ngồi khóc thút thít. Anh đến bên cô hỏi
han. Mấy thằng bạn vẫn đi thẳng lại còn dặn với:
- Ráng cõng ba lô, súng đạn và em một mạch
về Sài Gòn đi, Nghĩa! Anh
đã mang cả ba lô gạch và súng giùm cô. Còn cô gái thì cứ lẹt đẹt đi theo anh,
lâu lâu anh phải dừng lại chờ cô!... Anh và cô là hai người cuối cùng về tới
đích trong nghịch cảnh: Trên mình anh, sau lưng một ba lô gạch, trước ngực một
ba lô gạch, hai vai vác hai khẩu súng, đi lững thững, còn cô Hoa Duyên thì
ngượng ngùng, tức tưởi đi sát sau anh. Mọi người vỗ tay vang dậy đón chào. Có
người lớn tiếng hùn vào:
- Ha! Ha! Ha! Xem kìa, miền Bắc gọi,
miền Nam
có liền !
Chuyện vợ chồng là cái duyên trời định.
Với Hoa Duyên, kỷ niệm dù có sâu xa nhưng rồi cũng qua đi. Với Hữu Nghĩa, anh
đâu có tình ý gì. Ra trường mỗi người mỗi ngả. Hoa Duyên về làm việc ở Viện
nghiên cứu hải dương học. Nhiệm vụ hai người tuy có khác nhau, tưởng xa thật là
xa nhưng việc họ làm đều liên quan đến biển, nên lại là gần. Phải chăng đó là
những sợi tơ hồng se duyên, gắn phận... Người lính từng xông pha trận mạc, dạn
dày sương gió rất dễ rung động và xao xuyến lòng trước một người phụ nữ tình cờ
bắt gặp trên bước đường đời. Một người con gái thường phải làm việc cặm cụi
trong phòng thí nghiệm với những bản đồ về hệ sinh thái và những mẫu phẩm vật
vô tri lấy lên từ đáy đại dương, với những chuyến đi xa lênh đênh sóng nước,
nhiều lúc thấy lòng nôn nao, khao khát một hình bóng thân quen. Và một sự ngẫu
nhiên, họ gặp nhau trên một con tàu. Nhận ra nhau, họ nhảy bổ tới ôm chầm lấy
nhau như thân thiết lắm. Lòng chàng thấy dịu đi bên người bạn gái năm xưa. Lòng
nàng xôn xao lay động khi những kỷ niệm ngọt ngào một thời thức dậy... Và họ đã
dễ dàng trao tình yêu cho nhau qua những cái hôn nồng cháy.
Thời chiến tranh, đám cưới đơn sơ được
tổ chức trong một hang núi ven bờ biển là căn cứ của một đơn vị hải quân. Khách
dự chỉ là những đồng đội cùng chiến đấu. Gia đình hai bên chỉ được thông báo
qua thư và cũng không ai trách cứ gì. Lòng cha mẹ mừng thầm là trong khói lửa
con mình vẫn tìm ra hạnh phúc và cầu mong hạnh phúc của đôi trẻ bền lâu...
Với sự gan góc và tháo vát của anh, Hữu
Nghĩa được chuyển qua đơn vị đặc biệt chuyên vận tải hàng chi viện trực tiếp
cho miền Nam
theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Anh hiểu nhiệm vụ đó nặng nề và gian nguy
hơn, mấy người đi trở lại! Người lính bộ binh lỡ có hy sinh còn được nằm trong
lòng đất mẹ. Người lính hải quân như anh chỉ có làm mồi cho cá! Biển cả mênh
mông bí ẩn vẫn như một thế giới huyền bí xa xôi nhưng đã là hạnh phúc của đời
anh. Anh chị đặt tên con gái đầu lòng là Duyên Hải để ghi nhớ duyên phận của
hai người gắn liền với biển. Trước kia chỉ một thân trai, cánh hồng nhẹ tếch,
sống chết chẳng cần chi. Bây giờ cuộc sống không còn là của riêng anh nữa. Mỗi
chuyến ra đi đằng đẵng mấy tháng trời, vắt óc mưu mẹo trà trộn với các tàu
buôn, tàu đánh cá lởn vởn ngoài khơi rồi chọn thời điểm thích hợp luồn lách vào
các căn cứ bí mật ven cửa biển, nhanh chóng đổ hàng, lại vội vã quay ra. Nếu
không may bị lộ chỉ có cách duy nhất hủy tàu phi tang tích. Có lần anh nói nửa
thật nửa chơi với vợ:
- Giả dụ một ngày nào đó, trong mẫu phẩm
vật lấy lên từ lòng biển, tình cờ em phát hiện có xác một hồng cầu, nếu nhớ mã
số gène của anh, biết đâu em sẽ nhận ra được chồng em !
Nàng gục đầu vào anh đầm đìa nước mắt.
Với anh, tình yêu bây giờ nó mênh mông quá, không phải duy chỉ là một người con
gái. Nó ở khắp nơi, vừa cụ thể, vừa mơ hồ. Nó hiển hiện là Hoa Duyên gầy guộc
mà đảm đang tần tảo; là bé Duyên Hải với đôi mắt sáng trong và cái miệng bi bô
gọi Ba! Ba!; là một buổi chiều mờ ảo trên bến tàu sông nước mênh
mang; là một thành phố nơi cuối trời xa đêm đêm ngằn ngặt ánh đèn, có ba má anh
chong chong thao thức; là con tàu chở đầy súng đạn băng băng giữa trùng dương
hướng về đồng đội đang mong ngóng từng ngày...
Và cái giờ phút đó là đây. Đội tàu tuần
tiễu của địch phát hiện con tàu của anh đang mò mẫm trong đêm tiến vào điểm
hẹn. Lộ rồi! Phải quyết tử thôi! Anh chỉ huy chiến đấu chống trả kịch liệt. Tàu
địch chạy ra xa. Chính trị viên chỉ huy cho đổ hàng dọc theo bờ biển. Biển tối
đen, loáng choáng ánh chớp của đạn pháo và chằng chịt những lằn đạn đỏ lừ ngang
dọc. Phương án tác chiến có sẵn rồi: Nếu rơi vào tình huống Z, chỉ để lại trên
tàu một thợ máy lái tàu, một xạ thủ và một sĩ quan chỉ huy chiến đấu. Quyết
không để lọt vào tay địch cho chúng dùng làm tang chứng.
Tàu địch mỗi lúc một đông giăng kín
ngoài khơi. Khi thùng hàng cuối cùng đã được quăng xuống biển, chính trị viên
nói với anh:
- Đồng chí cùng anh em rời khỏi tàu đi!
Hữu Nghĩa không chịu. Chính trị viên nói
như mệnh lệnh:
- Bây giờ không phải là lúc nhường nhau
sống chết! Mỗi người một việc. Tôi có trách nhiệm ở lại tàu. Ai còn sống cố
gắng thu gom được hàng, coi như là thắng lợi!
Hữu Nghĩa là người lao xuống biển sau
cùng. Hai người sĩ quan chỉ huy con tàu nắm chặt tay nhau. Chính trị viên nhắn
lời vội vã:
- Hãy nói với các con mình: “Bố không làm gì để các con hổ thẹn. Lúc nào
cũng phải là người ngay lương thiện!”.
Trong tối đêm lửa đạn mà Hữu Nghĩa đứng
thẳng, giọng nói trang nghiêm như một lời thề:
- Nếu còn sống tôi xin làm đúng lời anh!
Con tàu tăng tốc chạy về phía nam và lao
thẳng ra khơi. Các luồng đạn đỏ lừ nhấp nhoáng đuổi theo con tàu bật đèn sáng
rực. Trong khoảng không gian yên tĩnh, Hữu Nghĩa với chiếc phao thủy thủ nhằm
hướng bờ bơi tới. Xa xa ngoài khơi, tiếng súng đùng đoàng.
Hữu Nghĩa không biết anh đã đằm mình
trong biển bao lâu. Bỗng anh nghe một tiếng nổ Bùng… âm vang trên sóng,
cùng lúc một khối lửa đỏ rực hòa với ánh bình minh trên biển và một đụn khói
đen ngùn ngụt tỏa lan về phía chân trời. Anh tiếp tục bơi nhưng đầu óc anh
không còn tỉnh táo. Hình như có tiếng máy tàu! Anh không khua chân tay nữa, cứ
để mình dập dềnh trên sóng. Nghe lao xao tiếng người. Anh chờ một loạt đạn.
Người anh nhẹ thênh. Chết thế này lại khoẻ. Người ta xúm nhau kéo anh lên
thuyền. Anh nằm như chết. Người ta lột hết đồ đạc trên người anh ra và đẩy anh
vào lòng thuyền, phủ lên tấm nệm rồi họ quăng đủ thứ đè lên anh nặng chịch. Anh
ngột ngạt đến tắt thở nhưng rồi cũng tạo được cho mình một tư thế có thể chịu
đựng cảnh huống này. Anh không còn để ý đến thời gian. Chung quanh anh lúc thì
tĩnh lặng, lúc thì ồn ào tiếng động cơ, có lúc nghe ầm ĩ tiếng người quát tháo,
tiếng giầy đinh nhẩy lịch bịch lên tàu. Anh thiếp đi.
Cơ sở
đưa anh về căn cứ. Cả đội hơn chục người cùng với con tàu giờ đây chỉ
còn có mình anh! Anh nhớ lại từng người, mấy năm nay sống chết có nhau! Nước
mắt, nước mũi anh không cầm được. Chính trị
viên là người lớn tuổi nhất, quê ở Sầm Sơn, dân chài thứ thiệt, có nhiều
kinh nghiệm dân gian đi biển, dự đoán thời tiết khá tinh và định hướng tìm
luồng lạch rất nhanh. Trên giao con tàu cho các anh là có ý kết hợp giữa lý
luận hàng hải với thực tiễn của người đi biển. Và con tàu ấy đã có tuổi thọ cao
nhất của Đoàn mặc dù nó được giao đi những chuyến hàng quan trọng. Nhưng chiến
tranh có qui luật tàn bạo của nó: Chẳng cái gì an toàn tuyệt đối! Anh nhớ lời
chính trị viên: “Ai còn sống cố gắng
thu gom được hàng coi như là thắng lợi”. Anh đã ở lại khu căn cứ này khá
lâu, bám sát cơ sở, trà trộn vào dân chài đi biển, xác định phương vị khu vực
đổ hàng, kết hợp với lực lượng địa phương gom nhặt, trục vớt được hàng chục tấn
vũ khí bổ sung cho cả tỉnh trong lúc tình hình chiến sự đang rất khẩn trương,
yêu cầu chi viện lớn lao. Coi như anh thay mặt các đồng đội của mình đã khuất
hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng.
Là dân Nam Bộ nhưng từ nhỏ anh sinh sống
ở thành phố Sài Gòn rồi ra Hà Nội lúc còn niên thiếu, nay trở về quê hương anh
cũng lạ lẫm không khác chi anh bộ đội từ Bắc mới vào. Nhưng cái tình quê hương
máu mủ và đã có nhiều năm sống với bạn bè, bà con tập kết nên anh hòa nhập rất
nhanh.
Rời khu căn cứ của một tỉnh ven biển đồng
bằng Nam Bộ, anh trở về căn cứ tiền phương của Bộ Tư Lệnh ở R. Khi còn ở dưới
tỉnh, anh đã tìm mọi cách thăm dò tin tức gia đình nhưng chưa ra đầu mối. Dù
sao anh đã thấy được tận mắt sự mất mát ở miền Nam là quá lớn. Anh linh cảm một
điều bất hạnh sẽ đến với anh. Bây giờ đã là người từng trải, anh đủ bản lĩnh
đón nhận những đau thương ập đến, cho dù ngay cả với chính thân thể của anh.
Về R, anh đã tìm gặp được vài cô bác
từng hoạt động với ba má và anh được biết tường tận những gian truân, nguy hiểm
và cả tấm lòng trung kiên bất khuất của ba mẹ. Anh tin vào những giây phút cuối
của cuộc đời, ba má anh chấp nhận sự hy sinh cho mục tiêu cao cả trong đó có
anh! Anh không khóc, anh cảm thấy các huyết quản trong người như căng ra, toàn
thân đông cứng lại! Hình ảnh cuối cùng của ba má bằng xương bằng thịt vào chiều
hôm ấy, trên bến tàu, má nép bên ba thổn thức, dáng ba cao gầy với cánh tay giơ
lên phơ phất như một cành lau đã thành bức tượng vĩnh cửu suốt đời anh. Anh tin
là cô Thanh Vân cũng biết chuyện này. Giờ đây anh hiểu nỗi buồn của cô khi anh
phạm sai lầm và những lời khuyên dạy cùng sự thương yêu chiều chuộng của cô với
anh như một người bảo dưỡng thay thế mẹ cha anh. Anh nhớ cô và thấy lòng ân
hận!
Cấp trên cho anh ra miền Bắc. Anh bồn
chồn nhớ vợ con. Những ngày về thăm nhà ở khu sơ tán, cuộc sống đơn giản, gian
khổ mà thanh thản. Anh nhớ những phút giây yêu thương nồng ấm của vợ, ánh mắt
trong sáng thơ ngây và giọng cười trong vắt của con. Và khi bước chân đi, vợ
con bịn rịn, cái ba lô trên vai nhẹ tếch mà đôi chân trĩu nặng. Hoa Duyên bế bé
Duyên Hải đứng bên đường nhìn theo, bàn tay mẹ nâng bàn tay con giơ lên cùng
vẫy. Bàn tay con bé xíu vẫy lia lịa như chiếc lá non rung rinh trong gió và bàn
tay kia run rẩy ngập ngừng. Anh như người trong mơ bừng tỉnh. Quê hương anh là
đây, ngập tràn máu lửa! Ba mẹ anh bỏ xác nơi nào đâu đã được yên! Bao đồng đội
của anh còn gửi xương đáy biển... đã như một sức níu kéo mạnh hơn sức hút của
đôi bàn tay kia vẫy gọi...
Anh xin về đơn vị chiến đấu. Với anh, dù
đánh địch trên biển hay trên đất liền có khác nhau chỉ là phương thức tác chiến
mà thôi, còn quyết định được thua vẫn là sự xả thân về một mục tiêu thiêng
liêng, cao cả. Anh vẫn là người chỉ huy dũng cảm và táo bạo. Giờ đây anh dày
dạn và chín chắn hơn.
Thời gian đầu còn tính năm, tính tháng.
Dần dà rồi anh chẳng để ý tới nó làm gì. Anh quần thảo khắp núi rừng miền Đông
xuống vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Hoa mai vàng rực rỡ một cánh rừng hay
cái nắng rừng rực trên đồng bưng khô cháy nứt nẻ đất phèn Đồng Tháp những dịp
sang xuân, một chút chạnh lòng rồi các trận đánh lại cuốn hút, anh bẵng quên
đi...
Sau hiệp định Paris 1973, anh bị thương trong một trận đánh
chống lấn chiếm giành đất, giành dân với địch. Vết thương khá nặng, anh được
chuyển về bệnh viện xa trên hậu cứ.
Mấy tháng trời nằm viện, anh quen y tá
Bích Hồng. Họ mau chóng thân nhau vì hai người đều sinh ra ở thành phố Sài Gòn.
Người lớp trước, người lớp sau, chập chững vào đời, họ sớm xa thành phố đi theo
kháng chiến. Anh thương cô gái trẻ đang ở tuổi mơ mộng vô tư đã phải lao vào
cuộc sống gian khổ và khắc nghiệt. Cô thán phục anh – người chỉ huy tài ba dầy
dạn phong sương. Cô cũng đi kháng chiến, nhưng rời khỏi thành phố là quẩn quanh
ở cánh rừng âm u này, tối ngày lo mấy thương binh, rồi tải gạo, kiếm củi, tăng
gia... đủ việc mà vẫn chưa yên trong những cuộc họp hành kiểm điểm...! Những
chuyện ra Bắc, vào Nam, lên rừng, xuống biển với những kỳ tích xông pha trận
mạc của người đồng hương làm nàng mê mẩn, khâm phục, tự hào. Nàng mở to đôi mắt
lắng nghe và hồi hộp theo dõi những chuyến đi biển mạo hiểm mà thơ mộng, những
trận anh chỉ huy tập kích và truy đuổi địch quân, giữa lúc chúng tan tác và
hoảng loạn thì một trái đạn bất kỳ nổ tung làm mấy đồng đội của anh nằm lại,
còn anh ngất đi chốc lát rồi tỉnh dậy bò đi... Nàng chớp chớp đôi mắt đang nhìn
nơi xa xăm hướng về anh, nước da nàng tai tái, mái tóc dày phủ xõa bờ vai, bộ
ngực căng tròn phập phồng theo nhịp thở nàng hổn hển. Anh nhìn nàng bối rối...
Và tình yêu đã ập đến với nàng bất chợt, sâu xa và cuồng nhiệt. Anh không đủ
sức chạy trốn và đã như một cây to trốc gốc đổ ập trước cơn xoáy lốc của tình
yêu. Khi anh ra viện, nàng tiễn anh một đoạn dài trên con đường rừng vắng vẻ,
đến lúc không thể đi xa hơn nữa, hai người dừng lại. Anh nắm tay nàng rồi mạnh
mẽ kéo nàng ngã vào lòng mình và hai đôi môi khao khát đợi chờ ấy gắn chặt vào
nhau tưởng như vô tận...
Ban chỉ huy đơn vị họp bàn chuyện của
anh. Cũng có ý này ý khác nhưng một anh từng trải, lớn tuổi nhất nói như chấp
nhận một sự bất lực của con nhà lính:
- Trai gái đã phải hơi nhau thì dù trời
đánh nó cũng chẳng chịu rời ra!
Đám cưới anh chị được tổ chức đơn sơ
trong rừng. Hội trường chật ních người.
Cô gái thị thành xinh xắn, nhỏ nhoi, tóc chấm bờ vai nép bên anh Trung đoàn
trưởng vẻ dãi dầu mưa nắng. Bao nhiêu niềm mong ước khát khao rạo rực trong mỗi
tấm lòng. Đêm tân hôn, trên chiếc giường tre trong căn lều trống trải bốn bề,
họ đã cho nhau những phút giây nồng nàn đắm đuối. Một lúc chợt tỉnh bên mình em
nóng ấm, nhớ tới Hoa Duyên anh chép miệng thở dài:
- Thôi sự đời là thế, biết làm sao!
Bích Hồng ních sát vào anh, ôm chặt thân
hình anh rắn chắc không muốn rời ra. Con sóc đi kiếm ăn nhảy lên thành giường
đụng vào cánh tay trần, Bích Hồng giật mình kêu ré lên, ôm chặt lấy anh. Anh
bừng tỉnh dậy. Những ánh nắng ban mai chen qua kẽ lá rung rinh trên mái nhà lợp
bằng tấm nilon như nhảy múa trêu chọc hai người...
Và ngày ấy đến thật bất ngờ! Anh là một
trong những chiến sĩ giải phóng quân đầu tiên đường hoàng đặt chân giữa phố
phường Sài Gòn trong buổi sáng ngày 30/4 năm ấy. Người ta đứng chật hai bên
đường cùng tiếng hò reo đón chào những người chiến thắng mà trong lòng chất
chứa bao nỗi mừng vui cùng với những lo âu, thấp thỏm, nghi ngờ... Có ai biết
rằng người sĩ quan quân giải phóng đang đứng trên chiếc xe Jeep mui trần kia
trước đây 20 năm, khi tạm biệt kinh kỳ ra đi còn là chú học trò nhỏ tinh nghịch
trên những đường phố rợp bóng cây này, giờ đây lòng đầy xúc động, rưng rưng bỡ
ngỡ tìm trong dòng người đông đảo ấy những người thân thuộc của mình.
Những cảm xúc kỳ lạ dâng lên, nén xuống
khiến lòng anh xao xuyến! Những đường phố rộng thênh thang này sao lạ mà lại
thật thân quen. Anh nhìn con đường dài hun hút, nhìn từng đám đông người hân
hoan nháo nhác, ngỡ ngàng với ánh mắt vừa cảnh giác vừa thân thiết yêu thương.
Anh muốn la lớn lên: “Bà con ơi! Tôi là đứa con của Sài Gòn mình đây. Quê ta nay giải phóng rồi. Ngày đoàn tụ là đây!”.
Con đường nắng lóa, những gốc cây, những
bóng người loang loáng mờ nhòa. Chiếc xe của anh vừa qua khỏi một tòa cao ốc
bỗng bên tai anh vang lên tiếng nổ rẹt...rẹt... và luồng đạn vút qua
chiu... chiu... Hữu Nghĩa chưa kịp phản ứng thì người chiến sĩ bảo vệ phía sau
đã chồm lên dúi người anh thấp xuống.
Chiếc xe phóng vọt lên và tấp vào một
gốc cây lớn bên đường. Đám đông người hốt hoảng chạy ra bốn phía. Hai chiếc xe
tăng đi sau tản khai ra phía bên kia đường, nòng đại bác và đại liên tua tủa
hướng ngay lên tòa cao ốc. Bộ đội mau chóng chiếm lĩnh địa hình. Tất cả tạo
thành một vòng đai thép quanh tòa nhà từ đấy phát ra tiếng súng kháng cự lẻ
loi, yếu ớt. Hữu Nghĩa nhận ra cảm giác nóng nơi cổ và vai áo anh cùng với sức
nặng của người chiến sĩ đè lên. Anh vòng tay ôm lấy người đồng đội và nhẩy
xuống nép bên một gốc cây. Anh chỉ kịp nhận ra tiếng thở khò khè khác thường
của người chiến sĩ trên mình đỏ máu. Anh ra lệnh cho chiến sĩ lái xe:
- Đi cấp cứu mau!
Anh đứng ngay vào vị trí của người chỉ
huy.
Từ trên cao ốc loáng thoáng bóng người
hối hả chạy ra, chạy vào. Có mấy chiếc khăn trắng đưa lên vẫy vẫy. Dáng một bà
già khom khom chắp hai tay vái vái xuống đường. Rồi mấy người nữa làm theo: vừa
xua tay vừa xá xá cùng với những âm thanh sợ sệt, ríu rít như tiếng bầy chim sẻ
hốt hoảng khi lâm nạn. Hữu Nghĩa cầm bộ đàm ra lệnh cho đơn vị không được nổ
súng. Có mấy thanh niên nam nữ te tái chạy đến bên anh. Một cô gái giọng run
run như muốn khóc:
- Anh giải phóng ơi! Trên đó người ta
đông lắm. Dân không hà… Toàn đàn bà, con nít, người già!
Một chàng trai hào hển xen vào:
- Chắc là mấy người lính quốc gia chạy
trốn về nhà không chịu đầu hàng, chống cự!
Đám đông người sau khi chạy tản ra giờ
tụ lại thành từng nhóm nhỏ nhấp nhô lấp ló ở xa xa. Từ góc phía bên kia đường,
tiếng loa vang lên. Hữu Nghĩa nghe rõ tiếng của người chính ủy đĩnh đạc, đanh
thép và nghiêm khắc:
-
Alô! Alô! Đồng bào chú ý ! Bọn đầu xỏ hiếu chiến Mỹ - Ngụy đã tháo chạy
nhục nhã! Chính quyền ngụy đã đầu hàng vô điều kiện ! Sài Gòn đã được giải
phóng! Đất nước ta từ nay thống nhất hòa bình! Đây là chiến thắng chung của
toàn dân tộc Việt Nam
ta! Chỉ có những kẻ cam tâm theo giặc
chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân mới ngoan cố chống lại quân giải phóng!
Tôi ra lệnh cho tất cả các binh sĩ ngụy quân, các nhân viên ngụy quyền: Hãy bỏ
súng đầu hàng quân giải phóng! Không được phá hoại tài sản quốc gia !
Giọng người chính ủy ấm áp và tha thiết:
-
Đồng bào Sài Gòn hãy yên tâm! Chính quyền đã về tay nhân dân! Quân giải phóng
bảo toàn tính mạng tài sản cho tất cả đồng bào lương thiện ! Mọi người đều được
sống trong hòa bình và đoàn tụ!
Giọng anh quyết liệt:
-
Ai đầu hàng thì sống, chống lại thì chết!
Từ tòa cao ốc, nhan nhản những chiếc khăn trắng, có cả những
chiếc áo trắng vung cao lên báo hiệu sự
đầu hàng thật sự . Người ta đổ ra đứng lố nhố ở các ô cửa sổ, ở các hành lang,
và kia... người ta ồ ạt chạy ra đường, có những người mình trần trùng trục, chỉ
chiếc quần đùi, chân đất lúi húi chạy lẩn vào đám người đang tụ họp lại mỗi lúc
một đông. Người ta la hét. Người ta cười. Người hân hoan. Người ngẩn ngơ sợ
sệt. Rồi tự dưng người ta lại la ré lên, đám đông chạy dạt ra và đầu mọi người
cứ ngước nhìn mãi lên cao. Hữu Nghĩa cũng ngước nhìn theo. Không phải là lúc
anh đếm xem có bao nhiêu lầu ở tòa cao ốc này, nhưng cổ anh cứ dài ra và mặt
anh như ngửa lên trời. Mãi trên đỉnh lầu thượng của tòa cao ốc, bóng dáng một
người đàn ông nhỏ xíu, hai tay cầm vật gì huơ huơ lên trời, như là khẩu súng.
Dường như là anh ta đang la hét, hai tay anh rung rung, như là có tiếng súng
lẹt đẹt, cùng với một vầng khói mỏng vương trên đầu, chắc là anh ta đang bắn
chỉ thiên. Và kìa, cái người nào như điên như dại ấy lao vút xuống mặt đường...
Đủ các thứ âm thanh hỗn độn. Cả một đời chiến chinh trận mạc chưa bao giờ Hữu
Nghĩa gặp huống cảnh này. Anh cúi xuống, hai tay vịn vào gốc cây thì cũng vừa
lúc phát ra một âm thanh khó tả, nó như một bịch bùn người ta quăng xuống từ
trên cao cùng với tiếng vang lên chát chúa của kim khí bị ném xuống mặt đường
khô cứng. Bao nhiêu tiếng người rú lên, hét lên cùng một lúc. Rồi là sự im lặng
đột ngột đến kinh hoàng. Hữu Nghĩa nhìn ra mặt đường: cái bịch bùn ấy văng ra
tứ tung, nhão nhoẹt, đỏ lòm và một khẩu súng AR15 gẫy nát vương vãi đó đây. Hữu
Nghĩa rùng mình! Anh chạy tới chiếc xe tăng leo lên và ra lệnh:
- Hành tiến !
Chiếc xe tăng lao đi, tiếp tục cùng với
những chiến sĩ hành quân. Hữu Nghĩa ngoái nhìn lại còn kịp nhận ra không hẳn là
tiếng kêu, cũng không hẳn là tiếng khóc... Đó là tiếng tru lên ai oán A!...A!...A!...
và bóng một người đàn bà xiêu vẹo, thiểu não từ trong cao ốc lao ra khi đám
đông người kia đang bu lại...
Hữu Nghĩa kịp đến trạm quân y dã chiến
tiền phương để tiễn biệt người đồng đội, người chiến sĩ bảo vệ của mình về nơi
an nghỉ cuối cùng. Đầu óc anh lan man nhớ lại người chiến sĩ trẻ kề cận với anh
bấy lâu nay. Anh biết nhiều mẩu chuyện kỳ kỳ lạ lạ về người chiến sĩ đặc biệt
này. Đấy là một chàng trai có học mà mọi người vẫn coi là ương bướng và lập dị
nhưng Hữu Nghĩa cảm tình đặc biệt ngay từ buổi gặp đầu. Là con trai một lại
đang học năm thứ nhất – Khoa Toán – Trường đại học Tổng Hợp Hà Nội, cậu ta có
giấy gọi xung vào lính. Cậu coi đó là chuyện thường tình, giải thích mỗi khi có
ai tỏ vẻ tiếc cho sự học và lo cho cậu lỡ có làm sao: Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách làm cho người nghe cụt hứng!
Cậu ta không thích lý giải theo kiểu sáo ngữ phong trào: Đó là trách nhiệm lịch
sử đặt lên vai thế hệ! khiến người nghe dễ chạnh lòng bị coi như người ít học!
Một lần đại đội trưởng thao thao với lính:
- Chiếc chiến hạm gì... Cơ đốc (thực ra
là Ma đốc) rộng cả trăm mét, dài gấp chục lần, vậy mà phải chạy cong đuôi trước
sự truy kích của chiếc tàu Hải quân nhân dân ta đánh theo kiểu đặc công!
Cậu ta nhắc khéo:
- Cha! Dài tới ngàn mét tức là cả
kilômét đấy!
Đại đội trưởng biện hộ hùng hồn:
- Không ngàn mét thì cũng cả trăm mét
chớ!
Cậu ta cười khì chứng minh với mọi
người:
- Vậy ra chiếc tàu Ma đốc ấy hình vuông!
Lính ta cười ồ. Anh đại đội trưởng nổi
điên lên chống chế:
- Vuông, dài, tròn, méo… quân đội ta bất
chấp!
Là
lính chiến mà đi đâu cậu ta cũng kè kè một bộ sách tiếng Anh cả chục tập
gói gọn trong bòng. Người ta bảo:
- Chừng nào đánh giặc xong thì học!
Cậu ta nói nhát gừng:
- Sự học là không thể ngừng. Vả lại biết
bao giờ hết giặc? Giặc này tan lại có ngay thằng giặc khác!
Có người
ra mặt phê bình:
- Bao nhiêu ngôn ngữ, sao không tìm học
tiếng bạn bè? Xem là có mất lập trường không?
Cậu cãi lại một hơi:
- Ngôn ngữ là phương tiện giao lưu trí
tuệ và tình cảm. Bản thân nó đâu có tội tình gì. Người ta có thể nói với nhau
những lời căm giận, oán hờn và cũng có thể nói lên những lời từ bi nhân ái! Còn
lập trường chỉ là chỗ đứng. Ngay khi ta tưởng như đang đứng yên đây thì thực ra
ta vẫn đang chuyển động. Cuộc đời phải là những bước đi lên. Ở mỗi tầm cao ta
nhìn xa hơn, biết nhiều hơn và tất nhiên cái đầu ta cũng lớn hơn!
Với kiểu triết lý ấy, người ta ngán cậu
và cậu cũng biết vậy nên chấp nhận chỉ làm đến anh lính trinh sát ở đại đội
thôi:
- Cái nghiệp của tôi là làm cỗ cho mọi
người sơi, còn mình thì đói!
Một lần Hữu Nghĩa xuống đơn vị kiểm tra
thực địa, thấy cậu trinh sát trẻ báo cáo mạch lạc, rõ ràng, anh hỏi han, căn
vặn:
- Cái ổ hỏa điểm ấy nguy hiểm đấy mà cậu
đã điều nghiên chính xác chưa?
Cậu ta trả lời tỉnh bơ:
- Nếu không chính xác thì tôi chết trước
vì thế nào tôi cũng được giao đi theo mũi ấy! Anh
hỏi:
- Cậu nhập ngũ bao lâu?
- Báo cáo thượng cấp, tôi là lính Paris !
- Giờ cấp bậc gì ?
- Binh nhì!
Hữu Nghĩa đưa mắt nhìn cán bộ tiểu đoàn.
Anh chính trị viên báo cáo:
- Thăng lên binh nhất cậu ấy không chịu
nhận, nguyện nhận chức binh nhì đến hết đời lính thôi!
Cậu ta lừng khừng giải thích:
- Thưa, tôi sống đúng theo qui luật tự
nhiên: Quan nhất thời – Dân vạn đại !
Hữu Nghĩa phì cười…
Sau trận đánh ấy Hữu Nghĩa điều ngay cậu
ta lên Trung đoàn bộ làm lính vệ binh, sống kè cặp với anh. Bây giờ đã là cấp
Thượng sĩ tiểu đội trưởng rồi mà cậu ta vẫn khoái những ai gọi mình thân tình
là Lợi binh nhì. Người chiến sĩ trẻ này vẫn đau đáu mơ một ngày trở lại giảng
đường tiếp tục chương trình toán học dở dang để cậu ấy được bay vào vũ trụ với
không gian mênh mang, đo đếm những độ xa bằng thời gian ánh sáng và tìm ra qui
luật di động của các vì sao. Khi trung đoàn nhận nhiệm vụ chủ công đi mũi tiền
tiêu trong đội hình Quân đoàn tiến công cho trận quyết chiến cuối cùng này, cậu
ấy hả hê, rối rít nói với anh:
- Thủ trưởng hứa là phải cho em giải ngũ
ngay để kịp vào năm học mới!
Một cán bộ tỏ vẻ không hài lòng:
- Nhiệm vụ của người quân nhân cách mạng
còn rất nặng nề, chưa thể rời tay súng! Cậu
xửng cồ lên, mặt đỏ gay nói như cãi lộn:
- Khi ấy tôi quăng trả cây súng và cả
chiếc áo lính này! Tôi cởi trần, cầm bút vào giảng đường ngồi học!
Lúc ấy là dạo cuối tháng ba. Bây giờ
đang mùa phượng nở, mùa ve kêu gọi vào hè. Hữu Nghĩa vẳng nhớ lại tiếng đạn rẹt
rẹt bên tai trong tiếng xe tăng ồn ã và sức nặng một người đè lên dúi người anh
xuống:
- Lẽ ra mình đã ngã xuống đúng vào giờ
phút chiến thắng quang vinh ấy!...
Rừng cao su bạt ngàn. Những thân cao su
chằng chịt những vết cào xước của người và của cả đạn bom, có chỗ mủ cao su còn
nhỏ giọt màu trắng đục, có chỗ mủ đóng lại vàng khè, thâm khô như những vết máu
đông lại nơi vết thương trên thân thể bao nhiêu chiến sĩ của anh. Đây là lần
đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh đọc điếu văn ứng khẩu vĩnh biệt người
đồng đội:
- Đồng chí Lợi ngã xuống trong giờ phút
cuối cùng của cuộc chiến tranh khi những ước mơ và hy vọng của đồng chí ấy đang
bừng dậy. Chúng ta từng tiếp bước cha ông đi trọn con đường dài của cuộc chiến
tranh giải phóng đầy khốc liệt. Chúng ta cảm nhận sâu sắc rằng chiến thắng hôm
nay là của bao thế hệ, là của nhân dân ba miền đất nước Bắc–Trung– Nam.
Mai sau nhắc đến thắng lợi này, người ta sẽ gắn nó với những mỹ từ oanh liệt,
vẻ vang nhưng những người lính chiến chúng ta hiểu được nó thấm đượm mồ hôi,
xương máu, cuộc đời của biết bao người. Chúng ta mãi nhớ ơn những người đã hy
sinh vì sự nghiệp cao cả của Tổ quốc.
Riêng tôi suốt đời nặng lòng nhớ ơn đồng chí Lợi!
Giọng anh tắc nghẹn và hai tay anh ôm
mặt, vai anh rung lên, tiếng nấc của anh hòa vào những loạt đạn AK bắn lên trời
làm rung rinh xao xác cả một rừng cao su lá héo hon lúc chiều hè...
Những ngày đầu quân quản, Hữu Nghĩa tất
bật với bao nhiêu công việc nhưng anh vẫn dành thì giờ đi tìm người thân thuộc
mà anh vẫn khao khát được gặp mặt bấy lâu, cũng là dịp để tìm hiểu rõ hơn về
những ngày tháng cuối đời của ba và má. Song thật khó tìm. Sài Gòn đã mở rộng
hơn nhiều lần khi Hữu Nghĩa còn là cậu học trò nhỏ bé, lại qua những biến động
xã hội, không mấy ai còn ở nguyên chỗ cũ. Bây giờ mọi người càng nháo nhác,
mừng, sợ, hoan hỉ, lo âu....việc cư trú càng xáo trộn...Nhưng rồi anh cũng lần
tìm được địa chỉ của dì Ba...
Khi chiếc xe xịch đỗ, Hữu Nghĩa giật
mình nhận ra cái cao ốc ấy. Anh đứng nhìn quang cảnh chung quanh. Người ta thưa
vắng, con đường với cái ngã tư này như rộng thêm ra. Nhìn lên các cửa sổ im
lìm. Hữu Nghĩa cùng người chiến sĩ cảnh vệ mang súng bước vào, mấy người gặp
bất ngờ không né kịp tỏ ra nem nép nhìn anh khó hiểu. Thang máy không hoạt
động. Hai thầy trò Hữu Nghĩa đi từng bước thận trọng theo cầu thang lòng
vòng... Lầu một... Lầu hai... Lầu ba... Lầu bốn... Hai người đứng lại ngó nhìn
trước sau. Các cửa chung quanh đóng kín. Thoáng có bóng người rồi lại khuất sau
các cánh cửa im ỉm lạnh lùng. Hữu Nghĩa đang lúng túng, loanh quanh thì có một
ông già đi tới:
- Thưa, ông sĩ quan giải phóng hỏi ai?
- Thưa cụ, cho tôi hỏi bà Liên!
Ông già trố mắt nhìn rồi quay nhanh đi
mất. Hữu Nghĩa thật khó hiểu. Anh quyết định đi tới cái cánh cửa ông già mới
bước vô và giơ tay lên gõ. Anh gõ tới ba lần, cuối cùng cánh cửa từ từ mở ra.
Tiếp anh là một bà già dáng vẻ sang trọng:
- Thưa ông… giải phóng cần gì ?
- Dạ thưa… cho tôi hỏi thăm nhà bà Liên!
Bà già nhìn anh và nhắc lại như tự hỏi
mình:
- Bà Liên ?
- Dạ thưa bà giáo… Bạch Liên!
Bà già gặng lại có vẻ gì như lo lắng:
- Bà giáo Bạch Liên?
Hữu Nghĩa dằn từng tiếng rõ ràng:
- Dạ thưa... bà giáo Bạch Liên!
Dường như bà già biết mình bị ép nên
phải kéo dài câu chuyện mà bà không sao lảng tránh được:
- Bà giáo Bạch Liên... thưa ông hỏi...
có việc chi?
Hữu Nghĩa nói như năn nỉ:
- Dạ thưa bà giáo Bạch Liên là dì Ba của
tôi! Dì ruột của tôi!
Mắt bà già như sáng ra, nét mặt bà tươi
lại, giọng bà nhỏ đi gần như thì thào mà thân thiện:
- À... vậy thì ra... ông qua đây... bả ở
đây!
Bà già lật đật vội vàng đi trước qua mấy
khúc quanh. Bà gõ nhẹ mấy cái liền vào cánh cửa mà không đợi chờ ai ra, bà chủ
động mở cửa và đi vào trước. Hữu Nghĩa nghe rõ tiếng bà: - Chị Ba ơi! Có ông giải phóng
nhận người nhà...
Khi bà quay ra, Hữu Nghĩa đã đứng ở
trong nhà, anh không kịp nói lời cám ơn khi lòng anh xúc động...
Một bà già dáng đau khổ và rũ rượi đang
ngồi bên bàn chậm rãi ngước nhìn anh. Hai mươi năm rồi, khi ra đi Hữu Nghĩa còn
ở tuổi thiếu niên, giờ anh khó nhận ra nét thân quen của người dì xưa. Một chân
anh bước lên, người anh hơi cúi xuống, giọng anh nhỏ nhẹ, run run như gọi:
- Dạ... thưa dì Ba... Con là thằng
Nghĩa... con của má Hai... Quế Hương đây!
Bà già gần như đang từ cõi mơ hồ nào
tỉnh lại khi nhận ra một tín hiệu gần gũi và quen thuộc nào đó vang lên. Bà
đứng bật dậy, hai tay giơ ra chới với như muốn nắm lấy người nào đó đứng kia.
Giọng bà rền rĩ mà âm vang như một tiếng chuông ngân khẽ:
- Chị Hai... con chị... Thằng Nghĩa đây
à ?
Khi Hữu Nghĩa chạy tới nắm hai tay bà
thì bà lại ngồi xuống, hai tay buông thõng trên đùi, mắt trân trân ngó nhìn Hữu
Nghĩa vừa lạ, vừa quen. Hữu Nghĩa gục trên lòng bà như ngày nào anh còn bé. Hai
tay bà xoa lên đầu, sờ nắn lên đôi vai khoẻ mạnh của đứa cháu cùng tuổi con bà,
mắt bà tuôn lệ, giọng bà nghẹn ngào:
- Khổ lắm... con ơi! – Không hiểu là bà
thở than với con hay với cháu.
Giờ đây, Hữu Nghĩa đã nhận ra ở bà nét
gì hao hao của mẹ, anh áp chặt vào vai bà, môi anh mím lại, đôi mắt anh chớp
chớp... Người chiến sĩ cảnh vệ đứng nơi cửa nhìn cảnh ấy trong lòng xốn xang và
quay nhìn ra phía hành lang: nhiều cánh cửa hé mở, người ta lắp ló, thập thò...
Dì Ba chỉ khóc ròng. Hữu Nghĩa chưa thể
hỏi thêm điều gì. Bây giờ anh mới thấy căn nhà quạnh quẽ. Chẳng lẽ chỉ có mình
dì ở đây. Anh nhận ra nơi phòng trong, trên một cái bàn nhỏ phảng phất khói
nhang, lờ mờ loang loáng một khung hình lớn. Anh đi tới bên bàn : Một thanh
niên đẹp trai, uy nghi, tươi tắn trong bộ lễ phục sĩ quan, tay cầm thanh kiếm,
cầu vai đính một bông mai vàng lấp láy. Anh tự hỏi: Có phải là thằng Đức,
con dì? Anh đứng đấy trầm ngâm một lúc rồi quay ra. Dì anh vẫn ngồi đấy với
dáng khổ đau, tiều tụy. Anh ngồi sát vào dì, bàn tay anh mạnh mẽ nắm chặt vai
dì như muốn vực dậy thân hình yếu ớt đang hiện diện đây là một phần thân hình
của má. Dường như không thể nén lại một nguồn cảm xúc trào lên, dì gục vào vai
anh và bật khóc òa lên, tiếng khóc ồ ồ, nức nở tràn ngập đầy phòng. Hữu Nghĩa
choáng váng, lặng thinh, hai tay nắm chặt dì để bà khỏi xụm xuống. Có lúc bà
gào lên, gọi tên cả hai đứa con và cháu – một đứa chết rồi và một đứa đang ngồi
đây:
- Đức ơi !… Nghĩa ơi! ĐỌC TIẾP
No comments:
Post a Comment