom Mỹ đấy!
Cẩm Nhung đã ra trường, làm cô giáo tại một
trường cấp III ở ngoại thành. Cô ở nội trú trong khu tập thể giáo viên, chiều
thứ bảy mới về nhà, sớm thứ hai lại đi. Ngoài chuyên môn, cô công ác đoàn thể
tích cực và được giao nhiệm vụ Bí thư chi đoàn trường và có chân trong Huyện
đoàn nữa.
Ngày 3 tháng 4 năm 1965, Không quân nhân
dân Việt Nam bất thần xuất kích bắn rơi 2 chiếc máy bay F8-Con ma của không
quân Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa khi chúng vào đánh phá cầu Hàm Rồng. Tiếp đó
ngay hôm sau, vẫn bằng những chiếc máy bay MIG17, ta lại bắn gục 2 chiếc
F105-Thần sấm hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ. Bác Hồ biểu dương: “Trong
lịch sử chiến tranh giữ nước, nhiều lần quân và dân ta đã dầm đầu kẻ địch trên
đất liền, trên sông, trên biển. Nhưng đây là lần đầu tiên quân và dân ta dầm đầu
kẻ địch ngay cả ở trên không”! Cả nước nức lòng.
Trong một buổi mít tinh của nhân dân thành
phố chào mừng binh chủng Không quân của ta non trẻ mà đã lập được chiến tích vẻ
vang, Cẩm Nhung đại diện cho Đoàn thanh niên khối nhà trường được mời tham dự.
Mấy chiến sỹ lái máy bay tiêu biểu được đón chào nhiệt liệt. Các anh báo cáo với
bà con về những chiến cơng mà trước đó chưa hình dung nổi: Máy bay của ta do nước
bạn viện trợ đã thuộc loại cổ lỗ đến đời thứ mấy rồi, người ta chỉ dùng để huấn
luyện các phi công chiến đấu tập lái lúc đầu thôi. Trong khi máy bay của Mỹ thuộc
loại hiện đại đời mới nhất, vượt xa ta về tốc độ, đường dài, thời gian bay và kể
cả vũ khí tấn công nữa. Kẻ địch áp đảo ta về số lượng, khí
tài, kỹ thuật nhưng ta áp đảo nó bằng ý chí
chiến đấu bảo vệ tổ quốc mình, phát huy tinh thần chiến tranh nhân dân,
vận dụng chiến thuật đánh du kích, tiếp cận bất ngờ, bám thắt lưng địch mà
đánh, hợp đồng tác chiến dưới đất – trên không, nên những chiến sỹ lái máy
bay của ta dám đánh và đã thắng. Cẩm Nhung càng sung sướng và cảm động nhận ra
người bạn cùng học ngày nào nay là một trong những phi công anh hùng ấy.
Trường Phổ thông cấp III Nguyễn Trãi ở phố
Cửa Bắc có một số bạn học sinh đặc biệt của miền Nam cùng học. Anh Dũng và Cẩm
Nhung học chung từ lớp 8 đến lớp 10. Anh chàng Dũng thích thể dục thể thao. Cô
bé Nhung hay văn nghệ. Cả hai cùng là đoàn viên thanh niên tích cực nên còn lưu
nhiều kỷ niệm về một thời học sinh sôi nổi. Tuy nhiên học sinh Hà Nội lứa ấy đa
phần là con em các gia đình viên chức, binh sỹ, thương nhân… có nhiều dính dáng
tới chính quyền cũ và không ít người có quan hệ gần gũi với những người đã bỏ
vào Nam. Không như các bạn học sinh miền Nam tòan là con em những người kháng
chiến gửi ra miền Bắc đào tạo thành những hạt giống đỏ cho miền Nam sau
này. Trong khi xã hội lại kích lên sự đối kháng giai cấp không thể điều hòa,
phân biệt đối xử giữa các thành phần xã hội. Cho nên ở tuổi mới vào đời ấy, một
bên luôn mặc cảm, một bên lúc nào cũng thấy tự hào. Dù các bạn học sinh miền Bắc
rất thương qúy các bạn học sinh miền Nam sớm thiếu vắng tình cảm gia đình nhưng
giữa hai bên vẫn có một sự cách biệt khó gần.
Bây giờ gặp người bạn một thời cắp sách
trong ánh hào quang của người hiệp sỹ đang chiến đấu bảo vệ đồng bào trong đó
có mình, lòng Cẩm Nhung không khỏi bồi hồi xúc động và sung sướng. Chiến sỹ phi
công Anh Dũng không ngờ gặp lại người bạn gái xinh xắn năm xưa mà anh vẫn mến mến
thương thương nhưng không biết làm sao gần được. Hai người ôm chầm lấy nhau ríu
rít như đôi bạn thân tình lắm trước sự vui mừng chia sẻ và cả sự ước ao của
không ít bạn trẻ đứng vây quanh. Dù yêu qúy người phi công anh hùng ấy, chẳng
những đã dũng cảm hạ gục một Thần sấm Mỹ, lại thông minh khôn khéo đánh
lừa địch hạ cánh an tòan trong một tình huống đặc biệt xuống một bìa rừng, vừa
thóat hiểm cho mình lại vừa bảo vệ được chiếc máy bay qúi báu. Câu chuyện của
anh kể nghe như huyền thoại giữa đời thường. Ai cũng muốn nắm tay anh hoặc chỉ
được sờ vào người anh thôi, xem người nhà trời ấy có gì khác với người
thường? Nhưng lúc này mọi người tự động dãn ra thành một lối đi dù chật hẹp mà
đôi bạn vẫn có thể lách ra một chỗ vắng trao đổi tâm tình chốc lát.
Lá thư đầu tiên ngắn gọn, hơi hoa mỹ nhưng
bộc trực của con nhà lính, cô đọc mấy lần
đã thuộc:
Cẩm Nhung mến thương !
Từ ngày xa trường NGUYỄN TRÃI, mình cứ tưởng
Cẩm Nhung như một áng mây trời rất đẹp bay qua không bao giờ trở lại! Nhiều lần
bay trên trời, chợt nhớ, mình thử liều bay vượt trên cao độ cho phép để tìm…
May ra… Đột nhiên trong đêm tối, giữa biết bao khuôn
mặt mờ nhòa, mình lại được ôm đám mây ấy trong lòng dù chỉ là khoảnh khắc. Hạnh
phúc qúa! Giá như mỗi lần hạ gục một tên giặc trời,
mình lại được một lần như thế. Hơn cả huân chương! Hơn cả mọi lời khen!
Phần thưởng ấy thật là vô giá và chỉ Cẩm
Nhung mới có thể mang lại cho mình thôi!
Mình không hình dung nổi đám mây ấy trắng,
vàng, hồng hay là ngũ sắc. Nhưng mà đẹp lắm. Dường như nó từ Cẩm Nhung tỏa ra đấy!
Đôi lúc mình nghĩ hạ một chiếc máy bay giặc
không khó bằng được chìm trong đám mây tuyệt vời như thế!
Một chút buồn thóang qua!
Rất
thân thương!
Những lá thư sau không hoa mỹ nữa, ngắn gọn,
thận trọng mà chân chất. Lá thư gần đây nhất gửi qua tay một người bạn, chỉ vẻn
vẹn mấy dòng thôi :
Cẩm
Nhung,
Mình sắp đi xa…
Không được phép tiết lộ.
Rất mong được gặp Cẩm Nhung.
Thân yêu!
Cẩm Nhung thắc thỏm, đêm không ngủ được.
Lúc này máy bay Mỹ ngày nào cũng táo tợn bay vào đánh phá nhiều nơi sâu trong đất
liền kể cả tận trên Yên Bái giáp ranh Trung quốc nữa. Gần như ngày nào cũng có
không chiến. Những lúc nhìn chiếc MIG17 sà ngay trên những nóc nhà, ngọn cây
tìm nơi hạ cánh như một cánh nhạn chao nghiêng trước sự hung hãn của bầy ác điểu,
lòng cô thắt lại, hồi hộp, lo âu nghĩ tới bạn. Lúc này mà đi xa là đi đâu? Chả
lẽ anh ấy lại vào Nam? Lòng cô bồn chồn, trào lên niềm thương nhớ bâng khuâng.
Huỳnh Anh Dũng cảm động lộ ra trên nét mặt,
cử chỉ và lời nói run run. Gửi thư đi liệu có được sự đáp lại như điều mong muốn?
Anh nắm bàn tay bạn không biết bao lâu và chợt tỉnh nhận ra Cẩm Nhung cười nhăn
mặt thì thào:
- Đừng anh… Đau em lắm!
Đấy không phải lời trách cứ hay sự chối từ
vì lời nói và hơi thở nghe da diết yêu thương. Anh sửa lỗi bằng cử chỉ thân thiết
phủi đi những vết đất bám đầy trên áo quần bạn.
- Chưa hết một buổi sáng mà em phải nhảy
xuống hầm cá nhân bên đường tới mấy lần!
Cẩm Nhung đứng yên để bạn phủi đi bụi đất
cho mình. Cô cẩn thận lấy ra từ chiếc túi xách một bọc giấy báo đưa cho bạn.
Dũng từ từ mở ra và reo lên:
- Hoa hồng đẹp quá!
Cẩm Nhung khoe :
- May qúa!... Em chỉ lo bó hoa thôi… Đố
anh biết hoa này trồng ở đâu nào?
- Anh chỉ cần biết hoa em mang đến cho anh
là đẹp nhất rồi!
- Còn hơn thế nữa cơ… Vì em lên tận Ngọc
Hà, tìm vườn nào có hoa đẹp nhất để mang lên tặng các anh đấy!
Dũng nhảy tưng lên như trẻ con chạy vòng
quanh reo lên khoe các bạn:
- Hoa Ngọc Hà chính hiệu đây! Hoa Ngọc Hà
số một đây!
Đồng đội xúm đến cùng ngắm những cánh hồng
nhung thật đẹp và chia vui với bạn. Một chàng trai giơ cao bó hoa lên nói lớn:
- Đây là cách con gái Hà Nội bảo tụi mình
phải đánh cho ra trò đấy !
Cẩm Nhung rối rít xua tay :
- Ơ... ơ… Em không dám nghĩ thế đâu… Em chỉ
thấy các anh mới xứng đáng nhận những đóa hoa đẹp nhất này thôi!
- Con gái Hà Nội khéo ghê chưa! – Một
chàng trai xuýt xoa khen.
Thời gian gặp gỡ không nhiều vì tình huống
bất thường có thể xảy ra. Dũng ghé tai bạn nói ra điều anh muốn giấu :
- Chiến sự ngày càng ác liệt. Bạn đồng ý
chi viện cho ta phương tiện chiến đấu hiện đại hơn. Dũng được cử đi học cách sử
dụng đồng thời mang theo về nước.
Cẩm Nhung thở phào nhẹ nhõm, nắm chặt tay
bạn và nheo mắt cười. Chuyện vui nhưng lúc này tuy không nói ra mà cả hai người
đều không muốn xa nhau.
Trước khi chia tay Cẩm Nhung trêu bạn:
- Lính nhà trời dồn hết sức văn
chương chỉ được một bức thư đầu, sau đó thì… cụt lủn và cộc lốc!
- Chút xíu nữa là rớt một sao đấy! Mấy ông
chính trị kiểm duyệt thư kêu lên phê phán là thiếu tính kỷ luật và lập trường
giai cấp: Sử dụng một phương tiện hiện đại là ý thức chấp hành nguyên tắc phải
nghiêm ngặt! Không phần thưởng nào lớn hơn lời khen của Bác! Không có gì cao
qúi hơn phần thưởng của Đảng và Quân đội!
Anh chỉ vào một ngôi sao mới trên ve áo:
- Sao này chậm mọc sáu tháng để có thời
gian suy nghĩ đấy! – và anh cười xòa:… Văn chương xin cạch tới già. Tơ vướng vấn
vít chỉ mình… với nhau!
Cẩm Nhung dừng lại nhìn vào mắt anh rồi
nàng cúi xuống, chân di di trên đất. Anh kéo người bạn gái đã thành thân thiết
ôm chặt vào mình và hít hà lâu lắm làn tóc ấy dù vương cát bụi. Cẩm Nhung áp
mình trong anh, dụi dụi đầu nơi ngực mà không phân biệt được tiếng tim ai như
trống đập rộn ràng.
Tiếng còi rít lên rầm rĩ náo động không
trung, báo động máy bay địch xâm phạm bầu trời.
Cái giây phút ấy đã như lời hẹn ước đinh
ninh cả hai người mãi thuộc về nhau. Các bạn chọc anh:
- Mặc mẹ máy bay, tranh thủ làm một cái
hôn đã đời!
Thật tình lúc đó anh thấy sung sướng qúa rồi,
người cứ run lên. Lá thư này như một test trắc nghiệm xem tình cảm của đối
tượng tới đâu. Cuộc sống của người lính chiến trên không gấp gáp rủi nhiều may
ít và trong hòan cảnh đặc biệt của binh chủng không quân Việt Nam mới lập thành
thì mỗi khi chiếc phi cơ chiến đấu bất ngờ rời khỏi một sân bay dã chiến đều
khó trở về đúng nơi cất cánh. Người ta chỉ được thông tin về máy bay địch bị
đánh tả tơi rơi rụng nhưng mấy ai biết được sự tổn thất của các anh. Như trận
chiến trên không hôm ấy, phi đội bốn chiếc của anh trong vòng bủa vây tầng tầng
lớp lớp của 24 chiếc máy bay địch, chỉ còn mình anh hạ cánh an tòan trong một
tình thế xuất thần may mắn. Lại những lần cất cánh tiếp theo. Những người lính
mỗi khi xuất trận đều khát khao được mang theo trong mình một ánh mắt, một nụ
cười, một lời thủ thỉ bên tai, một nụ hôn đắm đuối, một vòng tay da diết, một
tiếng khóc trẻ thơ… chỉ càng làm cho họ tăng thêm dũng khí lao vào nơi hiểm
nguy nhất để giành chiến thắng. Với anh, đây là lần đầu tiên được ôm gọn trong
lòng tấm thân mềm nóng của một người con gái mơ ước từ lâu đã là mãn nguyện qúa
rồi.
Cẩm Nhung cười thầm mãi mỗi khi nhớ lại
giây phút thần tiên ấy :
- Lính nhà trời oanh liệt thế mà lại…
nhát !
Một
ngày chủ nhật, mất cả buổi sáng ở Mậu dịch Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền
ông Phán Thanh mới thóat ra khỏi dòng người nối đuôi nhau ở quầy bán vải. Tay
xách cái túi nhỏ, ông đi như chạy không biết vì vui hay muốn tránh xa sự ngột
ngạt chỗ đông người. Mấy người chạy đuổi theo săn đón xin được nhượng lại, ông
chỉ lặng thinh lắc đầu. Ông cắm cúi lấy xe ra, vừa ngồi lên yên, một cậu thanh
niên níu xe ông năn nỉ :
- Bố ơi! Con sắp lấy vợ mà không có cái quần
mặc cho ra hồn. Bố thương con trai đi. Bao nhiêu con cũng chịu.
Thực ra nhu cầu quần áo với ông không thiếu.
Ông lưỡng lự nhìn trước nhìn sau rồi rút ra mảnh vải gabardine giúi cho
anh ta. Cậu chàng tốc áo lên nhét vào trước bụng, vội vã móc túi đưa tiền cho
ông và chạy đi mất hút. Mấy bà mấy cô ở đâu xấn lại, nhao nhao vừa trách vừa hỏi
vặn. Ông lúng túng chưa biết cách gỡ ra. Một chị giật lấy mấy đồng tiền ông
đang cầm trên tay rồi ấn trả vào túi ông, miệng chửi ngoa lên:
- Tổ sư cha thằng đểu! Bố bị lừa rồi. Nó
trả cho bố nó chỉ bằng nửa giá thôi!
Ông thở dài, chẳng nói gì được nữa, lẳng lặng
phóng xe đi. Ngang qua Bờ Hồ, cảm thấy vừa
mệt, vừa ngượng lòng vì đã bán đi tiêu chuẩn nhà nước cấp cho cán bộ, lại vừa
ngẩn ngơ tiếc của. Ông xuống xe dắt bộ định tìm chỗ ngồi nghỉ tạm. Cẩm Nhung,
con gái ông vừa sinh thằng bé trong khi chồng nó là phi công bận trực chiến
không về được. Ông tự tìm lời an ủi: Dù sao với số tiền này cũng mua được mấy
cân đường, hộp sữa làm qùa cho đứa cháu đầu lòng và bồi dưỡng thêm cho con gái.
Lá cờ trên đỉnh Tháp Rùa rủ xuống với giải
băng đen nặng nề. Cả nước đang bàng hòang mang nỗi đau lớn nhất trong những
ngày để tang Hồ Chủ tịch. Đành rằng luật sinh-lão-bệnh-tử chẳng từ một
ai mà mọi người vẫn có cảm giác hụt hẫng không thể nào tin, mặc dù Cụ đã ở vào lớp
người xưa nay hiếm. Cả cuộc đời hoạt động tận tụy của Người là tấm gương
yêu nước sáng ngời. Cuộc sống trí tuệ mà nhân ái, thanh cao, giản dị của Cụ
chinh phục cả đồng bào, đồng chí, bè bạn lẫn kẻ thù.
Nghĩ tới phận mình, phận nước mà lòng ông
hoang mang qúa. Ngày giải phóng Thủ đô, vợ ông mang hai đứa con nhỏ cùng gia
đình bên ngoại theo Chúa vào Nam. Ông vẫn nặng lòng mặc cảm vì đã bỏ dở cuộc
kháng chiến trở về thành. Những tưởng ở lại chỉ hai năm thôi, nước nhà thống nhất,
gia đình lại đoàn tụ mà ông vẫn tỏ được lòng ngưỡng vọng với kháng chiến, với Cụ
Hồ, lòng trung với nước. Nào ngờ tương lai ngày càng mờ mịt mà đời người thì ngắn
qúa. Các con bốn đứa hai nơi bỗng thành đối nghịch trong khi ông với cái danh viên
chức lưu dung, hai con đứa gái đứa trai lớn lên với bản lý lịch chẳng mặn
mà gì… Ngày con gái lấy chồng nghĩ mà thương. Gia đình mình đàng hòang tử tế mà
người ta xăm xoi rà đi soát lại! Thằng bé hiền lành mà quyết liệt. Con ông thề
sẽ chẳng lấy ai… Hai đứa long đong lận đận lắm mới thành. Làm cha đã chẳng thể
là chỗ dựa cho con thì bây giờ ông phải cố gồng thêm cái chức năng người mẹ cho
các con đỡ tủi và ông bớt cảm thấy là mình vô vị.
Từ chiếc loa phóng thanh công cộng cỡ lớn
treo tít trên cây, phát lên khúc đầu Lời di chúc của Cụ Hồ: “Cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh
nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hòan tòan. Đó là một điều chắc chắn”. Và
Người “gửi gắm muơn vàn tình thân yêu cho đồng bào, đồng chí, các cụ phụ
lão, các cháu thiếu niên, nhi đồng và bè bạn khắp năm Châu”.
Ông chợt bật lên cái tên Huỳnh Anh Minh thật
hợp với tên cha nó là Huỳnh Anh Dũng vì các con giao cho ông cả việc đi làm giấy
khai sinh và đặt tên cho cháu. Không hiểu có là sự tình cờ ngẫu nhiên hay là
còn ẩn ý nào mà chỉ mình ông biết.
Cuộc hòa đàm ở Paris gần hai năm rồi vẫn cù cưa. Lúc sinh thời, Cụ
Hồ đã thấy trước rồi và Cụ căn dặn đoàn đi đàm phán: “Các chú sang Pháp lần
này sướng hơn Bác sang Pháp hồi năm 1946 nhiều. Ở nhà ta chiến thắng, thế giới
càng hiểu ta và ủng hộ ta. Ngồi ở Paris mà tố cáo đế quốc Mỹ là sướng lắm!
Nhưng phải luôn nhớ nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý, Mỹ là nước lớn
mà chịu ngồi lại đàm phán với ta là thất bại rồi, cho nên phải nói năng cho
khôn khéo, tế nhị, không được làm mất mặt người ta thì mới đạt kết quả. Chiến
tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì không được nôn nóng. Ta vừa đánh vừa
mở cửa cho nó thóat nhưng ngòai cửa nhớ che rèm!”.
Và
thế là cứ vừa đánh vừa đàm cho đến khi kẻ xâm lược nản lòng.
Năm
1972, người Mỹ muốn phủi tay thóat ra ngòai cuộc chiến, ký tắt một Hiệp định
khung với Việt Nam dân chủ cộng hòa, coi như hòa bình đã trong tầm tay.
Nhưng người bạn tình giăng gió cứ ương ngạnh khăng khăng bám lấy những lời chú
Sam lỡ hẹn non thề biển mà làm mình làm mẩy. Không muốn bị mang tiếng là kẻ
bội nghĩa bạc tình và làm oai với bàn dân thiên hạ, Nhà Trắng quyết chơi canh bạc
cuối cùng hòng buộc Hà Nội không còn sự lựa chọn nào khác ngòai việc chấp nhận
theo ý họ. Trước khi rời hội nghị, Kissinger nói toạc ra: “Nếu các ngài không
biết điều, Tổng thống của chúng tôi sẽ ra lệnh ngừng đàm phán để tiếp tục các
hành động quân sự và hậu quả sẽ thật khó lường!”. Ông ta không quên bắn tin qua
viên đại sứ của Sài Gòn rằng: “Tôi sắp làm một bi kịch đấy!”. Cố vấn Lê Đức Thọ
cứng cỏi đáp: “Các ông cố tình gieo gió sẽ gặt bão!”.
Từ
năm 1962, khi Đội quân đánh giặc trời mới hình thành, Bác Hồ đã lưu ý vị
tư lệnh: “Chú đã biết gì về B52 chưa”? Sau này, nhiều dịp Bác không quên
nhắc lại điều đó và Người khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa
B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua”!
Tuy
nhiên thực lực của ta lúc đó so với đối phương qúa nhiều chênh lệch. Máy bay
chiến đấu, ta có vài trung đoàn MIG-19 và 21, không thể so với các loại máy bay
chiến đấu hiện đại của Mỹ, hơn hẳn về tốc độ và chức năng cường tập. Phi công của
ta còn non trẻ, huấn nhiều, luyện ít, và kinh nghiệm chiến đấu chưa bao nhiêu,
đặc biệt là đánh ban đêm. Sân bay nào cũng bị đánh phá, sửa chữa vội vàng, chất
lượng kém, thậm chí có sân bay dã chiến được xây dựng vội vã, nền chỉ là đất nện.
Máy bay lên xuống không có đèn hiệu, chỉ dựa vào mấy giải băng vải trắng lờ mờ
trong đêm tối, giải ra vội vã rồi lại thu hồi ngay sau đó. Đánh B52 chủ yếu dựa
vào tên lửa đất đối không SAM-II do Liên Xô viện trợ từ mấy năm trước đó, số tồn
kho không nhiều, đa phần cận và qúa date. Dù các nhà khoa học của ta
thông minh sáng tạo, chỉnh sửa cho nó gia tăng tuổi thọ nhưng vẫn phập phù. Điều
quyết định cho tên lửa bắn trúng mục tiêu là hệ thống rada dẫn đường.
Qua thực tiễn chiến đấu, bộ đội rada đã đúc kết thành bài học hữu hiệu,
nhận ra nét đặc thù của B52 tàng hình trong màn sóng nhiễu. Dù trong khó khăn,
ta đã sẵn sàng phương án chống kẻ địch dùng B52 không tập.
Trước
sự tráo trở lật lọng bất ngờ của giới cầm quyền Mỹ, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội
tiên đoán một trận đánh phá tàn khốc bằng máy bay nhất định sẽ xảy ra ngay tại
các thành phố lớn nhạy cảm như Hải Phòng và đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Một mặt
ra lệnh cho người già, phụ nữ, trẻ em, những người không có công việc cần ở lại,
phải sơ tán triệt để ra khỏi thành phố. Một mặt chỉ thị cho Bộ đội phòng
không–không quân sẵn sàng chiến đấu, quyết không để kẻ thù ngang nhiên tàn
phá Thủ đô. Nhiều cán bộ dày dạn kinh nghiệm đánh máy bay được điều về từ các
chiến trường và bằng những phương tiện sẵn có, với tinh thần xả thân vì nước và
ý chí quyết tâm đánh gục B52 tại chỗ ngay từ trận đầu khi chúng liều lĩnh xâm
phạm vào bầu trời Hà Nội thiêng liêng.
Siêu
pháo đài bay khổng lồ B52 có chiều cao 12mét, dài 50mét, hai sải cánh 56mét, nặng
200 tấn, gắn tám động cơ phản lực cực khoẻ, hoạt động trong mọi điều kiện thời
tiết, ném bom thẳng đứng từ độ cao mắt thường không nhìn thấy được (mười đến
hai mươi ngàn mét). Không bao giờ đánh đơn lẻ, thường bay thành tốp ba chiếc. Mỗi
trận đánh ít nhất ba lượt tốp, có khi sáu lượt tốp hoặc nhiều hơn, sức hủy diệt
cứ 2 kilômét vuông một tốp nhân lên. Đồng hành với nó còn có những tốp máy bay
tiêm kích, cường kích F4 (Con ma), F105 (Thần sấm) và F111 (Cánh
cụp xòe) đi theo bảo vệ.
Để tập
trung vào trận đòn cuối cùng biến Hà Nội thành tử địa, lầu Năm Góc huy động 200
chiếc B52 – bằng một nửa tổng số máy bay chiến lược, tòan bộ máy bay chiến đấu ở
Đông Nam Á hơn 1000 chiếc – bằng một phần ba tổng số máy bay chiến thuật, tương
đương tổng không lực của hai nước Anh và Tây Đức cộng lại và 6 trong số 24 tàu
sân bay của Mỹ thả neo ở ngòai khơi vịnh Bắc Bộ.
20
giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972, cuộc hành quân Linebecker II do Tổng Thống Mỹ hoạch
định, bắt đầu. Hơn 100 máy bay B52 cùng với 300 máy bay chiến đấu tối tân các
loại, đồng loạt tấn công hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Thủ đô rung
chuyển trong những tiếng nổ khủng khiếp. Bầu trời đầy những tia chớp giật lóe
sáng rực lên. Nhà cửa chao đảo ngả nghiêng như trong trận động đất lớn. Cả
thành phố sáng bừng, đỏ ối, rần rật lửa như hỏa thiêu địa ngục. Cùng lúc, những
làn lửa đỏ nhằng nhịt của súng phòng không các cỡ đan kín bầu trời, những hỏa
tiễn SAM-II chói sáng rực lên như những con rồng lửa vun vút bay lên, nổ
tung thành những cụm pháo hoa. Những đám lửa đỏ ngùn ngụt bung ra thành nhiều
đám cháy lớn, nhỏ lả tả rơi xuống khắp bốn phương, tám hướng. Người Hà Nội
không hề run sợ, hân hoan vui sướng reo ầm lên, chứng kiến kẻ thù bị trừng trị
đích đáng ngay giữa bầu trời Thăng Long văn vật. Hai chiếc B52 bị hạ gục. Một
chiếc rơi ngay xuống cánh đồng phía bắc Thủ đô. Chiến sỹ ta kiểm tra tại chỗ
xác chiếc máy bay rách nát tả tơi, phát hiện một mảnh có tấm phù hiệu sặc sỡ vẽ
biểu tượng một quả đấm thép, ba tia chớp, một cành nguyệt quế, cùng dòng chữ Stratagic
Air Command (Bộ chỉ huy không quân chiến lược) và cạy ra một tấm nhãn kim
loại nhỏ còn rõ chữ Aircraft Model B52G được mang về làm vật chứng trình
lãnh đạo cấp cao.
Đêm
19 tháng 12, đài phát sóng Mễ Trì bị đánh trúng, tiếng nói Việt Nam ngừng phát
thanh trong 9 phút, sau đó lại bình tĩnh vang lên, vạch trần tội ác của quân
xâm lược và hân hoan thông báo tới đồng bào cả nước và nhân dân tòan thế giới:
thêm ba chiếc B52 nữa bị tan xác trên bầu trời Thủ đô, phi công B52 bị bắt sống.
Liên
tiếp đến ngày 23, đêm nào cũng xảy ra những trận chiến ác liệt không kém. Đặc
biệt đêm 22 chúng bỏ bom đánh sập một phần bệnh viện Bạch Mai, làm chết nhiều
người bệnh và thầy thuốc đang hành nghề nhân đạo. Tuy nhiên, trận nào quân và
dân ta cũng hạ được nhiều máy bay các loại trong đó có B52 và bắt sống giặc lái
Mỹ.
Ngày
24, Hoa Kỳ tuyên bố ngừng tiến công 36 tiếng đồng hồ để đón Chúa giáng sinh và
kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Việt nên biết điều, hãy quay trở lại hội nghị Paris,
làm theo ý Mỹ. Tổng hành dinh ở Hà Nội nhận định đây chỉ là hành động cuối cùng
của kẻ vũ dũng ỷ vào sức mạnh hung tàn đòi thoả lòng tham. Nhất định chúng còn
nỗ lực một lần nữa, sẽ quyết liệt hơn. Ta dồn sức chuẩn bị đối phó một trận quyết
chiến tuy khốc liệt mà thắng lợi nắm chắc trong tay.
Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng được cử tới trại giam Hoả Lò khai
thác những tên giặc lái vừa bị bắt. Ngồi trước mặt anh là một tên trung tá lái
máy bay B52 vẻ phờ phạc, mặt chưa hết kinh hòang. Chân trái y cứng đờ trong ống
bột đăng cố định vì một cẳng chân bị gãy khi dù của y mắc vào một cành cây, rơi
xuống đất. Phi công ta chỉ vào cái chân đau của y hỏi:
-
Chân anh đau, liệu có đủ tỉnh táo nói chuyện với tôi không?
Nó
làm dấu thánh, mắt nhìn xuống đất:
- Lạy
Chúa lòng lành vô cùng. Tôi đã tưởng không chết vì cái chân này mà chết cháy vì
những cơn giận nảy lửa tóe ra từ những đôi mắt của bao nhiêu người già, trẻ,
gái, trai khi họ biết tôi là tù binh phi công Mỹ!
-
Tôi cũng là phi công, nếu lái máy bay qua nước anh gây nên những tội ác như vậy
liệu người Mỹ có tha thứ cho tôi không?
Y lại
nhìn xuống, tay làm dấu thánh, miệng lầm bầm điều chi không rõ.
-
Tôi chỉ hỏi anh mấy điều để cho anh có thời gian dưỡng sức. Máy bay của anh xuất
phát từ đâu?
-
Thưa ngài Trung tá! Từ căn cứ Anderson ở đảo Guam. Nhưng khi thi hành xong quân
vụ có thể được lệnh hạ cánh ở Okinaoa hoặc Utapao.
-
Người ta có nói cho anh biết vì sao phải dùng B52 đem bom dội xuống các thành phố
không trừ Thủ đô của nước chúng tôi không?
-
Chúng tôi được chỉ thị rằng phải hỗ trợ cho việc làm của Tổng Thống Nixon. Cấp
chỉ huy trực tiếp của chúng tôi nói đây là những phi vụ cực kỳ quan trọng.
-
Anh đã thực hiện bao nhiêu phi vụ như thế này trên lãnh thổ Việt Nam?
- Gần
mười phi vụ, kể từ phía nam ra tới Hải Phòng và lần đầu bay ra Hà Nội.
-
Trên một máy bay B52, biên chế bao nhiêu nhân sự?
-
Như trên chiếc B52G hiện nay có sáu người: Một phi công lái chính còn gọi là cơ
trưởng; một lái phụ kiêm phụ trách động cơ bay; một hoa tiêu theo dõi đường
bay; một sỹ quan điều khiển hệ thống máy tính tự động đảm bảo an tòan cho cả
kíp bay. Người này quan trọng nhất, cấp bậc có khi hơn cơ trưởng; một sỹ quan
theo dõi hệ thống radar và bấm nút cắt bom khi có hiệu lệnh và một hạ sỹ quan
điều khiển khẩu đại liên đề phòng cận chiến.
-
Anh đã có bao nhiêu giờ lái máy bay?
-
Cho tới lúc bị bắn rơi là hơn 3000 giờ lái. Ngòai ra tôi còn lái hơn mười loại
máy bay khác nữa.
- Mỗi
lần nhấn nút có bao nhiêu trái bom rơi?
-
Hai mươi bảy trái loại 750 bảng Anh, tương đương 340 kilôgam .
- Một
phi cơ B52 mang được bao nhiêu trái bom như thế?
-
Khoảng một trăm trái và có thể hơn!
- Có
nghĩa là mỗi phi vụ anh bốn lần nhấn nút, dọc theo tuyến bay. Anh có nghĩ điều
gì sẽ xảy ra sau đó?
Y
lúng túng, trả lời ấp úng :
- Thật
sự, tôi không biết nói sao. Tôi chỉ là người lính! Trong quân đội, chúng tôi được
mang danh là sỹ quan quí tộc và tự hào mình làm chiến tranh sạch sẽ. Chúng tôi
ngồi trong buồng lái đầy đủ tiện nghi, mãi trên cao hàng chục kilômét, không
nhìn thấy gì hết ngòai khoảng không đầy mây trước mặt. Là người lái, tôi chỉ
nhìn vào bảng điều hành độ cao, tốc độ theo sự dẫn đường của hoa tiêu nhìn trên
bản đồ và sự điều khiển từ sở chỉ huy. Mỗi người một phận sự, làm việc như một
cái máy theo các ký hiệu đèn xanh, vàng, đỏ và những sóng tần trên bảng chỉ dẫn.
Mọi việc sau đó tuần tự thực hiện theo một hệ thống dây truyền. Khi trở về căn
cứ, chúng tôi coi như trả xong món nợ. Ngày mai, khi giao ban, người ta chiếu lại
trên màn hình, đánh giá công việc chúng tôi làm đã đạt yêu cầu hay chưa. Mọi sự
đúng sai là do hệ thống máy móc tự động có chính xác hay không?
-
Nghĩa là anh cũng không hề nghĩ tới có bao nhiêu nhà cửa, đền đài, nhà thờ, nhà
thương, trường học và bao nhiêu mạng người chết bởi việc mình làm?
Y tái mặt đi, lắp bắp:
- Chiến tranh… Chúng tôi phải làm theo lệnh của cấp trên!
- Anh đã thấy người Việt Nam nào mang vũ khí sang nước Mỹ
giết hại chỉ một con vật chưa? Trong khi các anh tự hào nước Mỹ là tổ quốc của
tự do và nhân quyền ?
Y run rẩy vì thấy người hỏi cung mình sẵng giọng và mặt đỏ
lên. Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng nén lòng lại, cố giữ sự bình tĩnh:
- Ở khách sạn Hilton đặc biệt này, anh có gặp nhiều sỹ
quan bè bạn của anh không?
- Tôi nghe người nào lúc mới tới đây cũng gọi là khách sạn
Vỡ tim. Thật là khủng khiếp! Lúc đầu, chúng tôi nghĩ như một cuộc dạo chơi. Vì
xét về tương quan lực lượng, các ông không thể nào chạm tới đuôi máy bay chứ đừng
nói tới chuyện uy hiếp được chúng tôi. Máy bay của các ông cổ lỗ, làm sao qua nổi
nhiều tầng bảo vệ bởi các loại máy bay hiện đại nhất của chúng tôi để tiếp cận
B52 được ? Tên lửa đất đối không SAM-II, có thể với tới tầm xa 32 kilômét,
nhưng theo tin tình báo của chúng tôi, mấy năm nay, đồng minh lớn của các ông
đã giảm nhiều mức viện trợ các loại vũ khí chiến lược tối tân. Các quả tên lửa
cũ kỹ lấy ra từ trong kho liệu có còn phát huy tác dụng? Đặc biệt, tên lửa như
một thằng mù hung hãn. Con mắt của nó là hệ thống rada dẫn đường đã bị chúng
tôi bịt kín rồi!
- Tên lửa đất đối không của Liên Xô, người Mỹ gọi là
SAM-II, thực ra người Nga cho nó cái tên rất thơ mộng của dòng sông Đờvina,
mang ký hiệu CA-75-M và khi đến Việt Nam nó thành Rồng Lửa! Chúng tôi biết,
các anh có nhiều máy móc gây nhiễu xạ rất tinh vi, chẳng những đặt trên các máy
bay EB-66 luôn đi kèm với B52, mà còn có hệ thống máy nhiễu xạ rất lớn phát ra
từ những hạm tàu thường xuyên di chuyển ở ngòai khơi vùng biển của chúng tôi...
Anh đưa tay chỉ vào đôi mắt của mình:
- Có lẽ vì thế mà các anh chỉ đánh về đêm để bịt nốt những
con mắt này? – Anh cười mỉa:… Và tin rằng hỏa tiễn của chúng tôi chẳng mấy nỗi
sẽ không còn một trái!
- Hồi tháng tư,
chúng tôi đánh vào Hải Phòng, Hà Nội, các ông bắn lên hàng trăm hoả tiễn
SAM-II, cứ như đạn tiểu liên bắn lên trời mà có chạm vào đuôi hay cánh một chiếc
B52 nào của chúng tôi đâu? Ở Câu lạc bộ sỹ quan căn cứ không quân, trong khi
các phi công lái máy bay chiến đấu tỏ ra lo lắng, bi quan, luôn miệng cầu Chúa
ban phúc lành thì cánh phi công chiến lược chúng tôi vui vẻ bảo nhau: B52 có thể
đi đánh bất kỳ đâu ở Việt Nam mà không hề sợ tróc sơn!
Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng cười mai mỉa :
- Chỉ một tuần nay đã có gần hai mươi B52 của các anh bị
tên lửa của chúng tôi bắn hạ… Nhìn thấy các bạn của anh đang ở đây là có thể tin
những điều tôi nói không sai. Trong khi lầu Năm Góc đã tính chúng tôi không đủ
sức chịu được qúa ba ngày!
- Xin lỗi! Hay là
người Nga bí mật sang đây, mang theo những loại vũ khí mới tối tân hơn?
- Chúng tôi rất cần sự giúp đỡ của tất cả bạn bè, những
người yêu chuộng hòa bình và công lý trên tòan thế giới, ngay cả những người Mỹ
chính trực và lương thiện. Nhưng chúng tôi tự bảo vệ tổ quốc của mình. Các anh
không thắng được chúng tôi vì đi gây chiến mà không hiểu đối phương thì làm sao
thắng được!
- Các ông thật đáng kính phục. Trước đây, chúng tôi nghĩ
các ông giỏi lắm cũng chỉ tới mức sử dụng được các loại súng bộ binh, tới mấy
khẩu cao xạ thông thường. Không ngờ các ông nhanh chóng làm chủ các phương tiện
chiến tranh hiện đại, đấu trí, đấu sức làm cho các tướng lĩnh nổi danh của
chúng tôi thất vọng.
- Về các phương tiện chiến tranh, còn lâu chúng tôi mới
theo kịp các anh. Nhưng chúng tôi chiến đấu trên bầu trời của tổ quốc chúng
tôi, chúng tôi có trí thông minh, lòng dũng cảm và danh dự của một dân tộc quyết
tâm bảo vệ tổ quốc của mình. Anh nghĩ sau nghỉ lễ giáng sinh, bộ chỉ huy hành
quân Linebecker II có giở thêm trò gì mới nữa không?
Y cúi đầu buồn bã :
- Thường thì người Mỹ chúng tôi chỉ khi nào thất bại rồi
mới bắt đầu suy nghĩ về việc mình làm đúng hay sai, nên hay không nên. Họ rất
tin vào sức mạnh Mỹ. Họ từng ra lệnh cho chúng tôi ném bom tới mức bão hòa. Tuy
nhiên họ sẽ tập trung đánh mạnh hơn và có thể cùng lúc đánh ra diện rộng để
phân tán hỏa lực của các ông. Dù rằng ông Nixon từng nghĩ tới việc dùng bom
nguyên tử chiến thuật ở Việt Nam nhưng tôi nghĩ lúc này chưa dám đâu. Song ông Diều
hâu ấy đã nói thẳng ra rằng: «Chúng ta sẽ không chịu vừa rút quân vừa
khóc thầm. Phải cho nổ tan tành quân khốn kiếp» – Tôi xin lỗi, đấy là
nguyên lời của ông ta! Điều họ có thể làm được là cải tiến kỹ thuật để vô hiệu
hóa hệ thống rada. Nhưng thưa ngài trung tá… Như thế có nghĩa là chiến tranh
chưa thể kết thúc? Và chúng tôi phải ở đây mãi cho đến ngày về chầu Chúa?!
Trung
tá Dũng gay gắt:
-
Các anh không phải là tù binh vì các anh vô cớ mang bom dội lên đầu tàn sát
nhân dân tôi. Người Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh diệt chủng, hủy diệt
cả môi trường, môi sinh… Các anh là tội phạm chiến tranh và đã bị Tòa án
Bectrand Russel tuyên án trước tòan thế giới! Tuy nhiên ở đây, các anh vẫn
được đối sử theo truyền thống hòa hiếu của dân tộc chúng tôi. Còn việc phải ngồi
tù bao lâu nữa là tùy thuộc hòan tòan
vào chính phủ của các anh có muốn hòa bình, tôn trọng quyền độc lập, tự quyết của
người Việt Nam chúng tôi không?
Anh
đứng dậy, đưa cho y một điếu thuốc, y sung sướng, cảm ơn rối rít. Anh thương hại,
thấy phải giải thích cho y rõ:
-
Chiến tranh liên miên làm cho đất nước chúng tôi nghèo lắm. Trong khi nhân dân
chúng tôi còn thiếu ăn, những người lính của chúng tôi cũng chỉ được những khẩu
phần hạn chế mà mỗi tù binh các anh được Nhà nước chúng tôi chi cho tiền ăn một
ngày gấp đôi lương bình quân một ngày của sỹ quan cấp như tôi. Tiêu chuẩn đường
sữa bồi dưỡng sức chiến đấu của tôi cũng như của vợ tôi dạy học, phần lớn dành
cho thằng con trai bốn tuổi của chúng tôi!
Y
ngước nhìn người sỹ quan đối phương bằng đôi mắt thật buồn và biết ơn:
- Cảm
ơn ngài Trung tá! Tôi cho rằng lịch sử đứng về phía các ông, đạo lý thuộc về
các ông. Trong số sỹ quan của chúng tôi cũng có người nhận ra điều đó và họ đã
phản chiến. Trong lòng tôi cảm phục nhưng không đủ can đảm làm như thế. Các ông
sẽ thắng và thực tế các ông đã thắng.
Anh
vừa quay đi, nhìn quanh không thấy có ai, y bước sát tới anh hỏi nhỏ:
-
Thưa ngài Trung tá! Địa điểm trại giam này có được giữ bí mật không?
Anh
trừng mắt nhìn y, nghiêm nghị :
-
Chúng tôi nhất định bảo vệ được trái tim của tổ quốc mình. Từ đây, đã nhiều lần
chúng tôi cho hàng đoàn phi công Mỹ như anh đi diễu trên các đường phố Thủ đô
hoặc làm một số việc lao động công ích để cho họ thấy nhân dân chúng tôi phải
kìm nén sự căm phẫn và giữ lòng nhân đạo đến mức độ nào. Nhiều nhà báo, kể cả
người nước ngòai cũng được vào đây gặp gỡ và phỏng vấn tù binh Mỹ. Chúng tôi đã
dự liệu khả năng hoặc là người Mỹ sẽ hủy diệt để phi tang như đã từng làm trên
chiến trường, hoặc là họ sẽ tái diễn một trận không tập như hai năm trước ở
phía tây bắc cách đây 20kilômét để giải cứu tù binh nhưng thất bại. Tình huống
nào chúng tôi cũng có phương án đối phó chủ động cả rồi.
Anh
giận dữ bước đi thật nhanh trong khi viên phi công tù binh mặt tái xanh, run rẩy
làm dấu thánh và đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.
Trên đường về đơn vị, phi công Huỳnh Anh Dũng bảo anh lái xe vòng
qua nơi sơ tán thăm vợ và con. Nghe có anh phi công chồng cô giáo Cẩm Nhung về
đây, các thầy, cô giáo, học trò và bà con làng xóm kéo đến chật nhà, đầy sân ra
đến ngõ để tận mắt được nhìn người nhà trời, người anh hùng có nhiều kỳ
tích bắn rơi mấy máy bay Mỹ. Thằng cu
con nhìn cha như người lạ, cứ nép vào lòng mẹ. Cha nó thỉnh thoảng liếc
nhìn con vì phải vui vẻ trả lời đủ loại câu hỏi của các cô gái, chàng trai, em
nhỏ, vừa tò mò vừa thán phục. Một cụ già lo lắng hỏi:
- Nó
đánh Hà Nội, Hải Phòng rồi có đánh rộng ra nữa hay không?
-
Bác Hồ biết trước cả rồi và đã căn dặn chúng tôi: “Nhớ là trước khi thua ở
Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua.
Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”!... Với đà B52
rơi rụng thế này thì nó lấy ở đâu ra nữa để đánh rộng ra cả nước mình?
Lời
nói quả quyết tự tin của người phi công lại được xác minh bằng lời tiên đoán của
Bác Hồ, mang đến niềm tin và phấn khởi cho mọi người.
Bà chủ nhà te te bưng lên cái mâm gỗ bày lù lù
hai đĩa sôi lạc to tướng và hai quả trứng ngan, vừa đặt lên cái phản giữa nhà vừa
nói bâng quơ:
- Chẳng
ai có ý tứ gì. Người ta đi đường xa về thì đói, lại chẳng có bao lâu thì giờ
tâm tình với con, với vợ mà ai cũng tíu ta tíu tít thì chẳng còn có tí gì gọi
là tâm lý cả. Tôi đề nghị mọi người giải tán để có chút cây nhà lá vườn bồi dưỡng
các anh bộ đội giữ yên bầu trời cho các cháu học sinh yên vui học tập và bà con
làng xóm mình thi đua tăng gia sản xuất…
Lời
nói của bà chủ nhà thật có uy. Chỉ một loáng, căn nhà trở nên rộng mênh mông. Mấy
mẹ con bà chủ nhà cũng dắt anh lái xe bê đĩa xôi qua nhà hàng xóm. Cẩm Nhung
giao con cho chồng. Cha nó rúc đầu vào bụng thằng bé, dụi dụi, làm nó bật cười
ré lên. Anh đặt con lên vai, đung đưa chạy quanh nhà làm cho thằng bé khóai chí
cười như nắc nẻ. Một thóang hạnh phúc đơn sơ bao trùm lên khuôn mặt người phụ nữ.
Cha nó khen:
- Thằng
này lớn lên làm phi công được đây!
- Đừng
con ạ! Lúc ấy già rồi mà cứ nơm nớp lo chắc mẹ chết sớm qúa.
- Ô!
Lúc đó nó phải lái máy bay hàng không dân dụng đưa mẹ vào ra Sài Gòn–Hà Nội như
đi chợ rồi lại đi vòng quanh khắp thế giới chu du thiên hạ xem có mê ly không
nào?
-
Phi công lái máy bay lớn phải cao, to chớ dài có một mét 68, nặng 55 kilô như
cha nó, không còn ai người ta mới tuyển!
Anh
cười khì khì, chuyển thằng cu xuống bồng xốc trên vai:
- Đến
lúc ấy hòa bình là con mình no đủ rồi. Không như cha nó, thời học sinh lúc nào
cũng đói dài. Phải nịnh mấy chị cấp dưỡng xin thêm miếng cháy. Lỡ bị lộ ra, hai
chị em đều bị phê bình là xâm phạm vào xuất ăn của con heo!
Anh
ôm con nựng trong lòng, âu yếm nhìn vợ, rên rỉ ngâm nga:
- Chứ
đâu có như mẹ Cẩm Nhung bây giờ… Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi…
biền biệt… Nhỡ khi mình… chậm về thì thương người vợ… này này – Anh hôn vào
má vợ bật lên một tiếng thật to.
Cẩm
Nhung vỗ yêu vào má chồng :
-
Thiếu gì thơ hay mà đi xuyên tạc thơ của người ta là yếu… văn lắm đấy nhé!
Thằng bé nằm yên giữa lòng cha mẹ trong
khi hai vòng tay người lớn chòang ôm chặt lấy nhau như không muốn rời ra. Đấy
là giây phút hạnh phúc ngây ngất hiếm hoi với cả hai người.
Hết
36 giờ nghỉ lễ, đêm 26 tháng 12, lầu Năm Góc tập trung lực lượng lớn, ra đòn
quyết định. Ngòai việc tăng thêm công xuất gây nhiễu từ các máy đặt trên hạm
tàu đậu sát ngòai khơi và thêm số máy bay EB-66 gây nhiễu, không lực Hoa Kỳ còn
cho máy bay F4 thả dày đặc những sợi kim loại dọc theo đường bay của B52, nhằm
tạo mục tiêu giả và gây kích thích ngòi nổ vô tuyến, làm cho tên lửa phát nổ
trước khi gặp mục tiêu. Hàng trăm máy bay B52 và các loại máy bay chiến thuật với
mật độ dày đặc, chớp nhóang trong 15 phút, cùng lúc tấn công cường tập ba mục
tiêu Thái Nguyên, Hải Phòng và đặc biệt là Hà Nội, hy vọng đánh gục đối phương
trong thời gian cực ngắn. Hàng trăm điểm dân cư bị tàn phá trong đó nặng nề nhất
là cả phố cổ Khâm Thiên biến thành đống đổ nát nghi ngút lửa khói, làm chết
hàng ngàn thường dân vô tội. Hà Nội chẳng những không sụp đổ, trái lại số máy
bay Mỹ lại bị hạ gục nhiều hơn: tám chiếc B52 cùng số phi công Mỹ chết tan xác
và bị bắt cũng nhiều hơn.
Phi
công Huỳnh Anh Dũng phát biểu trước tập thể:
- Nó
không lỳ mãi được đâu. Đừng để nó coi thường MIG không thể chạm tới B52 được.
Đây là dịp cuối cùng, để lỡ thì uổng qúa!
Phi
công, ai cũng sôi lên muốn được một phen cho con mẹ phù thủy kiêu ngạo ấy biết
tay. Vũ Xuân Thiều nắm tay Huỳnh Anh Dũng giơ lên :
-
Xin cho chúng tôi được tiêu diệt nó!
Cấp
chỉ huy nhìn những chiến sỹ từng qua nhiều thử thách, được tuyển chọn vào đội
đánh đêm, gửi lòng tin tưởng :
-
Đêm nào chúng ta cũng phục kích nhưng con cáo già này gian manh lắm, nên chưa
hiệu quả. Lần này ta bố trí đón lõng cả hướng bắc, nam, tạo thế bất ngờ. Phát
hiện địch phải nắm thắt lưng nó mà đánh cho bằng được. Hy vọng một chàng
trai Hà Nội với một chàng trai Sài Gòn sẽ làm nên chuyện.
Hai
người biết nhau từ những ngày mới học lái máy bay bên nước bạn, lại càng hiểu
nhau trong chiến đấu, nắm chặt tay nhau, thầm nghĩ rằng bảo vệ bầu trời Thủ đô
cũng là bảo vệ những người thân yêu ruột thịt của mình. Hai anh lập tức lên đường
vào Thanh mật phục vì địch chủ quan nghĩ rằng sân bay trong đó đã bị phá hủy, không
thể phục hồi ngay được.
Đêm
27 tháng 12, Hà Nội hạ bốn chiếc B52 nữa, có chiếc rơi ngay xuống làng hoa Ngọc
Hà, không xa nhà của Vũ Xuân Thiều. Đặc biệt phi công Phạm Tuân bí mật xuất
kích từ một sân bay dã chiến ở Yên Bái, lái chiếc MIG-21 tiếp cận mụ phù thủy
quen ỷ vào ba phép lạ, đốn gục một B52 nữa ngay trên bầu trời cửa ngõ Hòa Bình
và trở về đất mẹ an tòan.
Nghe
tin ấy, quyết tâm của hai chiến sỹ phi công càng được vững tin.
Tinh
mơ sáng ngày 28, đúng theo hợp đồng chiến đấu, từ sân bay Cẩm Thủy, máy bay của
Huỳnh Anh Dũng xuất phát trước, cố tình sớm để lộ mình, làm chim mồi
khiêu khích nhử bầy máy bay chiến thuật tầm thấp phát hiện và lao theo cánh
chim đơn độc. Anh nhận việc làm nguy hiểm để đồng đội Vũ Xuân Thiều thừa cơ cho
máy bay xuất kích, ẩn mình vượt lên tầm cao. Chiếc B52 nhấp nhánh đèn như đi dạo
chơi hướng vào bầu trời Hà Nội. Khi phát hiện ra đang bị đối phương truy kích
thì cự ly đã qúa gần rồi. Không kịp nhả bom, nó thả vội ra hai quả tên lửa đánh
lạc hướng đối phương. Đúng lúc Vũ Xuân Thiều nhấn cả hai quả tên lửa của mình
phóng vụt ra. Tên lửa đụng tên lửa nổ tung. Chiếc B52 chỉ bị thương, chòng
chành, lảo đảo tìm cách thóat thân. Thiều nhìn rõ mấy tên giặc trong buồng lái
ôm đầu co rúm lại. Cùng lúc máy bay của Huỳnh Anh Dũng bị thương. Sở chỉ huy ra
lệnh cho anh nhảy dù ra. Anh điện gọi bạn cho “chim về tổ”. Chỉ nghe tiếng
trả lời vội vã:
-
B52 bị thương! Hết đạn! Rất gần! Quyết không cho nó thóat !
Huỳnh
Anh Dũng nhận ra một tiếng nổ vang rền cùng khối lửa lớn bùng lên phía trên bầu
trời Sơn La đang bừng bừng rơi xuống. Anh chỉ kịp thốt lên trong máy:
- Đồng
chí Vũ Xuân Thiều!
Máy
bay anh lao vun vút không điều khiển được đúng ngay trên bầu trời thành phố.
Anh không thể nhảy ra để chiếc máy bay rơi tự do xuống những mái nhà còn sót lại
giữa đống đổ nát dưới kia. Anh cố chỉnh tay lái, nán lại cho máy bay qua được
chỗ này. Khi máy bay tới độ thấp nhất, anh định bấm nút nhảy dù ra, chợt giật
mình nhận ra chiếc máy bay đang lao thẳng xuống một đám đông nháo nhào lố nhố.
Hình như là trường học! Anh nghiến răng, hết sức kéo cần cho máy bay chếch đầu
lên một chút. Anh không kịp nhảy ra khi chiếc máy bay sượt qua mái trường và
rơi ngay gần đó.
Tại
Sở chỉ huy chỉ nghe được tiếng thét thất thanh và tiếp ngay là một tiếng nổ Bùng!
Trên chiếc xe com măng ca của đơn vị về đón Cẩm Nhung, anh cán bộ
trợ lý chính trị cầm tờ báo Quân đội nhân dân, đọc to lên dòng tít và những
hàng chữ lớn ở trang đầu: Sáng ngày 30 tháng 12, theo giờ Hà Nội. Trong
tâm trạng thất vọng và cay đắng, Tổng Thống Mỹ đã phải ra lệnh ngừng oanh kích
vào các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam và kêu gọi nối lại cuộc hòa đàm ở
Paris vào ngày 8 tháng 1 năm 1973: Sau 12 ngày đêm điên cuồng không
tập, Hoa Kỳ đã mất 81 chiếc máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến
lược B52, bằng 17% số máy bay tham chiến, gần 10% tổng số máy bay chiến lược hiện
có và 5 chiếc máy bay chiến đấu cánh cụp xòe F111A, hiện đại nhất của không lực
Mỹ. Tổn thất lớn nhất của Mỹ là nhiều phi công bị chết và bị bắt sống đang phẫn
nộ và chán chường ngồi trong các nhà tù của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đợi
ngày phóng thích. Đế quốc Mỹ đã thua trên bầu trời Hà Nội. Lịch sử giữ nước Việt
Nam lại ghi nhận một trận Điện Biên Phủ trên không. Nó chứng minh tinh thần yêu
nước Việt Nam là bất diệt và khẳng định niềm tin của Bác Hồ kính yêu trước lúc
Người đi xa.
Thằng
bé Huỳnh Anh Minh vô tư giật lấy tờ báo cũng giơ lên ra vẻ đọc trong khi mẹ nó
như người mộng du, không biết chuyện gì sẽ xảy ra và trong lòng chị linh cảm điều
lành thì ít, điều dữ thì nhiều.
Cẩm Nhung lao vào phòng cấp cứu Viện quân
Y 108. Một khối băng trắng nằm bất động. Dù không nhận dạng nhưng không ai khác
nữa ngòai chồng chị. Chị ôm chòang lấy người chồng thân yêu, khóc òa lên:
-
Anh ơi! Em và con đến đây rồi! Anh có nhận ra không?
Trong
cõi âm u mù mịt, văng vẳng tiếng gọi mơ hồ, anh cảm thấy như có ai lôi dần mình
lên từ đáy cái hố đen thăm thẳm. Lại có tiếng trẻ con lanh lảnh như điệu nhạc
quen thuộc êm ấm thân thương:
- Mẹ
ơi!… Ba… Ba đâu?
Anh
lờ mờ thấy trước mắt hiện ra một mái trường với những đứa trẻ thơ đang mừng vui
ríu rít giơ tay lên vẫy vẫy. Chắc là học trò của vợ anh. Anh nhớ ra chiếc máy
bay của anh như con chim khổng lồ gãy cánh lao vun vút xuống chùm lên bầy trẻ.
Như có điều gì linh thiêng thức tỉnh. Bàn tay anh động đậy, quơ quơ. Môi anh mấp
máy bật ra theo hơi thở yếu ớt:
-
Các cháu… học sinh… có… sao… không?
Cẩm
Nhung không biết điều gì đã xảy ra với chồng mình. Chị kéo bàn tay con áp vào
tay cha nó và nâng cả hai bàn tay ấy lên ấp vào mặt mình. Anh cán bộ trợ lý
chính trị hiểu ra sự việc, ghé sát vào tai đồng đội nói thật to lên :
- An
tòan! Bình yên! Đồng chí tỉnh dậy đi… nhìn chiến thắng!
Tiếng
người gần xa văng vẳng không rõ nhưng dường như báo hiệu một tin vui. Trước mặt
anh, ánh sáng bừng lên. Trên lơ lửng bầu trời, ngọn lửa chói chang long lanh
ánh hào quang muôn sắc. Bạn anh – Vũ Xuân Thiều hiện ra, tươi cười dang đôi
cánh rộng, bay xuống thật gần. Hơi ấm từ ngọn lửa ấy làm người anh càng nóng
ran lên. Anh cố giơ tay lên và cảm thấy như tay mình đã nằm trong tay bạn… Anh
rướn người lên… ngưng thở… trút đi cái bóng đen nặng nề, đớn đau, trì níu. Thân
mình anh nhẹ hẫng như một tia sáng vút bay
lên… để lại trên đôi môi khô rộp một bông hoa tươi rói.
Bàn
tay anh như không đỡ nổi những giọt nước mắt của người vợ thân yêu nữa, rời ra.
Cẩm Nhung thảng thốt nhìn lên nét mặt chồng đen cháy vô hồn. Chị ôm lấy anh,
lay mạnh gào lên :
-
Anh Dũng ơi… Anh Dũng ơi! Đừng bỏ em… Đừng bỏ con... Anh Dũng!
Chuyến
bay đầu ngày của hãng Hàng không Việt Nam cất cánh rời sân bay Thủ đô vào một
ngày cuối năm. Chiếc BOEING khổng lồ nhấc mình khỏi đường băng vút lên không
trung. Vào thời điểm ấy, mọi người ngồi trong khoang máy bay đều tập trung cho
sự thích nghi khi từ mặt đất mới thóat lên bầu trời và theo dõi sự ổn định của
đường bay. Bỗng dưng chiếc máy bay nghiêng mình và dường như vòng lại. Những
người quen với đường bay tỏ ra ngạc nhiên và lo lắng. Từ dãy ghế VIP có ba
người đứng dậy quay về phía hành khách. Đứng giữa là một bà lớn tuổi, tóc hoa
râm, mặc toàn đồ đen, nét mặt phúc hậu man mác buồn. Cô nữ tiếp viên trẻ đẹp,
mặc bộ áo dài màu cánh sen, đồng phục của ngành hàng không. Anh phi công to
lớn, mặc lễ phục trắng muốt, ngực đỏ những tấm huân chương, nét mặt trang
nghiêm, giọng chậm rãi, rõ ràng:
- Thưa đồng bào và qúi vị. Vào
khoảng giờ này, tại khoảng trời này, cách đây đúng 30 năm, một phi công anh
hùng đã hy sinh để bảo về bầu trời Thủ đô thiêng liêng của tổ quốc chúng ta. Kẻ
thù ỷ vào sức mạnh của các phương tiện và vũ khí tối tân hòng làm tê liệt tinh
thần chiến đấu của người Việt Nam bảo vệ tổ quốc của mình. Một biên đội MIG–19
bất ngờ xuất kích từ một sân bay dã chiến bí mật ở miền Trung. Trung tá phi
công Huỳnh Anh Dũng bay trước, tự lộ mình ra lừa địch, làm mục tiêu cho lũ máy
bay tiêm kích truy đuổi, để cho đồng đội thừa cơ địch sơ hở, bay vọt lên, lao
thẳng vào tiêu diệt chiếc máy bay chiến lược B52 trên bầu trời Yên Bái. Khi
nhiệm vụ hòan thành, máy bay bị trúng đạn, đồng chí Huỳnh Anh Dũng được phép
nhảy dù ra. Nhưng chiếc máy bay mất đà đang lao thẳng vào một trường học. Đồng
chí kịp nhận ra, kéo ghì cần lái cho chiếc máy bay chếch lên, vượt tầm lướt xa
ra. Phi công không còn thời gian nhảy khỏi buồng lái nữa! Một lúc, đồng chí đã
hòan thành nhiệm vụ hợp đồng chiến đấu tiêu diệt giặc và bảo vệ tính mạng của đồng
bào. Sự hy sinh cao cả của các đồng chí là tiếp nối truyền thống vẻ vang của Anh
bộ đội Cụ Hồ, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ tiếp theo…
Nét mặt trang nghiêm, anh trân trọng
nâng tay bà mẹ:
- Đây là nhà giáo Nguyễn thị Cẩm
Nhung, người bạn đời của phi công liệt sỹ anh hùng…
Vẻ mặt tươi lên, tay hướng về buồng
lái:
- Và người đang điều khiển chiếc máy
bay của chúng ta lúc này là phi công Huỳnh Anh Minh, chính là con trai duy nhất
của phi công Huỳnh Anh Dũng và mẹ đây!
Chiếc máy bay chao cánh như muốn gửi
lời chào cả mọi người trên trời, dưới đất. Cô tiếp viên nâng bó hồng lớn tặng
mẹ. Anh phi công giúp bà gieo ra khoảng không những cánh hoa tươi đỏ chói trong
tiếng nhạc tưởng vong hồn nghĩa sỹ. Bà quả phụ cứ để cho những hàng nước mắt
tuôn rơi, nói trong nghẹn ngào:
- Xin cảm ơn những ai còn nhớ đến
những người như chồng tôi. Tôi đau khổ nhưng không ân hận. Anh ấy đã hy sinh
cho tổ quốc Việt Nam thống nhất, hòa bình, cho tương lai hạnh phúc của trẻ thơ
và cho sự no ấm yên vui của những người lương thiện.
Những cánh hoa Ngọc Hà tươi đỏ chơi
vơi biến ngay vào trong nắng giữa những đám mây trùng điệp tìm đến hồn thiêng
nơi vũ trụ bao la.
Cô gái ngả đầu vào vai bà se sẽ hát
khúc dân ca tặng mẹ :
Anh
đi xa càng xa
Tình
em như cỏ hoa
Lưu
luyến và nhớ thương
Theo
anh dài nương rẫy
Anh
đi biệt tháng ngày
Tình
em như sông dài…

No comments:
Post a Comment