cảnh chỉ có xác xơ! Tôi trình bày với đủ
các cấp mà người ta chẳng tha cho. Cuối cùng, tôi phải tính “bài liều”: mỗi
tuần dăm lá thư gửi tứ tung đồng thời cáo bệnh liên miên coi như người vô dụng.
Dần dần người ta cũng chán! May mà hồi ấy tôi chẳng nghe anh chứ nếu vào Đảng
rồi thì kẹt! Ai mà chẳng sợ bị khai trừ ra khỏi Đảng mặc dù thiếu gì người ở
trong Đảng nhưng khác chi người khách trọ! Tôi được phục viên với quân hàm
chuẩn úy.
Quê tôi ở Hà Bắc, lúc ra trường lại được
phân công về dạy học ở một huyện miền núi Quảng Ninh. Chính phủ có công văn
rằng ai ra đi ở đâu thì lại trở về nguyên nơi đó. Đã mấy năm ở miền núi lại
tám, chín năm trời ở miền Nam ,
chẳng lẽ bây giờ vẫn lại xa nhà!
Cầy cục chật vật lắm, chạy lên chạy
xuống, chạy ngược chạy xuôi, năn nỉ ỉ ôi chán, cũng có người thông cảm, có
người dửng dưng, cũng có khi quà cáp chút đỉnh gọi là tình cảm, cuối cùng được
về dạy học ở trường huyện quê nhà. Vậy mà vẫn phải nặng lòng mang ơn những
người giúp cho mình đi và những người nhận cho mình đến! Chính sách ư ? Cả nước
này đến hai phần ba dân số đều thuộc diện chính sách anh ơi! Còn chuyện lương
lậu nữa. Anh tính hồi đó lương chuẩn úy chưa tới sáu mươi đồng. Khi tôi đi B
lương giáo viên cấp III lại hơn sáu mươi đồn! Giờ tính sao? Chẳng lẽ người ta
lại xếp lương mình như lương người mới ra trường! Vậy là họ cho hưởng lương như
lúc đi B, đã là một sự ưu tiên! Sau này có một hai lần lên lương, họ ưu ái sớm
cho được một năm theo niên hạn. Dù sao thì so với bạn bè ở lại mình cũng chỉ
bằng thằng lẹt đẹt! Còn thua xa những thằng may mắn! Nhưng huân chương thì đứa
nào cũng được một cái kháng chiến hạng ba!
Anh biết không, thầy tôi là con trai
một, đến tôi cũng vậy, mà cụ là trưởng tộc. Lúc tôi đi B thầy tôi buồn lắm. Nay
dù nghèo túng mấy cũng phải sinh ra được một thằng cu nối dõi tông đường cho
thỏa vong linh cụ. Mình lớn tuổi rồi mà vợ mình thì cái già nó cũng đang xồng
xộc theo sau. Tôi “đẩy” liền năm năm ba đứa nhưng con chỉ một dòng giống… mẹ!
Cũng là cái số của mình. Tôi đành chịu lỗi với thầy tôi! Đứa thứ ba không tính,
coi như chuyện “vui vẻ sum vầy”. Đứa thứ tư, tôi nghiên cứu sách y học của các
anh kỹ lắm, từ chế độ ăn, ngày giờ, chu kỳ phụ nữ... nhưng xem ra y học vẫn còn
là may rủi, ít ra thì cũng ở lĩnh vực này! Đứa thứ năm, nói ra xin anh đừng
cười, chúng tôi đi cầu tự hẳn hoi! Hồi đầu những năm 1980 khổ thế mà vợ chồng
tôi vẫn liều đưa nhau đi lễ chùa Hương. Vợ tôi lựa những ông Phật đá phúc hậu,
to tròn, vừa xoa đầu Phật vừa thành tâm khấn vái, về nhà còn chịu ăn chay, lễ
bái trong những ngày một, ngày rằm. Tâm thành là thế mà cũng chẳng được toại
lòng. Năm ấy, vợ tôi ngoài bốn mươi, cuộc sống lại cơ cực, đói chẳng ra đói, no
chẳng ra no, sức đâu mà đẻ! Hết Bệnh viện huyện rồi Bệnh viện tỉnh, cuối cùng
người ta phải mổ lấy con ra! Khốn khổ đứa bé chỉ có hai ký tư thôi, người ta
triệt sản luôn chẳng thèm hỏi ý kiến mình! Chuyến ấy cửa nhà rỗng tuếch! Chỉ
còn biết trông vào đồng lương. Những lúc kẹt tiền, họ trả lương bằng hiện vật!
Có khi là mấy cân sữa bột, loại sữa đóng trong bao như bao xi măng ấy! Có khi
là dăm cân phân bón! Lại phải tìm cách tiêu thụ rồi quay ra mua gạo. Thực ra
theo tiêu chuẩn quy định thì người đẻ cũng không phải ăn độn ngô, độn sắn, độn
khoai. Nhưng khốn nỗi có gạo đâu mà họ bán cho mình? Vả lại đến cuối tháng sau
vẫn chưa được mua hết gạo của tháng trước, anh ạ! Tôi cứ xoay như chong chóng!
Đứa bé quặt quẹo, còm cõi! Sữa đâu mà bú?! Muốn được mua sữa cung cấp thì phải
qua y tế: Trước khi kiểm tra, người ta cho mẹ uống một cốc vại nước đường và ăn
hai quả chuối, chờ mười lăm phút sau, “vắt” còn thấy ra “nước” thì chưa thuộc
diện “mất sữa hoàn toàn”, chỉ được cấp “phiếu loại hai” – được bốn hộp sữa một
tháng, nghĩa là mỗi tuần một hộp! Tội nghiệp cho con bé, được hơn một năm, vào
dịp giáp Tết cháu mất vì viêm phổi! – Giọng anh buồn buồn, tủi tủi.
Cả hai chúng tôi đều không hút thuốc.
Tôi rót tiếp trà vào chén của anh. Dường như bao điều buồn đau chất chứa, nay
có người bạn để thổ lộ tâm can, nói ra được thì thấy nhẹ lòng. Anh nhắp chén
trà rồi tiếp:
- Khổ quá, cả tâm lẫn lực, nhiều đêm đói
lòng không ngủ được, trằn trọc, nghĩ mà thương vợ xót con. Mấy thằng khôn khéo,
êm re thoát qua khói lửa chiến tranh, giờ có tiếng lại có miếng! Nhưng nghĩ đến
những bạn bè chiến đấu, lại thấy mình vẫn còn may! Tôi nói biết ơn anh là từ
đáy lòng tôi đấy. Ngày đó anh không giữ tôi lại chắc là tôi cũng tiêu rồi! Cả
trung đội của tôi không còn sót được lấy một thằng! Cứ hao mòn dần bởi biệt
kích, trực thăng, trái gài, pháo dùi, pháo chụp… À, chỉ còn có mỗi một thằng,
chịu không nổi, nó “quặp” luôn một bà già ngoài đồng rồi lủi biệt tích, đến hoà
bình cũng không thấy “sủi tăm” ở chỗ nào! Chiến tranh thì khổ, nhưng chỉ khổ
một mình, một bề. Hòa bình rồi, mình phải chịu trách nhiệm với cả năm, bảy mạng
người thân thích, ruột rà với cả một tương lai vô định. Nhiều khi tôi rất hoang
mang, nghĩ lại còn rùng mình! Chức tước thì tuy mình có đi “B” đấy nhưng chẳng
phải đảng viên, lại không khôn khéo, nên trưởng, phó chẳng đến lượt mình, dù
năm nào cũng được bình là giáo viên dạy giỏi và liên tục được giao chức tổ
trưởng bộ môn. Ôi, cái môn Văn bây giờ thì có ra gì! Ai viết chẳng được! Ai nói
chẳng hay! Một ông lớn gọi là có bằng nọ cấp kia đấy, phát biểu cả tiếng đồng
hồ âm “l” và “n” vẫn còn lẫn lộn, ngọng líu lo mà cả ngàn cử tọa vỗ tay rầm
rầm! Nhưng cái nghề của mình thì đâu bỏ được. Nghề với nghiệp mà. Tôi cũng chẳng
ân hận, oán trách gì về mình đã chọn nghề thầy giáo. Nguyễn Du nói rồi: “Đã
mang lấy nghiệp vào thân – Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Có điều
là nếu chỉ lo “giáo” không thôi thì chết “ráo” phải “giở” qua nghề tay trái nữa
anh ạ… Và tôi đi buôn! – Ghé sát vào tôi anh nói nhỏ hai chữ “đi buôn”.
Tôi bật cười nhìn anh kinh ngạc và thán
phục:
- Thầy giáo Hiểu mà đi buôn được à?!
Anh tủm tỉm cười:
- Thì đi buôn đã có gì là xấu?! Từ ngày
có kinh tế thị trường người ta không phải chỉ mở mấy cái “cửa chính” thôi đâu
nghen. Các ngõ hẻm, đường mòn trên rừng dưới biển đều mở ra thông thống! Không
phải chỉ có buôn bán hàng hóa, mà ở trên đời này cái gì người ta cũng có thể
buôn bán ráo trọi! (Anh nhái theo kiểu nói của người miền Nam ) Chỉ trừ có vũ khí là điều bí
mật quốc phòng, mình không biết chắc nên không dám nói, chứ còn là buôn người,
buôn quan bán tước thì báo chí đã nói đầy ra đấy! Đáng buồn cho cái giới mà
trước đây thế hệ chúng mình một thời ngưỡng vọng. Bằng cấp, học vị, học hàm đâu
hẳn đã là thực chất! Tôi chỉ là anh giáo quê quèn mà đôi lúc nghĩ về cái
“nghiệp thầy” mình khoác trên vai cũng thấy tủi tủi trong lòng. Rõ là “quít làm
cam chịu”! – Vẻ trầm ngâm, nắm lấy tay tôi lay lay, anh nói tiếp:
- Ấy vậy mà cũng nhờ đi buôn, gia đình
tôi mới “cải thiện” được đấy anh ạ. “Phi phương bất phú” mà!
Tôi ngắt lời anh:
- Anh đi buôn lậu à? Vốn đâu mà buôn?
Như không phản ứng với câu hỏi sỗ sàng
của tôi, vẫn giọng bình tĩnh, anh kể:
- Đói thì đầu gối phải bò chứ sao! Anh
tưởng buôn lậu dễ lắm đó hả? Anh không biết người ta vẫn nói “mạnh vì gạo, bạo
vì tiền” sao? Muốn buôn lậu thì phải có vốn to. Anh còn lạ gì suốt mấy chục năm
kinh tế tập thể ở miền Bắc nhà mình, ai mà có được vốn liếng riêng tư?! Họa
chăng thì chỉ có mấy anh nếu không nắm quyền thu quyền phát thì cũng nắm quyền
đi đó, đi đây. Còn loại tép riu như tôi thì chỉ có làm thân “cửu vạn” hoặc khá
hơn là cò con chạy mánh! Nếu hiểu nghĩa “lậu” như anh tức là không thực thi
đúng các quy định của Nhà nước thì tôi xin lỗi, anh đừng giận, ngay cả mấy
“Phòng mạch Bác sĩ” nhà các anh liệu có “lậu” không? Tôi đông con, bệnh hoạn ốm
đau nhiều tôi biết rõ! Vậy thì cả nước này chỉ có mấy anh nhà quê cù lần ngây
dại chúng tôi chịu đói meo là không lậu! Lương ngạch chính xếp theo bảng lương
Nhà nước chỉ có trên một triệu đồng, vậy mà ai nấy cứ sống phây phây, lại còn
dư tiền làm việc phúc?! Chỉ “đổi mới” có mấy năm thôi mà ông này, bà nọ, có khi
cả một bầy con nữa đã có năm, bảy cổ phần to lớn trong các Công ty liên doanh,
liên kết?! Như anh, như tôi, liệu có được thế không?! Vốn của họ từ đâu mà có?
– Anh tựa lưng vào thành ghế, mắt hơi mơ màng nhìn về phía xa xăm, giọng anh
nghiêm trang, thành kính:
- Suốt đời tôi nhớ ơn thầy tôi. Những
ông bố Việt Nam
thật tuyệt. Ông dạy các con phải sống nên người, trước hết ông biết sống để làm
gương, hơn nữa ông biết nhìn xa lo đỡ cho con giữ trọn được đạo làm người. Đời
thầy tôi gian truân là thế, bấy nhiêu năm mà cụ vẫn tằn tiện, chắt chiu, thắt
lưng buộc bụng cho con, được một số tiền cũng khá, cụ gửi vào Ngân Hàng Nhà nước
Việt Nam. Đùng một cái đổi tiền coi như xóa sạch! May mà cũng còn được một lạng
vàng, không hiểu có từ lúc nào, cụ giao cho vợ tôi lúc cụ thấy yếu rồi, căn dặn
hãy giữ kỹ cho tôi, phòng cho con lúc sa cơ lỡ vận!
Anh chớp chớp mắt, hình như anh khóc. Ánh đèn
mù mờ, tôi không nhìn rõ được những giọt nước mắt của anh
- “Có bột mới gột nên hồ” anh ạ! Là tổ
trưởng bộ môn, tôi lo sắp xếp kế hoạch hàng tuần, anh em mỗi người dạy dồn lại
trong hai, ba buổi, vậy là ai cũng có thì giờ toan tính chuyện gia đình. Không
ai cắt xén của học sinh một tiết học nào dù có lu bu việc riêng biết mấy. Bắt
chúng nó học dồn đã là sai nguyên tắc sư phạm quá rồi! Từ nhà tôi lên Hà Nội
của anh cũng trên bốn mươi cây có lẻ, vậy mà với chiếc xe đạp cà tàng, tôi đi
như cơm bữa. Sáng đi, chiều tối có mặt ở nhà. Ngày ngót nghét trăm cây số. Các
thầy cua rơ “min đơ” ”min toa” của Vũ Trọng Phụng cũng phải chào thua. Lại có
khi bám tàu lên Lao Cai, Yên Bái. Cũng có lúc nhảy xe lên Móng Cái, Lạng Sơn.
Anh đừng coi thường tôi nhé! Tôi nhảy tàu, nhảy xe khá thạo. Tuy có lúc trầy
đầu gối, phều môi, nhưng dám đảm bảo với anh rằng không sao chết được! “Thập
cẩm ngủ tạng”, cái gì dân quê tôi cần, dò biết đâu có là tôi tìm tới. Bây giờ
mới thật đúng nghĩa thương nghiệp là người nội trợ tốt của nhân dân. Buôn tận
gốc, bán tận ngọn, kể ra thì cũng có lời. Bà con quê hương ai nghèo thì mình
nới tay một chút, xem ra lương tâm cũng không có điều chi day dứt. Đồng nghiệp,
láng giềng lúc đầu có xì xầm, dị nghị, xong rồi cũng quen đi, vả lại mỗi người đều
có một cách riêng lo cho nồi cơm, hũ gạo nhà mình! Giờ thì xin báo để anh chia
sẻ nỗi mừng với tôi: Tôi đã có nhà ngói, cây mít, sân gạch, giếng xây, bể nước
mưa với giàn hoa thiên lý, đèn ống, “tivi”, cả xe bình bịch nữa (anh cười hài).
Bữa cơm chiều có chén rượu thuốc nhâm nhi, khi cá, khi thịt. Vợ con có quần áo
“soa” hoa hoét. Tuy chưa phải là giàu sang, phú quí, nhưng thôi, thế là tàm
tạm, có thể giữ được tiếng thanh bạch cho đến lúc về già. Hai cháu gái lớn đã
vào đại học, học Sư phạm thôi, làm sao mà chen được vào mấy ngành thời thượng,
phải chạy thầy, tìm lớp, hết môn này lại đến môn kia chịu sao xiết! Thôi, dù
sao thì cũng nối được nghiệp nhà. Làm nghề giáo dù có nghèo thì người ta cũng
chỉ có thể coi thường chứ chẳng thể coi khinh. Năm nay tôi tuy chưa đến tuổi
sáu mươi, nhưng tính năm phục vụ thì cũng đủ để về hưu. Thực ra người ta cũng
muốn giữ mình ở lại, vì mình còn làm được việc. Nhưng thôi, chức quyền bổng lộc
gì đâu mà bám trụ hoài. Nghĩ cho cùng, nếu có phát tài, phát lộc ở cái ghế của
mình thì cũng chẳng ai giữ mình ở lại làm gì! Thôi, coi như đã hoàn thành vai
trò lịch sử của mình. Như một diễn viên trên sân khấu, dù vai diễn có hay mấy
đi cũng phải biết rút vào “cánh gà” đúng lúc thì người xem còn lưu luyến. “Vạn
đại vi dân”! Sức mình nay tuy chưa tàn nhưng chẳng còn được bao nhiêu, để dành
củng cố gia đình, cho vợ chồng già thư hả, cho con cái có chỗ dựa về sau. Có lẽ
tôi không thể lặn lội ngược xuôi được nữa. Giờ về củng cố cửa nhà theo cái mô
hình “V.A.C” và nghiên cứu xem có thể phát triển nghề phụ gì thích hợp ở quê
tôi, cũng là một việc ích nước lợi nhà. “Dân giàu nước mạnh” mà anh, chủ trương
đường lối rõ rồi. Tôi được tự do, chẳng bị ràng buộc điều chi!
Anh nhìn tôi, cười rất hồn nhiên.
Đêm
càng khuya, những lời tâm tình tỉ tê của anh nghe càng thấm thía. Tôi thấy
thương bạn mình, thương những người một thời lận đận. Cả hai chúng tôi đều trầm
ngâm, im lặng giờ lâu dường như để san
sẻ cho nhau những cay đắng, ngọt bùi. Gương mặt anh phảng phất nét buồn, giọng
nói anh như có gì dấm dứt:
- Tôi ở đây chơi với anh dăm ngày, sau
đó nhờ anh dẫn xuống Long An để tìm hài cốt thằng bạn cùng quê. Nó ít tuổi hơn
tôi. Lúc đi “B” nó vừa tốt nghiệp lớp 10. Bố nó là liệt sĩ thời đánh Pháp. Nhà
chỉ có một mẹ một con thôi. Nó cũng chẳng xung phong, tình nguyện, nhưng có
giấy goị “động viên” là nó đi thôi. Thằng này khí khái, không thèm xin xỏ, sợ ô
danh dòng máu của cha. Nó với tôi cùng đơn vị, chiến đấu rất dũng cảm và chai
lì lắm. Lẽ ra nó đi học lớp y tá hồi đó, nhưng trước hôm lên đường ba ngày thì
nó bị trực thăng rỉa! Thế là người ta cử tôi đi thay nó. Coi như nó chết thay
tôi! Mẹ nó giờ một thân một mình lủi thủi. Được phong “bà mẹ Việt Nam anh hùng”
mà bà chẳng cảm nhận được sự vinh quang! Bà ở cùng xóm với tôi. Bữa cơm nào bà
cũng như đang ngồi ăn với nó, hai mẹ con một mâm, bát đũa đầy đủ, bà xới cơm và
gắp thức ăn đầy vào bát nó, bà dỗ dành nó như dỗ đứa con nít ngồi bên: “Mày
không ăn thì sao lớn được hả con? Sao mẹ lấy vợ cho con được chớ!”. Nay tôi còn
khỏe mà bà cụ vẫn còn, tôi phải cố gắng tìm được nó về cho bà cụ. Thực ra người
chết rồi nằm đâu cũng vậy. Mình làm nghĩa cử là vì người sống thôi. Và cũng là
để đền ơn người đã chết.
Chiều
lòng anh, tôi xin nghỉ được hai ngày, cùng anh xuống Long An. Chúng tôi thuê xe Taxi đi cho thong
thả. Trên lộ Bốn cũ nay đổi là Quốc lộ Một – Con đường ruột chạy dài theo đất
nước, người xe tấp nập. Qua các khúc Bình Chánh, Bến Lức, Thủ Thừa có vài nơi
chúng tôi nhận ra trước đây chúng tôi đã từng vượt lộ. Cảnh vật khác xưa nhiều.
Bao nhiêu xác đồng đội chúng tôi từng nằm dọc nơi đây! Nhưng ai đã được quy tụ
về nơi yên nghỉ tôn vinh? Còn ai vẫn nằm lẩn khuất bụi bơ? Dường như xúc cảm,
mắt anh đăm đăm nhìn xa xa phía trước. Anh nói với tôi mà cũng như đang nói với
ai:
- Cho đến giờ tôi vẫn chưa phải là đảng
viên Cộng sản nhưng đã ba đời ông cha, con cháu nhà tôi gắn chặt với vận mệnh
của Đảng rồi. Đảng hay chúng tôi nhờ, Đảng sai chúng tôi chịu! Người ta vẫn cải
lộn nhau hoài về “đa nguyên đa đảng”, tôi chả quan tâm. Ở đất nước này, từ Bắc
đến Nam ,
đâu phải không từng đa đảng, đa nguyên? Nhưng đã có ai làm nên cơ nghiệp ngoài
Đảng của Cụ Hồ? Tồn tại hay không tồn tại là do anh có biết tự điều chỉnh để
thích nghi không. Nhãn tiền anh thấy đó, La Fontaine có bài thơ ngụ ngôn “Sư tử
si tình”: Để được người đẹp, sư tử đã vứt bỏ hết cả nanh vuốt của mình! Nanh
vuốt làm nên oai linh sư tử. Một khi nanh vuốt không còn thì mãnh sư rồi sẽ ra
gì?! Sự trung thành với mục tiêu cao cả vì một xã hội công bằng, văn minh; sự
gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp của đất nước, của nhân dân đã làm nên sức mạnh vô
song của đoàn thể, là phẩm giá của các thành viên được mọi người kính trọng.
Vứt bỏ đi những đặc trưng ấy, điều gì sẽ đến? Cuộc sống vốn nghiêm khắc cho bài
học để đời! Hòa bình và ổn định là cái mọi người cần nhất. Cả thế hệ chúng mình
cùng rung động với hồn thơ Tố Hữu và cùng mong mỏi như ông: HÒA BÌNH – HẠNH
PHÚC – ẤM NO Cho con người: SUNG SƯỚNG – TỰ DO!
Trước mắt tôi đang hiển hiện một thầy
giáo Văn đang giảng bài trước lớp.
Xe qua cầu Tân An và rẽ vào thị xã… Nơi
đây khói lửa một thời, một thời trai trẻ của chúng tôi đã để lại nơi này.
Tôi phải về thành phố trước anh. Anh có
thì giờ ở lại thăm bà con vùng căn cứ cũ và làm thủ tục cho việc di chuyển hài
cốt liệt sĩ về quê. Hẹn nhau sẽ gặp lại ở nhà tôi.
Chừng nửa tháng sau, tôi nhận được thư
anh, nét chữ hơi run, không biết vì xúc động hay là sự báo hiệu của người sắp
về già:
“Anh Ba thân mến!
Trước
hết tôi xin lỗi anh vì không đúng hẹn. Nay tôi trên đường về quê với thằng bạn
và cũng là đồng đội của tôi. Ngày cùng nhau hành quân trên đường Trường Sơn,
nhiều lúc nó dìu hoặc võng tôi đi. Bây giờ thì tôi luôn mang nó bên vai dù tôi
không còn là sức trẻ! Nó lặng im, không giống như tính nó hay vui nhộn và tôi
cũng không muốn để cho ai biết có nó bên tôi! Tôi mong mau đưa nó về nhà để bà
cụ sớm gặp con vì hiện nay bà đang sống mong manh như chiếc bóng! Tôi xin được
thay mặt bà cảm ơn tất cả những ai có tấm lòng trân trọng với những người đã hy
sinh trên mảnh đất này.
Thế là hai trọng tâm trong chuyến đi của
tôi đều đã đạt. Tôi xin được chia sẻ cùng anh niềm vui và rất cảm ơn anh.
Ông già “Hai khói lửa” mất đã từ lâu.
Tôi đến viếng mộ ông, thắp nhang khấn trước bàn thờ ông, thật sự thương cảm với
tấn bi kịch của đời ông và thành tâm cầu chúc nơi cõi hư vô ông được trút bỏ hết
những nỗi đau trần thế!
Nhưng giờ đây lòng tôi trĩu nặng. Tôi đã
làm xong một điều mà tôi khắc khoải hàng chục năm trời với người đã chết. Còn
với một người đang sống hôm nay thì tôi lại mang một món nợ không biết bao giờ
mới trả cho xong?! Anh có biết không, cô Út vẫn sống một mình!
Ngày ấy cả đơn vị đều nghĩ giữa cô và
tôi có mối quan hệ khác thường. Vâng! Chính cô và gia đình đã đùm bọc che chở
cho tôi. Nếu như không có sự cưu mang ấy, liệu tôi có còn được đến hôm nay?
Chúng tôi chưa một lần thổ lộ tình yêu. Nhưng đúng là cô đã chăm lo cho tôi hết
mức và lúc ấy tôi sống không thể thiếu cô. Nếu như tôi chưa nặng gánh ở quê
nhà, chắc cuộc đời tôi đã khác. Chẳng lẽ tình yêu của tôi là sự đền đáp xứng
đáng với cô sao?
Lâu nay tôi vẫn nghĩ cô đã có một gia đình
êm ấm và đôi lúc nghĩ về cô như nhớ về một người em gái thân thương nơi góc bể
chân trời! Một cô gái xinh đẹp nết na ở vùng quê với một gia đình nền nếp, có
chàng trai nào không muốn được cầu hôn? Chúng tôi chỉ kể lại những vui buồn đã
qua, những kỷ niệm sâu xa về những con người. Có người đã mất và có người còn
sống, trong đó có anh.
Chẳng lẽ tôi – một anh lính trơn, sống
chết chỉ tính từng ngày gần như nhờ vào sự rủi may; một anh giáo quê nhút nhát
chỉ biết sống bằng chữ nghĩa lại là sự vấn vương suốt cuộc đời người con gái
ấy?
Tôi bỗng thấy nghẹn ngào trào dâng khi
nghĩ tới cô một mình một bóng vào ra căn nhà trống vắng đêm ngày nghi ngút khói
hương, tựa như đang sống với những người ở cõi xa xăm...
Chào anh.
Một người bạn thời lính chiến”
(*Một
chữ ký loằng ngoằng dưới không ghi tên họ)
Câu
chuyện này tôi ghi lại đã mấy năm nay rồi xếp nơi góc tủ, coi như kỷ niệm về
“một thời để nhớ”.
Nào ngờ mới đây, cô con gái đầu lòng của
anh bạn đến thăm tôi. Cháu là giáo viên, dạy học mãi dưới Minh Hải xa xôi:
- Ở đó có nhiều bà con quê cháu vào mở
đất khai hoang. Cháu tình nguyện về đó dạy học ba năm để giúp đồng bào an cư,
lạc nghiệp.
Tôi cũng hơi ngỡ ngàng:
- Vậy là cháu đã đi xa hơn bố cháu ngày
xưa! Thế cháu không sợ người ta giữ luôn ở nơi nước mặn sình lầy đó sao?
- Đâu có bác ơi, lãnh đạo bây giờ mà như
thời các bác thì chúng cháu chẳng dành cho phiếu nào đâu! Công bằng xã hội mà
bác! Khi đã để dân hết tin thì lãnh đạo
dù có về vườn cũng chẳng được yên đâu, bác ạ!
Tôi thầm nghĩ: Rõ là dao nào cán nấy.
Lãnh đạo lớp này đâu phải dễ! Cô đưa tôi xem tấm hình cô chụp chung với một
người phụ nữ và hỏi tôi có nhận biết được người trong ảnh? Hai người đứng bên
nhau vẻ thân thiết như hai mẹ con? hai dì cháu? Người phụ nữ lớn tuổi trạc
ngoài bốn mươi, dáng người miệt đồng bằng Nam bộ, nét mặt đậm đà, hiền hậu,
còn in nhiều nét đẹp thời con gái. Hình như tôi đã gặp ở đâu mà không nhớ nổi!
- Cô Út đó, bác quên rồi sao? Từ ngày
xuống Minh Hải, cứ một hai tháng cháu lại lên thăm cô Út. Cô thương cháu lắm, coi
cháu như con. Cháu định lần này về quê thăm nhà, cháu xin phép bố mẹ cho cháu
được nhận cô Út là người mẹ thứ hai, bác thấy được không?
Tôi cười, nói nửa thật nửa trêu:
- Bác sợ mẹ cháu không chịu đâu!
Cô nói nhẹ nhàng tình cảm như một điều
đã được khẳng định rồi:
- Ôi, bác chưa hiểu mẹ cháu đâu! Bố cháu
về kể chuyện, cả nhà cháu đều thương và biết ơn cô Út. Những người mất rồi đã
yên một phận. Những người còn sống phải biết ăn ở với nhau cho trọn nghĩa vẹn
tình. Có như thế mới là xã hội văn minh chớ Bác?!
Tôi ngắm nhìn cô gái trẻ: xa nhà, đơn
độc mà đầy bản lãnh, tự tin và nhân ái. Tôi thấy lòng mình vui lên cùng với sự
hồn nhiên của cô và tin rằng lớp trẻ họ đủ khả năng để tiếp tục những công việc
dư hậu của lớp cha anh.
Tháng
11 năm 1996
VĂN
NGHỆ - Hội Nhà văn VN.
Số 23 (1951) - Thứ bẩy ngày 7-6-1997
No comments:
Post a Comment