PHÚT THĂNG HOA
*************************************************
CHƯƠNG BẢY
Vạn sự khởi đầu nan
Từ Hà Nội
theo Quốc lộ I đi về hướng nam chừng hơn chục kilômét tới Chợ Tía, rẽ theo tỉnh
lộ 73 dăm ba kilômét nữa là đến đập Đồng Quan. Đập này nằm trong hệ
thống thuỷ nông điều chỉnh nước từ sông Nhuệ vào con sông đào tưới tiêu cho
vùng đồng ruộng phía tây bắc tỉnh Hà Đông.
Từ cuối năm ngoái, người Hà Nội tản cư về đây nườm nượp. Nó thuận vì là
đường bộ liên thông không bị đò giang trắc trở. Nó như một nơi tạm lánh chờ xem
thế cuộc. Nếu kháng chiến gay go trường kỳ, ai ngại ngùng dặm dài gian khó thì
khăn gói quảy về cũng tiện. Còn như ai muốn thử sức mình hoặc tự nguyện dấn
thân trên con đường trường chinh vạn dậm thì cứ lui sâu dần vào vùng rừng núi
Hoà Bình, tìm đường ngược lên chiến khu Việt Bắc hoặc xuôi vào xứ
Thanh-Nghệ-Tĩnh miền Trung.
Dọc theo bờ sông từ Đồng Quan đến Văn Trai tấp nập trên bến dưới thuyền,
chợ búa, hàng quán đông vui. Bà con tản cư gọi nơi đây là Hà Nội mới. Đêm đêm, nhìn về hướng
đông bắc, chỉ chừng hơn chục kilômét đường chim bay thôi, luồng ánh sáng vàng
vàng hắt lên nền trời. Ấy là Hà Nội! Bao nhiêu cõi lòng rộn rực, cồn cào, thao
thức.
Tuy không sinh trưởng ở đây nhưng ông Phán Thanh không lạ vùng này vì đó
là gốc quê nội trên ngoại dưới chẳng mấy xa nhau cha con ông vẫn đi về. Từ Đồng
Quan xuôi theo con sông đào chạy song song với đường cái lớn chừng vài ba
kilômét là tới làng Yên Cốc. Làng có ba thôn, nửa “lương” nửa “giáo”.
Thôn Hạ có ngôi đình lớn, toàn gia thờ cúng ông bà. Thôn Trung công giáo toàn
tòng, có nhà thờ với tháp chuông cao ngất nghểu. Thôn Thượng nửa đời nửa đạo, có ngôi chùa thâm u kín đáo ở đầu thôn. Ngoài việc đồng
áng, làng còn có nghề làm giấy dó
cổ truyền nổi tiếng.
Ông Phán gặp lại vợ con trong sự chờ mong phấp phỏng và sự đón mừng của
anh em con cháu họ hàng. Tuy là nửa quen nửa lạ nửa gần nửa xa nhưng được ăn
một cái Tết dưới mái nhà còn hơi hướng ông bà giữa chốn quê cha dầu có thiếu
thốn về vật chất nhưng ấm đậm tình gia tộc thiêng liêng trong lòng cũng thấy
lâng lâng.
Nhưng dần
dà rồi cũng không yên lòng được mãi. Trong khi bà con anh em mỗi người một việc
tất bật từ lúc sớm trời còn chạng vạng cho tới khi mặt trời khuất dạng lâu rồi
mới hò nhau í ới quây lại quanh mâm cơm thanh bần mà gia đình mình thì cứ sòng
sõng dẫn vào dẫn ra, ngày ăn ba bữa. Hỏi rằng ai có thể nhắm mắt làm ngơ cho
đành? Riêng bà Phán còn nỗi băn khoăn dằn vặt chỉ bà mới hiểu: Bà nắm nguồn lực kinh tế của gia đình và bà
thắc thỏm cái cảnh chực chờ này sẽ diễn đến bao giờ?
Hai ông bà
bàn tính lên chợ Đồng Quan mở cửa hàng buôn bán. Trước mắt bà lo được những chuyện hàng ngày và ông cũng có
dịp tìm hỏi tình hình thế sự, tin tức gia đình và cơ quan đơn vị.
Cửa hàng
vải vóc và quần áo của bà khá “chạy”
vì người mua, người bán là dân Hà thành, quen nghề quen nết nhau nên dễ mua dễ
bán.
Ông Phán
được biết từ sau ngày nổ súng kháng chiến, Cụ Hồ vẫn kiên trì nhẫn nại kêu gọi nhân dân Pháp hành động để chấm dứt
cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và mong năm 1947 mang lại hoà bình và hữu
nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam. Chính phủ Léon Blum cử Bộ trưởng
Marius Mutet sang thị sát Đông Dương nhưng ông đã bị D’Argenlieu lừa gạt và vô
hiệu hoá. Ông quay trở lại Paris với lời tuyên bố nước đôi trước đó tại Sài
Gòn: “Bao giờ quân đội (Pháp)
lập lại trật tự khi đó có thể xem xét lại vấn đề chính trị”! Một
giải pháp chính trị không xong, Chính phủ đầu tiên của nền Đệ Tứ Cộng hoà Ramadier lên
thay thế. D’Argenlieu tăng cường sức ép với Chính phủ mới đòi đẩy mạnh
giải pháp quân sự đã bị cách chức Cao uỷ. Ngày 01 tháng 4, Bollaert là một viên
chức dân sự đến Sài Gòn thay thế. Tuy nhiên quân số của đội quân viễn chinh ở
chiến trường Bắc và Trung bộ cũng được tăng lên ồ ạt tới 110 ngàn so với 30
ngàn quân vào cuối năm 1946 nhằm giải vây thế bị phong toả ở các thành phố,
kiểm soát các đường giao thông và vùng duyên hải, làm chủ vùng mỏ Đông Bắc và
vùng Tây Bắc Việt Nam thông với nước Lào…
Một chiều
hè oi nồng, hai thằng Nhân Trí và Nhân Tín níu kéo theo một người đàn ông cao
lớn, từ ngoài đường đã gào tướng lên:
- A… A! Cậu mợ ơi, bác Tham… bác Tham đây này!
Ông bà
Phán chạy ùa ra ôm chầm lấy người anh em thân thiết. Bà Phán không cầm được
nước mắt khóc lên thành tiếng. Hai ông cùng cười nhưng vẫn phải ghìm lại niềm
cảm xúc. Theo sau là mấy người đàn ông dáng dấp thị thành. Ông Tham giới thiệu
là bạn bè đồng sự.
Chẳng là hai thằng con rủ nhau đi dọc bờ sông hái cỏ gà chơi chọi, lò mò tít mãi dưới chân đê.
Chúng thấy mấy người đàn ông bơi lội dưới sông như dậm dò cái gì mà chốc chốc
lại ngụp xuống ngoi lên rồi ném vật chi lên bờ vẻ vui thích lắm. Chúng tò mò
lần tới thì ra mấy ông vừa tắm vừa mò bắt trai, được con nào các ông reo lên và
ném vào bờ. Chúng nhanh nhẩu lượm từng con gom lại.
Tắm xong, các ông lên bờ gọi bảo:
- Được bữa canh trai. Cho mấy đứa!
Hai đứa lúng túng không biết làm cách nào. Một thằng nhanh ý cởi phăng ra
chiếc áo. Hai thằng túm hai đầu khoái chí chạy về khoe mẹ. Được mấy bước, chúng
đụng vào ngưới đàn ông to lớn, một thằng ngã quay lơ, văng ra mớ trai lổng
nhổng. Ông ta cúi xuống đỡ thằng bé dậy, vừa cười vừa dỗ:
- Từ từ thôi các cháu, có ai tranh mất đâu!
Thằng bé đang ngồi bệt dưới đất nhẩy phắt lên, ôm chầm lấy cổ ông ta:
- Ô…! Ô…! Bác Tham!
- Cháu là con nhà ai? – Ông Tham ngạc nhiên
- Chúng cháu là con cậu mợ cháu đây mà!
- Mà cậu mợ cháu là ai? – Ông Tham ngờ ngợ.
- Cậu mợ… Phán… Thanh! Bác quên rồi à?
Bác cháu rối rít lôi kéo nhau đi.
Mấy ông bạn thu gom mớ chiến lợi
phẩm lững thững theo sau.
Bữa cơm tối dưới ánh sáng của ngọn đèn bão và ngọn đèn hoa kỳ
quả là quá sang không thua gì những ngọn đèn nến chùm lung linh trong các phòng
khách sang trọng ở đô thành. Dầu hỏa thật khan hiếm và là món hàng quốc cấm.
Người ta thắp đèn bằng những đĩa dầu lạc, dầu bưởi… với một cây bấc leo lét
nhưng cũng chỉ dùng nó vào lúc chập tối ăn cơm rồi vội vã tắt đi, sống âm thầm
lặng lẽ hoặc leo lên giường ngủ sớm.
Các ông đây cũng như bác Tham, đều độc
thân. Có khác chăng ở cảnh các bà không chịu rời bỏ đô thành, các ông
đành phải tạm lánh xa nơi binh lửa để xem thế cuộc binh tình ra sao đã.
Mới mấy tháng trời mà sao thấy đằng đẵng xa vời. Mỗi ngày qua đi chậm rì
rì, tưởng như mặt trời không chuyển động. Nhưng đêm mới thực là dài. Nằm trong
ổ rơm ngứa ngáy hay trên chiếc giường tre cọt kẹt theo cái cựa mình, thao thức
nghĩ tới con đường dài xa lắc, bật dậy mò mẫm ra sân nhìn trời… Trời cao vòi
vọi. Sao trời lờ mờ xa xăm. Đêm đen dầy sâu thăm thẳm. Bao nhiêu sự việc dồn
dập tới. Gian truân, nguy hiểm, lạ lùng. Ngỡ ngàng, nghi ngại mà cũng háo hấc,
hào hứng, vui vui. Gặp bạn tâm giao, các ông tha hồ giãi niềm tâm sự. Ông Tham
là người thảnh thơi ít phải ưu tư về gia cảnh:
- Cháu
Hương Giang theo đơn vị đi rồi. Công sở cử một số người đi trước tìm căn cứ.
Anh em còn lại tự động phân tán, sẽ liên hệ với nhau sau. Một thân một mình nhẹ
tếch, tôi xung vào Liên Khu I. Mình không trực tiếp cầm súng thì cũng không
thiếu gì công việc: xây dựng chiến luỹ, thông tin tuyên truyền, cứu thương,
tiếp tế… Chà, vui đáo để! Cả vợ chồng nhà Cát Lợi phố Hàng Gai cùng ở lại.
Như còn bị
khích động trong những ngày khói lửa của Thủ đô kháng chiến, ông Tham nói chưa dứt
mạch:
- Mấy dịp
được sục vào thâm cung của hàng trăm hàng ngàn ngôi nhà trong khu phố cổ xưa
nhất của Hà thành – từ những nhà giầu sụ ở Hàng Đào, Hàng Bạc đến những nhà
nghèo xơ xác trong những ngóc ngách lầm lội tối tăm. Mấy thằng giầu ham của
không dám bỏ đi, đến khi súng đạn nổi lên ầm ầm mới thấy sợ, run rẩy đến đái cả
ra quần, rầu rĩ thảm thiết như cha chết. Mấy ả giăng há lợi dụng nhà vô chủ đú
đởn làm tình như chỗ không người. Mấy thằng có máu đỏ đen súng nổ ở đâu mặc xác
cứ chúi đầu vào chiếu bạc, lúc tỉnh ra thì mò mẫm quơ quào thượng vàng hạ cám. Mấy chú khách sẵn sàng mâm quả hàng khô, thuốc bắc… ta tây gì cũng Hảo! Hảo! rồi tìm cách tống khứ hoặc
thoát cho mau. Nhiều thằng trông oai ra phết, nói như thánh sống nhưng trong
túi lúc nào cũng thủ sẵn chiếc khăn trắng làm cờ. Trong những ngày ấy mình
nghiệm ra rằng lúc nguy nan điều đáng khinh nhất là hèn. Liều không phải là
dũng cảm. Thằng hăng máu ba hoa thường nhát. Thằng lầm lì nhiều khi được việc.
Nhân cách không lấy gì che giấu được. Cái lõi con người lim táu hay ruỗng mục
phơi ra hết. Cái ranh giới vinh nhục
thật mong manh! Mình cảm nhận như mình sống thật hơn với cả chính mình.
Ông Tham gặp người trút được nỗi niềm bấy lâu chất chứa trong lòng:
- Cái đêm
17 tháng 2, hàng ngàn người âm thầm vượt ra bãi ngoài, luồn dưới gầm cầu Long
Biên lội qua sông Hồng gió bấc tê người, nước giá săn da trong khi trên cầu xe
lính nó tuần phòng, bắn vu vơ tứ phía. Không may trúng ai người nấy cắn răng mà
chịu. Tiếng một đứa bé vừa bật khóc ré lên lập tức chìm lỉm ngay trong gió thổi
vù vù. Đêm tối mịt mù căng thẳng nặng nề… Nào ai biết lòng sông chỗ nào rộng
hẹp nông sâu, nước êm nước xoáy?
Ông Phán
thăm dò:
- Nghe nói
giáo sư Dương Quảng Hàm, chết trong đêm ấy?
Hết vẻ sôi
nổi, ông Tham trùng giọng:
- Ông Hiệu
trưởng trường Bưởi (Chu Văn An) biệt tăm tích ngay từ đêm đầu nổ súng! Lúc nhộn
nhạo, ông cứ nấn ná mãi với trường! Nghe nói đêm 19 còn thấy bóng
ông ở nhà. Có người đoán
sáng sớm hôm sau ông trong đoàn người chạy vào nhà thương Phủ Doãn lánh
nạn vì nhà ông ở phố Hàng
Bông kề sát bên. Lúc ấy
lính Pháp đã chiếm đường Tràng Thi và từ đó bắn xẻ ra dữ dội chế ngự các ngả đường. Người ta chết nhiều
lắm! Có thể ông trong số những người không may trúng đạn ở đây? Nhưng mấy anh
học trò trường Bưởi tham gia Tự vệ thành lại quả quyết rằng mấy ngày sau đó họ
tình cờ gặp ông thầy ở mặt trận Liên khu Hai giữa lúc quân Pháp đánh nống ra
phía Nam Hà Nội. Trong lúc chiến sự xảy ra ác liệt, họ mục sở thị ông thầy gục
xuống dưới làn đạn ở khu vực ngã năm Hàm Long – Lò Đúc mà không làm gì được. Dù
sao thì từ đó không ai còn gặp lại ông! Khi chiến sự lắng xuống, thi hài bách tính được gom lại chôn chung trong
nấm “Mồ nạn nhân chiến tranh” khổng lồ dọc con đường hông bên trái Tòa án đối
diện với Hỏa Lò. Giữa phen thay đổi sơn hà, mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?
Buổi chiến trận mạng người như rác! Con người kinh luân chứa một túi đầy phút
chốc bỗng hồn đơn phách chiếc. Còn chi ai khá ai hèn. Còn chi mà nói kẻ hiền
người ngu. Mắt ông ngấn lệ cảm khái rưng rưng mấy câu thơ chiêu hồn: “Khi thất thế tên rơi đạn lạc / Bãi sa trường
thịt nát máu tươi / Bơ vơ góc biển chân trời / Nắm xương vô chủ biết vùi nơi
nao”?!
Trở về thực tại với vẻ suy tư, ông Tham tiếp
dòng tâm sự:
- Qua Phúc Yên, nghe nói trại ấp trên nhà tôi đã thành trụ sở của địa
phương rồi. Lâu nay gia đình mình không về đó, gửi lại mấy người anh em. Chắc
là bị mang tiếng theo tây! Mình lộ mặt ra sao tránh được những sự hạch hỏi eo
sèo. Biết thanh minh với ai và liệu họ có nghe không. Lúc can qua sóng gió cái
lý nó nằm trên họng súng mũi đao. Mấy người rủ tôi lên mạn ngược nhưng mình vẫn
lưu luyến với thành phố nên tìm đường vòng qua Sơn Tây về đây nghe ngóng xem
sao. Trên đường gặp mấy ông bạn này cũng là chỗ quen biết xưa nay. Bỗng nhiên
thành một đoàn lãng tử viễn du. Gặp mấy tay nhà văn là có khối chuyện ra trò
đấy. Kể ra dân quê mình tốt thật, có đồng bào tản cư về là niềm nở đon đả lắm.
Người ta nhường cho ở nhà trên, nhường cả giường rộng chiếu hoa…
Một ông cười khùng khục cướp lời:
- Cũng chỉ tại thằng Ký IDEO léng phéng với con vợ bé lão Hàn nhà bên nên
họ nghi ngờ đám mình mới mách tới Ủy ban…
Ông ta vẻ còn xít xoa tiếc rẻ:
- Con bé vợ ba ham chuyện cứ quấn lấy người ta, cười tít mắt, nảy tung
cái ngực… Ôi mà nó trắng ngồn ngộn, đẹp hơ hớ, phây phây, phốp pháp… Lão già
suốt ngày nằm bẹp bên cái bàn đèn ở nhà trên, mắt ti hí tưởng nó mơ màng nhưng
vẫn nhìn ra sân, xuống nhà dưới dè chừng. Thấy gì lạ là mắt nó mở trừng ra, láo
liêng, miệng phát ra tiếng “hứ” như
chó tru, réo gọi ngay con bé lên, kéo vào buồng. Cái ngữ ấy còn làm ăn đếch gì
được nữa! Chỉ tội nghiệp cho con bé trắng ngồn ngộn, đẹp hơ hớ, phây phây, phốp
pháp, cái đít núng na núng niếng…
- Mấy bố xa vợ nhớ con
không biết làm gì, buồn tình nên suốt ngày tổ tôm lá chắn, lâu lâu xồ ra một
tràng tiếng Pháp họ tưởng là các ông nói xấu nông dân, nói xấu chính quyền,
hoặc là dùng tiếng lóng tán tỉnh đàn bà con gái, hứng lên còn gõ nhịp
trầu hồng hồng tuyết tuyết,
nhắc tới toàn những ông Tuần, ông Tham, ông Phán đã lỗi thời rồi nên họ mới
nghĩ là một lũ tay sai đế quốc quen thói ăn chơi còn lưu luyến thời quá khứ! Ủy
ban triệu cả đám lên. Phúc nhờ có cái Sự
vụ lệnh làm bùa hộ mệnh chứ không họ điệu đi là gặp ông bà ông vải rồi!
Một ông
vẫn còn tấm tức:
- Thằng
cha Thư ký mặt non choẹt, nói ngọng líu lưỡi: Trên Hà “lội” các ông “nàm” gì?
Cứ chĩa cái hàm răng bàn cuốc như muốn cào vào mặt mình, vừa phun nước bọt vừa
“cười” suốt một buổi sáng những
là: Địch mạnh hay ta mạnh? Điểm yếu của địch là gì? Điểm mạnh của ta là gì?
Địch tuy có vũ khí tối tân nhưng không có tinh thần! Ta tuy vũ khí thô sơ nhưng
có toàn dân đồng lòng thi đua giết giặc! Vừa tự tạo vũ khí vừa cướp súng giặc
đánh giặc. Toàn dân kháng chiến là sao? Toàn diện kháng chiến thế nào? Vừa tích
cực thực hiện “đồng không nhà trống”
lại vừa gặt (hăng!) hái tăng gia sản xuất có hậu (mâu!) thuẫn với nhau không? Muốn tăng gia thì phải “nàm” gì? Tại sao
phải cần kiệm? Là “cần” phải “tiết kiệm” để kháng chiến! Lại nói qua cả văn hoá kháng chiến
nữa mới chết chứ. Đó là thứ văn hoá mới, không giống như văn hoá cũ! Rượu chè,
hút sách, bài bạc, thơ truyện nhảm nhí, hát xướng cô đầu “nêu nổng”, trai gái thì thụt điếm
đàng… đều là thứ văn hoá cũ đầu độc tiêu diệt giống “lòi”, làm cho mất “lước”!
Muốn xây dựng “lền” văn hoá mới
là phải tích cực tham gia vừa kháng chiến vừa tiến (kiến) quốc. Người có chữ
nghĩa không cầm súng được thì phải tích cực xung phong vào phong trào Bình dân học vụ xoá “lạn” mù chữ… Ối trời đất ơi! Bây giờ
mà bắt tôi tối tối ra lớp bình dân
lố nhố người gìa, người trẻ, đàn bà, con nít ngồi xổm, ngồi phệt, ngồi dạng
háng… ê a bi bô loạn xạ những i… tờ…
tờ… i… ti… sắc tí… chắc là tôi phát điên lên!
- Tôi ớn
nhất là lúc vừa được cha thư ký
tha cho, quay ra gặp ngay một ông hai tay hai quả tạc đạn, mắt ông ấy nhìn đi
đâu mà cứ xông thẳng vào mình. Mình né ra thì ông ấy chặn lại: Các ông là trí
thức thành phố về tham gia kháng chiến hả? Hoan hô nhiệt liệt! Nhưng các ông có
biết phương châm kháng chiến là gì không đã? Là du kích chiến tranh! Và ông ấy
cho một trái tạc đạn vào túi, tay kéo mình sang cái bàn bên. Ông ta đặt cả hai
trái tạc đạn trên bàn mà mắt ông ấy nhìn đâu đâu. Mình chỉ sợ nó lăn xuống đất.
Thật tình tôi chuẩn bị thế ngồi, nếu nó lăn là tôi bỏ chạy! Thì ra đấy là ông
chỉ huy Đội du kích xã và mắt ông ta… hiếng!
Ông ấy thao thao thuyết giảng những là: Đánh du kích nghĩa là vừa chơi vừa
đánh. Địch mạnh ta tránh. Địch tiến ta lùi. Địch lùi ta tiến. Địch thức ta đề
phòng. Địch ngủ ta khuấy rối. Địch ngó đằng trước ta thúc đằng sau. Địch quay
lại phía sau ta chọc phía trước. Địch chú ý bên “lày” ta quay sang bên khác. Địch ngẩng lên nhìn trời ta gài
bẫy dưới chân. Địch ngó xuống đất ta choảng vào đầu… Cứ tìm chỗ sơ hở của địch
mà đánh, đánh ngày đánh đêm, làm cho nó mất ăn mất ngủ, thất điên bát đảo, rối “noạn” tinh thần, hao mòn sức “nực” mà ta
thì vẫn hoàn (bảo!) toàn “nực nượng”. Đánh bằng đủ mọi thứ ta
có trong tay. Con dao, cái gậy, đòn gánh, đòn càn, hòn đá, mũi chông… đều đánh
được. Nếu tay không có gì thì đánh bằng mồm bằng “nưỡi”! Ông cười à? Ông tưởng
tôi xui các ông các bà xông vào ôm lấy thằng giặc mà cắn hả? Có mà gẫy răng toi
mạng! Tôi “lói” thế các ông trí thức không quen đánh giặc phải hiểu “nà” ta
tuyên truyền cổ (tác!) động tinh thần cho thằng giặc nhớ nhà mà chán “lản”.
Những việc ấy “lam” phụ “não” ấu đều “nàm” được hết huống chi các ông “nà” người có học!...
Ông ta nói như đọc bài học thuộc lòng, tài thật!
- Suy cho
cùng thì họ nói đều đúng cả! – Ông Thanh cười hiền hoà.
- Mà ai cũng thích nói và nói thật nhiều, tưởng như chỉ mình họ hiểu.
Phải chăng là họ nói cho đã khẩu vì chưa từng được ai ngồi nghe họ nói.
- Họ nói mà họ làm thật đấy! – Ông Phán vẻ nghiêm chỉnh.
- Đúng là họ làm những điều không tưởng tượng nổi đâu. Cứ nghe đám con
trai con gái hát mà không hiểu được là chúng đang vui hay buồn nữa? Này nhé lúc
chiều anh lên đường đi bộ đội thì em lưu luyến “tiễn đưa ra tận cuối đồi, nghe dặn lời rằng kháng chiến còn trường kỳ
và còn gian khổ” với những là “máu
còn rơi, xương còn rơi”… Đúng không nào? Đến tối nam nữ lại tụ họp nhau hát
váng lên những là gì?... À… “Đi đốt nhà,
cùng nhau ta đi đốt nhà”… Vui đáo để!
Ông Thanh cười, nhẹ vỗ lên đùi bạn:
- Chẳng có gì khó hiểu cả đâu. “Kháng chiến trường kỳ gian khổ nhất định
thắng lợi” là đấy! “Tiêu thổ kháng chiến” là đấy!
Những điều đó với các ông tuy có
bực mình mà cũng mới lạ hay hay.
Dù sao thì các ông cũng mau mau rủ nhau lên phố Văn Trai tìm mua một ngôi
nhà lá tạm trú chờ thời. Vì thế mới có sự trùng phùng tương ngộ hôm nay.
ô
Nghe tin
ông Trịnh Huy đang nằm trong một Bệnh viện Quân y ở Cầu Dặm – cửa ngõ tỉnh Hoà
Bình, ông Thanh rủ ông Phú đi thăm, tiện thể tìm hỏi đặng liên lạc với cơ quan.
Không ngờ chưa đầy năm mà ông Trịnh thể lực sa sút thế. Đó là ông đã từng
nhiều năm nằm gai nếm mật ở vùng rừng xanh núi đỏ rồi mà con bệnh sốt rét ngã
nước nó vẫn hành ông. Da ông xanh bủng. Môi ông thâm xịt. Hai con mắt sâu hoắm
chỉ còn thấy đôi lòng trắng. Tay ông chống gậy mà chân đi còn run rẩy…
Hai ông ái
ngại xót xa khâm phục nhìn người anh, người bạn từng chịu đựng trong mọi tình
huống để rồi lại bình thản vượt qua, tưởng như ông dửng dưng với sự mất còn của
bản thân mình.
Ông Trịnh
hay cười khiến mặt ông càng dăn dúm lại. Ông đưa cho các bạn xem mấy khổ thơ:
Tiếng động
canh khuya bừng tỉnh giấc
Tiếng súng
rền vang hay sấm xa?
Chớp loé ngang trời rồi chợt tắt
Thao thức nằm nghĩ nỗi đường xa…
……
Không gì buồn bằng những ngày đau ốm
Nằm rán
trên giường lòng nghĩ vẩn vơ
Cơn sốt rét kéo dài tai ác quá
Ngày hai lần cô y tá… tiêm hoài!
……
Ông nói kiểu người đoản hơi, từng khúc một:
- Thế mới biết ông Cụ có tầm nhìn xa thật. Ngày rời căn
cứ về Thủ đô, Cụ vẫn cử người
tin cẩn ở lại. Cụ căn dặn anh
em nên nhớ rằng Cách mạng phải có đường tiến, có đường lui. Phải giữ mối quan
hệ với bà con vùng căn cứ cho tốt, biết đâu có ngày ta phải quay lại nhờ vả bà con.
Bây giờ ta trở về vùng căn cứ không còn
trắng tay như trước: Ta đã có chính quyền, có quân đội… khác nào như hổ về
rừng. Bố thằng tây cũng không làm gì được! –
Cái cười méo xẹo và lạc
quan của ông lây sang cả hai người.
Hai ông cần những thông tin cụ thể và tham khảo ý kiến của người
anh.
- Thằng kẻ cướp đã vào nhà, không bao giờ nó chịu trở ra tay không đâu.
Chúng nó còn hung hăng lắm. Ngày12 tháng năm, Bollaert cử cố vấn riêng Paul
Mus, một giáo sư nổi tiếng về Đông phương học, tới Thái Nguyên gặp Hồ Chủ tịch
và Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, đưa ra những điều kiện mà Chính phủ
Pháp đòi:
Một là: Ngừng ngay mọi hành động chiến tranh, khủng bố và tuyên truyền.
Hai là: Nộp một phần quan trọng vũ khí.
Ba là: Tự do đi lại cho quân Pháp trong toàn bộ lãnh thổ của Việt minh.
Bốn là: Trả lại các con tin, tù binh và hàng binh.
Hồ Chủ
tịch đã trả lời khiêm nhường nhưng thẳng thắn rằng: “Trong khối Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát. Tôi sẽ là
kẻ hèn nhát nếu tôi chấp nhận!”
Ông Tham Phú tỏ thái độ đồng tình:
- Chẳng lẽ mình lại quì gối như triều đình nhà Nguyễn đã làm?
- Cuộc kháng chiến này là sự thử thách với cả dân tộc và với từng người.
Tất cả mới chỉ là bước đầu. Mọi người tự lượng sức mình để có những đóng góp
thiết thực cho kháng chiến.
Ba anh em
mải ngồi ngoài lán nói chuyện. Ông Trịnh quên giờ tiêm cữ thuốc. Cô y tá bước
ra tìm ông và đột ngột để rơi cái ống thuốc tiêm, chạy nhào đến ôm chầm lấy một
người:
- Cậu…!
Cậu… Phán!... Cậu ơi! – cô gục vào vai
ông khóc nức nở. Sau phút ngỡ ngàng, ông Phán nhận ra Nga.
Ông cũng rất cảm động trước sự gặp gỡ đường đột này. Ai cũng cảm như đã từng
thân thiết lắm. Ông vỗ về an ủi Nga và giới thiệu rất tự nhiên với hai người
anh em:
- Đây là
đứa cháu con bà chị họ!
Hai ông
anh lảng xa để hai cậu cháu chia sẻ cho nhau tình cảm…
- Ở đây
mọi người gọi cháu là Hà! Hồng Hà, cậu ạ! – Nước mắt cô lại ràn rụa ra và cô
nói trong tức tưởi :
- Cậu ơi!
Chị Hồng cháu chết rồi! Thế cậu biết tin bà chưa?
Ông Thanh
giật mình, mặt biến sắc. Ông linh cảm một điều gì tai họa.
- Bà bị nó bắn chết cùng với chị Hồng cháu ở ngay nhà cậu!
Ông Thanh rụng rời và mặt ông xanh lét đi. Nga luýnh quýnh vẫy mọi người
đến vực ông cậu vào trong lán.
Ông sắp vào tuổi tứ thập rồi. Ở độ tuổi nhi bất hoặc thì
cái sự tồn vong theo luật trời sinh-lão-bệnh-tử
ai cũng nhận ra nó là sự thường tình. Nhưng ông đau đớn là mẹ ông chết thật
thảm thương và ông không lo cho mẹ được chu toàn. Lòng ông quặn thắt xót xa
nghĩ tới tấm áo ông sắm sẵn,
vạt đất bên cha ông dành cho mẹ và bà rất vừa lòng nếu được ra đi trong sự chăm
lo của con cháu cho bà. Ông không dám tưởng tượng ra trong cảnh loạn lạc bối
rối, người ta vội vã vùi nông một nấm
những người tử nạn trong đó có mẹ ông! Lòng ông dầy vò và nóng như lửa đốt.
Mọi người giữ ông nằm lại dưỡng sức ít ngày. Ông Trịnh có dịp giúp các
bạn nhận ra con đường chông gai phía trước:
- Từ đây bắt đầu cuộc trường chinh! Ta muốn kéo dài thời gian chuẩn bị
nhưng chẳng đặng đừng, giờ ta như người đứng trong chiến hào thủ thế, nhằm chỗ
sơ hở của giặc mà tiêu hao chúng. Khi chúng dồn sức tấn công thì ta phải tạm
lánh đi. Lúc này thế giặc mạnh hơn. Ta chủ động phòng ngự để bảo tồn và bổ xung lực lượng của mình. Khi có sức,
ta chuyển sang cầm cự, giằng co
với địch. Có chỗ giặc đẩy được ta, có chỗ ta xô được nó. Thời gian này lâu hơn
nhưng ta mạnh dần lên và giặc yếu dần đi, tới lúc ta có thể phản công từng phần, tiến tới tổng phản công toàn diện. Mỗi thời
điểm ta có cách đánh thích hợp. Đó là đường hướng quyết định thắng bại của cuộc
chiến tranh.
Nhìn gương
mặt lo âu của các bạn, người chiến sỹ dầy dạn đấu tranh cười hồn nhiên với thái
độ rất tự tin, ông khích lệ:
- Nói trường kỳ kháng chiến không có nghĩa
là vô thời hạn. Thời cơ do ta tạo nên vì chúng ta thừa thiên hành đạo nên đắc
nhân tâm. Thời gian luôn ủng hộ chúng ta!
Đúng lúc
đơn vị nhận lệnh khẩn cấp đối phó với tình hình mới. Ông Trịnh nắm được tin tức
nói lại với các bạn:
- Địch chủ
trương tốc chiến tốc thắng. Ta
dự đoán trước thế nào nó cũng tập trung đánh lớn. Tướng Salan, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương vạch Kế hoạch Léa nhằm mục tiêu bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt
minh tiếp xúc với Trung quốc… Loại trừ mọi sự chi viện từ ngoài vào. Truy lùng
Việt minh đến tận cùng sào huyệt, đánh tan tác mọi tiềm lực kháng chiến!
Những tháng cuối năm 1947, chúng tập trung đại quân đánh vào toàn bộ vùng căn
cứ Cao-Bắc-Lạng-Thái-Hà-Tuyên với niềm tin chỉ cần ba tuần lễ là đập tan đầu não của Việt minh…
Và ông
nhắc nhở:
- Bây giờ
vùng đồng bằng tạm yên ổn. Anh em quay trở lại sắp xếp công việc gia đình để có
thể yên tâm tham gia trường kỳ kháng chiến.
Họ bịn rịn chia tay nhau kẻ xuôi người ngược.
ô
Ông Phú,
ông Thanh quay trở lại Đồng Quan.
Xa nhau mới hơn tháng trời mà bây giờ gặp lại ai cũng tần ngần ngơ ngẩn.
Bà Phán
xót ruột như bào thấy chồng âu sầu thiểu não như người mất hồn, đôi mắt lờ đờ
nằng nặng.
Ông Thanh
ân hận thấy vợ gầy tọp đi, đôi mắt sâu và quầng thâm. Nhìn nhà cửa tuyềnh toàng
thay đổi lại càng ngao ngán: Cái sạp hàng đầy những vải vóc, quần áo, khăn mũ…
biến đi đâu? Thay vào đấy là mấy cái ghế chỏng chơ, cái chõng tre lổng chổng
mấy đĩa xôi với món đồ ăn, mấy thứ bánh trái, mấy lọ kẹo bột, kẹo lạc, kẹo
vừng, mấy cái bát sấp ngửa với nồi nước chè xanh ủ ấm!
Ông Tham Phú cũng ngơ ngác lạ lùng.
Thì ra các ông đi được ít ngày, địa phương thực hành nghiêm ngặt chủ
trương “bao vây kinh tế địch”.
Từng đoàn người gồm cả chính quyền, công an, thuế vụ, dân quân, du kích tới
từng hộ kinh doanh kiểm tra các mặt hàng. Đánh địch trên mặt trận kinh tế thiết
thực là phong toả không cho tiêu thụ hàng hoá của thực dân đế quốc. Mọi thứ
hàng ngoại đều là đồ quốc cấm, bị tịch thu, hẹn lên trụ sở Ủy ban làm biên bản.
Bà không quen tới chỗ công quyền, đành chờ đợi ông về. Nhưng tính bà cả
lo và thói quen tần tảo. Vốn liếng bao nhiêu đã bị khuân đi như cá lọt đăng
trông gì ngày trở lại. Bà xoay ra bán mấy thứ hàng ăn uống dành cho khách qua
đường khát nước đói lòng. Vốn tay nội trợ căn cơ, khéo léo, quán hàng của bà
cũng có nhiều khách vào ra, lo được đắp đổi qua ngày tuy nhiên vất vả hơn
nhiều.
Hai anh em kéo nhau lên xã. Chầu trực cả buổi, ông Phó Chủ tịch Ủy ban đi
họp mới về. Các ông lại được nghe thuyết giảng tràng giang đại hải về thế nào
là “kháng chiến trường kỳ, toàn dân
toàn diện” và đã vô tình tiếp tay cho giặc là sao? Rồi ông kết luận:
- Vì là đồng bào tản cư, các ông cũng là cán bộ nên Chính quyền chỉ phạt
nhẹ tịch thu hàng hoá thôi. Nếu làm thẳng băng thì xử lý theo như tội nối giáo cho giặc khác nào như Việt
gian phản quốc!
Ông Thanh cam chịu, rút lui.
Ông Phú lại muốn làm cho ra lẽ:
- Một là những tang vật tịch thu này để làm gì? Các ông hãy nhìn xem trên
người những ai có mặt ở đây: áo, quần, khăn, mũ, cái kính thị, cái bút, đôi
dép, đôi giày, hoặc khi đau ốm cần dùng tới thuốc liệu có dính dáng tí gì tới
hàng của đế quốc hay không? Hai là ta
phong tỏa những gì địch nó cần mà không làm ra được như lương thực và thực
phẩm. Còn những hàng hóa nông thôn ta không sản xuất ra được thì ta phải phá
thế phong toả của địch để dân có cái mà dùng. “Bế quan tỏa cảng” chỉ thiệt mình thôi! Nếu cần ta tích cực thu
thuế để có tiền góp vào ngân quĩ kháng chiến. Ba là Chính phủ hô hào thực hiện
“vườn không nhà trống”. Đồng
bào thành phố tản cư về nông thôn lâu dài họ làm gì sống? Buôn bán là cách
trước mắt họ tự đắp đổi qua ngày. Các ông làm thắt ngặt quá là dồn họ phải quay
trở về thành phố!
Vị đại diện Chính quyền trừng mắt lên:
- Chúng tôi có người lãnh đạo chỉ huy. Không cần ai dạy khôn đâu! Chúng
tôi quyết đánh và chúng tôi nhất định thắng! Nông dân chúng tôi làm quần quật hai sương một nắng mà vẫn phải ăn đói
mặc rách. Các ông các bà ở thành phố nắng không rát mặt, mưa không lấm chân,
quen ăn sung mặc sướng, mới xa thành phố ít ngày mà đã kêu rên những là khó
khăn gian khổ, ngãng ra. Sao không chịu tăng
gia sản xuất mà vẫn quen thói làm ít ăn nhiều, một vốn bốn lời mát mày
mát mặt…
Ông Tham
chạm tự ái không kiềm chế được nữa, đứng bật dậy chỉ vào vị quan chức nọ:
- Các anh tưởng những ai ở thành phố là ăn không ngồi rồi cả sao? Chúng
tôi cũng phải rát cổ bỏng họng, ngồi chai
đít, lồi con mắt ra, đau đầu nhức óc mới có cái mà ăn mà mặc chứ đâu có thì giờ
đi hội họp suốt ngày đêm. Đừng tưởng chỉ có các anh mới là người yêu nước thôi
đâu!
Cả hai ông đều không giữ được bình tĩnh nữa. Nhưng là người có quyền thì
phải giữ thế và bao giờ cũng có quân quả hỗ trợ cho mình. Ông Phó Chủ tịch đập
bàn, thét gọi du kích bắt trói tống giam kẻ dám đối chọi Chính quyền. Ông Thanh
phải vội vã chạy đi tìm ông Chủ tịch và hết sức nhã nhặn, khôn khéo, trình đủ
mọi thứ giấy tờ của hai người ra mới được vị đương chức để cho yên.
Trên đường về ông Tham Phú còn hậm hực. Ông Thanh an ủi người anh:
- Đã định dấn thân thì phải chấp nhận thôi anh ạ!
- Sợ nhất là kẻ cầm quyền nhân danh công lý, luôn cho rằng lẽ phải thuộc
về mình. Những hôn quân bạo chúa thời xưa và quân phiệt phát xít thời nay đều
từ đấy mà ra cả!
Cái nỗi đau
mất mẹ vẫn luôn dằn vặt dằy vò lại thêm tình thế gia cảnh hiện nay buộc ông
Thanh phải có một quyết đoán dứt khoát chứ không thể lưỡng lự nước đôi được
nữa. Ông đang đứng giữa một con đường: Bước đi tiếp hay quay trở lại?
Con đường đang đi, ông không thấy có gì ân hận. Đó là con đường chính đại
quang minh. Suy ra ông cũng là lớp người may gặp thời thế cho mình được đứng
thẳng lên. Trước đấy, bao nhiêu người tài ba tâm huyết nhưng thời vận chưa đến
nên đành phải ngậm ngùi nuốt hận hoặc gửi nắm xương tàn ở những nơi vô định. Cớ
sao bây giờ mình lại tự khòm lưng quay về chuồng cũ? Người ta sinh ra cần phải sống. Nhưng sống để làm
NGƯỜI. Con người ấy phải được sung sướng, ấm no, tự do, bình đẳng và hạnh phúc.
Đành rằng trên con đường ấy còn nhiều gai góc và khúc khuỷu nhưng người xưa đã
chẳng nói rồi sao: Người ta cứ đi thì
thành đường thôi. Người đi càng đông con đường càng bằng phẳng và rộng
rãi ra!
Nhưng cuộc sống của ông bây giờ liên quan thiết thực tới sự tồn tại của
mấy mạng người mà ông thương yêu nhất. Ông thèm được như ông Tham lúc này quá.
Nhẹ thênh thênh. Cuộc kháng chiến sẽ là bao lâu? Gia đình sinh sống làm sao.
Các con ông đang ở tuổi cần sự học.
Ông cũng đã nghĩ đến phương sách để bà đem các con trở về nhưng chưa dám
nói ra vì từ ngày lấy nhau cả chục năm trời, vợ chồng con cái lúc nào cũng quấn
quýt, mỗi người đã là một phần cuộc sống của nhau. Chưa chắc bà đã chịu đâu. Vả
như bà chấp nhận thì một bà nách ba đứa con xoay sở làm sao? Nuôi con ăn! Nuôi
con học! Lại làm sao cho con thành người! Ông dồn lên vai bà cái gánh nặng quá!
Trong lòng ông nhoi nhói nỗi niềm thương vợ.
Ông Tham như người bạn chân thành chia sẻ những lo toan và giúp bạn vượt
qua những điều trăn trở:
- Toa chấp nhận
sự dấn thân. Được thôi! Đó là lẽ sống! Hãy để cho người khác tự chọn lẽ sống
của họ ngay cả với vợ con mình. Mình muốn bình đẳng tự do tại sao lại muốn
người khác cũng làm theo ý của mình? Đã lựa chọn chỉ được một thôi, làm sao còn
băn khoăn bối rối?!
Bà Phán là
người giầu tình cảm nhưng không yếu đuối:
- Sông có khúc, người có lúc! Tôi với
mình vừa qua một khúc sông bình lặng êm đềm. Bây giờ đến khúc thác gềnh nước
xoáy. Phải tùy cơ định liệu. Mình một con đò. Tôi một con đò. Kẻ ngược người
xuôi nhưng cùng hẹn nhau nơi bến cuối. Trách nhiệm của tôi với các con dầu nặng
nhưng so với trách nhiệm của người đàn ông nơi chiến trận thì có thấm vào đâu! Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi! Tôi
rất thương mình và sẽ làm tròn bổn phận của người mẹ và thay cả đấng phụ thân dậy con đèn sách nữa. Việc mình làm bây giờ
như là điều nhân để quả cho các con. Bằng như nếu tôi với
mình không được gặp nhau nữa thì còn các con, chúng nó sẽ ghi tâm khắc cốt tấm
lòng của cha mẹ tận tình với chúng. Cầu xin Bề trên ban sự bằng an cho tín hữu
và cho gia đình mình!
Ông Thanh càng cảm phục và thêm nặng lòng với vợ.
Ông Tham Phú như người anh lo toan chu đáo cho các em :
- Trở về thành, thím hãy lên nhà tôi ở phố Hàng Bè mà ở, chỉ cần sửa sang
chút ít thôi. Cửa hàng ở phố Hàng Đào thím cứ dùng thương hiệu của nhà tôi mà
buôn bán. Mọi chuyện về sau anh em mình tính tiếp.
Ông Thanh tạm yên tâm, dặn thêm vợ mấy điều: Trước hết là hỏi tìm mộ mẹ,
được ngày được tháng thì cải táng mẹ về yên nghỉ bên cha cho vong hồn bà toại
nguyện. Dò tìm các cháu chắp nối lại cho các con cháu giữ mối thân tộc lâu dài.
Và ông nhắc khéo vợ nhớ rằng mình là con gái đã xuất gia, giữ cho đừng có điều
tiếng gì ảnh hưởng đến danh giá nhà chồng.
- Khi bước chân ra khỏi cửa về tới nhà chồng là tôi hiểu được mình đã là
con người ta rồi. Mọi chuyện
tôi phải lo đắp đổi bù trì giữ gìn cho ngôi nhà mới ấy. Ngay cả niềm tin với
Đấng bề trên tôi cũng san sẻ với mình. Danh giá nhà chồng là danh giá của chồng
tôi, cũng là của tôi rồi.
Ông không nói gì được nữa.
Việc đã quyết rồi nhưng ngày nào chia tay thì cứ lần lữa lưu luyến mãi.
Trong khi ấy dư luận xầm xì: Đại quân Pháp huy động tổng lực Hải-Lục-Không quân vây ép toàn bộ
chiến khu Việt Bắc. Quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, đánh chiếm toàn bộ khu
trọng điểm Bắc Cạn – Chợ Đồn – Chợ Mới, bắt gọn toàn bộ Chính phủ Việt Minh kháng chiến!
Mọi người lo lắng, hoang mang và chờ đợi.
ô
Trong chiến
tranh, sự thắng bại của cả hai bên chỉ những người trong cuộc mới minh chứng
được.
Mục tiêu
của Kế hoạch Léa là bắt gọn cơ quan
đầu não của cuộc kháng chiến. Chiến tích lớn nhất của nó là ngày 07 tháng 10,
trong một cuộc đột kích chớp nhoáng theo chỉ điểm vào một cơ quan trung ương
đóng ở Chợ Đồn, quân viễn chinh bắt được một số người trong đó có một ông già
tuổi chạc lục tuần, dáng người gày dong dỏng, trán cao, thái độ đĩnh đạc, nói
giỏi tiếng Pháp, cứng cỏi phản đối cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam và
kêu gọi đàm phán hòa bình. Viên sỹ quan chỉ huy tưởng đã bắt được lãnh tụ Hồ
Chí Minh, không ngờ đó là cụ Nguyễn Văn Tố – học giả hàng đầu của Viện Viễn
đông bác cổ, vị Hội trưởng đức độ đầy uy tín của Hội Truyền bá quốc ngữ, vị
Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên, đương nhiệm chức Quốc vụ khanh Bộ
trưởng Cứu tế xã hội trong chính phủ kháng chiến. Biết bị mừng hụt, chúng vừa
dụ dỗ vừa cưỡng ép ông già học thức khảng khái này về thành hợp tác với quân
xâm lược, lại bị cự tuyệt quyết liệt, chúng thẳng tay sát hại! Kế hoạch đánh
dập đầu não kháng chiến chẳng những không thành lại bị tổn thất nhiều cả về
Hải-Lục-Không quân. Ngày 19 tháng 12, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp hạ lệnh
rời quân khỏi vùng rừng núi, chỉ để lại
một bộ phận án ngữ trên tuyến đường biên giới Cao-Bắc-Lạng và vớt vát bằng Kế hoạch Ceinture càn quét vùng trung
du: Tuyên Quang-Thái Nguyên-Phú Thọ-Bắc Giang trên đường rút về đồng bằng. Thế
nhưng đầu đã không xuôi thì đuôi sao lọt? Kết cục là quân Pháp chỉ quấy rối phá
phách được một số bản làng và kho tàng căn cứ của đối phương để đổi lấy thảm
bại: hàng chục máy bay bị bắn rơi mất
xác trong vùng rừng sâu núi thẳm, hàng chục tầu chiến bị nhận chìm dưới lòng
thượng nguồn sông Lô và sông Gâm, hàng trăm xe quân sự bị thiêu rụi trên các
nẻo đường thượng du và trung du hiểm trở và bỗng nhiên lại cung cấp cho đối
phương thêm nhiều vũ khí các loại mà họ đang cần.
Mục tiêu đánh nhanh thắng nhanh không đạt!
Không ai ngờ rằng mới chỉ một năm thôi, từ tay không mà lực lượng vũ
trang kháng chiến có thể đương đầu với một đội quân nhà nghề chẳng những đông
hơn rất nhiều lại được trang bị hùng hậu hơn mình gấp bao nhiêu lần như thế.
Những ngày đầu kháng chiến, nhiều người dù thiết tha với độc lập tự do của Tổ
quốc nhưng lượng sức mình đọ với giặc không kham! Trông vào đâu để có được phép
thần? Họ đành ngậm ngùi bỏ cuộc hoặc như đi bên lề cuộc chiến. Bây giờ người ta
hả hê khích lệ nhau: Nó không dễ gì nuốt chửng mình đâu!
Sau ngày cùng đơn vị rút khỏi Thủ đô, Nghĩa được triệu tập đi học trường Võ bị sĩ quan Trần Quốc Tuấn vừa khai mạc ở Tuyên Quang. Đang học,
trường lại dời vào Liên Khu IV. Cuối khóa, anh em hành quân ngược ra Việt Bắc,
kịp phân tán về các đơn vị tham gia Chiến dịch Thu-Đông.
Kết thúc năm 1947, Hồ Chủ
Tịch tổng kết:
“Thấm thoắt toàn quốc kháng chiến đã chẵn một năm và
kháng chiến ở miền Nam đã 27 tháng.
Từ ngày đầu, bọn thực
dân quân phiệt khoe mồm rằng chóng thì dăm tuần, chậm thì ba tháng chúng sẽ chinh phục
ta. Nhưng nay đã trải qua mấy lần dăm tuần, mấy lần ba tháng chúng đã được kết
quả gì?
Ngoài mấy thành thị
hoang tàn thì thôn quê khắp cả nước đều ở trong tay ta!”
Đã không thể giải quyết gọn vấn đề Việt Nam trong khi Khối Liên hiệp Pháp rùng rùng chuyển động với những dấu hiệu
bất an, người Pháp thấy rõ việc phải đánh kéo dài và họ muốn chuyển dần gánh nặng chiến tranh lên vai người Việt. Đó là
chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Người Việt đánh nhau bao lâu cũng được, thắng thì lợi cho Đại Pháp,
thua thì chỉ có máu người Việt đổ ra trên đất nước Việt Nam bị tàn phá!
Quân đội Pháp quay về mở rộng càn quét, bình
định và củng cố vùng chiếm đóng ở đồng bằng, làm cơ sở chiến lược của cuộc chiến
tranh.
Ở Nam bộ, Kế hoạch De Latour xây dựng hệ thống đồn bót tháp canh dọc các
trục giao thông và mở “chiến dịch Véga” đánh vào các khu căn cứ miền Đông, Đồng Tháp Mười và Rừng U Minh.
Ở Trung bộ, chủ yếu quân Pháp tăng cường củng
cố vùng hành lang chiến lược Bình-Trị-Thiên và Tây Nguyên, mái nhà của Đông
Dương. Thanh-Nghệ-Tĩnh là một vùng rộng lớn liền kề, quân Pháp không đặt chân
tới được, chỉ có thể khống chế bằng phi pháo. Chính quyền kháng chiến quản lý
mọi mặt đời sống xã hội ở đây.
Chiến trường Bắc bộ vẫn là trọng điểm. Mất Bắc
bộ là mất cả Đông Dương và ảnh hưởng tới cả vùng Đông Nam Á. Cũng ở đây, lực
lượng chủ lực của cuộc kháng chiến phát triển nhanh chóng đồng thời tiếp tục
tăng viện cho các chiến trường toàn quốc nhất là lực lượng cán bộ quân sự và
xây dựng.
Trong bối cảnh ấy, Nghĩa được điều vào chiến
trường phía Nam.
Cuộc đi xa này không biết có ngày về? Anh quyết định cần phải chia tay
những người thân thiết.
Từ giã đồng đội chiến đấu bấy lâu, anh lên chiến khu thăm Hương Giang
đang nằm trị bệnh ở Tuyên Quang. Đây là một bệnh viện thực tập của Trường Đại
học Y khoa kháng chiến.
Tình cờ không hẹn mà nên. Nghĩa gặp Bác sỹ Viện trưởng Bửu Quốc và anh
sinh viên Đức Phúc đang kết thúc năm cuối của chương trình Đại học. Mọi người
đều vui vẻ nói về tương lai đầy hy vọng. Không ai nhắc tới những trận sốt rét
mà chính người thầy thuốc cũng không tránh được nhưng khi vừa dứt cơn họ lại
đến từng giường bệnh chăm sóc chữa trị cho người bệnh, những bữa ăn kham khổ
cùng chia sẻ cho nhau. Họ náo nức kể về những chiến công của đội quân non trẻ
và thiếu thốn đủ đường mà dám quyết chiến và quyết thắng một đội quân dầy dạn
từng một thời là niềm kiêu hãnh đã làm mưa làm gió trên khắp Châu Âu với những
chiến công gắn liền với tên tuổi của các danh tướng lẫy lừng. Hương Giang trong
tốp người bệnh nam nữ xanh xao mà vẫn vui vẻ cất giọng yếu ớt run run thay nhau
hát lên từng khúc bài ca về một dòng sông xiết đỗi tự hào: “Sông Lô... sóng ngàn
Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u / Thu ru... bến sóng vàng từng nhà
mờ biếc chìm một màu khói thu / Sông Lô... sóng ngàn kháng chiến cháy bờ
lau thưa đã tàn thôn trang / Ai qua... bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô
xưa”… Tiếng hát rộn ràng lên: “Trên dòng sông trở về đoàn người / Reo mừng
vui trên sóng nước biếc / Trôi đầy sông bao đám xác thù / Dân hân hoan nghe sóng réo vi vu xa xa / Đường
ngập người vang gió lá vi vu hiền hòa / Sông mênh mông... như bát ngát
hát”… Và lắng lại: “Về trong đêm gió rét, từng sân vui bóng
người quanh lửa hồng / Nền khô trơ than xám / Đêm chìm đợi ánh chiêu
dương”… Rồi như
dòng sông dịu êm xuôi chảy: “Dòng sông Lô
trôi... / Mùa xuân tới nước băng qua ngàn / Nước in ven bờ xanh ôm bóng tre... /
Dòng sông Lô trôi... / Dòng sông Lô trôi”…
Những người thân mới gặp nhau cũng ngưng câu chuyện lắng nghe bài hát mà
lòng mỗi người cùng phấn chấn phơi phới chung một niềm vui.
Bác sỹ Bửu Quốc còn xúc động:
- Gia đình nhiều lần nhắn gọi tôi trở về thành và nếu muốn tôi có thể qua
Paris mà không có một sự trở ngại nào. Trong những ngày giặc càn quét Khu căn cứ, chúng tôi cùng với anh em
thương bệnh binh cứ quanh quẩn lánh né nó thôi. Có khi ta với địch chỉ cách
nhau vài trăm mét. Tôi nghe rõ nó bắc loa kêu gọi đích danh mình và nhiều đồng
nghiệp hãy rời khỏi nơi ẩn nấp sẽ được tiếp đón trọng thị và đưa về thành, có
ngay những ghế vị danh giá đang chờ. Nó mềm
mà mình không nghe thì nó rắn.
Súng liên thanh nó bắn vãi đạn tứ tung, tưởng như sẽ có viên đạn găm trúng
mình. Nhưng chúng tôi không nao núng. Nếu cần thì sẵn sàng đón nhận cái chết
của ngưới chiến sỹ đấu tranh cho Độc lập - Tự do - Bình đẳng - Bác ái, chứ nhất
định không chịu làm thân nô lệ một lần nữa. Như người đồng nghiệp Nguyễn Văn
Luyện của tôi lúc nào, ở đâu cũng một lòng hướng về Tổ quốc. Dù mang trọng
trách đại biểu Quốc hội nhưng ngay trong đêm đầu nổ súng kháng chiến, cả ba cha
con ông quyết không rời Thủ đô, cùng với các chiến sỹ tự vệ thành chiến đấu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”!
Ông trầm ngâm như một triết nhân:
- Anh bạn nhà văn Thiếu Sơn của tôi hiện đang ở bưng biền Nam Bộ nói rất
đúng: “Bọn xâm lăng không nhằm cá nhân tôi mà xúc phạm. Chúng đã xúc phạm
tới cả một dân tộc và dân tộc Việt Nam đã trả lời đích đáng cho sự vô lễ của
họ! Tôi thấy tôi không thể tách rời khỏi dân tộc mà có được sự kính nể của
ngoại bang”. Sẽ đến lúc nhân dân Pháp hiểu ra sự thật. Phép màu làm nên
thắng lợi cho cuộc kháng chiến hiện nay là lòng quyết tâm vượt mọi hy sinh gian
khổ vì mục tiêu chính nghĩa của chúng ta.
Ở phương Tây người ta hay nói tới lòng bác ái. Ở phương Đông người ta nói từ bi quảng độ. Tôi yêu thương con người nên tôi chọn nghề y là
một nghề nhân ái. Tôi đã cứu nhiều người thoát chết. Nhưng ai cứu tôi khỏi thân
phận của kẻ vong quốc? khỏi nỗi nhục của dân nô lệ? Chúng ta chọn sự yêu thương
và nhân ái nhưng họ lại chọn sự hận thù và bạo lực. Bằng cấp của tôi do nước
Pháp cấp cho nhưng với người Pháp ở đây tôi chỉ là một tên mũi tẹt da vàng ương ngạnh. Trong
huyết quản tôi mang dòng máu Lạc Hồng với cái tên Bửu Quốc chính dòng Nguyễn
Phước. Tôi không thể để cha mẹ anh chị em đồng bào gọi tôi là thằng Bửu Quốc
quên cả tổ tiên, vong ân bội nghĩa giống nòi! Ông Nguyễn Văn Thinh là một bi
kịch! Tôi tin ông ấy tham chính không phải vì tiền. Vì lầm lạc mà ôm lấy mối ân
hận cô đơn để đến nỗi phải chết treo mà vẫn còn để lại những điều tai tiếng
trên bia miệng người đời! Người trí thức bước vào chính trường phải tỉnh táo,
đừng bị lung lạc vì một lý do nào để thành kẻ “a dua” (à jour). Trong đời
người, có những giây phút quyết định vận mệnh của mình và nếu như cùng giây
phút ấy đồng thời quyết định cả vận mệnh của Tổ quốc mình thì người đó thật là
hạnh phúc. Tôi thật sung sướng được sống trong giây phút trùng hợp hiếm hoi ấy.
Lúc này tôi cảm thấy Tổ quốc vừa gần gũi thân yêu lại vừa thiêng liêng rộng
lớn.
Nghe bạn kể về cái chết của em
Nghĩa Sỹ. Anh sinh viên Đức Phúc lộ rõ vẻ buồn rầu suy tư :
- Tôi luôn cảm thấy thằng bé sẽ làm một việc gì vượt ngoài trí tưởng
tượng của mình. Lúc ấy tôi đang bế tắc. Thực dân, đế quốc tôi cũng ghét. Việt minh Cộng sản tôi cũng không ưa.
Phật Thích ca, Chúa Jésus chỉ là những ông Thần ông
Thánh ở trên trời tin cũng được, không tin cũng chẳng làm sao. Gia đình tôi đầy
đủ. Tôi chẳng phải lo toan gì cho hôm nay và cả cho ngày mai. Tôi muốn sống ở
đâu cũng được: nơi đô thành náo nhiệt, nơi đồng quê thanh vắng yên bình thậm
chí muốn xuất dương lúc nào cũng dễ. Tôi lao vào các thú vui chơi tiêu khiển
mãi rồi cũng chán ngắt. Tôi cảm nghĩ như giữa cái sống và cái chết chẳng khác
gì nhau. Trước làn súng đạn tôi cứ đi
bừa giữa hai bên chiến tuyến. Dường như không ai thèm giết tôi! Hay là súng đạn
nó khinh tôi? Mọi người khinh tôi! Anh khinh tôi! Thằng bé cũng khinh tôi! Tới
lúc tôi chợt nhận ra cái nỗi đau đến tận cùng của một sinh linh bé bỏng. Tôi
linh cảm một điều gì và bỗng dưng nghĩ tới con la của vị giáo hoàng Bonitaque xứ Provence. Anh nhớ không?
Cùng lúc ấy thức dậy trong tôi một tình yêu thương, một niềm căm hận…
Anh xúc động chớp chớp đôi hàng mi:
- Cuối cùng thì cú đá của con la ấy bọn Tistée Védel lãnh trọn rồi! Tôi tin rằng ở mãi xứ Pampériguste xa xôi mọi người đều
nhìn thấy dấu tích của những tên xâm lược trong đám khói bom lơ lửng trên trời!
Anh vỗ vào bao súng anh bạn Nghĩa đeo bên hông
- Chắc hẳn trong giờ phút cuối thế nào thằng bé cũng nói: «Ceci ganster, à toi… Accepptez»! (Này thằng côn đồ, của mày đây… Nhận lấy!) – và anh kéo người bạn
sát vào mình.
Những người ngồi nghe câu chuyện dù là hư hư thực thực ấy vẫn đồng cảm
với người thầy thuốc trẻ. Hương Giang quay qua Nghĩa:
- Anh ấy còn kiêm cả nhà văn nữa đấy!
- Anh biết… Lúc gian khổ mà có chút tâm hồn nghệ sỹ làm cho con người ta
bay bổng lên, quên đi những khó khăn cũng là hay. Nhưng làm sao đừng như con
diều gặp gió đứt dây để con người lơ lửng chân không chạm đất, lưng chẳng đụng trời
thì chưa biết sẽ thế nào!
Hương Giang cảm nhận anh Nghĩa cố giấu một điều gì. Thời binh lửa này, những điều người thân giữ kín không muốn nói cho nhau
nghe thường là những chuyện buồn, cô linh cảm
là một sự chia xa nên không dám gặng hỏi người yêu. Nghĩa cầm cuốn sổ lưu
niệm của Hương Giang mà thường cô gái học sinh nào cũng có:
- Anh làm thơ dở lắm nhưng anh
chép lại tặng em một bài sao mà nó giống với tình cảnh của chúng mình như thế…
Lúc Nghĩa lên đường, Hương Giang trao cho anh một chiếc phong bì và dặn:
- Chỉ khi nào thấy nhớ em thì anh mới được đọc thôi đấy nhé!
Chia tay Hương Giang, trên đường về
xuôi Nghĩa ghé quê nội tìm chú thím.
Một buổi chiều anh đi đò ngang qua bến Trung Hà. Trời cuối năm, sông mênh
mông, nước chảy xiết. Gió hun hút lạnh. Hai con đò qua lại sát nhau, bỗng tiếng
kêu cứu gần như tuyệt vọng của một giọng nữ thét lên:
- Anh
Nghĩa! Cứu… em!
Cùng lúc
một người từ con đò bên nhẩy vội sang đò anh.
Cả hai con
đò cùng chòng chành và người ấy rơi tòm xuống nước. Nghĩa không chần chờ, anh
chỉ kịp buông tuột chiếc ba lô
và nhẩy ào theo.
Mấy chiếc
đò quây lại và phải vất vả lắm người ta mới lôi được cả hai người lạnh cóng gần
như chết đuối lên bờ.
Cô gái hai
tay bị trói giật ra sau. Anh bộ đội quần áo, súng, giầy… lẵng nhẵng.
Người con gái ấy là Nhài, đang là tù nhân trên đường áp giải đi.
Sau khi mấy người áp giải xem xét giấy tờ của Nghĩa và anh hỏi Nhài phạm
tội lỗi gì. Anh nhận:
- Nó là đứa em con bà dì, lên thành phố sống với gia đình tôi đã nhiều
năm.
Đương nhiên mấy anh đây chỉ là người thừa hành nhiệm vụ. Nghĩa xin được
cùng theo em về điểm đến.
Thật là Trời giúp vì anh Trưởng ty công an từng là đồng đội với Nghĩa.
Việc anh xin cho em thoát nạn không khó khăn gì.
Hai anh em thêm vui bạn đường đi tìm chú thím.
Nhài thổn thức kể nỗi đoạn trường: Nó tìm về quê Thái Bình thì cả làng tứ tán vì nạn đói. Không ai biết
cha mẹ anh chị em nó sống chết hoặc phiêu bạt nơi nào. Nó qua Hưng Yên thì
những người quen cũng đang ngắc ngoải. Tứ cố vô thân. Người ta khuyên nó quay
lên thành phố. Trên đường đi nghe nói chiến tranh đã nổ ra rồi, nó không biết
tìm về đâu nữa. Đã lên thành phố mấy năm dù là đi ở nhưng nó cũng không lẫn với những người nhà quê đựơc. Có
lần nghe lõm bõm nếu cậu mợ Phán có tản cư thì sẽ về quê nội ở Hà Đông, thế là
nó quyết lặn lội đi tìm. Con gái mười tám đôi mươi hơ hớ, vô công rồi nghề, cứ
lang thang bến đò, đường này xã nọ, xóm chợ phố đông, ghé đây tạt đó, dò hỏi lung tung thì sao
tránh được người ta không nghi ngờ là gián điệp. Rồi đến lúc nó bị bắt với đầy
đủ tang chứng trên người: Ba bốn cái áo mặc đụp mặc kép với các màu trắng,
xanh, nâu, đỏ. Đúng là màu cờ “tam
tài” của Pháp! Chiếc nón trắng với dây quai xanh, đỏ cũng là mối oan
khiên khó giải. Gương lược của người con gái cũng là mối nghi ngờ! Cuộn chỉ
thêu đủ màu cũng là tai họa! Các vật dụng vô hồn ấy không thể thanh minh cho
chủ của chúng có dùng để làm ám hiệu hoặc công cụ của bọn chỉ điểm tay sai!
Người ta lục soát trong người còn lôi ra cái túi nhỏ giấu kỹ càng kín đáo
với mớ tiền Đông Dương thời Pháp thuộc
và bài thơ dấm dớ tỏ tình cổ lỗ tân thời lẫn lộn của tên Trần Thanh Nho nào đó
đã thành nỗi oan nghiệt mà Nhài không thể nào gỡ ra cho mình cái tội tày đình:
Việt gian do thám! Sau mấy tháng tạm giam, bây giờ chắc là họ dẫn đi đến chỗ
tận cùng!
Nhài ôm lấy Nghĩa khóc nức nở nhiều lần, coi anh như vị thần hộ mạng.
Nhiều đêm ngủ nó còn giật mình thảng thốt thét lên khi nghĩ tới một đoàn năm
bẩy người cùng với nó hai tay bị trói giật ra sau lầm lũi ngày đêm mà không
biết làm gì để tìm ra người cứu mạng.
Hai anh em gặp được chú và cả bác Tham trong khi đang chuẩn bị cho thím
và các em trở về thành phố vào những ngày giáp Tết.
Nhài xin đi theo bà Phán:
- Cháu xin được làm con cậu mợ. Cháu sẽ coi mình như đứa con gái lớn của
gia đình.
Lúc chia tay, Nhài nói riêng với anh Nghĩa:
- Nếu anh có gặp anh Nhỏ à quên, anh Nho của em thì đừng kể chuyện em
suýt chết vì anh ấy nhé. Anh nhớ nói hộ em là giá như biết chỗ anh ấy ở đâu thì
em cũng lặn lội đi tìm. Nhưng bây giờ thì em chỉ biết một lòng chờ cho dù anh
ấy thế nào! Anh đừng quên đấy nhé!

No comments:
Post a Comment