LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ - TRANG 6


Hữu Nghĩa ở lại với dì rất lâu. Hai người vẫn chẳng nói được điều gì. Dì thì vẫn chìm ngập trong khổ đau mà cháu thì chua xót. Đến lúc phải chia tay, Hữu Nghĩa đứng lên nói nhỏ như cáo lỗi và an ủi dì :
- Con đã tìm được dì rồi và con sẽ năng tới thăm dì. Dì có cho con về ở đây không?
Bà già không đủ sức tiễn anh ra cửa, chỉ ngước nhìn đứa cháu và trên mặt vẫn hằn những nét đau thương. Hữu Nghĩa nhận ra nỗi đau của người dì lớn lắm mà chưa thể nói ra. Lòng anh đượm buồn dấm dứt. Người ta đứng túm tụm nơi hành lang vẻ mặt tươi hơn như mừng cho sự đoàn tụ của người hàng xóm. Mọi người cởi mở thân tình chào hỏi ông khách mà mới đây thôi họ lạnh lùng né tránh. Ông già hồi nãy lảng đi giờ vui vẻ tới bắt tay anh và nói như để thanh minh:          
- Cư xá này có nhiều sĩ quan quân đội quốc gia nên thấy ông tới ai cũng ngán. Ông thiếu tá con bà giáo là sĩ quan hải quân, đi tu nghiệp mấy năm ở Hoa Kỳ về. Hôm các ông vô, ổng chạy về rước bà giáo mà bà chẳng chịu đi nên ổng bị kẹt... Ổng nhảy từ trên lầu thượng xuống!      
Hữu Nghĩa tái mặt và cảm thấy có cái gì nghẹn nơi cổ, nhoi nhói trong tim... Anh trấn tĩnh lại và xải chân bước nhanh xuống lầu, lỗi bậc...
Anh nhìn lại cái ngã tư đường phố rộng thênh thang và cái tòa nhà cao hun hút. Ở đây người đồng đội cuối cùng của anh ngã xuống và cũng nơi này thằng em gần gũi, đứa bạn học thân thiết thời ấu thơ của anh tự hủy diệt mình trong thế thất trận cùng đường. Ngồi trên xe trở về đơn vị, Hữu Nghĩa nhớ lại cái hình ngườii nhỏ xíu đứng mãi trên nóc tòa lầu, hai tay giơ cao khẩu súng như một người điên... một cái xác không còn nguyên vẹn hình hài, nhão nhoẹt, đỏ lòm, tung toé… và tiếng thét thất thanh xé ruột A!… A!… Anh lan man suy nghĩ: có phải loạt đạn kia là từ Đức bắn ra? Nếu như không có Lợi che chở cho mình? Giá như ngày ấy dì Ba nghe má cho Đức cùng đi với anh. Còn bao nhiêu người thân nữa ở phía bên này, ở phía bên kia giờ đang tản mác ở đâu?... Anh nhận ra một điều: Dù là tiếng súng đã ngưng rồi nhưng vẫn còn có cái gì đó nặng nề day dứt dây dưa. Ba má anh dù không còn để được thấy ngày hôm nay nhưng còn dì Ba, còn bà mẹ già của Lợi... Bỗng nhiên anh hít vào một hơi dài thật sâu và thở ra thật mạnh như để lấy lại sức cho mình.
Người chiến sĩ ngồi bên lặng yên trước sự đăm chiêu của người chỉ huy từng trải, bây giờ nhìn anh thắc mắc:
- Em thấy người Sài Gòn khó hiểu!

Nhà giáo Thanh Vân trong đoàn tiếp quản của Bộ Giáo dục vào thành phố từ những ngày đầu giải phóng. Cô cháu gặp nhau. Hữu Nghĩa ôm chầm lấy cô nấc nghẹn kêu lên:
- Má! – Anh gọi cô hay anh gọi Ba Má anh trong lúc đỉnh chung này?
Hai cô cháu đều khóc, không ai cần giấu những giọt nước mắt, dường như sự dồn nén bấy lâu, nay được bộc phát ra những tình cảm sâu kín của mình...
Hữu Nghĩa được chuyển ngành qua công ty Tàu Biển. Những người như anh thật như hạt ngọc lúc này. Anh và Bích Hồng đã có một đứa con – thằng Quyết Thắng, đó là dấu ấn về niềm tin và quyết tâm của họ trong những ngày cam go, gian khổ. Công việc ở cơ quan thật mới mẻ và bỡ ngỡ. Anh lăn mình vào công việc. Chuyện gia đình thì anh rất bối rối, không biết giải quyết làm sao. Anh lảng tránh muốn quên đi, thây kệ sự đời! Cô nhắc nhở, anh đáp lửng lơ:
- Bây giờ cô bảo con tính làm sao?!
Cô nghiêm nghị nói:           
- Đó là việc riêng của con, mà con đã lớn khôn, từng trải nhiều rồi. Cuộc sống nay đã khác, nó đòi hỏi ở mỗi người nhiều hơn và mỗi người phải sống nghiêm túc hơn. Nền tảng gia đình phải là cái gốc để mỗi người bước vào xã hội. Chuyện gia đình con giải quyết chưa xong, cô e chuyện ngoài đời con không tỉnh táo!                    
Anh sống trong dằn vặt. Bích Hồng đã biết anh có vợ con ngoài Bắc nhưng cô để mặc anh. Anh không dám bỏ mẹ con cô! Anh biết ăn nói thế nào với mẹ con Duyên Hải bây giờ? Anh còn nợ một lời thề với chính trị viên. Nếu ngày hôm ấy chính trị viên rời khỏi con tàu thì anh đâu có ngày nay! Anh quyết định làm một chuyến hành hương ra Bắc....
Anh tìm về khu tập thể cơ quan của vợ – một khu nhà lá ngoài thành phố Hải phòng. Anh muốn tạo sự bất ngờ cho mẹ con nó. Chiều tối, một ông khách ăn mặc như tây xồng xộc bước vào nhà. Hai mẹ con đang lúi húi bên mâm cơm dưới ánh đèn điện vàng quạch, giật mình nhìn lên. Con bé lộ vẻ hoảng sợ. Hoa Duyên đứng dậy định hỏi người khách lạ nhưng nàng hớt hải lùi lại, mặt nàng tái xanh đi, miệng ú ớ kêu lên se sẽ:     
- A !… A !…    Rồi quị xuống.
Anh vứt vội chiếc va ly và kịp đỡ nàng. Bé Duyên Hải bổ nhào qua ôm lấy mẹ và khóc thét lên. Mâm bát xô lệch, đồ ăn vung vãi những rau và đậu! Mọi người xung quanh xô tới... và không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra Hữu Nghĩa. Anh nhìn mọi người và đưa mắt nhìn lên nóc tủ: Tấm hình anh phóng to bên cạnh bát hương nghi ngút khói! Anh đã hiểu! Anh ôm chầm bé Duyên Hải và gục đầu vào ngực Hoa Duyên, toàn thân anh rung lên trong tiếng nấc nghẹn ngào...
Đêm hôm ấy, dưới ánh sáng vàng vọt tù mù của chiếc đèn dầu hoa kỳ, anh nhìn tấm thân trần của vợ: em xanh xao, võ vàng đến thế kia ư ?! Bé Duyên Hải nằm lăn lóc, đôi lúc giật mình! Năm sáu năm trời em đã là góa phụ và con là đứa trẻ mồ côi! Hoa Duyên mỗi lúc tỉnh giấc, nàng sờ khắp người anh xem có đúng là chồng mình bằng xương bằng thịt! Rồi nàng hôn lên cái thân thể rắn chắc, nước mắt đầm đìa... Khi ở nhà cất bước ra đây, anh nghĩ rằng anh sẽ nói thật hết và nhận lỗi với Hoa Duyên rồi tùy nàng định đoạt. Nhưng bây giờ anh không thể nói điều gì. Anh quyết định cứ đem mẹ con nó vào rồi sẽ tính sau...       
Anh cùng vợ con về Sầm Sơn thăm gia đình anh chính trị viên. Từ Thanh Hóa ra Sầm Sơn đường thật khó đi, tới nơi cả nhà phờ phạc. Bé Duyên Hải xanh ngắt vì nôn ói nhiều lần. Tìm về nhà anh Thành thì đã xế chiều. Ba đứa trẻ tha thẩn chơi quanh nhà ngơ ngác nhìn mấy người khách lạ. Căn nhà lá trống tuyềnh toàng, chẳng có vật gì đáng giá. Tấm hình  anh Thành trên bàn thờ cùng với tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công hương lạnh khói tàn! Anh cắm mấy nén hương trên bát nhang, chắp tay khấn bạn về chứng kiến lòng anh. Khói hương tỏa lên nghi ngút, có lúc gió thổi vào làm cây hương sáng lòe lên, hình anh Thành mờ mờ, tỏ tỏ làm anh nhớ lại hình bóng anh chính trị viên lờ mờ trong lửa đạn ngày nào và những lời nhắn cuối cùng cho các con anh. Anh ôm mặt khóc lên hu... hu...
Người đàn bà gầy tong teo vứt vội chiếc xe đạp ngoài sân chạy bổ vào nhà. Một lúc ngỡ ngàng rồi chị nhận ra:
- Chú Nghĩa!
Bây giờ anh mới hiểu miền Bắc xác xơ, tiều tụy thế nào cho miền Nam hôm nay! Trong bữa cơm gia đình dù có cố gắng lo cho khách nhưng cũng vẫn đạm bạc, anh nghẹn ngào nói với vợ người đồng đội:
- Chị một nách nuôi ba cháu nhỏ cực quá. Chị cùng các cháu vào trong ấy, tôi sẽ sắp xếp công việc cho chị và lo cho các cháu học hành. Dù sao thì trong ấy cũng đỡ vất vả hơn ngoài này nhiều mặt! Chị xứng đáng để được sướng hơn!
Chị Thành nói thật thà:                                          
- Tôi mẹ góa con côi, cái nghề kế toán hợp tác xã ở đây còn được, chớ bỏ làng bỏ xóm mà đi đến đồng đất nước người bơ vơ, lỡ chú bỏ rơi thì mẹ con chỉ có đi ăn mày rồi chết thành ma không mồ!                                        
Hoa Duyên an ủi:                                                    
- Chị đừng lo, chừng nào em đi ăn mày thì mới chịu để chị vậy thôi!
Vợ chồng anh ra về, hẹn sẽ cho người ra đón...

Hoa Duyên theo về quê chồng. Trên con tàu biển Thống Nhất, nhìn mây nước dập dềnh, man mác nỗi lòng nửa đi, nửa ở. Đời người đàn bà khổ thật, hết dan díu vì chồng lại lận đận vì con! Mẹ chị ngày xưa cũng thế, bà theo anh đi bè mãi từ Việt Trì về vùng biển Kiến An. Chị buồn buồn nhớ lời mẹ hát:  Lấy chồng em phải theo chồng / Anh theo sông ra biển, lên ngàn em cũng phải theo!... Sau này chị ân hận mãi về chuyện ấy. Chị được sắp xếp nơi ở tươm tất và về làm cô giáo dạy học nơi bà Thanh Vân làm hiệu trưởng. Anh cho xe ra đón vợ con anh Chính trị viên. Chuyện nhà cửa không khó. Anh xếp chị Thành làm việc ở văn phòng nơi anh.
Thế là việc nghĩa anh tạm hài lòng. Còn việc tình thì lại rối bời hơn...
Bích Hồng khăng khăng: Cô lấy chồng đàng hoàng, chính đáng, có tổ chức cho phép hẳn hoi! Hoa Duyên lại mang thai, chị tiến thoái lưỡng nan! Chị nói với Bích Hồng :
- Chị em mình không ai có lỗi, chuyện đã qua rồi đừng làm điều chi thêm rối. Bây giờ là tùy anh ấy, giữa hai chọn một, chị chẳng trách cứ gì đâu!
Nhưng anh thì bế tắc, nhiều khi không muốn về nhà, nhìn vợ con anh vừa ngượng vừa lo. Cô biết ý anh:
- Con đánh địch thì hăng nhưng với mình thì nhát! Cứ làm đại đi, bất cần gì là tính liều lĩnh. Tỉnh táo, dám xông vào làm việc hiểm nguy, sẵn sàng chấp nhận mọi bất trắc, đó là lòng dũng cảm. Liều lĩnh là bản chất của kẻ tiểu nhân. Dũng cảm là bản chất của người anh hùng. Đây là lúc con thể hiện mình!
- Nhưng trong lĩnh vực tình cảm thì khó mà rạch ròi, cô ạ!                             
Cô không nói gì, mệt mỏi nhìn anh. Anh nghĩ rằng cô duy lý, không thông cảm tình đời và ít đến gặp cô.
Hoa Duyên sinh đứa con trai. Đặt tên cho nó, anh để tùy chị.
- Em đặt tên con là Hữu Nhân. Nghĩa – Nhân ở đời lúc nào cũng cần nhưng giữ được Nhân – Nghĩa bao giờ cũng khó!
Khi con chập chững tập đi, chị nói với anh:       
- Em vẫn yêu anh nhưng em phải giữ nhân cách của mình. Giá như anh bị hoạn nạn, em sẽ chấp nhận mọi thiệt thòi, điều tiếng để lo cho anh. Nhưng anh đang gặp hội phong vân, em không thể cứ bịn rịn để nhận mãi những thứ dư thừa của anh!            
Cơ quan cũ của chị đã chuyển vào Nha Trang, chị dắt theo hai con về với nghề cũ mà chị gắn bó với nó từ thời son trẻ. Chị khóc và dặn anh lúc ra đi:
- Nếu anh cần một chứng cứ pháp lý, lúc nào em cũng sẵn sàng!...                                                                                                                            
Bích Hồng lo xoay sở làm ăn nên nhạt nhẽo với anh. Trong phương châm tự cứu lấy mình, công ty anh đặt ra “Ban đời sống” và giao cho cô phụ trách. Sau này khi có cơ chế mở, công ty phát triển thành Tổng công ty do anh làm Tổng giám đốc. “Ban đời sống” chuyển thành “Công ty cung ứng dịch vụ” rồi sau chuyển thành “Công ty trách nhiệm hữu hạn” độc quyền cung ứng dịch vụ cho toàn ngành đường biển phía nam. Bích Hồng thành bà giám đốc ngoài vòng cương tỏa...
Chị vợ anh chính trị viên năm xưa lúc nào cũng làm thủ quỹ cho anh.         
Một thời báo chí ầm ĩ ngợi ca. Anh như diều gặp gió, sống trong hào quang của người chiến thắng, của người thành đạt, của kẻ phong lưu. Vợ con anh cả đôi nơi đều hoàn toàn độc lập, anh khỏi lo. Lâu lâu anh ra Nha Trang công tác, ở khách sạn và ghé thăm vợ con. Hoa Duyên tiếp anh như người bạn cũ, như người tình xưa. Lúc chia tay anh đều có quà cho các con, nhưng tiền bạc các con không bao giờ chịu nhận. Anh với Bích Hồng vẫn là nghĩa vợ chồng nhưng cũng là chỗ làm ăn. Bên A, Bên B vừa ăn vừa thỏa thuận rồi OK! ký tắt. Ngoài ra không ai quản lý nổi ai, mỗi người đều bận bịu với công việc của mình...       
Dư luận xã hội coi anh như một giám đốc tài ba bươn chải, can đảm phá xiềng cởi trói từ cơ chế bao cấp cũ ràng buộc, bất chấp những điều tiếng thị phi vì đủ mọi loại  động cơ từ nhiều phía. Anh đã thành tấm gương phản diện cho những ai bảo thủ rụt rè không biết nắm bắt thời cơ, thiếu nhạy bén với cơ chế thị trường. Với những người cấp dưới, họ phục tùng anh như một ông lớn đầy quyền uy thế lực. Với đồng đội cũ, vị trí ấy xứng đáng với công lao và tài năng tháo vát  của anh. Với bạn bè xưa anh vẫn là người thân thiết và quảng đại. Với Bích Hồng anh vừa là điểm tựa vừa là tấm bình phong che chắn để cô làm theo ý của mình. Hoa Duyên vẫn dè dặt và cẩn trọng với thói quen của người chỉ biết miệt mài trong phòng thí nghiệm:
- Trong anh vẫn còn chảy dòng máu nhà binh. Em vẫn nhớ lời anh thường nhắc nhở đồng đội phải “đánh chắc, thắng chắc” mỗi khi tác chiến.                                                                    Anh cười và nhìn Hoa Duyên trêu chọc mà lòng cảm thấy Hoa Duyên vẫn gần gũi với mình. Chỉ duy có bà giáo Thanh Vân vẫn luôn hồi hộp, lo âu theo dõi anh từng bước:
- Nó hào hoa, mã thượng, cả tin, lại có máu bốc đồng. Đấy không phải là tính cách của người kinh doanh, e khó trụ lâu được ở chốn thương trường!
Không mấy ai hiểu được những nỗi phập phồng trong lòng Hữu Nghĩa. Diện kinh doanh càng rộng, trên văn bản số vốn đầu tư thì lớn nhưng thật ra công nợ đầm đìa. Tiền lời thu vào chưa đủ trang trải lãi suất định kỳ cho các ngân hàng, lại phải xoay xở cấn nợ, gối đầu qua những dịch vụ phiêu lưu mạo hiểm của Tổng công ty và các khoản chi cho khuyến mãi, giao tế và những “vấn đề tế nhị” vẫn phải tỏ ra hào phóng để ổn định nội bộ và giữ được niềm tin nơi dư luận. Có lúc anh thật lòng thổ lộ với chú Hai:
- Thời đánh giặc con luôn giữ được tỉnh táo. Những chiến thắng làm nên là kết quả của sự khôn ngoan và lòng dũng cảm, chớ bây giờ được tiếng khen con cảm thấy mình liều!                             Chú Hai ôn tồn động viên anh:
- Thành phố ta đang là ngọn cờ của cả nước trong tư duy mới tiếp cận thị trường. Cháu là niềm tự hào của những người kháng chiến: đánh giặc giỏi và làm kinh tế đâu chịu thua ai! Những nhân tố ấy cần phải nhân lên nhiều lần thì ta mới mong đuổi kịp đặng sánh vai được với Người. Trước kia Cách mạng có lúc ở vào thời kỳ đen tối tưởng chẳng còn gì nhưng với quyết tâm ở mình và lòng tin vào dân, tương lai dần sáng lại!
Trong lòng Hữu Nghĩa cảm thấy những lời động viên ấy không còn thích hợp với tình cảnh hiện nay. Anh phân trần:
- Quy luật của chiến tranh khác với quy luật làm kinh tế. Trong chiến đấu  biết địch biết ta trăm trận trăm thắng nhưng trong kinh tế điều đó còn chưa đủ. Ngay cả khái niệm địch và ta cũng mơ hồ lắm. Tin vào ai ư? Đã nhẩy vào chốn thương trường cạnh tranh khốc liệt thì dân cũng không hẳn là của mình và ta cũng không còn là ta nữa! Trong chiến tranh cho dù có thất bại nhưng ta vẫn có thể thua keo này bày keo khác. Nhưng làm kinh tế mà thất bại thì hôm trước đang là ông chủ, hôm sau sẽ thành kẻ ăn xin! Mà đã trắng tay rồi thì khó lòng vực dậy… Với một cơ sở kinh tế quốc doanh, sự sụp đổ của nó sẽ hệ lụy đến bao nhiêu mối liên quan chứ không riêng cho người đứng mũi chịu sào!
Chú Hai tăng cho anh dũng khí:
- Phải tự tin ở mình, dám nghĩ, dám làm. Chỉ cần nhớ nghĩ gì, làm gì thiết thực có lợi cho dân cho nước là được. Lãnh đạo tin ở những người như cháu!            
Dù có được sự bảo trợ tinh thần ấy anh vẫn cảm thấy điều gì bất ổn. Anh giờ như người nài biết rõ chứng tật của ngựa mình. Nhưng con ngựa đang trên đường đua. Anh đành phó mặc số phận mình  với nó...

Quả thật những bước đi thất thường không bao giờ tới đích.
Thế rồi một tờ báo đánh động nghi ngờ về những việc làm ở Tổng công ty của anh. Rồi lại có tờ báo cho rằng chẳng can cớ gì, bằng chứng là đã có bốn, năm đoàn thanh tra đủ các cấp đều kết luận không có điều chi lớn, chỉ cần điều chỉnh một vài khâu. Thậm chí có vị chức sắc còn khuyến khích:
- Trong khi những qui chế của chúng ta chưa rạch ròi, đồng bộ thì giám đốc phải là người có gan dám làm, dám chịu mới đưa xí nghiệp đi lên!
Lỡ ném lao rồi đành phải theo lao, Anh càng táo bạo hơn, bất chấp dư luận, xa lánh những người trung thực mà anh cho là bảo thủ và nhút nhát, tin dùng và kết giao với những kẻ cơ hội, bạt mạng, thừa cơ đục nước béo cò...Và tới lúc sự sụp đổ của công ty không sao giấu nổi: nợ ngân hàng nhiều kỳ đáo hạn ngày càng chồng chất, nợ nước ngoài tới mức người ta đòi kiện ra tòa án... Các cơ quan dư luận ào vào phanh phui. Mấy tờ báo trước ca ngợi hết lời, nay bêu riếu đủ điều, đủ mọi thứ chuyện với những chứng từ cụ thể, rõ ràng, tài sản riêng đứng tên anh, đứng tên người khác, thậm chí cả những chuyện kín đáo riêng tư trong sinh hoạt cũng có báo in hình! Vụ việc vỡ lở đến mức được coi là trọng điểm cần giải quyết của các cơ quan chức năng nhà nước! Mọi người nháo nhào, qui trách nhiệm cho nhau, không ai dám đứng ra thanh minh, bênh vực cho anh nữa! Anh một mình bó tay chịu trận...
Và thật khủng khiếp khi thông báo chính thức của cơ quan thanh tra có trách nhiệm đưa ra: Đơn vị của anh làm thất thoát của nhà nước hàng ngàn tỷ đồng về việc mua tàu bè hư cũ với giá quá cao; Tàu về hiệu năng sử dụng kém, tốn thêm nhiều tiền tu sửa rồi bỏ đấy, bán rẻ thành tàu phế thải; Các vụ liên doanh sai qui tắc để lợi người, thiệt mình; Lập quỹ đen chi tiêu bất minh ; Vay tiền ngân hàng đầu tư vào những mục tiêu không sinh lợi, không đúng chức năng, gây lỗ lã nhiều...Vụ việc không thể xử lý nội bộ và được chuyển qua cơ quan pháp luật. Viện Kiểm sát truy tố anh với những tội danh: Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hiệu quả nghiêm trọng,  Tham ô tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa, Lập quỹ đen hối lộ để tự do thao túng và đặc biệt gây dư luận chú ý nhiều là tội danh: Lạm dụng chức quyền cất nhắc cán bộ vô nguyên tắc và gây áp lực bức tử nhân viên! Dư luận xôn xao, công phẫn tới mức làm áp lực ngay cả với cơ quan luật pháp.

Cái chết của một thủy thủ khi Tổng công ty của anh tăm tiếng còn nổi như cồn và cái chết của người thủ quỹ vợ anh chính trị viên đồng đội của anh, báo chí mô tả khá lâm li, bi thiết, nhiều người đọc rơi nước mắt và đã tự cho phép mình thay cơ quan pháp luật kết luận anh vào tội giết người!
Vào đầu những năm 1990, đơn vị anh xin mua một chiếc tàu trọng tải lớn thông qua một công ty môi giới nước ngoài. Anh trực tiếp đi nhận tàu. Về nguyên tắc, tàu mới chưa đăng kiểm chưa được nhận hàng chuyên chở, chỉ được chở theo một trọng lượng nhất định mà thôi. Anh cho phép các thủy thủ được mua hàng. Nhiều người gom góp vốn từ nhà mang đi, chắc mẩm phen này trúng mánh. Cùng đồng hành về nước có một tàu hàng do anh Phó Tổng công ty trực tiếp điều hành nhưng anh ta chuyển qua chiếc tàu mới cùng đi cho có bạn. Tới hải phận của một nước láng giềng, chiếc tàu hàng hớt hải báo tin từ trong nước: Hải quan đã giăng lưới chờ bắt gọn chuyến tàu chở hàng phi pháp! Anh Phó vội vã bàn với Tổng giám đốc của mình tìm cách giải nguy: Không được để lộ mà cũng không được để mất hàng vì chuyến tàu này đặc biệt có liên quan đến mấy chú, trong đó có cả ông già vợ của em! Hữu Nghĩa chưa biết tính làm sao, anh Phó giải quyết gọn hơ:
- Tất cả hàng trên tàu đều quăng xuống biển, cùng với tàu hàng cập cảng gần đây, chuyển hàng đặc biệt qua tàu mới, nhận mớ hàng lẻ ở cảng bù vào tàu hàng, vậy là công tư lưỡng lợi!         
Anh em thủy thủ hay tin ồn ào phản đối, cầu xin anh. Anh điên đầu chưa biết tính sao, bỏ về phòng. Anh Phó lệnh:
- Tổng giám đốc quyết định rồi, cứ thực thi đi! 
Một thủy thủ quá đau vì mất sạch trong khi công nợ ở nhà chồng chất, quì xuống van xin anh Phó:
- Nếu các anh nhất định đổ hàng xuống biển, tôi sẽ chết theo!           
Anh Phó lạnh lùng:
- Một anh chết nhưng nhiều người sống. Tổng công ty vẫn còn tồn tại!        
Anh thủy thủ điên dại nhảy ào xuống biển theo những kiện hàng, vỡ đầu chết ngay dưới nước. Anh Phó trấn an:
- Tất cả ở đây đều là hàng lậu! Anh em muốn vô tù hay chịu mất hàng ? Còn người, còn của lo gì!
Chuyến ấy anh em thủy thủ vừa mất người vừa mất của. Còn số hàng đặc biệt thì vẫn an toàn, không biết nó đi về đâu! Khi mọi chuyện đổ bể, một số anh em thủy thủ tố giác chuyện này. Lệnh của Tổng giám đốc nên anh lãnh đủ!
Chị vợ anh Thành chết rất thương tâm. Chị là người chân chất, thật thà. Nhờ Hữu Nghĩa nên chị mới mở mày mở mặt, con cái trưởng thành có công  việc làm đàng hoàng, nơi ở ổn định. Cái ơn ấy thật như trời biển. Chị tận tụy, trung thành, tin tưởng, không bao giờ làm trái lời anh. Chị nghĩ: chú Hữu Nghĩa là người ăn ở có trước có sau, con người như thế không làm điều xấu. Nguyên tắc xuất tiền phải có chứng từ cụ thể cùng với chữ ký đồng thời của thủ trưởng cơ quan, của kế toán trưởng của người nhận và người giao. Không biết từ bao giờ chị cứ phát theo lệnh của chú Nghĩa. Lúc đầu là lệnh có giấy tờ và chữ ký hẳn hoi, rồi lệnh trực tiếp, rồi lệnh truyền khẩu qua Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng hay trưởng phòng Kế hoạch. Chị chỉ cần có chữ ký người nhận, dù ai cũng được để chứng tỏ lòng của chị là ngay thẳng, không hà lạm của công. Chị còn lưu sổ sách rõ ràng. Bây giờ chuyện cơ quan đổ bể, chị thấy thương chú Nghĩa. Chị có thể làm gì để giúp chú qua cơn hoạn nạn? Trước mặt ban lãnh đạo Tổng công ty, chị thật lòng nhận hết sai sót về mình:   
- Nếu như tôi giữ đúng nguyên tắc thì chú Hữu Nghĩa đâu đến nông nỗi này! Nếu cần phải chết để chú được yên tôi cũng cam lòng!
Hữu Nghĩa rơm rớm nước mắt bảo:          
- Chị cứ về đi, tôi là thủ trưởng cơ quan, lỗi ở tôi, ở ban lãnh đạo Tổng công ty là chính!
Nắm được tâm trạng chị, anh Phó gặp riêng, vừa hù dọa, vừa đưa đẩy:         
- Chị làm sai nguyên tắc của người thủ quỹ. Từ cái sai ấy nó tạo cho cơ quan cái nếp làm việc tùy tiện gia đình. Trong cái dây truyền sai phạm ấy chỉ cần cắt đi một mắt xích là xong! Ngày xưa Lê Lai liều mình cứu Chúa tiếng thơm để mãi đời sau!        
Chị hoang mang, dao động, bế tắc và rối trí, cứ tự lấy dây mà cột vào mình:  Dù sao thì mình cũng chẳng thoát thân tù tội. Danh dự liệt sĩ của chồng! Các con chịu điều tai tiếng đến bao giờ gột sạch?! Người chị gầy rộc đi, nói năng lẩn thẩn. Trưa hôm đó chị đến nơi làm việc. Sổ sách tuy đã niêm phong nhưng còn trong tủ khóa. Chị thấy dưới bàn có một can xăng. Thừa lúc mọi người đi ăn, chị khóa chặt cửa phòng. Khi người ta phát hiện có cháy ở văn phòng thì ngọn lửa đã bốc cao ngùn ngụt và khi đám cháy được dập tắt thì văn phòng Tổng công ty cháy rụi kèm theo bao nhiêu những giấy tờ, sổ sách. Thi hài người thủ quỹ biến thành than! Người ta kiểm tra nhà chị, tiền bạc chẳng có bao nhiêu. Lá thư gửi cho các con chị đặt sau bức ảnh thờ chồng :
                                    Các con ơi !
Trước lúc hy sinh bố con dặn lại: “Bố không làm gì để các con hổ thẹn. Lúc nào cũng phải làm người  ngay thẳng và lương thiện !”. Bây giờ mẹ về cõi trên để hỏi bố rằng mẹ sống như vậy có ngay thẳng và lương thiện hay không? Các con ơi, nghèo quá thì hèn và nhục mà chẳng ai thương. Nhưng muốn thoát khỏi nghèo hèn thì khó quá! Chú Hữu Nghĩa là ân nhân của nhà mình, các con không được quên ơn chú !
                                                            Mẹ !   
Người ta nghi ngờ ông Tổng giám đốc có liên quan đến cái chết của người thủ quỹ theo cái logic thường tình. Trước cái chết thảm thương của vợ người đồng đội, Hữu Nghĩa không cầm được xúc động và thấy có trách nhiệm của mình. Anh bưng mặt khóc rưng rức. Anh Phó lạnh lùng khuyên can:
- Coi chừng cái thân mình còn thảm thê hơn! Rồi sẽ mất ráo trọi trơn! Chị ấy hưởng vậy là quá nhiều rồi!
Anh không kìm được phẫn nộ, lần đầu tiên anh chỉ mặt người phó của mình, lớn tiếng:   
- Anh mới là người được hưởng quá nhiều!
Anh run lên, không nói được nữa. Anh Phó cười nhạt đáp lại anh từng lời rành rẽ:
- Chính các anh đã dạy cho tôi cái quyền được hưởng vô độ đấy! Anh cứ nhìn và nghĩ kỹ đi… Có phải vậy không?
Y bỏ đi để lại anh một mình trong phòng Tổng giám đốc lạnh lẽo mênh mông. Anh ôm đầu gục xuống bàn, lòng xót xa cay đắng nhớ lại cái ngày anh em thủy thủ bị đổ hàng xuống biển. Lòng anh dày vò, day dứt mà y cứ nhơn nhơn…
Tàu qua một đảo lớn của quần đảo Trường Sa, anh cho neo tàu ngoài xa, ghé vào thăm người bạn cũ là chỉ huy vùng lãnh hải này. Lúc trở ra, anh thấy mấy chiến sĩ hải quân bơi chiếc xuồng nhỏ tới mạn tàu thi nhau vớt lên những cọng rau, vỏ bí... Người bạn nói:
- Anh em thiếu rau xanh, háo trong người lắm!
Anh đã bảo nhà bếp đưa hết số thực phẩm dự trữ chuyển xuống cho anh em, chỉ để lại phần ăn nhín về tới cảng. Đứng  trên boong tàu nhìn về phía đảo, nhớ lại thời chiến chinh, anh nói với người phó của mình:
- Người lính của chúng ta lúc nào cũng khổ!     
Cũng với cái giọng lạnh lùng như hôm nay, y nói kiểu dạy đời:                     
- Dân đen thì thời nào vũng vậy! Ai có cơ hội phải vươn lên!
Anh nhìn y ngao ngán. Anh và y người chèo, người lái Tổng công ty. Những nỗi lo của anh luôn được y khích lệ:
- Trong thương trường phải bền gan vững chí. Chỉ cần một quả thắng là vực dậy cả chục lần thua. Hãy nhìn các công ty Mỹ, họ chấp nhận thua lỗ bước đầu để đánh bạt đi những kẻ ít vốn, nhát gan và cuối cùng họ độc quyền áp đảo thị trường. Lúc ấy bù lỗ mấy hồi mà vị thế của họ có ai chen vào được nữa? Cả thành phố này mấy người được như anh! Anh có học, có bề dầy cống hiến, lòng trung thành đã được chứng minh, lại có chỗ dựa vững chắc là uy tín của gia đình và được cấp trên hoàn toàn tin tưởng, lỡ có bề nào không ai dám hại anh đâu! Chúng ta là những người mở đường trong cơ chế mới, chúng ta có đầy đủ lý do để biện minh cho những thất bại của mình...                                 
Anh cảm thấy dạn hơn trước những lời khuyên ấy.
Mấy thủy thủ đi qua bóng gió:                             
- Đồ nhân nghĩa giả!
Anh đau lòng đến rơi nước mắt lại còn nghe tiếng vẳng bên tai
- Tin gì ở những giọt nước mắt cá sấu!    
Và hôm nay, anh khóc thương vợ người đồng chí. Những giọt nước mắt của anh đã bị coi như nước lã từ lâu. Thế mà anh vẫn khăng khăng cất nhắc y vòn vọt...                   
Ngày mới giải phóng, Hữu Nghĩa về công ty Đường Biển, y là một thượng sĩ Quân Tiếp Vụ của đội quân vừa tan rã. Vì ở dưới quê, gia đình có nhiều người theo kháng chiến nên y được giữ lại, coi như một cơ sở tốt. Là người tại chỗ, quen thông thổ, nhanh nhẹn và tháo vát, y làm một nhân viên tiếp liệu vật tư thạo việc được Hữu Nghĩa coi như cánh tay đắc lực của mình. Anh thường đến thăm chú Hai – một quan chức lớn, là thủ trưởng cấp trên của anh và cũng là đồng chí với ba má anh lúc còn điều lắng. Mỗi lần tới, anh thường rủ y đi cùng vì ngoài công việc y còn là người thông thạo nhiều ngõ ngách, ngón nghể của dân thành phố. Từ đó y nhanh chóng làm quen và trở thành thân thiết với cô con gái lớn chú Hai. Cô gái mới lớn ở quê lên gặp chàng trai rành rọt chốn thị thành đã mau chóng dẫn dắt cô bỏ đi những nét quê mùa, hòa nhập vào cách sống của người thành thị. Cô mê mẩn cậu cũng không là điều lạ. Và y đã dễ dàng thành chàng rễ của chú Hai. Từ đấy mọi việc của cơ quan  y chạy còn nhanh và được việc hơn nhiều khiến giám đốc cũng phải nể vì. Tuy chẳng mang chức danh gì nhưng trong các mối quan hệ y được coi như người đại diện. Vì thế việc cất nhắc y lên tuồn tuột qua các bậc thang, từ trên xuống dưới không ai phản đối. Y lại tỏ ra là người ham học. Trước năm 1975 y chưa học hết bậc tú tài nhưng y có đủ hồ sơ ghi danh theo đại học. Chẳng biết y có thời giờ nào mà đi học, nhưng bằng đại học Kinh tế Luật Khoa và bằng Cấp cao Chính trị y đóng khung to tướng treo tại phòng làm việc. Đến khi đơn vị phát triển, từ Phó giám đốc lên giám đốc một công ty rồi lên Phó giám đốc Tổng công ty chẳng bao lâu. Y đưa người vào những nơi quan trọng: kế toán, kế hoạch, vật tư... Thằng em rể mới học xong trung cấp, y cho vào thử việc một thời gian rồi đề nghị xếp làm kế toán trưởng Tổng công ty. Hữu Nghĩa lưỡng lự :           
- Cơ quan đang phát triển, thiếu gì người tốt nghiệp đại học mà mình không tuyển?!
Y giảng giải cho anh:                                                                     
- Bằng cấp mấy hồi, anh để em lo! Anh biết bà già vợ của em không? Hồi còn chiến tranh bả ở nhà mần ruộng, ông già ở trên cứ, lâu lâu cho người về móc bả lên. Mỗi lần thăm ông già về, bả thêm một đứa. Đến ngày giải phóng, bốn năm đứa lít nhít. Vậy mà lên thành phố bả làm cán bộ rồi làm tới giám đốc nữa. Học lúc nào? Và học sao vô? Vậy mà công việc chạy ro ro. Mấy anh kháng chiến với đại học nhằm nhò gì! Cái chính là người của mình, mình tin tưởng, dạy nó cách quản, cách trị để mình rảnh rỗi kinh doanh!
Và thế là trong công ty có một lũ âm binh dưới sự điều khiển của thầy phù thủy là y. Đến bây giờ một bầy cùng bị truy tố nhưng với tư cách là những người thừa hành mệnh lệnh của anh !...

Dư luận xã hội chờ đợi phiên tòa. Người người xót xa, căm giận, bất bình. Nhà nước như một con bò, dân thì nín nhịn vỗ nuôi mà sữa thì một bầy vô lại hùa nhau vắt cho cạn kiệt....
Nhà giáo ưu tú Thanh Vân được mời làm một trong ba vị Hội thẩm nhân dân cùng với hai vị Thẩm phán của Tòa trong Hội đồng xét xử.
Từ lâu bà được các đoàn thể nhân dân tín nhiệm giới thiệu và được đề cử  làm Hội thẩm viên Tòa án nhân dân thành phố. Tiếng nói của một nhà giáo gương mẫu, một nhà hoạt động xã hội được trọng nể, phân tích những vấn đề gai góc của cuộc sống có liên quan đến hành vi tội phạm của các bị can, giúp Hội đồng xét xử đánh giá vô tư, công bằng hoàn cảnh phạm tội và định mức án công minh. Tuy tuổi đã cao song bà vẫn chịu khó học thêm Luật học để nắm chắc về pháp lý, giúp bà nhận định chắc chắn khi quyết một điều gì có liên quan đến vận mệnh con người. Ý kiến của bà có tính thuyết phục, được mọi người trân trọng.
Hữu Nghĩa vẫn kính nể bà nhưng anh ít gần vì cảm thấy cô nghiêm khắc làm anh thấy nhột... Từ lâu anh đã vuột khỏi vòng kiểm soát của bà nhưng bà vẫn âu lo, cảm thấy một điều gì không ổn. Bà nhắc nhở chồng con và ba mẹ con Hoa Duyên nên gần gũi anh để anh luôn cảm thấy vẫn còn một sợi dây kết dính tinh thần:                          
- Nó mà không còn một sợi “dây thằng” thì rồi không biết sẽ về đâu!
Khi sự việc của Hữu Nghĩa bể ra, bà đau đớn choáng váng. Đến thăm anh ở trại tạm giam bà nói rất ít, chỉ nhìn anh bằng cặp mắt của người mẹ vừa yêu thương vừa xót xa vì bất lực! Bà cố không để những giọt nước mắt trào ra. Hữu Nghĩa đã hiểu ra điều cần thiết phải có sự nghiêm khắc của cô để giữ cho mình thì đã muộn!  
Anh nhìn cô với đôi mắt ăn năn, buồn rầu...      
Chồng con bà khuyên không nên nhận xét xử vụ án này:
- Sẽ chẳng ai tin rằng mẹ khách quan!    
Chồng bà nhạy cảm một điều gì xấu, nói như năn nỉ:
- Có người mẹ nào đứng ra nhìn người ta xử chém con mình? Mình hãy để việc ấy cho người khác!           
Bà bình tĩnh và kiên quyết:
- Tôi không sinh ra nó nhưng tôi dạy nó từ nhỏ đến lớn. Tôi hiểu nó. Nó mã thượng, bốc đồng, cả tin, liều lĩnh, bất cần lại sống với những hào quang tạo dựng mà không ai kiềm chế thì sao không chết! Nhưng lúc này ai có thể làm rõ ra điều đó? Tôi làm đúng pháp luật. Phải làm cho mọi người hiểu nó!

Phiên tòa xử hơn mười ngày mà người tới dự lúc nào cũng chật ních trong phòng và đầy khắp ngoài sân. Bị can gần hai chục, mỗi khi dẫn giải tới tòa, dân chúng la ó rần rần thể hiện lòng công phẫn. Họ không chịu nổi một lũ sâu mọt ngang nhiên lộng hành phá tán, bòn rút của công cho thỏa lòng tham, ăn chơi hưởng thụ nghênh ngang trước những người dân lương thiện còng lưng quần quật lo từng bữa ăn, từng cuốn tập cho con cái họ.
Đứng trên ghế của Hội đồng xét xử, bà Thanh Vân nhìn xuống những bị can đang cúi gục đầu. Thằng Hữu Nghĩa của bà đâu còn nét mạnh mẽ hào hoa! Da nó xanh xao! Tóc nó bạc  trắng! Mắt nó thâm quầng! Bà nhớ ngày nào nó như con chim non nhảy nhót bên bà trên boong tàu ra đi tập kết! Hai hàm răng bà giữ chặt vào nhau...


No comments:

Post a Comment