THẦY
GIÁO HIỂU
{
Thân
mến tặng các thầy giáo
đã một thời
mang áo lính
Tôi đi làm về thấy anh đang đợi ở
nhà. Chúng tôi nhận được nhau ngay dù đã ngót 30 năm xa.
Những người lớn tuổi khuôn mặt ít đổi
thay qua năm tháng. Tôi ngắm nhìn anh: vẫn mái tóc xoăn xoăn tuy đã bạc khá
nhiều, vẫn đôi mắt nheo nheo và hấp háy khi nói và đặc biệt thói quen đã thành
cố tật của anh là cách đi thẳng vào đề có trọng tâm, mục đích theo thứ tự một,
hai: “Tôi mới nghỉ hưu, phải làm một chuyến thăm lại Miền Nam với hai mục đích:
Thứ nhất là tìm gặp anh – một người tôi mãi nhớ ơn; Thứ hai là tìm hài cốt
thằng bạn cùng quê, cùng đơn vị, nó đã hy sinh ở chiến trường Long An hồi năm
1969”.
Ngay tại nhà tôi mà anh tỏ lời nhớ ơn!
Tôi tin đây không phải là lời cửa miệng lấy lòng. Hình như A.Tolsoi nói một câu
đại ý: Trong chiến tranh người ta bộc lộ rõ cái lõi nhân phẩm của mình.
Tôi với anh có một thời gian khá dài
cùng nhau sống ở chiến trường Miền Nam hồi cuộc chiến tranh chống Mỹ
khốc liệt nhất: năm 1969 – Cuộc phản công và bình định quyết liệt của Mỹ-Ngụy
sau Mậu Thân 1968, rồi Bác Hồ qua đời! Chúng tôi không thể nào quên những ngày
đau thương u ám ấy: Các đơn vị luôn bị tiêu hao quân số mà không được bổ sung;
Khí tài hư hao trong khi địch luôn chà sát mà ta phải dè sẻn từng viên đạn;
Lương thực thiếu, nhiều khi mỗi đơn vị phải tự lo xoay xở; Trên đầu, tối ngày
máy bay trực thăng rà sát các cụm địa hình, phát loa oang oang những lời kêu
gọi chiêu hồi kiểu tâm lý chiến và đôi khi nghe rõ mồn một cả những giọng quen
thuộc của một vài đồng đội hoang mang bỏ cuộc nhắn gọi về...
Tôi là bác sĩ, phụ trách một cánh phẫu thuật tiền phương, được
giao thêm nhiệm vụ mở một lớp đào tạo y tá cấp tốc.
Ngay tại chiến trường, một lớp học tròm
trèm hai mươi người, cộng với số thương binh không chừng nữa! Ai có qua rồi mới
biết. Nhưng đây là lệnh của cấp trên! Cũng may là trong điều kiện ấy, chỉ trừ
những thương binh nặng còn ai cũng tự xác định công việc cho mình, kể cả chiến
đấu một khi cần đến.
Ngày khai giảng, chúng tôi ngồi lúp xúp
trong một cụm địa hình, mỗi người một cái thùng đựng đạn đại liên của Mỹ, có
thể làm bàn, làm ghế, làm rương đựng sách vở không sợ nắng mưa. Tôi nói mấy
câu: Học trong điều kiện này là khó khăn vất vả, vừa học vừa lo thương binh vừa
lo tự túc và có thể phải chiến đấu nữa. Tất cả chúng ta đều phải ráng, chỉ
trong ba tháng là cùng. Anh được cử phát biểu thay cho cả lớp. Ngồi trên thùng
đại liên đôi mắt nheo nheo hấp háy, anh nói chậm rãi, rõ ràng:
- Tôi được hân hạnh thay mặt cho anh em
phát biểu trong buổi khai giảng lớp học đặc biệt hôm nay. Trọng tâm có ba ý
chính: Một là… thật tình chẳng ai muốn rời đơn vị đi học thêm nghề y tá. Bình
thường mỗi chiến sỹ đều có một khẩu súng và vài băng đạn, giờ lại thêm một túi
thuốc bên mình. Trong chiến đấu vẫn chịu một mũi, lại còn lo cho cả thương
binh! Nhưng đã là nhiệm vụ trên giao thì dù khó mấy thầy trò ta cũng phải ráng
cùng nhau hoàn thành. Hai là mong lớp học kết thúc càng sớm càng hay. Ba là xin
thay mặt “riêng tôi” được nói lên cảm xúc của mình: Thời thơ ấu và niên thiếu,
được cha mẹ nuôi cho ăn học đến qua Đại học, rồi được làm thầy. Tôi đã truyền
đạt cho nhiều lớp học sinh về truyền thống yêu nước và văn hiến của cha ông ta.
Rồi được gia nhập QĐNDVN, được vào Miền Nam tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu
nước, nào hay giờ đây lại được làm trò. Thuở nhỏ còn là ham muốn, giờ đây là
nhiệm vụ! Nhưng dù ở vị trí nào thì cũng như bộ phận của một chiếc đồng hồ theo
lời Bác Hồ đã từng khuyên nhủ, tôi hứa sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình. Chúc lớp
học của chúng ta sớm kết thúc thắng lợi!
Sau lần anh ra mắt chân thật có pha chút
cay đắng ấy, chúng tôi đề nghị với trên được giao cho anh kiêm thêm nhiệm vụ:
giảng viên văn hóa. Vậy là anh vừa làm trò vừa làm thầy. Giờ chuyên môn tôi giảng, anh
ngồi học như mọi người. Giờ bổ túc văn hóa anh giảng cả văn lẫn toán. Bài anh
giảng gọn, sát chủ đề, không văn hoa bay bướm. Anh thường nói:
- Ở đời làm gì cũng phải có trọng tâm,
đó là cái đích của mình, vậy thì cứ nhắm thẳng vào nó mà bắn, cần chi phải văn
hoa, dài dòng. Cái biệt danh “Anh giáo trọng tâm” sinh ra từ đó.
Vậy mà có lần anh bị lệch trọng tâm nhưng
kết quả thật bất ngờ.
Chẳng là ngoài ấp giữa đồng có ông già
“Hai khói lửa”. Không ai biết tên thật của ông nhưng người ta truyền miệng với
nhau rằng hồi kháng chiến chín năm, ông cũng là “cán bộ mùa thu”, làm gì đó ở
trên Huyện. Sau năm 1954, hồi còn “điều lắng” –
đó là thời kỳ đen tối nhất cho những người ở Miền Nam đã tham gia kháng chiến đánh
Tây, ông bị bắt. Chừng một năm sau ông được tha về. Không hiểu sao từ đó ông
rất ít giao du. Nếu có ai muốn tìm cách gần ông thì ông lảng tránh. Ông sống âm
thầm như một cái bóng cô đơn! Người ta kể lại rằng có lần bọn lính ngụy càn
quấy, dân ấp chịu hết nổi, ông chỉ mặt viên chỉ huy hỏi gằn:
- Mấy chú vẫn nói “quốc gia” chính nghĩa
mà sao mần vậy?
Tên Thiếu úy đồn trưởng “bảo an” cười
đểu bảo ông:
- Vậy chứ quốc gia tụi tui không chính
nghĩa cớ sao ông về hồi chánh mần chi?!
Ông già tái mặt, lẳng lặng tới đầu hồi,
lấy cây phảng ra chém cỏ lia lịa ở đầu bờ, nước mắt chảy ròng!
Đôi lần cán bộ ta cố tìm tới gặp thì ông
nói thẳng:
- Tôi chẳng giúp gì được mấy chú đâu!
Lần ấy, các cơ quan Quân-Dân-Chính phối
hợp tổ chức đột ấp. Mỗi bộ phận một nhiệm vụ: Các đoàn thể thì tuyên truyền
chính sách của Mặt trận Giải Phóng, động viên móc nối người đầu quân tham gia
cách mạng; Kinh tài thu thuế; Quân y nhờ mua lương thực, thuốc men, có khi mua
chịu… Mấy anh em lính cũ rành rọt thì lánh nhà ông, họ đẩy anh vô.
Ông già ngồi thù lù giữa nhà với cây đèn
dầu leo lét. Cô gái út ngồi ghé bên bộ ván phía sau. Thấy không khí tẻ nhạt,
anh giáo ta lên tiếng trước:
- Chào chú Hai! Hôm nay chúng cháu vô
thăm bà con xóm ấp…
Ông già lạnh lùng:
- Thăm bà con xóm ấp thì vô đây mần
chi?!
Anh giáo ta cụt hứng nhưng chẳng lẽ bỏ
ra. Cô gái lấm lét nhìn ông già và anh giáo. Không khí nặng nề. Thầy giáo ta
lúng túng. Vẫn giọng lạnh lùng:
- Mấy chú cần chi?
Anh giáo liền tỏ ra cứng cỏi:
- Thưa chú Hai, Cách mạng chúng cháu cần
rất nhiều, nhưng cái trọng tâm cần hơn hết là sự thương yêu, đùm bọc của dân!
Đúng là anh có đi lệch trọng tâm của
buổi đột ấp này! Vẫn lạnh lùng nhưng bớt phần gay gắt:
- Mấy chú thiếu chi?
Anh đã chủ động, bước sang thế tấn công:
- Thưa chú Hai, Cách mạng chúng cháu thì
cái gì cũng thiếu, chỉ có thừa lòng quyết tâm đánh giặc ngoại xâm cứu nước mà
thôi!
Nét mặt ông già trùng xuống, ánh mắt
nhìn anh giáo dịu đi. Ông chỉ chiếc ghế bảo anh ngồi rồi rót đưa cho anh ly
nước. Giọng ông nhẹ hơn:
- Chú ở ngoải mới vô hà?
- Dạ, cháu thì mới nhưng ở đây nhiều anh
em vô cũng lâu rồi, có cả anh em người địa phương đây nữa. Tất cả chúng cháu
chỉ có một trọng tâm là cùng với đồng bào miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương,
thống nhất đất nước mà thôi!
Lời anh nói chững chạc mà thấm thía. Ông
già trầm ngâm, nhìn anh, gật gật đầu rồi quay qua phía cô gái
- Út, bay xem anh em cần chi thì lo cho
mấy ảnh!
Rồi ông đứng dậy lui vào nhà trong ý
muốn né đi.
Chuyến ấy vậy mà thành công: thuốc, gạo,
mắm, thịt, khô… đủ cả.
Sau
này cũng chỉ có anh là ông già chịu ngồi nói chuyện. Cô Út kể rằng khi ngồi
nhâm nhy ly rượu một mình, ông tâm sự với vợ con:
- Giải phóng người ta chiến đấu có chính
nghĩa thật sự. Họ có học, có lòng tin, chịu khổ và biết dựa vào dân nên trước
sau rồi cũng thắng. Đứa nào không chịu được khó khăn, chết chóc thì thôi. Đứa
nào theo được thì hãy theo cho đến cùng! – Nước mắt ông rơm rớm!
Dần
dà mấy người con trai của ông trốn lính cả hai bên đều lần lượt tham gia vào
các đoàn thể của cách mạng. Cô Út cũng nhấp nhổm muốn đi nhưng ông kêu “anh
giáo” ra và chỉ thị:
- Tao chỉ còn mình nó đỡ đần mọi việc
trong nhà. Nó mà đi nữa là tao với bả gãy tay! Vả lại con gái lớn đi ở chung
chạ tao không yên lòng. Đó là trách nhiệm của tụi bay. Nó mà bỏ đi là “khói
lửa” đó nghe!
Đâu có ai dám trái lời ông. Nhưng cô Út
đã thành một cơ sở chủ chốt của ta. Hai người có lén lút tình ý với nhau hay
không thì tôi không rõ, nhưng tôi biết chắc anh đã có vợ và hai con gái ở quê.
Hình vợ con anh tôi có được coi. Nhưng tình cảm của gia đình “ông già khói lửa”
với anh thì thật là đặc biệt.
Khi giải tán lớp học, tôi xin giữ anh
lại và anh đã giúp tôi nhiều việc: Bồi dưỡng văn hóa cho anh em những lúc rảnh
rang; làm quản lý gồm cả việc kế toán, thủ quỹ và kiêm luôn tiếp phẩm. Anh đã
thể hiện tính trung thực và được chúng tôi tin. Anh cũng tâm đắc với tôi vì tôi
võ vẽ chút văn chương. Anh thuộc lòng bài “Nam quốc ca” của Lý Thường kệt, “Hịch
tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn
độc lập” của Bác Hồ... Anh mê văn học Pháp. Anh tâm sự với tôi: Văn học phương
Tây thật phong phú, nó mang đậm tính triết học và tính nhân văn nhưng văn học
Pháp dễ hòa hợp với tâm hồn người Á Đông mình hơn. Anh thuộc nhiều thơ dịch của
V.Hugo, La Fontaine, Aragon và đặc biệt anh độc thuộc lòng cho tôi nghe một
đoạn dài truyện ngắn “Đứa trẻ gián điệp” của A.Daudet. Đêm tối, giọng anh trầm
trần càng lúc càng nhỏ, nghẹn ngào… Cho đến nay nhớ lại, tôi vẫn hình dung bóng
dáng già nua của ông lão cựu chiến binh Xten:… “tay xách súng, tay nắm chặt mớ
tiền đồng mà thằng nhỏ con ông lỡ nhận từ tay quân Phổ, ông lầm lũi đi trong
bóng đêm, lặng lẽ nhập vào Tiểu đoàn dân quân Pháp, tiến vào trận địa của quân
xâm lược Phổ”… Ông đã trả giá bằng cả sinh mạng mình cho sự dại dột của đứa con
ông!
Có lần tôi gợi ý anh làm đơn xin gia
nhập Đảng. Anh bảo rằng để anh suy nghĩ rồi sẽ trả lời. Ít lâu sau, nhân lúc
vắng người, anh gặp tôi, hai đứa ngồi chung một võng và anh thổ lộ:
- Tôi rất cám ơn thiện chí của anh,
nhưng thú thật là tôi không biết dối lòng. Tôi cứ nói hết ra, anh hiểu thế nào
là tùy ở anh. Thầy tôi hồi kháng chiến chống Pháp cũng là đảng viên. Trong Cải
cách ruộng đất, gia đình tôi bị quy là phú nông trong khi chỉ có dăm sào ruộng!
Thầy tôi bị khai trừ Đảng và sau đó bị bắt vì bênh vực cho mấy đồng chí đảng
viên bị quy sai là địa chủ! Họ kết tội phú nông với địa chủ cấu kết với nhau!
Mẹ tôi vì buồn lo mà chết. Anh em tôi nheo nhóc một thời. Sửa sai, thầy tôi về
nhà, người ta đề nghị cụ ra làm việc và hứa phục hồi mọi quyền lợi nhưng thầy
tôi không nhận, về nhà làm ruộng vì cụ thấy nhiều người cùng thời với cụ, có
người còn do cụ gây dựng nên, họ hiểu rất rõ về thầy tôi, lúc đó họ ở trên
Huyện, trên Tỉnh song ông nào cũng lánh mặt, chẳng ai dám đứng ra minh oan cho
cụ. Đến lúc sửa sai, mấy ông quay lại an ủi động viên thầy tôi! Cụ nói rằng là
người Cộng sản không phải chỉ biết dũng cảm sống chết với kẻ thù trong đấu
tranh trực diện, mà khi thành công cần phải dũng cảm bảo vệ sự thật, không được
dối mình, dối Đảng dù rằng có thể liên lụy tới mình. Chấp nhận về với thân phận
dân cày là cách thầy tôi tỏ ý bất hợp tác với số người chức quyền cơ hội. Tôi
không cho rằng tất cả những người có chức quyền đều là cơ hội nhưng những kẻ cơ
hội bao giờ cũng dễ tiến thân! Thôi thì trước sau mình cũng làm dân, làm người
dân lương thiện, lúc nước nhà có biến mình không trốn tránh trách nhiệm làm
dân. Rồi ra mình phải lo cho cái gia đình cỏn con mà vĩ đại của mình nữa. Thú
thật với anh, tôi lúc nào cũng lo cho mẹ con nó ở nhà. Mình là cây cột cái,
vắng mình cái nhà chông chênh lắm! Dù sao thì ở đây anh hãy tin tôi, tôi biết
làm những gì để giữ danh dự cho mình, cho quê hương, cha me, vợ con mình...
Đương nhiên là tôi rất tôn trọng chính
kiến của anh và càng quí mến một con người chân thật như anh.
Thời gian sau, đơn vị phiên chế lại. Tôi
giới thiệu anh về Phòng Chính trị Quân khu, làm Trợ lý Văn hóa. Và từ đó đến
nay mới gặp lại nhau.
Mấy mươi năm xa
cách, bao nhiêu vật đổi sao dời. Anh tâm tình với tôi về khoảng thời gian xa
nhau ấy:
- Kể đã hai mươi mấy năm trời, gần một phần tư thế kỷ,
nghĩ lại còn thấy kinh hoàng! Nó dài dằng dặc mà lại ngắn ngủi vô cùng! Đời
chúng mình sắp tới chân dốc bên kia của cuộc đời rồi… Hòa bình! Người về nguyên
quán, người trôi về thành thị. Còn tôi lại được điều về đơn vị đi khai hoang
giữa đồng bưng gần biên giới! Tôi lại làm giáo viên văn hóa, so với anh em cuốc
cày thì chẳng cực nhưng không thể rút ra! Thầy tôi đã mất hồi năm 1970 lúc cụ
chưa đến độ tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng chắc là vừa lao tâm vừa lao lực trong cái cảnh khổ cực buồn đời,
sống được đến tuổi sáu lăm đã là thọ lắm. Vợ xa chồng, con vắng cha thì giaĐỌC TIẾP
No comments:
Post a Comment