HÀ NỘI BỂ DÂU
*************************************************
NƯỚC MẮT NGÀY GẶP MẶT
a{b
Sau những ngày lễ hội chào mừng giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống
nhất đất nước, các chuyến xe đò từ thành phố Hồ Chí Minh đi lục tỉnh lại ngược
xuôi tấp nập. Người tìm về quê hương gốc gác của mình sau bao nhiêu năm loạn ly
chinh chiến. Nhưng cũng không ít người tìm đường lẩn tránh tông tích của mình vì
sự dính líu sâu nặng với một chính quyền đã thành qúa khứ.
Tại bến xe Cần Thơ, một ông già quê chân chất,
hai tay xách hai giỏ nặng, lúng túng giữa đám người chen lấn. Ông không biết
chiếc kim cài túi áo bà ba đã bật tung ra. Một bàn tay vừa thọc vào túi áo đã
bị một bàn tay khác nắm chặt lại với lời cảnh cáo:
- Mày làm chi vậy?
Tên kẻ cắp giật tay ra và lẩn nhanh vào đám
đông. Một bọc nhỏ từ túi áo ông già rớt xuống. Người lạ nhặt lên, tay vỗ vào
lưng ông già:
- Bác có mất gì không?
Ông già nhìn người lạ đầy hoài nghi, cùng lúc
hai tay nắn túi và chợt hiểu ra sự việc. Ông nhận lại cái bọc nhỏ của mình, rối
rít nói lên nỗi mừng:
- Hên qúa. Nếu không có chú em chắc qua phải quay về nhà thôi!
- Bác Hai về thành phố Hồ Chí Minh phải không?
- Qua lên Sài Gòn thăm thằng nhỏ đi tập kết ở
miền Bắc về.
- Bác có mang giấy phép đi đường của chính
quyền mới cấp cho không?
- Có chớ sao không? Để trong đây cả!
Ông già vỗ cái bọc trong túi áo:
- Qua phải cảm ơn chú nhiều lắm đó!
Người lạ vui vẻ, thân tình:
- Lần đầu bác Hai lên thành phố ?
- Qua người miệt vườn, chưa từng lên đó bao
giờ.
Bằng cử chỉ nhanh nhẹn, người lạ nhấc cả hai
chiếc giỏ vừa đi vừa nói:
- Bác đi theo cháu!
Ông già lập cập bước theo người ấy lên
xe.
Khi đã có chỗ ngồi ổn định, ông già mới để ý tới
người đàn ông lạ. Người này lứa tuổi trung niên, mặc bộ đồ cũ nhàu nhưng mặt
mày sáng sủa, dáng vẻ là người lương thiện và tử tế khiến ông mau trút bỏ nỗi
mặc cảm về người tứ chiếng ở nơi bến xe ô hợp:
- Chú cũng lên thành phố?
- Bấy lâu nay cháu chạy xuống đây làm ăn, trốn
lính, giờ về thành phố với gia đình. Hai bác cháu mình cùng đi thì hay qúa.
Cháu sẽ tìm được đến tận nơi bác cần.
Ông già mừng húm, kể ra chuyện mình:
- Thằng con tui đi tập kết ở miền Bắc vô nhưng
còn lu bu công việc nên chưa về thăm nhà được. Tui phải vọt lên nhìn mặt con
cho đỡ nhớ…
- Sao bác gái không cùng đi thăm anh ấy?
- Bả chết lâu rồi, từ hồi Mậu Thân kìa… Bả với
mấy đứa nhỏ ngủ trong trảng xê, chịu một trái bom đìa,
chẳng còn vết tích gì ! Tui dở gỡ mẻ lưới ở ngoài đồng nên thoát chết.
- Thế bác ở vậy một mình?
- Tui có bảy đứa con, bốn trai, ba gái. Thằng
Hai đi tập kết theo hiệp định Gieo neo.
Con Ba lấy chồng là lính quốc gia, được hai đứa con rồi cũng ở giá luôn. Thằng
Tư là du kích xã, bỏ mạng, chưa vợ con gì. Ba đứa chết một lượt với bả. May còn
nhỏ Út, chạy chợ với chị Ba nó ngoài lộ, giờ phải coi nhà, coi mấy công ruộng,
công vườn, chớ bỏ đi sao đặng. Con Ba không dám gặp anh Hai nó vì sợ bì rày.
- Bác Hai cho cháu xem tờ giấy phép đi đường
để cháu biết bác sẽ tới đâu? Ông già cẩn thận mở cái bọc, đưa ra tờ
giấy học sinh có chữ viết tay và cái mộc đỏ chót. Người lạ đọc lướt nhanh và
cười nhưng mặt anh nhăn lại. Ông già hỏi:
- Chú có biết chỗ đó không?
- Bác có biết anh ấy làm gì không?
- Nghe nói nó là công an, chắc tình hình lúc
này rối ren lắm nên nó mới không về nhà được.
- Địa chỉ này… cháu biết!
Qua mỗi trạm gác dọc đường, du kích mang súng,
đeo băng đỏ lên xe, nhìn dò xét từng người. Người đàn ông chủ động cười thân
thiện, đưa ra tờ giấy phép và nói:
- Hai bác cháu tôi lên thành phố thăm người
nhà… chỗ Bộ Công an.
Mấy anh du kích đọc xong tờ giấy, trao lại
ngay với thái độ nể trọng, tin tưởng lắm. Người lạ nhanh nhảu xuống xe, mua qùa
bánh, hai bác cháu cùng ăn và nói chuyện thân tình như người nhà:
- Gia đình chú mần chi trên thành phố?
- Buôn bán!
- Thế có ai bị bắt lính không?
- Làm sao mà trốn lính hết được nên cháu cũng
lo!
- Cách mạng không vơ đũa cả nắm đâu. Người ta
cũng xem xét từng hoàn cảnh một. Người nào bị cưỡng ép thì được học tập ít hôm
rồi về. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Chớ có ai muốn thế đâu?
- Còn những trường hợp khác thì sao?
- Tất nhiên là phải có thời gian học tập, cải
tạo lâu hơn để mỗi người nhìn ra lỗi lầm của mình. Nhưng người ta không giết ai
đâu. Dân mình khổ nhiều lắm rồi. Bao nhiêu năm, đứng về bên nào cũng chết. Muốn
làm dân thường không dễ đâu. Bây giờ hòa bình thống nhất rồi, người cùng một
nước liệu mà bảo nhau, lo chuyện làm ăn, an cư lạc nghiệp, chớ hãm hại nhau nữa
để được gì? Nơi đâu xa không biết chớ ở huyện, quận, xã chỗ tui chưa thấy một
ai bị bắn giết từ ngày giải phóng tới giờ, dù là những gia đình cách mạng từng
bị o ép, hãm hại đau thương, khổ ải lắm.
Người lạ nhìn ra ngoài xe, những cảnh vùn vụt
lướt qua, không biết anh nghĩ gì. Tới
xa cảng miền Tây, anh kêu taxi về Tổng nha cảnh sát cũ. Hai bác cháu cùng lên xe. Anh thở phào, thầm nghĩ nếu không gặp sự
việc tình cờ vừa qua, liệu anh có qua nổi chặng đường đi ngược này không?
Người đàn ông đó chính là Nhân Tín.
Anh xuống miền Tây trong tình thế tan rã của quân đội cộng hòa, mong tìm nơi có thế tiến, thế lui, chờ
thời. Anh đặt niềm tin vào người bạn từng cùng nhau tu nghiệp bên Mỹ quốc. Viên
tướng tuổi đàn anh, gia thế, tự tin đắc thắng một thời mà giờ đây cũng tỏ ra
thất vọng:
- Dù moa rất tin và qúy toa
nhưng không thể giao cho toa
một chức trách gì nếu như không có lệnh của Sài Gòn. Mà bây giờ cha nào cũng
xác một nơi hồn một nẻo còn thiết chi nữa đâu? Đám chỉ huy dưới quyền dù hoang
mang, muốn bỏ dò lái nhưng vẫn không dễ bảo, không chịu để ai qua mặt chúng. Toa như người khách lạ lúc chủ nhà tang gia bối
rối!
- Ta có thể tổ chức tuyến phòng ngự cuối cùng
chờ cho các vùng chiến thuật vừa tạm
thời tan rã có thời gian tập hợp quân lực lại, sẽ phối hợp với nhau để phục
hồi?
- Việc toa chạy xuống đây đã hàm ý tìm một con đường rút chạy rồi, còn mong gì
chuyện đó? Đám Không quân, Hải quân chọn đường chạy thẳng tới các căn cứ Mỹ ở
Thái Lan, ở Philippine, ở Nhật Bản chớ dại gì dồn về đây để chịu đòn mà cuối
cùng vẫn chạy! Còn đám bộ binh chuồn thẳng về nhà chớ cắc cớ gì phiêu dạt đi
đâu nữa? Bây giờ quan không dám bảo lính vì lính không sợ mà quan cũng không
dám làm gì. Ngay trong hàng ngũ sỹ quan cũng không tin, không phục tùng nhau
nữa. Tuy nhiên, có một số thằng hăng máu, loại trừ kẻ quen đánh võ mồm, còn
thực ra mấy đứa ở thế cùng đường bởi nặng nợ qúa với phía bên kia, thì thà đằng
nào cũng chết. Trong binh pháp, kẻ liều chỉ có thể làm việc thí mạng chứ không
thể làm nên chiến thắng!
Sau ngày 30 tháng Tư, cả vùng Bốn chiến thuật tan nhanh như bọt xà bông. Viên tướng tư
lệnh sau khi trình diện lực lượng cách mạng tại chỗ, được tạm phóng thích về
nhà, tỏ ra buồn bã, chán đời, nói với viên đại tá bạn thân tín từng mong đợi ở
mình:
- Nhìn trên bàn cờ, quân tướng còn đủ bộ. Tuy
nhiên mình thua ở thế cờ, thế trận. Xe, pháo, mã đều bị cản đường đi. Quân đông
mà vô dụng. Tướng bị chiếu vỗ mặt không đỡ nổi. Người nhìn xa lẽ ra phải biết
từ lâu, có nghĩa là mình thiển chí thì đoản vận thôi. Để mất thành, phải biết
tự xử mới là dũng tướng. Lúc này toa vẫn còn đường rút tương đối an toàn!
Nhân Tín ngồi trong một căn nhà mối chờ gom người lên tàu vượt biên, nghe tin
viên tướng bạn tự sát bằng một viên đạn súng ngắn, người anh gai lạnh, không
cầm nổi hai hàng nước mắt. Anh bỗng cảm thấy mình tìm đường tháo thân như thế
này thật hèn. Anh không có trách nhiệm cụ thể về công vụ nhưng ít ra anh cũng
còn có trách nhiệm với mợ, với bác, với vợ con của một người đồng đội từng tin
cậy trông đợi vào anh.
Anh quyết định ngược đường lên thành phố dù
biết rằng công khai lộ diện trước chỗ đông người lúc này là vô cùng nguy hiểm…
Xe đỗ, anh trả tiền xe và giúi vào túi ông già
mấy tờ bạc lớn:
- Bác vui lòng nhận chút qùa của cháu và bác
cháu mình tạm chia tay ở đây.
- Chú chờ tui gặp thằng con để nó cảm ơn chú!
– Ông già nắm tay anh giữ lại.
Anh lưỡng lự rồi đành làm theo ý ông già.
Hai bác cháu bước qua cổng, trình giấy. Anh
bảo vệ quay máy điện thoại, nói oang oang:
- Mời thủ trưởng xuống phòng khách ngay, có
ông già dưới quê lên!
Hai bác cháu mới đi tới giữa sân, một người
quá tuổi trung niên, chạy ào từ trong nhà ra ôm chầm lấy ông già. Hai cha con
quấn lấy nhau, hai gương mặt chai sạn đầm đìa nước mắt với những tiếng nấc
nghẹn ngào và tiếng khóc hu hu, lây nỗi xúc cảm tới những người đang dồn đến.
Nhân Tín hai tay xách hai giỏ nặng mà nước mắt cũng trào ra. Anh chột dạ nhận
ra mình đứng giữa đám đông người toàn mặc sắc phục công an. Anh đặt cặp giỏ đồ
xuống định quay ra thì ông già đột nhiên quay lại:
- Bớ chú Hai! Cho cha con tui được nói lời cảm
ơn với chú.
Ông già kể hết với con và quay sang nhìn người
lạ:
- Không nhờ chú đây, hôm nay cha con tui chưa
được hạnh ngộ thế này đâu.
Người con hai tay dìu cha và ân nhân đi vào
phòng khách:
- Tôi thật có lỗi với cha tôi. Cảm ơn anh đã
giúp đỡ cha con tôi qúa nhiều.
Nhân Tín cũng tìm cớ thoát nhanh ra khỏi nơi
này:
- Gia đình tôi đang thất tán, tôi phải về nhà
ngay.
Vị thủ trưởng gọi người thuộc cấp điều xe chở
ân nhân về tận nhà chu đáo với lời dặn dò chân thật:
- Nếu anh có gặp điều gì khó khăn trắc trở cứ
tới đây tìm tôi: Trung tá Nguyễn Thương – Trưởng phòng chính trị.
Ngồi trên chiếc xe mang phù hiệu công an cách
mạng chạy giữa đường phố mới giải phóng vừa quen thuộc vừa xa lạ mà trong người
chưa hết nổi gai, tim anh đập thình thình như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực.
Khi chiếc xe mang phù hiệu công an xịch đỗ trước cửa nhà, mọi người hốt
hoảng chạy ra và không tin ở mắt mình. Nhân Tín tươi cười bắt tay người lái xe.
Anh còn đứng nhìn theo cho tới khi chiếc xe lẫn vào dòng xe chạy trên đường.
Quay vào nhà, thấy khá đông người đứng nhìn mình, anh tỏ ra lúng túng. Một
người mặc quân phục cách mạng chạy vọt ra ôm chặt lấy anh và reo lên:
- Em !
Nhân Tín đứng trơ ra vô cảm. Nhân Trí nắm chặt
hai vai em, mặt sát mặt nhau:
- Em không nhận ra anh sao?
Nhìn thẳng vào người đối diện, Nhân Tín đã
hiểu ra sự việc. Anh vẫn đứng ngây ra đó, miệng chỉ phát ra một tiếng:
- A… à!
Nhân Trí hơi bị hẫng vì nhiệt tình của mình
chỉ nhận được sự thờ ơ nhưng anh vẫn nắm tay em dắt vào nhà:
- Em ở đâu về đó?
Nhân Tín nhăn mặt vì câu hỏi vô tình mà có ý
tò mò làm anh thật khó trả lời. Anh chỉ đáp lại bằng một nụ cười khó hiểu.
Ông giáo biết rõ tính nết thằng cháu và tìm
cách gỡ khéo ra. Ông chỉ Yên Thịnh lúc đó là người lạ duy nhất:
- Đây là chị dâu của cháu!
Chú em trai liếc qua người chị dâu lúc đó cũng
mặc đồ bộ đội. Anh nhìn mọi người đứng quanh, tự dưng trong lòng trào lên nỗi
mặc cảm về sự thất thế ngay trong gia đình mình. Anh sẽ cúi đầu, nhếch mép :
- Xin chào! Toàn người cách mạng cả. Chỉ mình
tôi là ngụy!
Thủy Tiên chưa hiểu rõ sự tình:
- Vậy mà chưa ai có vinh dự được như Nhân Tín
đấy?
Đột nhiên anh cay đắng nhận ra vẻ tiều tụy âu
lo của mình trước những nét mặt hân hoan và ánh mắt vui vẻ của mọi người:
- Không biết tôi lừa cách mạng hay là cách
mạng lừa tôi?
Mọi người ngạc nhiên nhìn nhau. Chị Nhài xoa
dịu:
- Em đi đường xa, hãy vào tắm rửa, ăn uống,
nghỉ ngơi, cho lại sức đã.
Bữa cơm đoàn tụ mà tẻ nhạt. Nhân Tín không
muốn nuốt. Anh cảm thấy lạc lõng giữa những người thân. Nhân Trí hỏi mát:
- Chú còn nhớ cậu không?
Nhân Tín cười chua chát:
- Thằng chiến bại hỏi thăm người chiến thắng
chỉ để cầu xin một sự ban ơn!
- Chả lẽ cậu, mợ, anh chị và các em chia thành
hai phe đánh nhau sao? – Nhân Trí giận tái mặt.
Thủy Tiên không kìm được nữa:
- Trong nhà này không ai coi Nhân Tín là ngụy,
là thù, chỉ coi cậu như một đứa ham vui qúa trớn…
Tự dưng nước mắt cô chảy ròng ròng, giọng
nghẹn lại:
- Cậu có biết người chiến thắng phải chịu bao
nhiêu mất mát đau thương hơn những kẻ chiến bại không?
Ông giáo biết không thể đợi ở nó sự bình tĩnh
và tỉnh táo lúc này, xua tay nhắc mọi người không nói điều gì chạm tới Nhân Tín
nữa. Mỗi người tản đi trong tâm trạng buồn và giận.
Trong nhà này, chỉ có ông giáo hiểu Nhân Tín
và cũng chỉ có ông nói nó mới chịu nghe thôi. Còn nó sẽ làm như thế nào lại là
chuyện khác. Lúc chỉ còn hai bác cháu, ông giáo muốn thanh minh cho Thủy Tiên:
- Cháu biết không? Trong thời gian bị tù đày,
nó bị tra tấn hành hạ tới mức mất chức năng làm mẹ của người phụ nữ!
Nhân Tín tái mặt đi, phân trần với bác:
- Cháu chưa bao giờ nghĩ tới sẽ rơi vào tình
cảnh thế này!
- Cháu chẳng nên trách mình. Ngay đến viên
thái thú tân thời Mỹ cũng tái diễn cảnh Tôn Sỹ Nghị đang đêm cuống cuồng, không
kịp mặc áo giáp, nhảy lên ngựa không yên, cùng mấy tên thuộc hạ phóng qua cầu,
trốn lên ải bắc, để mặc đám tàn quân nháo nhào chạy theo đến nỗi sập cầu. Sông
Nhị Hà đầy những thây người chết! Bây giờ có khác chăng là nó còn kịp cuốn cờ
tót lên máy bay trực thăng chuồn thẳng ra tàu đợi ở ngoài khơi nhưng cũng để
lại bao nhiêu thây người nổi trôi trên biển và còn biết bao nhiêu thân phận bơ
vơ điêu đứng!
- Chẳng lẽ cháu phải ra trình diện, tự nộp
mình để chết rục xương trong trại cải tạo hay sao?
- Thế cháu còn quay lại đây làm gì?
- Cháu không thể bỏ mợ!
- Và vợ con anh thiếu tá đệ tử thuộc quyền nữa
phải không?
Bác như đọc được từ tâm những suy nghĩ của
mình, Nhân Tín cúi đầu im lặng. Bác nhẹ nhàng an ủi :
- Cháu tự làm khổ thân ngay cả lúc cháu tưởng
đời mình bay bổng lắm. Cháu đừng câu nệ mặc cảm qúa về thắng bại. Trong nhà này
không ai chống ai và có ai thắng ai đâu? Chỉ chung một niềm vui của sự đoàn tụ.
Tuy nhiên mỗi người có một tâm trạng riêng, một nỗi đau riêng.
Ông thở dài, đăm đăm nhìn đâu xa:
- Bác không có quyền gì nhưng bác có thể thanh
minh cho cháu và có cơ sở để cách mạng tin những lời bác trình bày.
- Họ chẳng tin ai đâu!
- Một điều rõ nhất là đã không có cuộc tắm máu
như người ta đồn thổi. Hồi thế chiến thứ hai, khi quân Đồng minh vào giải phóng
Paris, hàng chục ngàn người từng hợp tác với quốc xã Đức đàn áp người kháng
chiến Pháp, kể cả loại đĩ điếm, đã bị những người chiến thắng hành quyết ngay
trên đường phố mà không cần xét xử. Ngay cả thủ tướng chính phủ Vichy và một
ông nhà văn Bộ trưởng cũng bị đưa lên giá treo cổ, viên Thống chế già nua thì
bị đưa đi đày cho đến chết. Nhưng ở Sài Gòn này tuyệt nhiên không xảy ra chuyện
ấy. Sau ngày 30 tháng Tư, tại Tổng Y viện cộng hòa còn lại hàng trăm thương
binh quân đội Sài Gòn nhưng vẫn được đối xử tử tế, những trường hợp nặng được
chuyển dần sang các bệnh viện dân sự tiếp tục chữa trị, những trường hợp nhẹ
thì được cho về nhà trình diện với chính quyền mới ở địa phương. Những người
cầm đầu chính quyền cũ đều được phóng thích về với gia đình trong sự bình yên.
Không có sự trả thù của những người từng bị triệt hạ, đày đọa, khủng bố mới là
điều kỳ lạ. Cháu nên suy nghĩ chín chắn và tự quyết tương lai của mình.
- Nếu không có ông Tổng Thống nhẹ dạ cả tin
này thì chưa đến nỗi nào đâu!
- Chưa đến nỗi nào! Có nghĩa là ngay từ trong
ý thức, cháu đã không tin vào một tương lai mờ mịt của nó rồi. Lịch sử là những
sự kiện đã xảy ra theo quy luật của nó, không chấp nhận một sự “nếu” đâu. Sinh có hạn – tử bất kỳ! Người mắc căn bệnh
trầm kha, không chết nay sẽ chết mai, càng dai dẳng càng khổ cho cả người bệnh
lẫn người lành. Nuối tiếc làm gì!
Ông giáo biết Nhân Tín sẽ không ở lại nhưng
không thể làm gì cản được. Ông nói với các cháu trong nhà:
- Cũng không nên trách nó. Con người ta sống
trong hoàn cảnh nào thường bị chi phối bởi hoàn cảnh ấy, mấy ai vượt qua được
những ràng buộc của xã hội mình đang sống!
Ông chỉ vào Nhân Trí:
- Giả như hồi ấy hai đứa lớn theo mợ cháu vào
đây và hai đứa bé ở lại với cậu cháu ngoài ấy. Liệu bây giờ mỗi đứa sẽ thế nào?
Đó cũng là hiện tình chung của đất nước mình. Đừng vội vàng quy kết hay áp đặt
sự đổi thay tức thì về cách nghĩ, cách sống với người này, người khác. Nhất là
mỗi con người đều có lòng tự ái. Không biết tự ái thì không thể tự trọng. Nhưng
để lòng tự ái làm mờ con mắt thì sự tự trọng sẽ thành lố bịch. Phải biết thông
cảm, rộng lượng và chờ đợi nhau. Không gì qúy hơn lòng yêu thương, chia sẻ với
nhau lúc này.
Cuộc hội ngộ thật lạ kỳ. Chỉ một thoáng nhìn người đàn ông vượt biên bị
bắt, trung tá Nguyễn Thương với trí nhớ nghề nghiệp khiến anh mau chóng lấy ra
một khuôn mặt rất gây ấn tượng trong bộ nhớ. Anh cho thu thập đầy đủ hồ sơ và
hôm nay anh trực tiếp đối chất với con người này:
- Dường như chúng ta đã gặp nhau trong một
hoàn cảnh khá là đặc biệt?
- Tôi chưa từng gặp ông dù chỉ một lần!
- Anh có thể quên tôi. Nhưng tôi không thể
quên người từng giúp đỡ mình bất kể là điều lớn nhỏ.
Người bị bắt lạnh lùng:
- Nếu như mình đã giúp ai qua được bước khó
thì không cần nhớ làm gì.
- Thôi được rồi! Anh khai là thượng sỹ sư đoàn
23, đi tìm vợ con thất lạc. Người đàn bà nói giọng Huế với đứa con nhỏ khai là
vợ và con anh, hai người sống bằng nghề chạy chợ trời. Nhưng một số người trên
thuyền biết rõ qúa khứ của anh và họ khai ra anh rủ rê thậm chí bao cho họ chạy
tị nạn đến miền đất hứa. Chúng tôi tra cứu tàng thư và có đầy đủ hồ sơ của anh
còn lưu ở Bộ Tổng tham mưu và Nha
An ninh quân đội ngụy. Anh có biết
việc trốn tập trung cải tạo là chống lệnh của Ủy ban quân quản hay không? Lại thêm việc tổ chức vượt biên
trái phép này?
Nhân Tín cảm giác đầu óc u ám, quay cuồng. Chỉ
mấy tháng thôi, cuộc đới anh như một cánh chim tả tơi trong cơn xoáy lốc. Từ
một sỹ quan chỉ huy trên đà danh vọng bỗng chốc biến thành kẻ bại trận, trốn
chạy, dần mất hết người thân và bây giờ là tên trọng tội với một cái án mù mờ
xám xịt.
Biết Nhân Tín về thành phố, cô giáo Dạ Lan đến
tìm anh:
- Sự đời đảo lộn nhanh chóng vượt qúa sức
tưởng tượng, như một cơn ác mộng. Tôi có thể thoát thân một mình nhưng không dễ
quên lời hứa, bỏ mặc vợ con người đồng đội không may tử nạn. Bây giờ một thân
tôi cũng không biết sẽ trôi dạt về đâu!
- Mẹ con em trong cảnh bơ vơ. Dù có quay trở
về quê hương cũng không biết nương dựa vào ai. Đại tá là ân nhân, là nơi nương
dựa cuối cùng. Đêm ngày em cầu Trời phù trợ cho mẹ con em, cho Đại tá.
- Nếu tôi ở lại, chắc chắn sẽ bị đi tù không
biết có ngày ra. Chỉ còn cách duy nhất chạy đi theo đường biển nhưng như một sự
phó mạng cho đấng bề trên, lành ít dữ nhiều.
- Coi như Đại tá sống thì mẹ con em được sống,
Đại tá chết thì mẹ con em cũng chẳng biết sống bằng gì. Dành dụm được chút qúy
kim đây, em đưa hết cho Đại tá dùng lo vào những việc cần.
Bác giáo nói cháu tự làm khổ mình là đúng đấy.
Cánh cửa sắt trước mặt do anh dựng nên và bây giờ chính tay anh khóa chặt lại
rồi. Dù ai cũng muốn sống nhưng sống hèn thà chết sớm còn hơn. Anh tỏ ra ương
ngạnh:
- Các ông đã biết rõ rồi thì chẳng cần hỏi
thêm nữa làm gì. Tôi nhận đã đứng ra mua tàu và rủ người vượt biên.
- Từ ngày giải phóng, anh đã thấy một cảnh nào
chính quyền cách mạng đối xử tàn tệ với những người từng hợp tác với quân xâm
lược Mỹ chưa?
Nhân Tín cúi đầu im lặng.
- Giả định chuyến đi trót lọt, anh có tụ họp
đám tàn quân lưu lạc để tổ chức chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp hòa
bình thống nhất tổ quốc hay không?
- Đấy lại là chuyện khác. Tôi nói ra hoặc là
ông không tin, hoặc là ông nghĩ tôi nói lấy lòng chuộc tội. Biến động vừa rồi
to lớn qúa khiến mỗi người dù mê cũng phải tỉnh ra để nhìn lại mình và người
cho đúng. Tôi không muốn ngồi tù và thật tình không quen sống trong sự hà khắc
và ép thân xác của chế độ các ông. Tôi không phải là kẻ liều mạng, thí thân.
Tướng sỹ đồng đội của tôi, tôi biết rõ, không như quân đội của các ông sẵn sàng
quên mình vì lý tưởng. Bên tôi, lý tưởng là lý tài. Từ Tổng thống đến binh lính
đánh nhau chỉ vì tiền. Hẳn các ông đã nghe lời cầu xin tối hậu từ tâm can của
ngài Tổng tư lệnh tối cao của quân lực Việt Nam cộng hòa: “Người Mỹ đưa viện trợ nhiều thì chúng tôi đánh
nhiều, còn đưa ít thì chúng tôi đánh ít! Nếu
Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng,
một năm mà chỉ sau ba giờ chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc lập”! Còn chi thể diện một quốc gia? Còn đâu sức mạnh của một đội quân? Và
còn ai chỉ huy ai được nữa?! Ngoài số người phải sống theo thời thế hoặc để
kiếm cơm, có một số bởi thù hận riêng hoặc bản năng bạo lực, sẽ không thể nào
phất lên được ngọn cờ. Tôi chỉ muốn đi tìm một chân trời tự do cho mình được
sống yên thân. Tôi dự kiến trước những điều rủi ro sẽ đến với mình. Các ông có
quyền xử theo luật của các ông và tôi sẵn sàng đón nhận.
- Các anh nghĩ rằng chúng tôi xử lý sinh mạng
một con người đơn giản lắm sao? Trong khi cả gia đình nhà anh đều là những
người theo cách mạng, chân chính, rất đáng kính trọng.
- Tôi với họ chỉ có quan hệ huyết thống chứ
không có quan hệ gì trong công việc, thậm chí rất trái ngược nhau.
- Đó là chuyện riêng trong gia đình anh. Tổ
tình báo trong đó dân biểu, nhà giáo Phan An Phú là một thành viên tường trình
anh từng cung cấp nhiều nguồn tin quan trọng để báo cáo về trên, đã từng được
khen thưởng huân chương. Ở cương vị anh, đó không phải là một sự vô tình khi
anh thừa nhận là những người trong gia đình có quan điểm rất trái ngược nhau.
Là anh em, cùng sống trong một hoàn cảnh nhưng đại tá Chu đã có một lẽ sống
tỉnh táo hơn. Nếu anh Chu còn ở lại hoặc một lúc nào muốn quay trở lại, chúng
tôi luôn dang rộng hai tay ra đón và cùng sống trong sự cảm thông hòa hợp. Một
sỹ quan Quân giải phóng từng được anh giải thoát trong trận đánh năm Mậu Thân
cũng gặp chúng tôi xác thực. Khi thả người tù binh ấy anh có nghĩ như thả hổ về
rừng không?
- Khi ở hai chiến tuyến tôi chưa hề nghĩ mình
sẽ thua đối phương và hành động quyết liệt. Nhưng trước một con người cụ thể,
tôi thấy không có lý do gì coi họ là kẻ cừu thù ngoài sự khác nhau về chính
kiến mà suy cho cùng cả tôi và họ đều không được tự mình lựa chọn. Tôi không
thể nào táng tận lương tâm.
- Đó là một nghịch lý! Tôi hỏi thêm anh một
điều vào lúc này có thể là không hợp...
Nhân Tín ngước lên chờ đợi.
- Dạo tết Mậu Thân anh làm việc bên cơ quan
MACV?
Anh ta gật đầu:
- Đúng… dưới quyền tướng Westmoreland?
- Các anh nghĩ gì về trận đánh lớn năm ấy?
Nhân Tín cười chua chát:
- Lúc ấy thì nghĩ rằng chúng tôi thắng… Lúc
này thì nghĩ rằng chúng tôi thua!
- Vì sao?
- Người Mỹ đã “bỏ dò lái” ngay từ đấy mà chúng
tôi thì quá ngây thơ!
- Sau sự kiện 30 tháng Tư, anh nghĩ gì về đối
phương của mình?
- Trong những đêm dài mất ngủ, chủ yếu nghĩ
cách làm thế nào thoát khỏi vòng tay của các ông, tuy nhiên có lúc bật lên câu
hỏi lạ lùng…
- Cứ nói đi… đừng ngại, vì dù sao anh vẫn để
lại chút tình cảm riêng với tôi.
- Sau Mậu thân, sự thiệt hại bên cách mạng
tưởng khó mà gượng dậy. Một nhân viên thám sát của chúng tôi từng gây khó nhiều
cho các ông tại cửa ngõ đô thành, một nữ biệt động quân nhận lệnh ám sát để lên
dây cót tinh thần cho đồng đội. Sự việc bất thành! Tòa án quân sự của chúng tôi
kết án 20 năm tù. Vậy mà cô gái xuất thân học sinh độ tuổi đôi mươi đã thản
nhiên hỏi lại: “Liệu chính quyền các ông có tồn tại được tới lúc đó để bỏ tù
tôi”? Một phóng viên Nhật chớp đúng lúc cho ra một tấm hình có giá tung lên các
mặt báo toàn cầu…
- Đúng… chúng tôi gọi là “Nụ cười chiến
thắng”!
- Không… lúc ấy chúng tôi nghĩ cách mạng giỏi
nhồi sọ… Vậy mà câu nói lại như lời tiên tri?!
- Không có gì lạ cả vì chúng tôi tin vào chính
nghĩa!
Trung tá Nguyễn Thương với thái độ cởi mở nhìn
người đang đối chất:
- Anh còn có nhiều thì giờ để suy nghĩ về
nhiều điều nữa… Chúng tôi sẽ tạo điều kiện cho anh cùng hướng về một nguồn cội
sâu xa.
Nhân Tín được dẫn lên một phòng khách đặc biệt. Ba người đàn ông và một
người đàn bà bật đứng dậy khi anh bước vào. Anh đứng trân trân chơ vơ giữa
phòng. Người đàn ông tóc bạc, cao, gầy và thiếu phụ trung niên xô đến với anh
nhưng Nhân Trí đứng bên đưa tay cản cha lại. Cẩm Nhung ôm lấy em khóc lên rưng
rức. Nhân Tín vẫn đứng y nguyên như cây cột giữa nhà. Ông Thanh ngồi vật xuống
ghế, lờ đờ nhìn vào khoảng trống trên trần. Bác giáo Phú nhìn hai cha con có ý
vừa thương vừa giục. Cẩm Nhung kéo ghế tới, hai chị em ngồi đối diện với cha.
Chị vuốt tóc em nghẹn ngào:
- Sao em không nói với cậu một lời? Cậu vẫn
nhớ thương em lắm!
Nhân Tín úp mặt trong lòng hai bàn tay, người
anh rung lên nhưng không bật ra tiếng khóc.
Ông Thanh lả người trên ghế. Hai mươi năm
trước, ở bến cảng Hải Phòng, khi chiếc cầu tàu rập rình rút nhịp, ông vội vàng
quay chạy lên bờ mà thằng bé còn níu tay ông lại không muốn buông ra, nài nỉ: “Cậu đi với các con đi!”. Bao nhiêu năm, ngày đêm ông không lúc
nào quên nó, càng thương nó, lại càng ân hận tự trách mình không tròn trách
nhiệm với con. Dù có nghĩ tới một ngày đoàn tụ phải vất vả lắm để chỉnh sửa lại
nếp sống, nếp nghĩ của nhau nhưng ông không nghĩ tới cái sự rẽ chia nó khó
khăn, nặng nề, đau đớn, cay đắng, giận hờn sâu xa đến thế. Vợ không dám nhìn
chồng! Con không muốn nhận cha! Anh em nhìn nhau thờ ơ hờ hững! Không ai hiểu
được lòng dạ của nhau mà không biết trách ai?!
Trung tá Hai Thương trầm tĩnh nói với gia
đình:
- Đây là một trường hợp đặc biệt, chúng tôi sẽ
lưu tâm. Anh ta không phải là người xấu nhưng có cá tính mạnh mẽ, không dễ
thuyết phục nhưng khi hiểu ra sự thật sẽ biết tự quyết định cho mình. Cần có
thời gian cho anh ta suy nghĩ. Để cảm nhận tình thương của cộng đồng không là
chuyện dễ và cần nhiều thời gian. Nhưng đừng để cho một con người cảm thấy
không còn tình thương nữa ở trên đời này thì trước hết phải là gia đình. Từ đó
người ta được an ủi sẽ bình tâm lại và nhận ra điều phải, trái. Chúng tôi tạo
mọi thuận lợi để gia đình chăm sóc động viên anh ta.
Cô giáo Dạ Lan đến sạp vải của chị Nhài, nức
nở:
- Em được tha nhưng em không thể về quê bỏ anh
ấy được. Anh ấy vì em mà bị tù đày. Món nợ ấy em trả suốt đời cũng không xong.
Em xin chị cho em phụ giúp việc nhà, việc chợ để có điều kiện chăm lo anh ấy.
Chị Nhài về hỏi ý bác giáo. Bác bảo:
- Thằng bé háo thắng mà mã thượng, chứ như
người ta dông tuốt là xong. Cô ta không có gì đáng trách vì nếu cô ấy không đi
thì nó cũng không đời nào chịu ở lại đâu. Cô ta là con nhà tử tế, có học, có
tình, nửa đường gặp sự không may. Hai số phận không may nương dựa vào nhau có
thể mang lại sự quân bình cần thiết. Và đó cũng là nhiệm vụ của anh-em-bác-cháu
mình.
Nghe lời bác giáo, chị Nhài nhận mẹ con Dạ Lan
về nhà cùng ở, cùng lo việc nhà, việc chợ, tạo điều kiện và thời gian cho cô
thăm nuôi Nhân Tín.
Thủy Tiên cũng chạy đôn đáo lo cho Văn Khoa.
Người ta nghi anh có trong một tổ chức chính
trị nào. Cha anh là nhân vật nổi tiếng của Việt Nam Quốc dân đảng trước kia, đã bị cách mạng trừng trị từ
ngày khởi cuộc chiến tranh chống Pháp. Lớn lên, theo gia đình vào Nam, anh ta
có nhiều mối liên hệ với các lãnh tụ đảng của cha anh và nhiều bạn bè cùng hoạt
động với ông. Anh ta được người Pháp đào tạo, có nhiều mối giao du với giới
chức Pháp ở Sài Gòn. Những ngày cuối của chế độ ngụy, anh ta còn hy vọng thay
thế một chính quyền thân Mỹ bằng một chính quyền thân Pháp. Xét về nhân thân,
anh ta còn nhiều nghi vấn.
Thủy Tiên không chứng minh đươc Văn Khoa có
đóng góp cụ thể gì cho cách mạng. Cô nói với bác giáo. Bác giáo phải nhờ ông Ba
già là người có tiếng nói trọng lượng với cơ quan an ninh. Ông Ba là một nhà
tình báo già dặn, tiếp xúc rộng rãi với các đối tượng trí thức nội thành, ông
bảo: -
Anh ta tuy có bằng cấp cao về học vấn nhưng còn ngây thơ về chính trị. Cả tin
và nệ sách vở trong hoạt động xã hội giống như việc tự mang dây cột vào mình,
dễ oan uổng lắm.
- Cha nó ngày xưa cũng vậy.
- Cơ quan bảo vệ chính trị không dễ tin ai đâu
trong khi đã đến lúc ngay cả những người hoạt động giữa lòng địch lẫn lộn trắng
đen cũng đang bị rà soát lại. Tôi nhớ là anh ta còn mang quốc tịch Pháp, hãy
thử tác động theo đường ngoại giao vì lúc này cả hai bên đang muốn làm lành với
nhau.
Mẹ anh, cô Bảo Ngọc vào thăm con nhưng đành
bất lực vì ông Trịnh Huy đã hết thời và không muốn gợi lại chuyện cũ vì há
miệng mắc quai.
Thủy Tiên nghe theo lời khuyên ấy. Văn Khoa
còn lưu được giấy tờ chứng minh là ký giả đặc phái của một tờ báo lớn của Pháp
ở Sài Gòn. Có sự hợp tác theo đường ngoại giao, Văn Khoa được trả tự do nhưng
không có yêu cầu anh ta ở lại Việt Nam.
Văn Khoa vừa mừng vừa hy vọng. Anh bày tỏ lòng
mình muốn bảo lãnh cho Thủy Tiên cùng xuất cảnh.
Thủy Tiên hiểu tấm lòng anh chân tình với cô
ngay từ buổi gặp đầu tiên. Anh là người có thiện chí. Từ là người đứng ngoài
cuộc, bởi cảm tình với Thủy Tiên, anh có công trong việc cứu cô và một số bạn
tù ra khỏi nơi địa ngục trần ai Côn Đảo. Từ đó anh xích gần lại với phong trào
đối lập ở thành thị trong đó lẫn nhiều chính kiến, động cơ. Anh chưa hiểu hết
những biến động phức tạp của phong trào, những mưu mô toan tính sâu xa của các
đối thủ nên chỉ hưởng ứng nước đôi, không được ai tin và luôn bị nghi ngờ.
Thủy Tiên nhìn ra sự thật của cuộc chiến này
ngay tự gia đình của mình. Cô khinh bỉ sự giả dối và căm giận nhận ra vì đâu
mình côi cút bơ vơ. Từ cảm tình tới mức cô dấn thân ngày một quyết liệt vào con
đường tranh đấu. Tuy nhiên lòng cô không khỏi rung động trước tình cảm chân
thật của một tấm lòng hướng thiện. Anh ấy vốn là người tốt và sẽ dễ đồng cảm
với cô trong cách nhìn xã hội và trong cách sống. Tình cảnh hai người có những
nét giống nhau. Nếu như xuôi xả, cô không có lý do gì từ chối mối tình chân
phương ấy. Nhưng là con gái cô không đủ can đảm nói thật ra nỗi đau khi cơ thể
bị hành hạ đến nỗi thành khuyết tật của mình. Chính cô luôn phải nén lại để cố
quên đi nỗi bất hạnh âm thầm của một người phụ nữ không còn khả năng sinh sản
để được làm người vợ đem lại hạnh phúc cho chồng và cho cả chính mình. Trước
đây, cô đã chủ động gây dựng mối quan hệ thân tình giữa anh Văn Khoa với đứa em
họ Bích Liên. Cô thật khó xử thấy anh rất vô tư với tình cảm ấy. Và trong vụ
gặp nạn này cũng bởi anh quyến luyến vì cô. Để cho anh tránh được sự thất vọng trước
lúc chia tay, cô ráng lộ ra sự vui vẻ với lời hứa nửa vời :
- Em nghĩ Paris vẫn là thủ đô của ánh sáng và
được đến đó luôn là mong ước của em. Chỉ sợ anh không đủ can đảm để đón em
thôi!
Cô gửi anh chuyển thư tay tới Bích Liên, kèm
thư nhờ em gái trao lại cho anh, trong đó cô nói rõ sự thật về nỗi đau của mình
và không để thành nỗi đau của cả hai người. Có khi người ta phải từ chối một
hạnh phúc hiển nhiên để nhận một nỗi đau ngấm ngầm dày vò mãi suốt đời. Cô nói
với bác giáo:
- Em Liên có thể giữ cho anh ấy được thăng
bằng.
Ông giáo nắm chặt tay cháu, ứng mấy câu Kiều
an ủi:
- Giữa đường đứt gánh
tương tư / Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em! Lịch sử
không bao giờ xảy ra những sự việc giống y trang nhau nhưng có sợi tơ dây liên
kết chuyện xưa và nay thật là cảm động.
Ông là người cô luôn tin cẩn và thường hỏi ý
bác mỗi khi có sự gì vướng mắc:
- Đoàn thể muốn kết nạp cháu để giao cho việc
lớn hơn nhưng còn xem xét mấy điều: Một là xuất thân gia đình phức tạp. Hai là
chưa dứt khoát với mối quan hệ tôn giáo. Ba là thời gian trong tù có chuyện gì
khuất tất không? Toàn là những suy luận cắc cớ. Dù có giải trình cũng không hết
được những điều nghi vấn. Ngay cả với những người có xác minh tốt trong tù
nhưng khi về đời, được giao trọng trách nếu không có đơn thư tố giác thì vẫn bị
lời ong tiếng ve. Mỗi người đều có một hoàn cảnh xuất thân nhưng cuộc đời là
của riêng họ. Chúa thổi vào các con của Người một linh hồn vốn thiện nhưng làm
điều lành dữ là tự mỗi con người. Chúa đã lựa chọn mười hai thánh tông đồ mà vẫn
lọt tên Giuda bán Chúa?
- Thế cháu có buồn không?
- Nói không là tự dối lòng vì nó cũng là thước
đo quyết tâm và ý chí của mình đi theo lẽ phải. Nhưng nói có là tự hạ thấp mình
xuống. Chả lẽ dám đem mạng sống của mình ra chỉ để đổi lấy phần thưởng đó hay sao?
Còn về tôn giáo, cháu nghĩ Chúa không liên can gì tới những tội ác của con
người mặc dù họ vẫn luôn mồm nói nhân danh Đấng bề trên. Đến ngày phán xét cuối
cùng sẽ sáng danh Đấng cứu thế!
Ông giáo ôm chặt cháu gái vào lòng, mắt ông
chớp chớp:
- Cháu bác lớn lắm rồi! Ngày bị bắt, cháu nói
những lời miệt thị anh-em-chú-bác trước lũ đầu trâu mặt ngựa, bác ngạc nhiên tự
hỏi ai dạy cháu những điều khôn ngoan như thế? Những điều cháu ứng xử với Văn
Khoa, bác nghĩ cháu biết hỷ-xả trong mọi việc riêng chung như một người chân
đạo. Chạy theo cái mồi nhử diện tiền là hạ thấp giá trị một niềm tin. Dù rằng
cái tâm người ta như con ngựa chạy giữa đồng hoang nhưng bác tin cháu đã vững
vàng dấn thân vì chân lý. Sống như thế mới thực là hướng tới điều Chân-Thiện-Mỹ.
Bác cảm phục cháu lắm.
Nhân Tín được ban phụ trách trại gọi lên. Mấy ông cán bộ nét mặt tươi
tỉnh trang nghiêm lắm:
- Có lệnh… trả quyền công dân cho anh kể từ
hôm nay!
Nhân Tín gật nhẹ cái đầu, kìm mình ráng không
biểu cảm ra ngoài.
- Anh có nhớ thời gian đã qua là bao nhiêu lâu
không?
- Thật ra lúc đầu tôi trông từng giờ, từng
ngày, từng tháng, từng năm. Nhưng dần tôi không có khái niệm về thời gian nữa.
- Chúng tôi theo dõi thấy anh như cam chịu nên
chẳng cần ý tứ giữ gìn gì. Những biểu lộ bướng bỉnh tưởng như là chống đối
nhưng thực ra chỉ là sự trực tính của người có tự ái cao. Liệu chúng tôi có lầm
không ?
- Cảm ơn các ông đã không có hành vi bạo lực
với tôi.
- Anh có điều gì oán
trách chúng tôi không? - Lịch sử các cuộc chiến tranh, quyền
của kẻ thắng là có thể làm cả những điều bại hoại nhân luân. Kể cả đội quân
thánh chiến trong cuộc Thập tự chinh thời trung cổ đến quân đội của Napoléon,
của Hitler, của Nhật hoàng đã làm gì trên những đất nước bị thất trận, người
dân Trung Đông và Châu Âu cũng như Châu Á mãi không quên. Ở nước ta, quân
Nguyên-Mông, quân Minh, quân Thanh, đã làm những gì, các thế hệ người Việt Nam
dù chính kiến khác nhau nhưng đời đời đều oán hận. Huống chi một cuộc chiến
tranh khốc liệt kéo dài mấy mươi năm, biết bao nhiêu oán thù chồng chất. Một
bên thắng, một bên thua trong keo quần nhau chí tử khó tránh sự trừng phạt. Giả
như bên chúng tôi thắng, tôi cũng không thể đảm bảo với các ông một sự tốt
lành. Trong gia đình tôi cũng có người theo các ông và bị bên chúng tôi bắt tù
đày. Nói thật tôi cũng thấy căm giận và xấu hổ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói
trước Quốc hội rằng nếu Việt cộng chiến thắng, ít nhất sẽ có hai trăm ngàn
người bị giết trong khi dư luận vống lên tới hai triệu người! Không có
một cuộc tắm
máu đã là một điều không thể oán hận
các ông. Đúng ra là phải oán hận những kẻ lừa dối
phản bội mình. Có điều là các ông đánh giá qúa cao các tổ chức và vai trò cá
nhân của đối phương, cảnh giác qúa mức, không đặt mình trong hoàn cảnh của
người sống ở một xã hội hoàn toàn khác, dễ ngộ nhận để quy kết và đã không ít
người mắc vạ mà không biết thanh minh thế nào. Nó làm mất đi mối thiện cảm bấy
lâu vẫn âm thầm trong lòng họ.
Ông trưởng trại già vẻ mặt khắc khổ chăm chú
nghe, gật gật cái đầu, giọng rủ rỉ của người từng trải:
- Quân đội cách mạng chiến đấu để giải phóng
quê hương và đồng bào mình khác hẳn về bản chất chiến tranh của quân xâm lược.
Nhưng dù sao người đứng ở hai bên chiến tuyến có cái nhìn khác nhau về nhiều
mặt là điều tất nhiên thôi. Bây giờ đất nước hòa bình thống nhất rồi, chúng ta
có thừa thời gian để hiểu nhau, điều chỉnh cho nhau để cùng hòa hợp với những
ai thành tâm hướng về nguồn cội và tương lai của quốc gia dân tộc mình… Trở về
nhà, anh có ý định làm gì không?
- Các ông không sợ chúng tôi làm nguy hiểm cho
xã hội?
- Vì đề phòng như thế nên chúng tôi mới phải
gom lại và từ từ lần lượt đưa các anh nhập vào xã hội. Anh chưa phải là người
cuối cùng mặc dù tính ra cũng đã 8 năm 4 tháng 16 ngày. Tuy nhiên chúng tôi có
xem xét về nhiều mặt. Xã hội càng ổn định vững vàng chúng tôi càng mau chóng
trả các anh về cho tới hết. Chúng tôi trút đi được gánh nặng này.
- Trước đây chúng tôi cảm phục các ông về tinh
thần hy sinh chiến đấu. Ở đây, chúng tôi cảm phục các ông về tinh thần chịu
đựng. Đời sống của các ông như thế thì người tù làm sao đòi no đủ được?
Mấy ông cán bộ cười khà khà:
- Thiếu đói thế mà sao trông anh cứ phây phây?
Chúng tôi nghĩ gia đình anh ở Sài Gòn thì giàu có, ở Hà Nội thì đầy đủ, ngoài
sự viện trợ về vật chất cụ thể chắc còn có lắm đồ bổ dưỡng kín đáo để cho anh
dành bồi dưỡng?
Cán bộ cởi mở, Nhân Tín tỏ ra thân thiện:
- Viện trợ thì cũng có
nhưng chung quanh bao nhiêu người khổ thế làm sao nuốt trôi qua cổ được? Mỗi
lần chia sẻ chỉ được ít ngày. - Trong đó có phần cho số anh em quản
giáo chúng tôi? – Ông trưởng trại nét mặt nghiêm lại, có vẻ hơi buồn:… Việc đó
là nghiêm cấm nhưng chúng tôi không thể theo sát từng người. Thực lòng, nhiều
thứ anh em chưa từng được biết. Khổ thế đấy! Dù sao cũng là việc chẳng hay ho
gì. Nói ngược nói xuôi đều đúng cả. Các anh tù. Chúng tôi tu nhưng là tu không
tự nguyện nên dễ phá giới. Chỉ mong mau thoát của nợ này.
- Không! Chính các anh nhường cho tôi đấy! Tôi
phải cảm ơn nhiều lắm.
Mọi người nhìn Nhân Tín ngạc nhiên lắm. Anh
tủm tỉm:
- Lên đây hai năm, các anh giao cho tôi đàn bò
mấy chục con. Tôi chăn bò, con nào cũng béo tốt, lại đẻ sòn sòn, bò số tăng,
các anh tín nhiệm lắm và tôi tha hồ được… bú bò!
Mọi người ồ lên kinh ngạc:
- Thảo nào tớ để ý thấy cậu ít ăn sáng lắm, cứ
tưởng cậu có ý đồ gì. Bú thế nào? Con bò cũng chịu cho người bú à? Có ghê
không?
- Các anh để phí nhiều của qúi lắm! Đói dài mà
trước mắt hàng chục thiếu phụ bò vú cứ nây nẩy lắc lư để đấy. Sữa bò tươi
nguyên thủy lúc này hấp dẫn hơn bơ sữa thượng thặng trong các nhà hàng, còn ghê
nỗi gì nữa chứ? Tôi bú trực tiếp! Lúc đầu thấy hoi hoi nhưng dần quen đi. Cũng
giống như ngủ với người đẹp hôi nách, mới thì ngột ngạt nhức đầu, dần dần lại
thấy nồng nồng say say. Như các anh quen với mùi sầu riêng và người Sài Gòn dần quen với mùi hoa sữa
Hà Nội đấy. Lúc đầu còn nhăn mũi như khỉ gặp mắm tôm,
sau thấy khoái mũi, khoái khẩu tươi tỉnh lắm. Vừa bú vừa bóp... Chị bò đứng đờ
ra. Mình vừa no vừa sướng!
- Thằng quỉ sứ! – Ông trưởng trại phì cười,
đập vào vai Nhân Tín.
Họ nói chuyện chan hòa vì đã là công dân bình
đẳng. Một cán bộ hỏi chân tình:
- Hoa Kỳ đang cho nhận đoàn tụ gia đình. Cậu
thuộc diện HO ưu tiên đấy!
- Tôi chưa thể nói trước điều gì. Tôi nhận ra
từ ngữ cải tạo các anh dùng ở đây cũng
có phần đúng đấy. Bây giờ tôi nhìn đất nước, nhìn đời, nhìn con người khác
trước nhiều. Vì lý do gì phải đi xuất cảnh, tôi nhìn nước Mỹ cũng khác, nhìn
đồng đội cũ của tôi cũng khác.
- Được sự tiếp tay của CIA, ngay trên đất Mỹ
và mấy nước quanh ta, một số người lập ra đội quân chuyển lửa về quê
hương mong dựng dậy một cái thây ma
thối rữa. Theo anh liệu chúng có làm nổi không?
- Thời gian ở đây, các anh cho học tập, tôi vỡ
ra một số điều về nội lực và ngoại viện. Cách mạng thắng vì phát huy tối đa nội
lực. Điều ấy phải có dân ủng hộ. Chúng tôi thua vì dân chúng thờ ơ nên chỉ biết
trông chờ ngoại viện. Ăn của người phải làm được việc cho họ chứ không ai nuôi
báo cô mình. Không được việc, tất nhiên phải dẹp. Cá nhân thì cho chết. Quốc
gia thì vạn sự vô can! Đấy là văn hóa Mỹ, đúng nghĩa ra là thứ văn hóa nô dịch!
Không rã rời ra mới là sự lạ! Tôi nghĩ các nhà lãnh đạo quốc gia dư biết còn có
những mưu toan lớn và nguy hiểm hơn nhiều. Chỉ cách mạng mới đánh giá được hết
nội lực của mình. Còn một dúm người lưu vong vô công rồi nghề mới bày đủ trò
kiếm ăn, chỉ giỏi đánh võ mồm thôi. Những năm Sài Gòn đang phồn hoa và quân lực Sài Gòn đang khí thế mà người Sài Gòn đã có câu ví
độc: “Bạn nhà binh. Tình nhà thổ!”... Các anh đừng cười, đấy là tôi nói
thật! Những đêm dài vô hạn nằm ở đây, mỗi khi nhớ lại mà trên da thịt tôi như
có đầy những mũi kim châm! Cái tình chiến hữu lẽ ra phải thiêng liêng lắm chớ?
Dù đội quân ấy không còn nhưng nó vẫn như một lời nguyền mà cái hồn ma ấy bước
không qua! Tất nhiên vẫn có một số người dại dột cả tin sẽ như vật thí thân vô
ích.
Ông trưởng trại vui vẻ tâm tình:
- Thực tình mà nói với anh, được giao làm cái
nghề này nhiều lúc chúng tôi đau đầu tức muốn vỡ gan. Nhưng nhớ lời dạy của Bác
Hồ: “Ai bỏ cách mạng tùy họ. Nhưng cách mạng không bỏ một ai!” là chúng
tôi lại nén xuống, kiên trì chờ đợi. Tôi hy vọng những điều anh nói ở đây là
thật bụng và giữ được mãi trong lòng. Trước kia, trong hoàn cảnh đặc biệt của
đất nước, chúng ta từng coi nhau như kẻ thù. Bây giờ chúng ta là đồng bào, cùng
chung một bọc thai sinh. Dù ở đâu chúng ta cùng hướng về một tổ quốc Việt Nam
đã rũ bùn đứng dậy ngẩng cao đầu tuy rằng còn đói bụng. Sáng mai có chuyến xe
đưa anh về Hà Nội. Đang vào dịp cuối năm, liệu anh ăn tết với ông cụ hay với vợ
con?
- Xin các anh cho tôi thư lại mấy ngày để đi
chào hỏi bà con quanh đây. Bao lâu nay bà con đối xử tử tế với mình.
- Này! Cậu có gửi đứa con nào trong dân không
đấy?
- Tôi nói, tin hay không tùy ở các anh. Dù vợ
tôi bên kia đã lấy chồng. Người góa phụ bao lâu nay chăm nuôi tôi như người vợ
tự nguyện. Chúng tôi đã có một đứa con trai ba tuổi. Cảm ơn các anh không khe
khắt với tôi.
Bích Liên từ Paris báo về tin
khẩn: Mẹ bệnh nặng, khó qua khỏi được!
Cẩm Nhung và Nhân Tín chuẩn bị cùng nhau sang
với mẹ. Chuyện tình cảm tế nhị, hai chị em không dám dạm ý cha.
Ông Thanh bồn chồn, bứt rứt, phút cuối cùng,
ông nói với Thảo Tâm:
- Em cho tôi cùng đi với các con được không? –
Ông không dám tự quyết vì cái tình của cô với ông nặng quá. Ông không muốn để
cô buồn. Nhưng nghĩa tao khang kiếp này không trọn có lỗi của ông.
Cô Thảo Tâm không cản nhưng sâu tự đáy lòng,
cô dấm dứt buồn: Một đời cô dành tất cả tình thương yêu cho anh ấy mà nó đến
với cô muộn quá. Giá như có được một đứa con. Cô càng không muốn tình yêu bị sẻ
chia… Nhưng anh ấy nặng tình nặng, nghĩa lắm. Đã yêu thì phải thương thôi!
Nhân Trí đón ba cha con từ sân bay về thẳng
bệnh viện vì sự sống của mẹ đang ở những giờ phút cuối. Dường như bà ráng sức
chờ con.
Cẩm Nhung không kìm nổi mình, cô gục đầu vào
lòng mẹ khóc nức nở như ngày còn bé. Bà Lê Thị Hợi đang lơ mơ như bay trong đám
mây mờ nhòa tối-sáng. Làm sao mà bà nhận ra ngay tiếng khóc của con bé ngày
nào? Sắc mặt bà tươi lại, đôi mắt sáng ra, đưa đẩy, tay bà run rẩy giơ lên đòi
ngồi dậy. Các con đỡ đầu bà cao lên. Dường như toàn bộ sức lực còn lại bà dồn
cho con bé:
- Tội nghiệp con tôi… Mới tý tuổi đầu đã góa
bụa! – Những giọt nước mắt to nặng lăn xuống gò má già nua. Hai tay bà ghì chặt
con vào lòng như muốn che chở nó.
Cẩm Nhung càng khóc to hơn.
Nhân Tín ngả đầu bên vai mẹ, anh hôn lên đôi
gò má hoen nước mắt.
Một tay bà ép má con vào đôi môi khô héo, thì
thầm:
- Con tôi bướng bỉnh… vào tù có bị làm tội làm
tình nhiều lắm không con?
Dường như bà không gánh nổi những nỗi đau con
mình phải chịu, bà thở hổn hển, rã rời tay chân. Mọi người hốt hoảng đặt đầu bà
thấp xuống. Ông Thanh lay hai vai, ghé sát tai bà:
- Mợ nó ơi! Mình ơi!
Bà nhận ra tiếng ông nhưng bà không đủ sức
quay lại hay bà muốn tránh ông, giọng bà thều thào:
- Ông có khổ lắm kh… ô… ng?
Đó cũng là hơi thở ra cuối cùng và không hít
vào được nữa. Người bà mềm thõng ra. Ông Thanh khóc rống lên:
- Không! Tôi không khổ đâu bà ơi! Bà mới khổ
vì tôi!
Văn Khoa và mấy người y tá đỡ ông dậy, kéo ông
lùi xa ra trong khi bốn đứa con bà gục trên lòng mẹ khóc lên tức tưởi.
Ông Tham Phú mất hồi năm ngoái, an táng bên mộ
bà Nguyễn Nữ Đạm Tâm. Sau đó sức khỏe bà Lê Thị Hợi sa sút nhanh lắm. Bà dặn
lại, tạm thời an táng nhờ một nghĩa trang xứ đạo, khi nào có điều kiện thì hỏa
táng, tro cốt đưa về quê nhà, rắc xuống dòng Nhị hà cho lẫn với phù sa dạt vào
bến bãi nào cũng là quê hương xứ sở của mình.
Một ngôi mộ mới nằm giữa những ngôi mộ lạ nơi
xứ người, dưới hàng hàng cây thập ác như những cánh tay người giơ ra im lìm,
lặng lẽ suốt ngày đêm.
Trong số người đưa tang ít ỏi có cả chị Hương
Giang. Chị sang Paris ở với con. Dường như chị sống không hạnh phúc.
Thằng
cháu đích tôn của ông Thanh bà Hợi tức là con của Nhân Trí và Yên Thịnh, có cái
tên gợi cảm đầy ấn tượng: Nguyễn Đại Dương, đã vào tuổi thiếu niên. Với nó, đại
dương cũng như cuộc đời này thật thái bình và thơ mộng. Nhưng với cha mẹ nó là
gợi lại nỗi kinh hoàng !
Đứa con trai của Nhân Tín tên là Thomp Nguyen,
đã trưởng thành, qua chịu tang bà nội. Mẹ nó đã là người dưng. Ông nội và cha
nói tiếng Mỹ thì nó lắc đầu lia lịa mà nó nói tiếng Việt thì ông và cha nó đều ngao
ngán. Nó chỉ từng người hỏi:
- Người này là dad? Người này sinh ra dad… – nó nói
theo người lớn nhắc:… Yes… là on noi?
Người lớn hỏi nó:
- Có muốn đón cha và ông nội qua Mỹ ở không?
- Nguoi nay đuoc nuoi!
Nó chỉ vào ông gật đầu, rồi lắc đầu chỉ vào cha:
- Nguoi nay con lam viec!
Cha nó sôi máu lên, nói như quát :
- Tao không cần ăn bám đứa nào!
Nhìn thái độ giận dữ của cha, nó xua tay :
- Oh! Oh! Cong san đoc tai… gay chien… Khong
tot đau!
Ông nội tái mặt đi trong
khi cha nó đỏ mặt lên. Lúc đầu, Nhân Tín cũng có ý định tiện
dịp này qua Mỹ thăm bạn bè và thăm dò tình thế xem sao nhưng trước tình cảnh ấy
anh chán ngán nản lòng. Một số bạn bè tìm tới gặp, rủ anh ở lại:
- Ông thuộc diện ưu tiên số dzách, gật là được
ngay. Muốn xin cư trú ở đâu, kiểu nào cũng được.
Anh chối từ ngay :
- Qua đây thì vợ mình đã là vợ người ta, con
nói chuyện với cha như ông tây thuộc địa nói với người bản xứ, ngửa tay ăn xin
thì nhục, chẳng lẽ đi làm cu ly kiếm sống giữa những người xa lạ coi mình như mọi? Trong khi về nước tôi có vợ, có con, làm
ông chủ trại chăn nuôi, không giàu có nhưng sống cũng đề huề.
- Nhưng mất tự do, áp đặt!
- Cái tự do tôi cần bây
giờ là được sống thanh nhàn với vợ con, được làm việc theo sức của mình. Chuyện
chính trị tôi không quan tâm. Nhưng có một điều tôi nhận ra là mình không nên
cực đoan, chê qúa lời hoặc khen qúa đáng. Ngày tôi đang ở tù thì Tàu đánh qua,
tôi hiểu ra người ta không phải là tay sai Trung cộng. Ngày tôi ra tù ít lâu
thì Liên Xô sụp đổ mà người ta vẫn đứng được, tôi nhận ra họ không phải là tay
sai của Nga Xô. Thực ra lúc tôi coi họ là kẻ thù, đối kháng quyết liệt mà sâu
xa trong lòng tôi vẫn có chút gì trọng nể không thể nói ra vì lòng tự ái. Bây
giờ sống chung, tôi thấy họ cũng là những con người. Còn xã hội gì, tôi nghĩ như
cái tên một câu lạc bộ nào đó trên chiếc áo cầu thủ thôi. Cốt lõi vẫn là tài
cầu thủ xứng ở loại nào… Hạng hai? Hạng một? Ngoại hạng hay Tuyển quốc gia? Bây
giờ, tôi chấp nhận làm fan cho đội Việt Nam. Dù mặc áo
vàng, áo xanh hay áo đỏ đã có FIFA xếp hạng. Nhưng tôi vẫn vui buồn với nó vì
nó là những người Việt Nam thật sự.
Có người chỉ trích vỗ mặt anh phản bội đồng
đội, phản bội lý tưởng quốc gia, anh không tự ái, trả lời thủng thẳng:
- Ông tướng bốn sao Westmoreland từng là người
hùng trong cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, sang Việt Nam lãnh cương vị Tổng tư
lệnh liên quân Việt-Mỹ nắm trong tay hơn một triệu binh hùng tướng mạnh với vũ
khí tối tân dùng mặc sức mà cũng chịu phận bẽ bàng thay ngựa giữa dòng, về nhà
nói ra nỗi lòng cay đắng: “Trong cuộc chiến tranh này chúng ta không có anh
hùng, chỉ có những kẻ ngu xuẩn. Tôi là một trong số những kẻ ngu xuẩn đó!”.
Vậy sao tôi và các bạn không biết quên đi cái quá khứ nặng nề u ám đó để được
sống thanh thản trong quãng đời còn lại chẳng còn dài? Nếu nói đến lý tưởng
quốc gia thì bây giờ nhìn vào tấm bản đồ thế giới, mảnh đất hình chữ S bên bờ
biển Đông rành rành hai chữ Việt Nam! Đành rằng cái nước Việt Nam ấy sướng khổ
thế nào? Đó là việc của chín mươi triệu quốc dân hiện hữu. Dù sao tôi không hề
muốn cưa đôi hay chia năm sẻ bảy cái mảnh đất khốn khổ này ra chỉ để chuốc vào
những bất hạnh ê chề!
Kỷ
niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước
(30/4/1975 – 30/4/2025)

No comments:
Post a Comment