PHÚT THĂNG HOA
*************************************************
CHƯƠNG HAI
Non non nước nước
Chiều thứ bẩy nào ông Phán cũng xách túi gạo và lạc, vừng, dầu, mỡ… mang
vào cho mẹ và các cháu ở trong làng. Mẹ ông người gốc ở đây: Hương Thể thôn,
Lạc Trung xã, Thanh Nhàn tổng, Hoàn Long đại lý – ở phía đông-nam ngoại thành
Hà Nội, đầu cửa Ô Đống Mác.
Người ta kể rằng con đê La Thành bao quanh
kinh đô vừa là bức tường thành ngăn giặc, vừa là con đê bao ngăn lũ. Trên đê có
mở những lối ra vào gọi là “cửa ô”.
Người bên trong thành gọi là “kẻ chợ”. Người bên ngoài thành gọi là “kẻ” kèm với địa danh: kẻ Mơ, kẻ Lủ, kẻ Mọc, kẻ Noi… Người vùng đây được
gọi là kẻ Đông chăng? Ngày xưa
có nhiều cửa ô lắm nhưng thành phố ngày mở rộng ra, các cửa ô hoá phố phường, dần
rồi người ta lãng quên đi, đến nay chỉ còn mấy cửa ô người ta thường nhắc tới: Ô Đống Mác, Ô Cầu
Rền, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy, Ô Yên Phụ, Ô Quan Chưởng… Con đường chạy thẳng từ
đầu ô này vào kinh có còn lò đúc
nào khác nữa không ngoài lò đúc
tiền ở gần phủ Chúa nay là phố Tràng Tiền? Nơi đầu ô này là chỗ những người đi
thu mua rong đồ phế thải, đồng nát… về chất đống ngổn ngang đủ loại: mác, giáo,
gươm, đao… gẫy rỉ, nồi chảo đồng, gang cũ nát, dao mẻ, cuốc cùn… làm nguyên
liệu cung cấp cho các lò đúc đưa vào tái chế? Nhưng lại có người nói nó được
nói trại ra bởi cặp từ “ông Mặc”, vốn là một ông tướng có công đánh giặc thuở
nào, về trụ ở đây.
Con sông Tô Lịch khởi nguồn từ đầm Trâu – nơi đầm ẩn chín con trâu
vàng từ bên Tàu chạy lạc qua, rồi nó kéo nhau chạy ra sông Cái. Sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam, có nhiều
nhánh và một nhánh chẩy dọc qua Lạc Trung, xuống Vĩnh Tuy, Thanh Trì… dưới ấy
có đầm Sét lớn lắm, là quê thầy
Chu Văn An ở đó. Sông Tô chẩy ngoài bờ đê
La thành, tương truyền rằng ngày xưa sông rộng và thơ mộng lắm. Các
vương tôn công tử nơi cung đình thả thuyền dạo chơi vào những đêm gió mát trăng
thanh, xuôi ra sông Cái, qua
bên tỉnh Đông trêu hoa ghẹo
nguyệt. Từ ngày người Pháp qua đây, thành phố mở rộng ra nhanh chóng. Hệ thống
thoát nước thải theo các miệng cống đổ ra sông Tô. Nước sông trở nên đen đặc và
rất nặng mùi. Vào mùa mưa, nước chậm thoát ra sông lớn, ứ lại, tràn vào ngập
các ao, hồ, vườn, ruộng. Khi nước rút đi để lại một lớp mùn đen dầy tới nửa ống
chân. Nó là lớp màu tự nhiên quí
giá cho cây cối. Người ta dần bỏ nghề trồng lúa, chuyển qua trồng rau màu. Rau muống Vĩnh Tuy, ổi Thanh
Nhàn dân Hà thành ai cũng biết. Từ sáng sớm, các bà các chị áo dài tứ thân thắt
gọn ra phía trước, kĩu kịt gánh rau, gánh quả qua cửa ô toả vào khắp các phố
phường. Ngọn rau muống giải dài
mấy tấc đầy đặn mỡ màng, lơ thơ mấy búp lá non, luộc lên ăn thật ngọt và mềm!
Mấy quả sấu hấp dầm vào nước rau muống luộc một màu
xanh đục, ngày hè có trong bữa cơm thật hả hê, mát ruột… Những quả doi đường trắng xanh, doi cơm trắng hồng, doi đỏ rực tươi roi rói. Những trái
ổi chín vàng tươi, lòng trắng, nghệ, đào, mỡ gà… toả ngát hương thơm theo gánh
hàng như níu mời người qua lại. Nhưng cũng vì thế lòng sông ngày một cạn, bờ
sông hẹp lại dần, người ta có thể lội hoặc có nơi nhảy được qua bờ. Lớp người
sau nghĩ tới một nhánh sông Tô
này chỉ coi như một con ngòi, con lạch thoát nước dơ dáy mà thôi! Rồi nó sẽ
chìm sâu trong lòng đất như một cái cống ngầm giống số phận bao nhiêu sông ngòi
khác khi phố xá ngày một mở mang ra. Âu cũng là cuộc bể dâu muôn thuở!
Kinh
thành Thăng Long nguyên
là Kinh phủ Đại La thuở trước.
Thời thuộc Đường, xứ An Nam đô hộ phủ, chia thành mười hai Châu từ Lạng Sơn tới Nghệ An. Hà Nội là một trong
tám huyện của Châu Giao. Thời ấy có họa giặc bể, dân tình khốn khổ lắm mới cùng nhau đắp La thành bên bờ sông Tô Lịch để ngăn giặc vào cướp phá. Hết nạn giặc
bể dân Giao Châu lại phải đương đầu
với họa quân Nam Chiếu. Từ phía
tây bắc, suốt mười năm ròng chúng tràn qua quấy phá và hai lần chiếm được phủ
thành, giết hại không biết bao nhiêu sinh linh. Dân tình điêu đứng lắm. Cao
Biền là quan đô hộ có công dẹp được quân Nam Chiếu, xưng là Cao Vương, sửa sang lại và mở rộng
thành Đại La chứa tới bốn mươi
vạn nóc gia trong đó. Tương truyền Cao Biền là thầy phù thủy cao tay, nhìn địa thế Giao Châu có lắm đất
phát nghiệp đế vương, vào những lúc gió lớn mưa to, sấm chớp nổi lên, rồng đất
xuất hiện, y thường cưỡi kỳ lân
đi “yểm” đất, phá những chỗ sơn thuỷ đẹp hủy họai nhiều long mạch để cho người
Nam muôn đời không thể làm lung lay ngôi Thiên tử đất Trung Nguyên!
Thời
Ngũ Quí, nước Tàu rối loạn suy yếu đi nhiều. Thừa
cơ hội ấy Ngô Quyền trong thì dẹp được bọn nghịch thần phản loạn, ngoài thì phá
được quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bắt giết Thái tử Hoàng Thao. Gặp lúc thiên
thời – địa lợi – nhân hòa, Ngô Quyền
xưng vương vào năm 939, đóng đô ở Cổ Loa, chấm dứt ách Bắc thuộc hàng ngàn năm,
mở đầu cho nền độc lập tự chủ của nước nhà.
Sau
này Đinh Bộ Lĩnh dẹp được loạn mười
hai Sứ quân, lên ngôi Đinh tiên Hoàng
đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.
Vào
mùa thu năm Canh Tuất – 1010, Vua Lý Thái Tổ ra chiếu dời đô về Đại La, thấy có rồng bay lên thì
đổi tên là Thăng Long thành từ
đó. Đến đời vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt. Tuy nhiên
với thiên triều phương bắc, các triều vua ta đều chịu nhún nhận ấn phong là An
Nam quốc vương, đến triều vua Nguyễn
Gia Long đổi là Việt Nam quốc vương. Vua Minh Mệnh lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Nam nhưng ấn phong không đổi. Sau này người Pháp quen gọi dân mình là Annamite với ý miệt thị hạng người nô lệ!
Kinh đô Thăng Long trụ bên bờ tây một đầm nước lớn
quanh năm mây mù bao phủ nên gọi Dâm đàm, rừng rú rậm rạp
và mênh mang sông nước. Trải bao thế sự thăng trầm, kinh đô lấn dần về phía
đông. Đến đời nhà Lê thì người ta quen gọi Tây hồ là thế. Mỗi khi vận nước suy vi, triều đình thất thủ, kinh thành lại
bị triệt phá! Khi Nguyễn Phúc Ánh dựng nghiệp, kinh đô triều Lê mạt đã hoang
tàn. Nhà Nguyễn biết lòng dân Bắc Hà không phục nên dời đô về Huế là nơi cố tổ
chín đời khởi nghiệp. Năm 1805, Gia Long muốn xóa đi dấu ấn của các vương triều
cũ, sửa lại chữ Long=Rồng thành
chữ Long=Vượng đồng thời phá bỏ
đi nhiều di tích để xây dựng Bắc thành. Tuy nhiên Điện Kính Thiên là công trình đồ sộ nguy nga nhất, khởi
công từ khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi, liên tục tô điểm dựng xây qua các triều Lê
Thái Tông, Lê Nhân Tông đến triều vua Lê Thánh Tông – trải gần 60 năm mới hoàn
thành, dùng làm nơi thiết đại triều thì vẫn được giữ nguyên. Các vua đầu triều
Nguyễn thường phải xa giá từ kinh đô Huế ra cố đô Thăng Long, lấy Điện
Kính Thiên làm nơi tiếp đón các quỉ
sứ con trời! Địa danh Hà Nội có từ thời vua Minh Mạng – nghĩa là nó ở
phía trong sông Cái.
Tổ
tiên người Lạc Việt phát tích từ phía nam sông Dương Tử (Trường Giang), trải tới châu thổ sông Hồng, sống bằng nghề
trồng lúa nước, đi lên từ những đồ đá, đồ đồng và sớm có những ký tự riêng gọi
là chữ Việt cổ. Người phương Bắc cậy đông, với những mưu toan tàn ác hiểm độc,
họ lấn xuống như tầm ăn dỗi thì người Việt cứ phải lùi dần, vượt bao nhiêu con
sông đầy những thác gềnh hiểm trở, đời sau nhắc tới còn thấy lạnh sống lưng như
sông Đà, song Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Hàn, sông Bồ, sông Kôn, sông Ba,
sông Dinh, sông Đồng Nai, tới châu thổ sông Cửu long, tận cùng là đất mũi mà
nào đã được yên đâu! Lại gặp họa giặc tây dương tràn tới, với những binh khí tân
kỳ làm người ta sợ hãi, lại gieo rắc thứ đạo lạ từ bỏ cả ông bà tổ tông vẫn mê
hoặc lòng người bằng đủ thứ dọa dẫm và cám dỗ! Trời sinh ra dân tộc này luôn ở
thế trứng trọi với đá mà kỳ thay vẫn
tồn tại được?!
Khi giặc Pháp ra đánh Đàng ngoài,
hai lần Hà thành thất thủ nhưng chí khí lẫm liệt vị quốc vong thân của Khâm sai Nguyễn Tri Phương, Phò mã
Nguyễn Lâm, Tổng đốc Hoàng
Diệu, ông Cai Trí… vẫn được hậu
thế tôn thờ. Điện Kính Thiên từng chứng kiến những tấm gương tử tiết của
các bậc trung thần nghĩa sỹ. Mãi tới những năm cuối thế kỷ XIX đến lượt nó làm
nạn nhân cuối cùng của nền văn minh Việt bị giặc Tây phương nhân danh một nền
văn minh đến đây tàn phá!
Công việc phá huỷ Bắc thành kéo dài suốt mấy năm và
nó gắn liền với tên tuổi một người đàn bà tội nghiệp. Ngày 1 tháng 2 năm 1894,
tại Cửa Đông thành, đúng vào giờ thìn, trước sự chứng kiến của các quan tây,
quan ta đủ hàng phẩm trật, dưới bầu trời phủ rợp cờ tam tài mẫu quốc, sau một
hồi trống lệnh nổi lên, viên chánh Đốc lý người Tây cầm cuốc bổ xuống tường
thành mấy nhát khơi mào rồi hắn trao cái cuốc lại cho nhà thầu – Đó là một
người đàn bà nhan sắc, chưa hết tuổi thanh xuân, vấn khăn nhiễu tím bỏ đuôi gà,
áo the, quần lĩnh tía, giầy cườm mõm nhái bước lên nhận chiếc cuốc từ tay quan
đô hộ và giơ cao nó lên rồi bổ mạnh xuống ba nhát. Viên gạch vỡ ra và bật ngửa
lên!
Người đàn bà đó tên gọi Tư Hồng và cái tên ấy đã
thành bia miệng mặc sức cho người đời phỉ báng. Thật ra, nếu Tư Hồng không được
nhận thầu ắt sẽ có ngay kẻ khác không Tây thì ta càng hí hửng được vơ vào món
bở. Vậy sao người ta không réo tên viên Thống sứ Bắc kỳ, viên Đốc
lý Hà thành mắt xanh mũi lõ cùng với
mấy viên Khâm sai, Tổng
đốc Nam triều để tạc vào bia miệng mà cứ nhắm vào
thân phận đa đoan chìm nổi của một kiếp gái quê nghèo?!
Gốc cái tên Tư Hồng đã là một sự gán ghép éo le của
hai đời chồng thế sự là một khách chú tên Hồng phải đợ vợ vì vỡ nợ với một viên
quan tư tây dương đương chức. Người đời quên bẵng đi luôn cái tên của cô gái
quê xinh đẹp, lam lũ cần cù ở đồng chiêm trũng Bình Lục–Hà Nam. Một kiếp hồng
nhan ba chìm bẩy nổi biến cô thành gái thập thành tăm tiếng để vua biết mặt
chúa cũng biết tên. Cô từng được diện kiến Đức vua Thành Thái tại chốn cung đình
và được Hoàng thượng đặc ân cho bốn chữ “Lạc quyên nghĩa phụ” sơn
son thiếp vàng cùng sắc phong hàm “Chánh ngũ phẩm nghi nhân”. Dân Hà thành có câu truyền khẩu: “Đĩ
có tàn có tán, có hương án thờ vua”,
không mấy người không biết.
Từ một đời nghèo kiết xác đến một người giàu nứt đố đổ vách, lạc quyên biết bao nhiêu, cúng hiến biết bao nhiêu để mong tròn quả
phúc mà hậu vận vẫn bạc như vôi. Mối
duyên nợ với viên cố đạo tây phá giới cũng nửa đời nửa đoạn và cô chết âm thầm
trong một Viện tế bần!
Gạch đá do sự phá huỷ Bắc thành còn làm cho khối kẻ
biết dựa dẫm bon chen nhờ đó ngoi lên…
ô
Ông Phán mở cái cổng tre. Con vàng, con
vện từ trong nhà nhận ra dáng quen, chạy tới ve vẩy cái đuôi, liếm vào đôi chân
của chủ. Những con chó gầy giơ xương. Con vàng thân hình dài ngoẵng, bụng lép
xẹp, hai dãy vú lòng thòng lúc lắc vậy mà đàn con chạy lông nhông cứ chúi vào
bụng mẹ mà nhay!
Bà cụ Hai đang quét sân. Ông Phán cầm lấy chổi:
- U để cho con!
Khi có mặt vợ, con hay cháu, ông gọi mẹ là bà. Nhưng khi chỉ có hai mẹ con thôi, ông
thường gọi mẹ là u như gợi lại
một thời có u phải
có thầy và luôn nhớ rằng cho dù
mình có là gì đi chăng nữa thì vẫn là con của mẹ.
Bà Hai lưng còng, chân tay run rẩy ngồi trên thềm
hè. Ông Phán nhìn vào mắt mẹ: hai cục cườm trắng ngày càng mờ
đục che khuất bóng con trong mắt mẹ! Lòng ông se sắt. Ông phẩy bụi bám trên vai
mẹ:
- Trời ơi! Quần áo u có thiếu gì đâu! Mặc vậy người ta cười con cái
bất hiếu để cho mẹ già đói rách!
- Ai cười hở mười cái răng,
kệ họ! Quần áo tôi lành chớ có rách đâu? Tôi có đi đâu mà phải mặc rõ đẹp vào?
Mấy miếng vá trên áo quần bà rị mọ lần mò tự vá,
chẳng cần phiền ai.
Gái là con ông anh cả đi chợ về, đặt quang gánh giữa
sân, mách:
- Chú ơi, dạo này bà yếu mà ít chịu ăn!
Ông Phán hỏi cả cháu lẫn bà:
- Bà không chịu ăn hay ăn không được? Nhà mình ăn uống ê hề thì không dám
chớ cơm no ngày ba bữa thì chú lo được cho bà. Bà ăn được đấy nhưng cái gì cũng
chắt chiu bóp bụng!
- Ôi dào,
tích cốc phòng cơ. tích y phòng hàn!
Làm người phải biết lo xa. Người ta đói rách đầy đường mà mình ngoảnh mặt ăn
cho đầy bụng, xúng xính áo quần là có tội!
Bà lảng
qua chuyện khác:
- Thế sao
thằng Nghĩa bấy lâu nay không về? Nó học hành vất vả lại còn lấn bấn cửa hàng
cửa họ thì tội nghiệp nó quá!
Ông Phán
hơi bực mình:
- U ơi!
Chuyện của cháu u để con lo. Con không lo thì làm sao nó đi học được đến hôm
nay? Nhưng nó cũng phải đỡ đần một tay cho con chớ! U đừng có nghe ai.
- Ừ, là
tôi nói vậy thôi chớ một giọt máu đào
vẫn hơn ao nước lã!
Con trai
hiểu ý mẹ nói gì rồi. Ông thấy khó nói sao cho mẹ hiểu. Chẳng qua cũng là cái
nợ đồng lần của người đàn bà Việt Nam phải trả lẫn cho nhau. Cơ đồ nhà ông đây:
nhà cửa đề huề, ruộng vườn làm không hết còn cho thuê mướn. Nhưng ai có thể nói
được chỉ một tay cha hay mẹ dựng nên? Chẳng qua vợ chồng phải đấu cật chung
lòng mới nên được cơ đồ như vậy. Ai cũng biết nó là của chồng công vợ. Người phụ nữ nào cũng từng làm con trong một
nhà có anh-chị-em, rồi ra đi làm dâu người ta, rồi lại làm mẹ các con, làm mẹ
chồng người khác. Thế nhưng khi đứng ở chỗ nào thì họ lại quên mình đi để làm
tròn phận sự. Nên nó mới sinh ra những chuyện rắc rối: mẹ chồng-nàng dâu, chị
dâu-em chồng đã thành muôn thuở. Chung quy bởi tại tình thương của người
đàn bà nó bao la quá mà lại chi li quá nên thành nhỏ nhặt! Tuy có giận lại thấy
thương và dù có thương bao nhiêu vẫn thấy phiền lòng! Làm người đàn ông trong
gia đình nhiều khi cũng rối. Làm trọn phận con, phận chồng, phận cha, phận anh,
phận em không đơn giản chút nào. Bịt tai nhắm mắt quay đi thì ra người bất
hiếu, bất nghĩa, phụ tình mà muốn rạch ròi thì không đặng. Ông nghiệm ra rằng
đối với đàn bà dù ai cũng vậy: Thôi thì một
sự nhịn là chín sự lành!
Ông thương
mẹ lắm. Lúc còn nhỏ chưa biết thì thôi chớ từ ngày lớn lên ông thấy mẹ lúc nào
cũng khổ. Lúc khó khăn mẹ chịu khổ đã đành nhưng lúc có chút đỉnh chung mẹ cũng
không dám hưởng. Là để phòng xa cho chồng con lúc thất cơ lỡ vận. Là để cho
trong họ ngoài làng nhìn vào vẫn thấy gia đình mình giữ được cái nền…
Gái đưa ra
cái hầu bao lòng thòng, bạc
phếch có một cục gồ lên nút chặt hai đầu:
- Chú xem
này: Tiền đi chợ về ngoài việc chi hàng ngày cháu đưa hết cho bà. Cả tiền chú
cho cũng thế. Bà bọc một cục thế này, lúc cột chặt thắt lưng, lúc quên đây quên
đó, lại lọ mọ đi tìm. Có khi còn nghi cho cháu!
Gái ra
chiều giận lẩy.
- Thì con
đã nói rồi, bà cứ để cho cháu gái nó cầm đi. Con cháu mình đã biết rõ tính nết
từng đứa rồi!
Ông thương
Gái. Năm nay tuổi nó ngoài hai mươi rồi nhưng chú cháu từ nhỏ sống với nhau
dưới mái nhà này. Nó mồ côi mẹ từ khi còn ẵm ngửa. Một lần nằm ru cháu trên
chiếc võng mắc ở rặng ổi ngoài kia, chú nhún chân đạp thật mạnh cho võng bay
vổng lên, nào ngờ tuột đầu dây võng hất tùm cả hai chú cháu xuống ruộng rau.
Tưởng con bé chết vì ngợp nước! Cha nó vợ nọ con kia, ba bốn bà đều… vô tự! Là trưởng tộc mà vậy là
phạm một tội trong “tứ đại bất hiếu”
rồi. Ông sớm nặng nợ với cái bàn đèn nên kiếm cớ đi tìm qúy tử, càng bê trễ
việc nhà! Một mụ bên tỉnh Đông trốn cảnh bé mọn bỏ xứ theo ông. Tuy chẳng ưa gì
hạng người chốn chúa lộn chồng nhưng lại được đích danh mụn cháu đích tôn nối
dõi tông đường thì lòng bà cũng dần khuây khỏa, cũng là lúc ông con trưởng đa
mang vào nghiện ngập ngày càng thêm nặng cho nên vắn số! Gái lại lâm vào cảnh dì ghẻ con chồng! Một bà một cháu dựa
dẫm vào nhau, cháu dù non nớt cũng phải lớn mau lên đảm trách việc nhà. Thật sự
công việc nhà này lâu nay nó một tay cáng đáng.
- Bà không
tin cháu gái lo cho bà đâu! Nhưng bà giữ để lo cho con gái! – Gái nói vẻ tủi
thân.
Con gái đây là cô Út Hoa. Cô buôn bán hàng khô ở chợ đầu ô. Cô đa mang
con cái đùm đề. Chồng làm thày giáo dậy lớp Đồng ấu nhưng có máu lăng nhăng, mồm mép bẻo lẻo, biết đàn
hát nên bạn bè thường rủ rê đi hát xướng. Cũng biết làm thơ, có mấy bài đăng
báo với bút danh ghép cả tên chồng tên vợ: Qúy Hoa! – Thế cũng đủ gọi là nhà
thơ! Nhà thơ, ca sỹ, đám gảy đàn đánh trống… mấy người ấy thì nhân tình, nhân
ngãi đùm đề. Cô em buồn giận lắm nhưng cũng tự hào được làm vợ một nhà thơ nên bấm bụng chịu nhịn, có
khi còn phải chiều lòng cung phụng kẻo để nó lột cái áo nghệ sỹ cho lộ ra bản
tính cộc cằn, nó phá tan hoang! Nó than thân trách phận hẩm hiu, tài hoa như
vậy mà vớ phải vợ nghèo! Ông anh cũng bực lắm có lần phát bẳn lên:
- Nó ham giàu sao không bảo nó xin vào làm rể nhà ông Năm Diệm?
Ông Năm Diệm là cai thầu tiêu thụ hệ thống chất thải tư gia ở Hà thành.
Cứ mỗi tối từ lúc trời bắt đầu về khuya tức là lúc canh hai, giờ Hợi cho tới
lúc trời tảng sáng khoảng canh năm, giờ Dần, hàng đoàn xe bò đen người kéo người đẩy, từ căn cứ của ông ở làng Đồng
Nhân tủa đi khắp phố phường, thình thình đập cửa từng nhà, đùng đùng tiến vào
thay đổi các thùng phế thải. Ông giàu sụ lên bởi cái nghề ấy nhưng với khẩu khí
của người Hà thành như vậy liệu những cậu ấm cô chiêu con cháu nhà ông có dễ kén được tân nương tân lang xứng
hàng gia thế?!
Nhưng em ông phận gái ván đã
đóng thuyền. Đành rằng anh em
kiến giả nhất phận nhưng làm ngơ sao đành. Lâu lâu ông đỡ cho em một
chút. Bà Phán biết được có eo xèo chì chiết chồng. Bà mẹ thương con gái thường
cho dấm dúi.
Bà Hai thấy cháu gái nó mếch lòng mình, nói xoa đi:
- Cha bố mày chớ ai bảo bà
không tin mày? Bà không thương mày thì bà thương ai?
- Thế có bao giờ bà đưa cho cháu một xu không? Nhưng cháu trai thì bà xót
lắm. Nữ nhân ngoại tộc mà!
- Mày cầm tiền. Mày đưa cho bà bao nhiêu thì bà biết vậy. Mới lại bà
thương nó mồ côi!
Bà cười xoà. Gái bật khóc lên:
- Thế cháu không mồ côi à? Cần gì thì cháu xin chớ cháu không ăn bớt một
chinh đâu. Chẳng qua cháu là phận gái!
- Tại mày lớn rồi. Phúc như người ta thì đã con bồng con mang rồi đó!
Bà kịp chữa sự lỡ lời.
Ngồi xử kiện chuyện đàn bà con gái trong nhà thì đến như ông Bao Công
sống lại cũng bất lực thôi! Ông Phán lắc đầu thở dài, càng thương cháu gái. Ông
biết tính nó mà. Nó thật thà, com cóp nhặt nhạnh chi li nhưng không phải là cho
nó. Mai mốt có lấy chồng lại ra đi hai bàn tay trắng! Thân phận người đàn bà
khổ từ tấm bé cho đến khi nằm xuống! Cũng từ lòng mẹ sinh ra mà con trai, con
gái khác nhau! Lúc nhỏ, có miếng ngon là để dành cho đứa con trai! Lớn lên đi
học, cũng ưu ái cho con trai trước! Con gái học ít thôi, mai mốt nhờ chồng! Khi
lập gia đình, của giả cũng giữ cho thằng con trai nhiều nhất! Nhưng lúc cùng
quẫn cơ hàn phải bán con đi thì đứa con gái bị đem đi bán trước để cứu cả nhà!
Ở làng quê, người ta cưới vợ cho thằng cu con mới năm, mười tuổi mà nàng dâu
thì mười tám, đôi mươi! Lấy chồng không phải để hưởng hạnh phúc mà là đi làm
đầy tớ không công cho người! Cái cảnh bồng
bồng cõng chồng đi chơi… nghe nó chua cay nghịch lý mà lại là sự
thật. Cớ sao người phụ nữ vẫn tự dấn thân vào chốn bị đầy ải đã biết trước rồi?
Ôi! Phải chăng vì nghèo? Hay vì cái tập quán man rợ có tự bao giờ? Khi một nếp
sống đã thành tập quán nó trở thành luật lệ bất thành văn còn hà khắc hơn nhiều
những lề luật vua chúa ban ra!
Ông Phán thấy lòng nặng nề, quay qua không thấy mẹ đâu, ông đứng dậy đi
ra đầu hồi. Bà cụ đang lọm cọm quét đi quét lại cỗ áo quan hương mộc dành sẵn
cho bà. Đấy là chiếc áo đời
cuối cùng bà mặc về hoà vào với những người xưa sau bao năm lăn lóc một đời người.
Bà hài lòng về nó.
Chu đi hái quả về, hai vai hai bị doi và ổi, cây bồng cũng
đầy những trái. Chưa kịp chào, Chu vội hỏi ngay như đang trông đợi điều gì:
- Cậu ơi! Anh Nghĩa có nhà
không?
- Có việc gì cần lắm không? – Ông nhìn cháu.
- Cháu cần mấy cuốn sách cháu đang học tới!
- Nếu cần gấp thì cháu cứ ra ngoài nhà hoặc lên Chợ mà tìm đi. Nghĩa nó
không có nhà! – Ông buột miệng.
Bà cụ dừng tay quay ngay lại:
- Thằng Nghĩa nó đi đâu mà các
anh các chị không nói cho tôi biết?
Ông Phán chột dạ lúng túng:
- Dạ… nó… đi… thi!
- Thi với cử gì thì cũng phải
về nhà chớ!
Bà cụ trách và lên mặt giận.
Bà gần đất xa trời, về theo tiên tổ bất kỳ. Bà muốn thằng cháu đầu bà
thương nhất lúc nào cũng ở bên bà để được nhìn nó lúc bà phải ra đi.
Ông Phán lảng đi, vừa sợ mẹ biết, vừa lo cho cháu.
Chu là con bà chị ông. Ông chồng bỏ vợ và con nhỏ đi theo đám mộ phu đồn
điền vào Nam biệt xứ. Bà chị chạy vạy nuôi con vất vả cực nhọc rồi mang bệnh
thận, người cứ phù thũng lên. Bà chết lặng lẽ khi đứa con gái bốn tuổi cứ lê la
bên mẹ. Đứa con trai mười tuổi đi chơi về thấy mẹ nằm cứng đơ ra mới sợ hãi
chạy đi gọi cậu. Một người hiếm muộn ở trong quê xin bé gái làm con nuôi. Đứa
con trai lại nhập vào đám cháu mồ côi của bà. Chu 14 – 15 tuổi rồi nhưng nhát
lắm. Cu cậu sợ ma lắm. Trời tối, chong đèn đứng trên hè chõ vòi ra sân mà đái.
Bị ăn đòn nhiều lần vẫn không chừa được. Chu đang theo học lớp đầu hệ Thành
Chung. Nghĩa thường về kềm cập cho em. Mấy chị em bà cháu nuôi nhau trên rau
quả ruộng vườn. Cậu chu cấp thêm việc học hành cho cháu.
Ông vẫn trông tin Nghĩa hàng ngày. Bây giờ mẹ ông nóng ruột đợi chờ, ông
lại càng lo. Mà cháu
thì vẫn đi biền biệt!
ô
Ông Phán
Thanh ngồi suy ngẫm sự đời.
Kéo cái điếu bát lại gần, tay vê vê điếu thuốc, ấn nó trên miệng nõ, tay
cầm cây se điếu đặt vào giữa hai môi chúm lại nhấp từ từ một hơi… hai hơi… ba
hơi… rồi rít liền một mạch… lọc xọc!…
lọc xọc!… lọc xọc!… lọc xọc! lọc xọc! lọc xọc!… xọc! xọc! xọc! xọc! xọc!… xọc!…
xọc!… xọc! Ông ngậm khói trong miệng một lúc, ngả đầu ra, phả khói lên
trần. Khói lúc đầu quánh đặc rồi phai nhạt dần toả ra khắp nhà. Từ ngày có việc
làm, có bạn bè, vui chơi ông hút thuốc điếu thơm. Lâu dần ông tập hút thuốc lào
rồi thành quen. Khói thuốc được hoà trong nước bốc lên nó trở nên quánh đặc
quyện lại nơi đầu lưỡi tê tê thấm vào gan ruột. Chỉ khi tiếp khách ông mới đưa
bao thuốc điếu ra. Mỗi sáng sớm, pha một ấm trà, chưa đánh răng xúc miệng, ruột
gan chay tịnh, làm một hơi thuốc lào, nhấp thêm ngụm trà chiêu khói thuốc, lúc
ấy mới phê. Ông ngả người ra
ghế, mắt đờ đẫn, hàm cứng lại, ai hỏi chỉ ú ớ không đáp được. Ông không hút thuốc phiện nhưng hút
thuốc lào như thế cũng mê ly lắm rồi. Có lần sơ sẩy, ông ngã bịch xuống nền nhà, vỡ đầu chẩy máu.
Cả nhà cuống quýt vực ông dậy, lấy thuốc lào rịt vào vết thương, băng chặt lại.
Khi tỉnh, ngồi dậy, chờ hồi một
lúc, ông lại làm thêm điếu nữa! Vợ ông cằn nhằn hoài mà ông không bỏ được. Coi
như cố tật rồi. Ông không cô đầu, nhà chứa, không cờ bạc, rượu chè. Chỉ một tật
ấy, thôi thì cũng được! Lâu dần bà cũng quen đi.
Tối nay ông làm liền mấy điếu. Ông càng tỉnh táo nghĩ lại sự đời. Quê nội
ông phát tích từ làng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn
Nam nhưng nội ông
về ở dể dưới quê mẹ làng Yên Cốc nơi nổi tiếng có nghề giấy dó và sinh
cha ông ở đó. Từ ngày Tây sang, nho học thất vận, những bức tranh dân dã Đông Hồ không còn được các nhà giàu
ưa chuộng nữa thì nghề làm giấy ta
cũng lụn bại dần đi. Có ít chữ nghĩa, anh con trai cần cù có chí không chịu để
mình lún ngập xuống dưới những vết chân trâu. Khăn gói gió đưa, anh lên tỉnh
thành tìm đất sống. Nhưng ở chốn đô hội văn vật này, chữ nghĩa lưng ống quyển, lại túi lép, gói nhẹ, chỉ
có thể loanh quanh ở chốn nửa quê nửa tỉnh đầu ô thôi. Lúc đầu dạy học dăm ba
đứa trẻ con nhưng chữ nho ngày một lỗi thời, học trò thưa vắng và nản chí học
dần đi. Thày xem sách và xoay qua nghề bốc thuốc. Dân tình đa phần là nghèo, bệnh tật còn quen với mấy thứ lá lảu,
chưa hợp với mấy thứ thuốc viên, thuốc ống nên thày lang vẫn được người dân quý
nể. Làm giàu thì khó chứ để đủ ăn thì tạm được, cuộc sống cũng không đến nỗi
nào. Cô gái tên Phiếu trong làng ngày ngày quảy
gánh hàng qua cửa nhà thày. Em cô cũng cắp sách tới thày ê a mấy chữ.
Dần dà quen người, quen nết, làng xóm đưa nay mối mai, nên duyên nên phận. Mải
mê lặn lội vì chồng vì con, dần dà ngay cái tên của mình cũng không cần nhớ
nữa, cô chấp nhận ẩn danh dưới tên chồng với một chữ bà (bà Hai Mùi) đã làm lòng cô toại nguyện. Ông bà tằn tiện căn
cơ, làm nhiều tiêu ít, dư dả chút nào là bỏ ra tậu ruộng. Lần hồi cũng vườn
trước ruộng sau vào hàng có máu mặt
trong làng. Mẹ ông tơí chín mười lần vượt
cạn mà giờ chỉ còn ông và cô em gái! Người chết lúc mới lọt lòng, lúc ấu
nhi, lúc còn thơ bé. Lọt được mấy người đến thành gia thất thì đều mệnh yểu.
Các cụ buồn nghĩ mình bạc phước. Cụ ông lẳng lặng bỏ đi không trối một lời. Gánh nặng gia đình đè lên vai ông Phán
lúc vừa bước vào tuổi biết lập thân. Ông phải bỏ dở dang sự học. Những ngày
thất nghiệp ông làm đủ nghề. Cũng may nhà còn có phúc. Bạn của cha ông là người
có nghĩa, giúp đỡ con bạn tận tình. Gia đình ông Phát Đạt giàu có mà gia phong
lắm, thấy ông hiền lành, hiếu thảo mới bắn tiếng gả con gái cho. Nhưng hiềm một
nỗi ông là Trùm đạo, muốn hợp duyên phải cải đạo, theo đằng vợ. Không thiếu gì
điều nọ tiếng kia, dèm pha bỉ báng. Nhưng không nhờ cái thần quyền thì ông
không được thế này. Rồi vì nghĩa nặng mà nên duyên. Nhờ ơn trên, được vợ ông
con nhà nền nếp, khéo xử nên dù hai nhà gia cảnh, gia đạo khác nhau cũng không
để xảy ra chuyện bất hoà trầm trọng. Vào ngày giỗ kỵ bà lo chu toàn, ông chỉ
việc chén nước nén nhang, chắp tay đứng trước bàn thờ khấn rước ông bà về chứng
giám lòng thành của con cháu. Ông được lương hậu hỹ. Vợ ông xoay xỏa có được
một cửa hàng vải ở chợ Chùa Vua. Bà về với ông năm năm, sinh liền ba đứa: bé
Cẩm Nhung, thằng Nhân Trí và thằng Nhân Tín. Nhìn bầy con nếp tẻ đủ cả, thơ
ngoan, ông cho là mãn nguyện.
Ở công sở,
ông là một viên chức cần mẫn, chu đáo, không luồn cúi cũng không nhìn ngó công
việc của ai nên các chef yên tâm, đồng nghiệp tin tưởng. Chuyện chính trường
ông biết gì để đó không bàn bạc tranh cãi làm gì, ai cũng nghĩ ông là người
không chính kiến. Báo chí ông xem biết vậy, không bao giờ ông cầm tờ báo cấm –
thậm thụt làm gì! Chuyện quốc gia đại sự là việc của vua chúa, của các nhà chức
trách cầm quyền, của những người có mộng công-hầu-khanh-tướng mưu bá đồ vương.
Gây nên sóng gió phải là những bậc anh hùng cái thế tài ba mới dám xoay vần con
tạo. Chớ thân ký phán quèn, thư sinh trói
gà không chặt làm sao dám vác
nạng chống trời? Không phải là ông không động lòng trước nhân tình thế
sự, nhưng biết làm sao? Chẳng lẽ làm như bà Nữ Oa đội đá vá trời! Vả lại con người ta có số, quốc gia có vận. Ông
chấp nhận số phận của ông mặc dầu ông thấy chạnh lòng đã không làm được tích sự
gì lúc quốc gia vong biến! Ngày hai buổi ông đi về với chiếc xe đạp trên một
con đường trải nhựa phẳng lì che dưới bóng cây dâm mát như bao ông công chức tân thời lúc đó.
Nhưng thế
sự xoay vần chóng mặt. Mấy năm nay lòng ông luôn thấp thỏm bất yên. Bao nhiêu kẻ lạ nhâu đến đất nước này! Cuộc
tranh giành xâu xé này rồi ra sẽ thế nào? Tiếng súng đã ùng oàng từ Nam ra Bắc.
Tưởng là đất Thăng Long phi chiến địa
nhưng bom đạn đã dội xuống ầm ầm, đêm ngày nghe tiếng gươm khua mà thót ruột! Làm việc cho người Pháp ông biết
chớ. Họ chịu lép đó nhưng lòng dạ họ bất trắc. Làm sao họ chịu để yên với kẻ
đến giật miếng ăn của họ. Người Nhật thâm hiểm chớ đâu có dại khờ. Và chuyện
phải đến bây giờ đã đến!
Chỉ mấy
tháng nay mà bao nhiêu biến đổi. Ông lo vậy nhưng đầu ông lại dần sáng ra. Bác
Trịnh Huy là người học rộng và từng trải, là người khả kính. Những lời bác nói
làm cho ông rõ ra con đường trước mắt. Bác thật là chính nhân quân tử. Nhưng thằng Nghĩa cháu ông cũng nói như bác
ấy. Trước đây nó đâu dám dậy khôn ông. Nhưng bây giờ nó nói đúng quá. Sao bấy
lâu nay mình không nghĩ được như nó nhỉ? Ai dậy khôn cho nó? Từ mình đến nó,
vào lớp đều nhai nhải học: “Les Gaulois sont nos ancêtres” (Người Gô loa là tổ tiên của chúng
ta), dầu ấm ức trong lòng mà vẫn phải lơ đi. Còn nó nói toạc ra: Tổ tiên của
chúng tôi là người Giao Chỉ! Chẳng lẽ nó là người của bác Trịnh Huy? Nó nói phải can đảm lên để tự trấn an hay nó
khích lệ mình? Nó có can đảm mới dám dấn thân làm những việc ấy chớ. Vậy ra là
mình nhát? mình hèn? Nhát thì mình có nhát thật. Cả một gánh nặng trên vai, làm
gì phải suy tính chớ. Nhưng hèn thì không! Đã có lần ông từng đá đít một thằng agent
(nhân viên) mũi lõ khi nó chửi gã planton (loong toong) người mình
là cochon Annamite! (con lợn An-Nam!). Lão Debue trông thấy không bênh
nó, chỉ cười xòa. Lão cũng biết tỏng
mình là người nhẹ dạ cả tin, an phận! Suy cho cùng cũng chỉ là phường giá áo túi cơm thôi! Hèn là
không còn nhân cách, là nhục lắm! Công danh ai bằng Hàn Tín mà người đời vẫn
không quên cho cái nhục xin ăn Phiếu mẫu, luồn trôn giữa chợ! Dân tình đang đói
rã ra kia, khéo là chết hết. Mình cứ sống chết mặc bay, bèo trôi nước chẩy là
bất nhẫn lắm, không được đâu!
Từ trong
nhà nhìn lên con đường đầu ô đây, sáng chiều đều thấy những xe bò lọc cọc đi ra
phía nghĩa trang. Người ta không cần phủ lên manh chiếu rách che đậy nữa. Những
mớ tóc rối bù, bê bết rũ xuống quét lê trên mặt đường rải đá xanh gồ ghề. Cháu
ông nói đúng: dù có được nhường sẻ bát cơm chén canh thì họ cũng chỉ sống thêm
được vài ngày. Những người nằm cửa nhà ông đây cứ mỗi ngày lại khác. Những
thằng sỹ quan Nhật kiếm dài lê thê ngông nghênh phóng ngựa ào ào rối rít đi về
cái nhà thổ Hồng-Nga. Tiếng mấy
con đĩ choe choé vang ra chói tai nhức
óc suốt đêm ngày. Chị em nó ông không lạ gì, tứ cố vô thân. Nó đến đây từ lúc còn bé xíu, không ai biết nó từ
đâu đến, cũng không ai hỏi tên nó là gì. Người ta gọi chúng là con Đen, con
Đủi, xin ăn xó chợ đầu đường. Bà Phán nhiều lúc cũng thương tình cho chúng vài
xu, lon gạo. Chúng lớn lên thế nào không ai để ý. Rồi chợt người ta nhận ra
chúng làm chị một bầy. Rồi một
cái nhà tầng đỏ loét nhô lên nghênh ngang lù lù chướng mắt đêm ngày mà chủ nhân
là hai con bé ấy! Rồi người ta cũng quen đi, không ai tìm hiểu xem con Hồng con
Nga này có liên hệ gì với con Đen, con Đủi ngày xưa. Nhưng hai chị em nó mỗi
khi gặp ông bà Phán đều lễ phép cúi đầu: Chào
cậu ạ! Chào mợ ạ!
ô
Hàng ngày
lên Sở, không có việc gì làm. Ai cũng loanh quanh vào ra, đứng ngồi mà không
dám hé răng. Bọn Kempeitai này
xem chừng còn tàn độc lạnh lùng hơn bọn Phòng
Nhì dạo trước. Trong bụng ai cũng ngóng đến kỳ cấp tiền, cấp sổ gạo bông (bon=gạo bán theo phiếu). Những
tin tức hàng ngày trên báo, trên radio vẫn lọt vào mắt, vào tai các ông ký lục.
Họ xì xầm nhau: ngày 6 tháng 4 quân đỏ
Nga Xô đã tiến vào Berlin ở phía Đông rồi. Ở phía tây, quân Anh, Mỹ đang
áp sát bờ sông Enbe. Hitler mất tích! Số phận y không hơn gì Moussolini đâu. Cả
phe Đồng minh dồn vào đánh
Nhật. Số phận thằng lùn này còn
được bao lâu? Vậy mà cụ Cử Trần Trọng Kim đứng ra lập Chính phủ đế quốc Việt
Nam với lời tuyên cáo: “Quốc
dân phải cố gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp
tác với nước Đại Nhật Bản”! Người ta ghé tai nhau thì thào: Đồng minh bắt đươc
thư của Hoàng tử Fumimaro Konoe, Thủ tướng Nhật Bản gửi cho Hoàng đế
Hirohito: “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại
của Nhật Bản là không thể tránh khỏi”!
Chẳng lẽ
nội các gồm toàn những vị cựu học uyên thâm và các vị tân học tiếng tăm: cử
nhân, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sỹ, người Bắc-Trung-Nam đủ cả, lại có
thể mụ mẫm tự dắt nhau chui đầu vào rọ hay sao? Liệu có độc lập thật sự hay không? Họ theo
ai? Đồng minh hay Nhật? Nhưng Việt Minh tẩy chay họ! Dân tình ít
người nói đến nhà Vua hay Chính phủ, chỉ nói nhiều đến Việt Minh thôi. Từ đồng quê cho đến thị thành, đâu đâu cũng thấy
người của Việt Minh. Họ kêu gọi
dân chúng nổi lên phá kho thóc cứu đói và họ dẫn đầu. Khắp nơi hưởng ứng rầm
rầm. Ông Phán Thanh nghĩ bụng: Chẳng lẽ ngồi chờ chết hay sao?
Cái nắng tháng năm để lại một chiều oi nồng. Ông Phán đi về qua quảng
trường Nhà Hát Lớn. Dẫy cây trên Đại lộ Phan Chu Trinh (Boulevard Rialand) đứng
im lìm như chưa qua cơn say nắng. Trước Sở
Công Chính, một đám lính Nhật trần truồng tồng ngỗng đứng tắm giữa
đường dưới những vòi nước tưới ra ào ào từ mấy chiếc xe cứu hoả. Chúng nhảy
nhót, hò la hây… hô… hấy… hố…
Mấy đứa trẻ con ngấp nghé ở xa cười. Mấy người qua đường nhăn mặt đi thật nhanh
cho khuất cảnh chướng tai gai mắt. Mỗi khi có đàn bà con gái đi qua, đám lính
Nhật càng cười to hô hố giở những trò đểu cáng ra trêu ghẹo như muốn bắt người
đi qua phải nhìn vào chúng. Các bà, các cô che nón, che khăn chạy mau cho thoát
khỏi đám ôn dịch này, mặt đỏ nhừ lên, thở hổn hển, có người nước mắt vòng quanh,
có người khóc lên thành tiếng. Hai viên sỹ quan Nhật đeo kiếm dài lòng thòng
đứng nhìn cảnh ấy cười thoả mãn như động viên đám lính dở thêm những trò khả ố
ra trêu chọc mọi người. Ông Phán cảm thấy như chính mình bị xúc phạm. Ông xuống
xe, hầm hầm đi thẳng tới trước mặt hai viên sỹ quan Nhật, với giọng gay gắt ,
ông nói tiếng Pháp:
- N
‘êtes vous pas honteux? (Các anh không xấu hổ à?).
Một tên hiểu được, cất giọng cười lớn, khoát tay xua đuổi cùng thốt lên
giọng mỉa mai khinh miệt:
- Oh… Non ! Nu ne l’est pas. C’est plutôt sans patrie! (Ô… Không! Ở truồng không xấu hổ. Mất nước mới xấu hổ!)
Tay nó chống vào đốc kiếm, ngửa mặt lên trời
cười khà khà.
Ông Phán như bị cái tát choáng
người! Ông nhảy lên xe và dồn mọi sự phẫn uất xuống đôi chân. Cái vòi rồng nước
còn kịp xối lên người ông ướt sũng.
Chưa bao giờ ông Phán thấy nhục
như thế này! Ông ngồi thừ ra, miệng đắng ngắt không thèm hút thuốc. Nó chửi
thẳng vào mặt mình là thằng mất nước! Nó nói rằng nó trao lại quyền độc lập cho
mình nhưng mấy thằng sỹ quan binh lính quèn của nó coi nền độc lập ấy đâu có ra
gì.
Lúc này ông mới cảm thấy vận
mệnh của một người phụ thuộc vào vận mệnh của cả quốc gia dân tộc là như thế
nào. Quốc phá gia vong! Nước đã
mất thì nhà cũng tan. Thân phận người dân chỉ như bèo bọt! Trước đây cũng có
lúc ông suy nghĩ về Tổ quốc. Ông thấy nó mơ hồ thực thực hư hư thế nào. Có đấy
mà hóa không! Nói không mà thành có! Nó chẳng của riêng ai, là của chung mọi
người. Hay dở mọi người cùng chịu. Của riêng ông suy đến cùng là cái gia đình
lớn nhỏ này. Ông ráng làm đứa con hiếu thảo biết uống nước nhớ nguồn, người chồng chung thủy, người cha chú gương
mẫu và trách nhiệm, giữ nghĩa tình với anh em họ tộc bạn bè, làm nhiều điều
thiện, không làm điều gì hại cho người khác. Nhưng lúc này ông thấy nó rõ hơn,
cụ thể hơn là phải có lòng tự trọng, phải biết giữ gìn phẩm giá và danh dự của
mình trước kẻ ngoại bang. Nói rằng cha chung không ai khóc nhưng có người khóc
cha thật sự thiết tha da diết lắm!
Tiếng chuông leng keng. Có ai ở
ngoài cổng ông cũng chẳng buồn đứng lên. Thằng Nhỏ chạy ra, lúc trở vào tay
xách một bọc gì:
- Cậu ơi, ai để bọc này trước
cửa nhà mình!
Một bọc vuông vức, cột dây gai.
Ông bảo nó mở ra: Truyền đơn! Toàn là truyền đơn! Mặt ông tái đi và người ông
run bắn lên. Ông bảo Nhỏ chạy ra cửa nhìn thật kỹ xem có ai rình mò quanh đây
không. Ông lập cập nhấc vội lên xem qua từng tờ: Lời hiệu triệu của Mặt trận Việt minh, các khẩu hiệu in chữ lớn:
Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng
Kim! Ủng hộ Việt minh! Việt Nam độc lập muôn năm!
Khi Nhỏ quay vào thì ông đã gói
lại cẩn thận rồi. Ông bảo nó đem cất trong xó bếp.
Lòng ông bồn chồn. Những khẩu
hiệu kia cứ hiện lên trước mắt, vang lên trong đầu. Ông giữ lại một tờ hiệu
triệu và đọc nó nhiều lần. Lời lẽ ngắn gọn:
Hỡi đồng bào!
Chỉ trong năm năm, thực dân
Pháp đã hai lần để nước ta lọt dần vào tay phát xít Nhật! Nhân dân ta đang đứng
trước hai cơ hội lớn: Hoặc là bị diệt vong! Hoặc là tự cứu lấy mình!
Mặt trận Việt Minh kêu gọi
những ai là con cháu Lạc Hồng hãy đồng một lòng, tay nắm chặt tay cùng nhau
đứng dậy:
- Phá kho thóc Nhật cứu đói!
- Ủng hộ và hợp tác với Đồng
minh đánh đuổi phát xít Nhật!
- Giành chính quyền về tay nhân
dân!
Cơ hội để giành độc lập tự do
trăm năm chỉ có một lần.
Hỡi đồng bào
Hãy xiết chặt tay lại tiến lên!
Việt Nam độc lập muôn năm!
Ông không cố ý học thuộc nhưng
những dòng chữ ấy như tự lòng ông viết ra. Ông đi lại trong nhà, lẩm nhẩm không
biết bao nhiêu lần.
Bà Phán ở chợ về kéo ngay ông vào nhà trong, giúi vào tay ông tờ giấy nhỏ.
Ông lập cập giở ra. Dòng chữ viết vội: «Anh Nghĩa bị bắt ở Phủ Từ Sơn» !
Ông để rơi tờ giấy xuống, một hồi lâu không nói được gì. Bà Phán thuật lại với
ông:
- Có một người lạ tôi chưa kịp
nhận mặt, ghé vào cửa hàng xem vải rồi lựa
lúc không ai để ý tuồn mẩu giấy này bên cạnh tôi rồi đi thẳng!
Vậy đây có thể là bạn bè của cháu trong Đoàn thể về báo cho nhà. Ông kéo bà
ra nhà ngoài, lôi từ dưới bàn lên mấy tờ giấy ông để chừa ra. Bà run lên:
- Trời ơi! Toàn là giấy tờ quốc
cấm! Mà làm sao nó lọt vào đây?
- Có ai đó đặt nó ở cửa nhà
mình, giật chuông báo rồi bỏ đấy!
- Trời ơi! Mình có nhớ dạo nào
bọn ác nó thảy thuốc phiện, rượu lậu để rồi vu oan giáng họa vào các nhà lành
đó sao? Những ai biết chuyện này?
Bà kêu Nhỏ lên hỏi, nó bảo:
- Thưa mợ! Lúc xế chiều con thấy người ta lôi mấy người nằm đầu hè ra
thảy lên xe bò kéo đi! Có người còn rên è è, phân, nước thải chảy ra bừa bãi.
Con phải dội mấy gánh nước mà vẫn chưa hết mùi hôi. Lúc nghe chuông, con chạy
ra thì trước nhà mình vắng tanh. Trên đường cũng không thấy có ai qua lại.
Bà hồi nhớ lại:
- Có thể cùng là một người. Người dúi mảnh thư này ở cửa hàng tôi nhớ
hình như trên vai có đeo cái bị. Chắc là ở đấy đông người nên họ không dám đưa
ra và quay về để ở đây nhưng người ta giấu mặt. Vậy là người của anh Nghĩa đây!
Ông đắn đo một hồi rồi bao kỹ lại, bảo thằng Nhỏ đem cái bọc ra dúi vào
bụi cỏ bên miệng cống bờ đường phía sau nhà.
Cả đêm ông bà Phán không ngủ
được, vừa nghĩ kế chạy lo cho cháu, vừa phân vân không biết xử lý mớ truyền đơn
kia như thế nào? Cháu nó làm việc nghĩa vì thế mà tù tội. Mình thay cha nó mà
chẳng giúp gì được cho cháu hay sao? Và ông đã gỡ rối được một điều.
Ông Tham Phú cùng Sở làm, cũng
là bạn với bác Hai – cha thằng Nghĩa. Nghe như ông có quan hệ họ hàng thân
thích với cụ Thượng làm Tuần Phủ bên đó. Bà Phán và bà Tham là bạn học thời con
gái nên hai nhà với nhau rất thân tình. Hương Giang – con gái ông Tham đang học
lớp Thành Chung trường Con gái
nhưng hai đứa cũng là bạn với nhau. Nói chuyện này ra chắc ông Tham không nỡ
chối từ.
Còn như gói truyền đơn kia ôm
vào thì nguy hiểm thật nhưng mà nó nói đúng lòng ông. Người ta chết như rạ. Số
người phè phỡn chẳng là bao. Ngay cả bản thân số phận gia đình ông cũng như
đang đứng trên đống bùng nhùng. Phải thay đổi! Nhưng ông có dám làm không? Cháu
ông nó bảo phải dũng cảm lên.
Nhưng nhìn vợ nhìn con ông ái ngại. Bà Phán bày cho ông kế hoãn binh:
- Cứ để đó ít ngày xem. Nếu
không thấy động tĩnh gì sẽ tính!
Ông đến nhà ông Tham dò ý:
- Tình hình này bác thấy làm
sao?
Ông Tham gật gù:
- Thằng Nhật ngoẻo thôi! Nhưng thằng Pháp sẽ quay trở lại! Thằng nào cũng
phải cần mình!
Ông Phán thở dài nhưng việc của ông không dừng lại được:
- Ở thôn quê người ta hô hào đánh đuổi Nhật, phá kho thóc cứu đói, bác có
biết không?
- Ôi chà! Mấy thằng đói ăn vụng,
túng làm càn. Thằng Nhật có nơi bỏ chạy, có nơi nó bắn chết đầy!
Ông Phán lo sợ lộ ra nét mặt:
- Bác ơi! Thằng Nghĩa… con anh
Hai Nhàn…
- Nó sắp xong Bac complet
(Tú tài toàn phần) rồi chứ?
- Không! Nó bỏ học gần năm nay
rồi!
- Sao?
- Nghe nói nó bị bắt ở phủ… Từ
Sơn!
- Nó làm loạn hả?!
- Không! Nó theo người ta đi…
phá kho thóc!
- Toa có để cho lúy đói
không?
- Thanh niên bây giờ mình không
hiểu nổi chúng nó đâu!
Hương Giang loanh quanh nơi
phòng khách lo trà nước, nghe lọt chuyện này, bộ đĩa chén trên tay rơi xuống… xoảng! Cô hớt hải chạy đến bên ông
Phán:
- Chú ơi… Anh Nghĩa làm sao?
- Nó bị Nhật bắt rồi! – Giọng
ông Phán run run.
Hương Giang chạy lại ôm lấy
cha:
- Ba ơi! Làm sao bây giờ?!
Ông Phán đứng lên nói thật ra ý
của mình:
- Anh Tham! Em nghe nói ông Tuần phủ bên Bắc là nơi thân tộc với anh?
Hương
Giang hối giục cha:
- Ba ơi!
Làm sao ba có thể bỏ qua được chuyện này?
Ông Tham
ngồi xuống nói chậm dãi:
- Có! Ông
Tuần với “moa” là anh em
hàng thúc bá!
Rồi ông
đứng lên đi lại đăm chiêu. Hương Giang lẵng nhẵng bám theo. Cuối cùng ông dừng
lại nhìn con gái mắng:
- Thằng
hai thứ tóc trên đầu còn đành phải nhắm
mắt đưa chân huống chi mấy đứa nhãi ranh chưa ráo máu đầu, miệng còn hôi sữa đã tưởng đom đóm sáng hơn đèn!
ô
Từ sáng
sớm, Ông Tham Phú và ông Phán Thanh đi xe kéo qua bên Bắc. Ông Tham ấn vào tay
ông Phán một lá cờ Nhật:
- Cầm lấy!
Được khối việc!
Cầu Long
Biên vắng tanh. Gặp những tên lính Nhật đứng phất phơ trên cầu, mỗi ông đều giơ
lá cờ mặt trời lên huơ huơ. Tụi nó cũng dửng dưng nhưng không động tới
hoạnh họe làm gì. Tới khúc trống, anh phu xe quay lại nhắc:
- Các thầy
giấu lá cờ này đi kẻo Việt minh
thấy họ tưởng mình là Việt gian
tay sai của Nhật là bỏ mạng hết thôi!
Các ông
bảo nhau dúi lá cờ xuống dưới nệm, ngồi lên!
Đồng ruộng
hai bên chỉ là những đám đay gai xanh ngát xen lẫn đám thầu dầu hoe hoe xanh
đỏ. Vài thửa ruộng còn trơ những gốc rạ loe ngoe. Người ta đã gặt hết ăn lúa
non rồi. Mấy thẻo ngô xác xơ gãy ngọn. Lác đác vài người thất thểu đào bới cái
gì đó bên bờ ruộng. Có người nằm vật vắt ngang trên bờ như xác chết. Hai chiếc xe vẫn chạy song hành:
- Thế này thì chết hết! – ông Phán chép miệng thở
dài.
Ông Tham hưởng ứng:
- Khốn nạn là từ cái chương trình “Kinh tế chỉ huy” của thằng Nhật! Nó bắt người ta
phải gia tăng diện tích trồng bông, đay, gai, thầu dầu, vừng, lạc dành cho công
nghiệp chiến tranh trong khi đội quân khổng lồ của nó vét hết lúa ngô của mình!
- Năm nào
vào dịp giáp hạt tháng ba ngày tám
dân quê Bắc kỳ mình không nhiều thì ít cũng lâm cảnh thiếu ăn! Mấy năm nay tai
ương dồn dập, giặc người giặc trời điêu đứng. Có ai lo việc cai quản đê điều
đâu? Không chỗ này thì chỗ khác đê năm nào cũng vỡ! Mấy tỉnh trong sông, mấy
tỉnh ngoài sông ngập úng, ngập mặn tràn đồng. Vụ mùa trước thêm nạn hoàng
trùng. Lại càng túng đói! Từ năm ngoái, quân Đồng minh tràn sang Á Châu đánh Nhật, tàu chiến, máy bay phong
tỏa mọi đường vận chuyển. Gạo ở Nam kỳ, ở Cao Miên ê hề mà đường giao thương
thủy bộ đều ách tắc.
Giọng buồn
thảm, ông Phán hỏi ông Tham:
- Bác xem
thằng Nhật có thật lòng với mình không? Cái nền độc lập này cùng với cái thuyết Đại Đông Á ấy!
- Dù nó
thật hay giả thì cũng sắp đi đời
rồi! Ngày 9 tháng 5, Đức quốc xã
đã đầu hàng Đồng minh không
điều kiện! Nước Đức đang bị xâu xé và chia cắt! Thằng này đang sa lầy ở Tàu và
Cao Ly! Ở mặt trận Thái Bình Dương nó đang thua liểng xiểng! Bây giờ là lúc
người Mỹ tính sổ với nó về vụ Trân Chân Cảng đây. Phe Trục còn lại mỗi thằng lùn.
Cả phe Đồng minh a thần phù vào đánh thì nó chịu sao
nổi? Mãnh hổ nan địch quần hồ
huống chi một con hổ què trước bầy hùm beo, lang sói còn sung sức hau háu hận
thù! – Ông Tham thoả mãn với nhận định của mình.
Ông Phán
thở ra nhẹ nhõm:
- Vậy là
ta đương nhiên được hưởng quyền độc lập!
Ông Tham
vẻ rất thản nhiên:
- Thằng
Pháp không dễ gì nhả miếng mồi này đâu!
Hai ông
đang mải mê bình luận về thế cuộc, chợt nhìn ra phía xa xa thấy đám đông người
nhốn nháo, tiếng hò reo, tiếng trống giục liên hồi. Phất phới lá cờ đỏ sao vàng
di chuyển liên tục đây đó.
Có hai anh
lính lệ nón chóp, chân quấn sà cạp
tất tả chạy ngược đường về phía xe đang đi tới. Ông Tham nhảy phốc xuống chặn đường, vẫy tay gọi
lại:
- Ê! Ê!
Mấy chú lính ơi! Có chuyện gì đó?
Hai chú
lính dừng lại, thấy người ăn vận sang trọng thì dớn dác nhìn thăm dò rồi trả
lời muốn đứt hơi:
- Dân
chúng hùa nhau theo Việt minh
đi cướp phá kho thóc cứu đói! Mấy thằng Nhật nổ súng chống cự bị họ ùa tới tay
không, tay gậy… nện thừa sống thiếu
chết rồi bắt trói gô lại. Thằng nào còn, chạy tháo thân! Mấy ông đi qua
coi chừng mất mạng!
Nói rồi
các chú lại cắm đầu chạy thục mạng vào đám ruộng ngô…
Ông Tham
chặc lưỡi:
- Cứ đi…
Mau lên!
Hai người
phu xe gò lưng tăng tốc. Dọc đường gặp mấy người đầu đội thúng gạo, tay xách
thúng không vừa chạy vừa ngoái lại phía kho xem chừng tiếc rẻ. Ông Tham nhanh
trí nhẩy xuống xe gọi lớn:
- Ơi… Đồng
bào! Xếp lên đây mau!
Không cần biết lạ hay quen, mấy người ào tới thảy
thúng thóc lên xe rồi cầm chiếc thúng không chạy quay trở lại. Ông Phán cũng
làm theo ông Tham. Chỉ một loáng thôi, hai chiếc xe chất đầy những thúng thóc.
Tớ kéo, chủ đẩy lặc lè… Qua một khúc đường xa, xe dừng lại, chủ tớ mồ hôi đầm
đìa. Đám người le te chạy tới, ông Tham hô lên:
- Thóc gạo đây! Chuyển đi mau lên đồng bào!
Người ta xô tới. Hai chiếc xe lại trống tuyềnh toàng
còn vương đầy đất cát. Hai anh em lại nhẩy lên xe. Chung quanh râm ran tiếng hô
hào hứng:
- Ủng hộ Việt
Minh!
- Ủng hộ Đồng
minh đánh đuổi phát xít Nhật!
Xe chạy vào
phố thị.
Cũng vẫn
là dinh quan Tuần phủ ấy mà giờ đây nó không còn vẻ uy nghi lẫm liệt như ngày
nào. Mấy chú lính lệ ngáp dài ngơ ngáo. Bóng mấy thầy ký lục quan nha quần
trắng, áo the, giày tây, khăn xếp phất phơ thấp thoáng như ở chốn cửa chùa. Ông
Tham Phú đường bệ đi thẳng tới chú lính lệ đang đứng đuổi ruồi, giọng rất oai quyền: -
Ê… Chú lính! Vào bẩm với quan Tuần phủ có ông Tham Phú ở Phủ Toàn Quyền về có
việc. Nghe chưa?!
Chú lính
khúm núm cúi đầu cun cút chạy thẳng vào phía công đường, một lúc chạy ra:
- Thưa,
kính mời quan Tham vào. Cụ Tuần trong phủ!
Ông Tham
phẩy tay, hai anh em đi thẳng vào phòng khách.
Quan Tuần
phủ Phan Lê Tuấn mới chớm tuổi già nhưng từ lâu mọi người vẫn quen gọi là cụ
Thượng, cụ Tuần bởi cái chức sắc hàm trật của cụ không ai dám vô lễ gọi bằng
ông như người dân dã. Ngay cả bà Tuần tuy vẫn còn phơi phới lại chăm son phấn
vậy mà cũng một hai điều cụ Tuần, cụ
Thượng nhà tôi nghe cao sang xa cách lắm. Vậy mà ông Tham Phú xông xông
đi thẳng tới, giơ tay ra trước cụ, mặt tươi hơn hớn, bô bô đặc giọng tây:
- Oh! Bon jour mon chère frère! (Ô! Chào ông anh thân mến!)
Ông anh nắm tay chú em thân tình cảm động:
- Đang thời buổi nhiễu nhương mà chú về xứ đồng quê hoang vắng tiêu điều
này làm gì? Nguy hiểm lắm!
Ông Tham quay qua ông Phán:
- Thưa anh! Đây là chú Phán Thanh, anh em cùng Sở làm với em!
Ông Phán hai tay chắp trước ngực, nghiêng mình cúi đầu lễ phép:
- Dạ! Thưa quan Tuần!
Không ngờ quan Tuần lại dễ dãi xuề xoà đến thế:
- Ôi dào! Quan sắp vào quách tới nơi rồi còn gì mà thưa với
gửi!
Và quan Tuần kéo hai ông em ngồi xuống ghế:
- Ôi! Dân tình bây giờ bất trị! Họ đang làm loạn! – cụ Tuần than thở.
- Trên đường về đây em thấy cảnh họ cướp phá kho thóc ghê quá!
Cụ Tuần tỏ ra bất lực:
- Có nơi thằng Nhật nó thẳng tay đấy. Nhưng chết họ cứ xông vào! Tức nước vỡ bờ rồi!
Ông Tham
trợn mắt, hất hàm:
- Vậy kỷ
cương phép nước ở đâu?
- Còn gì
nữa đâu mà kỷ với cương? Hoàng thượng ta do người Pháp nuôi dậy và đặt lên ngai
vàng mà chỉ có hai ngày sau đảo chính, Ngài đã tuyên bố xoá bỏ mọi Hiệp ước Nam
triều đã ký kết với Pháp từ trước đến nay rồi!
Ông Phán
rụt rè góp lời:
- Nhưng
thật sự là người Nhật đã trao trả cho ta quyền độc lập và Đức vua đã trao cho
cụ Cử Trần lập Chính phủ mới rồi và Chính phủ đã tiếp nhận cả xứ Nam kỳ trước
đây là thuộc Pháp!
Cụ Tuần
chán nản:
- Độc lập
cái nỗi gì?! Bên cạnh Hoàng thượng giờ là viên Cố vấn Nhật cũng không khác gì
viên Toàn quyền tây thuở trước! Rồi một mớ những Thống sứ, Công sứ… nữa! Tôi
làm quan tôi biết. Dân tình bất tuân
thượng lệnh! Suy cho cùng cũng phải thôi. Mình chỉ được lệnh làm theo
thằng Nhật. Mà nó thì đang rãy đành đạch lên như cá nằm trên thớt. Theo nó mình cũng chết!
Ông Tham
cười, kháy thơ La Fontaine:
- Combien de grands peigneus sont bustes en
ce point! (Nhiều đại thần giống như tượng rỗng!)
Rồi ông kết luận:
- Mấy thằng da vàng không qua
được mấy thằng da trắng đâu!
Ông Phán đã mạnh dạn hơn:
- Nhưng thằng Pháp có còn gì mặc dù là nó đã dựa vào Đồng minh để được giải phóng rồi? Họp
Hội nghị thượng đỉnh ở Cairo
vừa rồi, tứ cường là: Hoa Kỳ, Anh, Nga và Trung Hoa Dân Quốc!
Ông Tham quả quyết:
- Rồi chú xem! Chánh tổng, Lý trưởng dù có hầm hè hãm hại nhau nhưng
không bao giờ chịu để cho mấy thằng khố
rách áo ôm xâu xé chúng nó đâu! Từ xưa đến nay luật đời vẫn thế. Bọn
quan chức quyền thế giàu có dù luôn ganh ăn ghét ở với nhau nhưng khi cần chúng
vẫn bao che bênh vực cho nhau. Để thành tiền lệ thì có khác chi xúi bẩy đám dân đen con đỏ hùa nhau hại mình!
Ba ông đang mải mê những điều dấm dứt về thế cuộc thì một thanh niên mặc
bộ đồ nửa lính tây, nửa lính Nhật, chân xỏ ghệt xăm xăm bước vào, hỏi lớn:
- Thầy ơi!
Anh kịp dừng lại khi nhận ra có khách trong phòng và cúi đầu:
- Cháu chào chú Tham!
Rồi nghiêng nhẹ về phía khách.
Ông Tuần chỉ con:
- Anh Đội Tôn, anh cả nhà tôi!
Biết đều là người nhà, Đội Tôn hỏi cha:
- Thầy ơi, số người bọn Nhật bắt giao cho mình, con thả ra hết nhé!
Ông Phán bật đứng lên. Ông Tham đỡ lời:
- Hôm nay em qua đây cũng để nhờ anh một việc. Số là thằng cháu chú này –
tay chỉ ông Phán, bị bắt ở bên đây! Em chưa biết đầu đuôi xuôi ngược thế nào
nên qua trình với anh tra xét cụ thể, xem liệu có thể nới tay?
- Nó tên gì? – ông Tuần hỏi.
Ông Phán nhanh nhẩu:
- Dạ! Thưa… cháu tên là Nguyễn
Hữu Nghĩa, đang học Tú tài năm cuối!
Đội Tôn chau mày:
- Trong số những người này
không có ai tên Nghĩa!
Ông Phán toát mồ hôi. Ông Tuần
giải thích:
- Đám này cầm đầu cướp kho thóc
Nhật. Một số bị nó bắn chết ngay tại trận. Số còn lại nó chưa khử kịp thì bên
kia cũng tóm được mấy thằng lính Nhật. Họ bắn tin trao đổi tù binh. Bọn Nhật
lánh mặt, giao lại số người bị bắt và nhờ mình bắt mối!
Đội Tôn tiếp lời:
- Có một tên lính Nhật phản
chiến xin ở lại theo Việt Minh!
Ông Tham trừng mắt:
- Việt Minh nào ở đây?
Ông Tuần lộ vẻ ngạc nhiên:
- Chú không biết gì về Việt Minh à?
Đội Tôn lấy ra từ trong túi mấy
tờ truyền đơn của Việt Minh.
Ông Tham chăm chú đọc Lời hiệu triệu. Ông Phán liếc nhìn chợt
nhớ tới bọc truyền đơn ở nhà. Đọc xong, ông Tham nhìn dò ý ông Tuần. Ông anh
cười gượng:
- Họ hô hào: Phá
kho thóc Nhật cứu đói! Đánh
đuổi phát xít Nhật! Đánh đổ
chính quyền bù nhìn tay sai của Nhật! Đòi chính quyền về tay nhân dân và Ủng hộ Việt Minh!
Ông Tham bực dọc:
- Loại giấy nhảm nhí này tôi có thấy mà không thèm xem! –
Và ông tỏ ý bất bình:… Nó lật đổ anh! Vậy mà anh để yên được sao?
Đội Tôn hăng hái trả lời thay cha:
- Họ nói đúng đó chứ! Chú không thấy ngoài đường dân chết
như rạ sao? Trong khi chúng nó mang bao nhiêu lúa ngô của mình ra đốt thay
than! Không phá kho lấy thóc để chết hết à? Các chính thể phát xít đang tan
thành mây khói! Ngay dân chúng bên nước họ cũng bất bình vì những ý tưởng ngông
cuồng ấy! Thế mà chính phủ của cụ Trần Trọng Kim cứ ra rả hô hào dân chúng phải
hết lòng hợp tác với Nhật!
Anh nhìn cha. Ông Tuần tỏ ý đồng tình:
- Họ nói chính
quyền bù nhìn là thật đó! Chính phủ của cụ Cử Trần thành lập được ít
ngày đã rã đám rồi! Quân vương bất lực! Nói là cầm quyền mà tôi có được cầm
cái gì đâu? Thằng bù nhìn còn có cái cọc để dựa vào nhưng tôi biết dựa vào ai?
Mang tiếng làm quan phụ mẫu chi dân
mà chỉ biết giương mắt nhìn bầy con khô héo chết mòn dần đi thì còn có ra gì
phận làm cha mẹ? Dân chúng coi khinh là phải lắm!
Ông Phán không thể chờ lâu được nữa. Ông bồn chồn lo cho
số phận cháu ông:
- Thưa cụ Tuần! Xin cụ vui lòng cho phép tôi đến nơi nhận
diện hoặc là thăm dò tin tức của cháu!
Cụ Tuần nhìn về phía con trai:
- Đúng rồi! Anh Đội đưa ông đây xuống gặp họ xem sao!
Dọc đường ông đi lập cập. Đội Tôn nói cho ông bớt lo:
- Những người bị bắt không mấy ai khai tên thật ra đâu.
Trong số này có mấy cậu trông có vẻ học sinh thành phố, đường hoàng đĩnh đạc
lắm!
Ông Phán nhẹ lòng vì còn hy vọng, hỏi thăm dò:
- Thầy Đội nghĩ về họ thế nào?
- Tôi có cảm tình với họ! Cả đám lính của tôi cũng vậy!
Dân mình dù ở đâu ai mà không có gốc rễ ở quê. Tình cảnh này làm sao không xót
ruột!
- Thầy ủng hộ Việt
Minh?
- Có còn ai hơn họ lúc này?
- Cậu là quan của lính, là con quan Tuần phủ?
- Ông đã nghe thầy tôi nói? Cụ thường bảo: «Thiên hạ
đa năng ưu hoạn thủy »!
Cụ chán cái cảnh thầy không ra thầy,
tớ không ra tớ này lắm và muốn treo ấn từ quan nhưng lúc này đang hỗn
loạn, cụ không muốn bị mang tiếng là người đào nhiệm!
- Nhưng anh làm quan võ kia mà?
- Ông muốn hỏi tôi về phận sự của người lính chứ gì? Bây
giờ tôi đem quân bắn vào bà con mình đang đi đòi miếng ăn à? Cả ông, cả tôi, cả
dân tộc này có được làm người thực sự hay không? Người hiền như ông Phạm Tất
Đắc mà cũng phải thốt lên: Vạch trời thét một tiếng vang / Cho thân tan với
giang san nước nhà… Trước
đây mình đành phải chịu. Nhưng bây giờ thời thế đổi thay rồi. Đã đến lúc phải
tỏ rõ chí nam nhi!
Tới gần trại lính, vọng ra những tiếng ồn ào. Hai người
đi dài bước hơn. Rõ là hợp âm nhiều người cùng hát. Dường như họ đang tập hát
một bài hành khúc. Hai người cùng bước lên thềm. Tiếng hát đồng thanh lọt ra
vừa đủ nghe: « Đoàn quân Việt Nam đi… chung lòng cứu quốc / Bước chân
dồn vang trên đường gập gềnh xa / Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước / Súng
ngoài xa chen khúc quân hành ca »…
Ông Phán đứng ngây người ra. Những lời hát chất chứa bao
hờn căm uất ức được phát ra từ đáy lòng làm cho ông có cảm giác rần rần tê tái:
« Thề phanh thây uống máu quân thù / Tiến mau ra sa trường »…
Họ cùng cao giọng gọi nhau: « Tiến lên, cùng thét lên / Chí trai là đây
nơi ước nguyền »…
Đôi chân ông muốn giậm giật… Đi lên! Đi lên!… theo đoàn
quân ấy: « Đoàn quân Việt Nam đi… Sao vàng phấp phới / Dắt giống nòi
quê hương qua nơi lầm than »…
Ông lặng người đi. Chưa bao giờ có nhiều người dám nói
chung một ý chí quyết tâm sục sôi, giục giã như thế: « Cùng chung sức
chiến đấu xây đời mới / Đứng đều lên gông xích ta đập tan / Từ bao lâu
ta nuốt căm hờn / Võ trang đây lên đường »…
Và họ nhắc đến những chiến khu đang hội tụ những người
yêu nước: « Hỡi ai, lòng chớ quên / Bắc Sơn cùng Đô Lương… Thái
Nguyên » !
Anh Đội mở toang cánh cửa ra. Ông Phán vẫn đứng nguyên:
hai tay trên ngực, đôi mắt long lanh, vẻ mặt ông đầy xúc động tưởng như cái chí
làm trai một thuở trở về…
Chàng thanh niên đứng giữa nhà bắt nhịp cho mọi người
cùng hát ngạc nhiên quay ra rồi anh chạy bổ tới:
- Ôi!... Chú!
Hai chú cháu ôm chầm lấy nhau. Nước mắt ông giàn giụa.
Không hiểu là ông khóc vì cháu ông thoát chết hay vì một sự tình cờ ông nhận ra
còn rất nhiều người có cùng ước nguyện như ông cho giống nòi quê hương qua nơi lầm than và họ đang hội tụ thành một
đội quân trẻ trung gan góc ở khắp đó đây.
Nghĩa đứng giữa nhà giới thiệu với chú tất cả anh em đây
đồng tình, tự nguyện đứng vào hàng ngũ Việt
minh. Hàng chục người – những anh quê mùa rách rưới, những anh dáng phu
phen thợ thuyền thất nghiệp, những anh dáng dấp học sinh như cháu của ông,
những anh lính cơ lính lệ, cả anh Đội con quan Tuần phủ và cả một anh lính Nhật
ngây ngô:
- Đây là anh Hashimoto, Thiếu uý quân đội Nhật hoàng,
phản chiến đứng vào hàng ngũ của ta!
Anh sỹ quan Nhật nói tiếng ta bập bẹ, chỗ nào khó diễn
đạt anh dùng tiếng Pháp hoặc ra dấu cả chân lẫn tay:
- Mon père est député communiste de Chambre basse du
Japan! (Cha tôi là nghị sỹ cộng sản của Hạ nghị viện Nhật Bản)
Anh giơ hai ngón tay làm hiệu bóp cò súng, giọng xúc
động:
- Chính phủ phát xít… pàng… pàng!
Đầu anh cúi xuống:
- Tôi bị bắt vào lính đi đánh chiếm nước các ông! Tôi
phản đối chiến tranh phát xít! Tôi xin đi theo các ông! Tôi rất… xấu hổ vì binh
lính Nhật làm nhiều điều… tàn ác ở Việt Nam! Tôi muốn được góp sức tôi.
Nghĩa quay qua chờ nghe ý chú.
- Tôi đồng tình với
các anh! – ông Phán gật đầu.
Nghĩa xin với
chú cho ở lại ít ngày.
Hai anh em ông
Tham, ông Phán quay về thành phố.
Ông Phán nhìn
ra chung quanh, tất cả với ông có khác! Từ
những mảnh ruộng xơ xác tiêu điều, các mái nhà tranh xiêu vẹo, rách nát
và lạnh lẽo, những con người tiều tụy run rẩy và đói khát kia không xa lạ nữa.
Ông cảm thấy lòng day dứt nôn nao.
Ông Tham thì
hậm hực, tỏ ra cáu kỉnh và hay quát nạt anh phu xe:
- Bước dài chân
ra! Đi cà rệch cà tang như cái con… tiều!
Sự cáu kỉnh của
ông vô lối. Ông cảm thấy sắp mất đi những gì ông có. Ông sẵng giọng hỏi ông
Phán:
- Tại
sao toa để cho thằng Nghĩa nó đi theo Việt minh? Còn anh Thương tá chắc đâu đến nỗi này!
- Nào em có
biết! Tuổi trẻ bây giờ mình không theo kịp nó!
Ông chợt nhận ra mình nói lỡ lời. Ông Tham trợn mắt nhìn
ông:
- Toa bảo chúng mình phải đi theo mấy thằng nhãi nhép ấy
à? Mới học được một dúm chữ nghĩa đã ti toe! Phải tay moa, lôi cổ nó về, giần cho một trận giập xương ra!
Ông Phán lơ đễnh nhìn đi đâu, không dám nói năng gì.
Về gần đến
cầu Long Biên, ông Tham nói thao thao:
- Dân Annamite mình trong huyết quản đặc sệt máu Giao Chỉ pha lẫn với máu
Tàu! Cổ lỗ! Hủ lậu! Ngu xi! Bảo thủ! Quen thói ăn gian nói dối! Lại hay sỹ diện
huyênh hoang! Bị người làm nhục vẫn nhơn nhơn nói rằng mình khinh nó! Thằng nào
có ít chữ nghĩa thì khoa trương, vênh mặt lên trời mà đi không biết rằng đang
sa xuống hố! Khi hứng lên vỗ đùi đen đét tung ra mấy câu thơ vờn hoa ghẹo
nguyệt hoặc mượn tiếu lâm xỏ lá, cứ tưởng như mình là sỹ phu trí thức không ai
bằng! Nhưng khi thằng trùm nó trừng mắt thì sợ run lên bần bật, ngoan ngoãn cúi
đầu, đái ra quần mà bụng vẫn chửi thầm! Được lúc hỉ hả thì lại chành chọe, bới
móc, kìm hãm, ngáng dò bẻ cẳng lẫn nhau. Có mà muôn đời cũng không ngóc đầu lên
được!
Gần tới
dốc cầu, xe chạy chậm hơn, ông càng nói khỏe:
- Cần phải
có người dạy khôn ra! “toa”
xem, nếu không có thằng Paul Doumère cho làm cây cầu này thì chắc là muôn đời
dân mình cứ đứng hai bên bờ sông hò gọi “Đò
ơi”! như réo gọi cô hồn! Bao nhiêu là thứ nó đã làm: đường sắt, đường
nhựa, đường sông, đường biển, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe đạp, nhà thương,
trường học, thành phố dọc ngang những là boulevard (đại lộ), route
(đường lớn), rue (phố nhỏ), villa
(biệt thự), palais (dinh thự), điện, nước fontain… sướng mê đi…
Vậy mà còn muốn làm loạn nữa?
Ông Phán
không chịu được nữa nhưng vẫn từ tốn:
- Thế hàng
triệu người đang chết đói đây là lỗi của ai?
- Là thằng Nhật! Là mấy thằng lùn!
- Thằng lùn,
thằng lõ đều coi dân mình là
tôi mọi. Để được việc chúng sẵn sàng thí mạng! Xem như vụ gây hấn ở Lạng Sơn
thì rõ. Chính thằng Nhật gây sự để nắn gân thằng Pháp. Đám Phục quốc Trần Trung Lập thừa cơ nhảy
ra a tòng. Nào ngờ khi thằng Pháp chịu nhượng bộ rồi, để tỏ ra thiện chí, thằng
Nhật bán đứng ngay bạn đồng chủng cho thằng dị chủng. Giận cá chém thớt, nó lôi ra làm cỏ sạch! Loài sài lang dư biết bụng dạ của nhau nhưng cũng
nhân nhượng nhau mặc sức tàn phá đất nước xác xơ nghèo khổ này nên mới đến nông
nỗi kiệt quệ khốn cùng đến thế!
Ông Tham giảm bớt đi lòng phấn chấn:
- Moa
không ưa mấy thằng colonistes Francais (Pháp thực dân). Tụi nó với bọn fascistes
Japonais (phát xít Nhật) đều cùng một giuộc. Ils sont come corbeau et le
hibou! (Chúng nó là loài cú quạ!)
Ông chồm người qua xe ông Phán:
- Moa làm
ở bộ phận tổng hợp. Moa đã xem
tờ Rapport récaputitaire (Báo cáo tổng kết) của thằng Decoux. Bây giờ
nhìn cảnh này mới thấy giật mình.
Ông Phán nhìn qua chăm chú.
- Toa biết không? Chỉ trong bốn năm, từ 1941
đến 1944, bọn Pháp ở đây đã cung cấp cho thằng Nhật: riêng gạo là 3 triệu 600
ngàn tấn! Các khoản dịch vụ khác tính ra tương đương với hơn 32 tấn rưỡi vàng,
trị giá tiền là 22 tỷ Franc!
- Ông Phán xuýt xoa:
- Với số dân toàn Bắc kỳ này, cứ cho là 10 triệu người,
mỗi năm chỉ cần một triệu tấn gạo, đủ bình quân lớn bé mỗi người một tạ, chia
ra mỗi tháng được non một yến. Thiếu thì có ngô-khoai-sắn bù vào. Làm sao đói
được?!
Ông Tham đang đà nhớ lại: - Ngoài ra Banque de l’Indochine (Ngân
Hàng Đông Dương) đã nộp tiền mặt cho nó vay khống hơn một tỷ rưỡi PIASTRE, tương đương với 14 tỷ rưỡi
Franc nữa! – Và ông ngao ngán kết luận:
- Với đà này sẽ là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ và Đông
Dương sẽ tắt thở về kinh tế!
- Đó là chưa kể còn phải cung cấp cho toàn bộ hệ thống
cai trị của Pháp ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn và phục vụ cho “Kế hoạch phòng thủ Đông Dương” của
chúng nó. Hàng mấy vạn kiều dân và binh lính Pháp chờ thời vẫn nhởn nhơ phè
phỡn ăn bám ở đây! – ông Phán bổ ý thêm và kết:
- Vậy thì dân mình làm sao không chết? Đành phải đứng lên
thôi!
Ông Tham
giẫy nẩy lên:
- Đứng
lên! Ai đứng lên? Theo mấy thằng Việt
Minh cộng sản ấy đứng lên à? Rồi để nó sẽ đứng lên đầu mình luôn chắc!
Ông Phán
vặn lại.
- Vậy theo
bác thì phải làm gì?
Ông Tham
huơ tay lên nhưng rồi hạ tay xuống, ừ ừ trong họng, trả lời nhát gừng:
- Làm… Làm
gì à? Cũng đành phải… chờ… đợi! Chờ đợi thôi! Thằng Nhật sắp bỏ mẹ rồi! Nước Pháp đã gượng dậy
rồi! Ngay ở xứ Đông Dương này đã có những Comité d’action (Ủy ban hành
động) ngấm ngầm. Đó là những nhóm của Comité de Libération de l’Indochine
(Ủy ban giải phóng Đông Dương) có Sở chỉ huy đóng ở Trùng Khánh, Côn Minh. Nhất
định người Pháp không chịu bỏ xứ Đông Dương này đâu!
Ông Phán
đành nói thẳng ra ý mình:
- Người
Pháp không chịu nhả Đông Dương để họ tha hồ vơ vét. Nhưng khi nguy khốn thì bỏ
mặc, chạy tháo thân! Nước Việt Nam mình như một miếng mồi mà hai con sói giành
ăn. Con sói già Pháp đang nhai
thì con sói non Nhật chồm tới. Sói già Pháp yếu phải nhả ra. Sói non Nhật háu ăn vồ nhai ngấu
nghiến. Nhưng khi sói Nhật bị
đánh hội đồng cúp đuôi bỏ chạy
thì sói Pháp vội quay lại cuỗm ngay, rồi tha hồ cắn xé bù vào
cơn đói! Thật khốn khổ cho đất nước mình! Chẳng lẽ ta cam chịu mãi vậy sao?
Nhìn ông
Tham bằng đôi mắt chân thật, thân tình như nói với người anh:
- Anh Tham
ạ! Họ đứng lên là đúng đấy!
Ông Tham
trợn mắt, há mồm ngạc nhiên nhìn người đồng sự đàn em.
Với ông
Phán, ông Tham có nhiều tình cảm. Ông hiểu gốc gác gia đình và những cá tính
người đàn em. Ông là bạn ông Hai Nhàn từ thời học Brevet Élémentaire (Tiểu
học) cùng chơi bi, chơi đáo; biết chú em này từ lúc còn mặc
quần thủng đáy. Chú ta là người
hiền lành, hiếu nghĩa. Ở Sở làm, chú ấy sống khiêm nhường, cần mẫn, không xu
phụ đam mê, tròn trịa. Lại thêm
mối quan hệ cố cựu giữa hai bà nên hai ông đối xử với nhau thân tình như anh
em. Công việc ngày hôm nay ông coi như việc của mình mới cất công đi.
Vậy mà chỉ một ngày đường, biết bao nhiêu chuyện.

No comments:
Post a Comment