MỘT CHUYỆN TÌNH - TRANG 4


Voi, tôi có cảm giác con voi to khỏe vậy, mà cũng phải nằm ịch ở đây nhìn lên đèo Prenn ngán ngẩm! Vậy xin xe hãy dừng đây chốc lát.
Bạn tôi lộ vẻ buồn rầu. Tôi buột miệng đọc khổ thơ đầu một bài thơ ngắn của Tế Hanh: Anh tìm em khắp nơi /  Đến nơi nào mới gặp / Anh tìm em suốt đời / Đến baogiờ mới gặp?! Và tôi động viên anh:
- Ông yên chí đi, sẽ đến lúc ông đọc cho tôi khổ thơ cuối đấy!
Anh đứng trầm ngâm…
Có một ngôi nhà dưới chân đồi, ngay sát bên đường, mái ngói đỏ au, tấm biển lớn còn bóng màu sơn: Công ty LÂM-HÀ – Chuyên mua bán lâm thổ sản. Chúng tôi định tòmò vào đó xem sao nhưng là giờ nghỉ trưa, cửa hàng đóng cổng. Chúng tôi đang tần ngần nhìn vào sâu phía trong sân thấp thoáng bóng người thì tiếng còi xe đã giục!
Xe lên đèo Prenn! Chẳng ai thiết ngắm những cảnh ngoạn mục ở nơi nổi tiếng này.
Mỗi ngày ở Đà Lạt qua đi là một ngày nhạt nhẽ! Mục đích của chuyến đi không thành! Cuộc du lịch mà buồn tẻ!

Vậy là anh đã mất hơn một tháng trời cho cuộc kiếm tìn vô vọng! Trông anh thật thiểu não. Tôi thương bạn mà chẳng biết làm gì hơn nữa! Tôi liều bảo anh cho phát trên đài truyền hình trong mục Tìm người thân! Anh giãy nả:
- Thật vô duyên! Suy cho cùng đã là cái tình chi?! Nào đã biết ai bỏ ai đâ?! Vã lỡ như nàng đã an phận với một gia đình yên ấm, mình lại thêm tội khuấy rối người ta!
Anh đã tính ngày trở về Hà Nội. Tôi còn nấn ná giữ anh. Chúng tôi lang thang nhiều nơi, cũng có ghé Câu lạc bộ Người Hà Nội một lần. Thật vui vẻ và ồn ào. Ai cũng tự hào với sự hiểu biết của mình về Hà Nội với những cảnh đẹp, với những món ăn, với những cái kỳ kỳ, lạ lạ. Chúng tôi như người lạc lõng! Những người Hà Nội truân chuyên đang ở đâu?!.
Một ngày, khi trời đã về chiều. Sau cả một ngày nắng gắt giờ đã nhạt đi, không khí dìu dịu cùng với những làn gió nồng lồng lộng. Đường phố Sài gòn chen chúc người, xe… Người đi về nhộn nhịp. Người đi mua sắm. Người bán dạo và người đi dạo. Không ít người đi vô định! Trong dòng người ấy, hai chúng tôi lặng lẽ bước đi: Để tìm chi? Để làm gì?
Bên một đường lớn có mấy cửa hàng trưng biển bán lâm thổ sản. Anh bảo tôi ghé qua mua ít sản phẩm rừng từ phía Nam về Hà Nội làm quà. Tôi giật mình, chỉ anh tấm biển: Công ty LÂM-HÀ – Chuyên mua bán lâm thổ sản! Tôi linh cảm như một cuộc kỳ ngộ chi đây.
Đứng sau quầy là hai cô gái chừng 15-17 tuổi, nói đặc sệt âm từ Hà Nội, tôi thấy xao xuyến trong lòng. Anh bạn tôi vẫn đứng bần thần. Tôi hỏi thẳng ngay vào chủ đề:
- Lâm Hà đây có phải là Lâm Hà ở chân đèo Prenn, gần núi con Voi?
- Ơ! Sao bác biết ạ?
- Tại sao lại là Lâm Hà? Đó là tên người hay tên ghép địa danh?!
- Dạ thưa bác, vừa là tên người cũng vừa là tên ghép địa danh Hà Nội – Lâm Đồng đấy bác ạ!
- Thế các cháu là người Hà Nội à?
- Dạ, nhà cháu ở gần ngay Vườn hoa Hàng Đậu ạ!
- Gần đó thì biết bao nhiêu là phố: Hàng Đậu, Hàng Than, Hàng Cót, Hàng Giấy, Quan Thánh, Hoè Nhai, Phan Đình Phùng, Phùng Hưng và cả phố Gầm cầu nữa!
- Ồ, các bác có vẻ là người Hà Nội chính thống đấy nhỉ?
- Chính, giả thì chưa biết. Nhưng chúng tôi thực sự sống chết với thủ đô đấy!
- Bố cháu cũng thế đấy ạ! Nhà cháu ở gần chỗ Gầm cầu ấy! Mà giờ thì không còn phải là nhà cháu nữa rồi!
Tôi giật thót mình! Bạn tôi đứng đực người ra, trông thật tội nghiệp! Tôi hồi hộp thật sự, trống ngực đập thình thình. Tôi có cảm giác như hồi nhỏ đi bắt chuồn chuồn: Bàn tay đưa lên, hai ngón tay dần dần khép lại, đôi cánh con chuồn chuồn rung rung cái đuôi nó cụp xuống. Chỉ cần hai ngón tay chập lại mà sao mình run thế. Được hay mất?! Cũng may là giây phút căng thẳng ấy được giải tỏa rất nhanh khi cô gái nhìn về phía trong nhà.
Một thiếu phụ bước ra. Chúng tôi đứng ngẩn người! Thiếu phụ tròn mắt ngạc nhiên rồi mừng rú lên:
- Anh Thanh! Anh Thịnh! Trời ơi!
Đấy là Mỹ Hạnh, em gái của Tâm!
Chúng tôi còn đứng như trời trồng. Ba người phụ nữ tối rít mời chúng tôi vào nhà trong.

Sáng hôm sau, chúng tôi đi trên chiếc xe hàng nhà của anh Tân lên Đức Trọng.
 Để cuộc gặp gỡ được bất ngờ, chúng tôi bàn với Mỹ Hạnh không báo trước. Tôi thì hết sức vui mừng coi như mình đã giúp bạn qua được một điều day dứt. Bạn tôi không nói năng gì, nét mặt không lộ vẻ vui, buồn, nhưng ra vẻ bồn chồn, nôn nóng.
Tới chân đèo Prenn, chiếc xe rẽ trái theo con đường sạn đỏ có mái nhà ngói son rực rỡ của Công ty Lâm – Hà. Mấy nhân viên nhìn thấy xe nhà giơ tay vẫy vẫy chạy ra đón, nhưng xe vẫn bon bon chạy thẳng. Xe đi vào rừng càphê trĩu trịt quả đỏ, xanh. Phía cuối kia là một dãy nhà ngói đỏ rộn rịp bóng người.
Xe qua cổng, vào thẳng trong sân.
Nơi góc sân, một người đầu bạc trắng, dáng khoẻ mạnh đang cùng mấy chàng trai trẻ chuyển vận các bao bố căng đầy càphê và lạc. Tôi nhận ra Tân ngay và buột miệng:
- Chính hắn rồi! Còn đen nhẻm hơn Othello ngày trước nữa!
Cô em gái cười:
- Anh em khỏe lắm! Sáu mươi rồi mà vẫn làm quần quật. Sức trai theo còn mệt!
Mỹ Hạnh mở cửa xe xuống trước. Chúng tôi đi theo sau.
Thấy xe và người nhà, Tân thoáng nhìn rồi lại quay ra làm việc. Có lẽ anh tưởng chúng tôi là khách mua hàng.
Chúng tôi đã đến gần anh, cô em gái gọi:
- Anh Tân!
Anh ngẩng lên nhìn chúng tôi, tần ngần một chút rồi nói như thét lên:
- Ô! Tụi mày đấy à!
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ.
Trên chiếc tủ thờ giữa nhà, chính diện là ảnh ông bà cụ phóng to và thấp hơn, nơi góc phải là ảnh của Ngọc – em trai út anh Tân: Chàng trai khỏe, đẹp, hồn nhiên, trên ve áo mang quân hàm thượng sĩ.
Chúng tôi thắp hương, kính cẩn khấn vong linh hai cụ và chú em đã vì Tổ quốc hy sinh. Từ sâu thẳm trong lòng tôi nghĩ: Nếu thật công bằng thì cả hai cụ đây cũng xứng đáng là liệt sĩ !
Bữa cơm trưa có đủ thứ rượu đặc sản của vùng cao: rượu thuốc, rượu sâm, rượu rắn, rượu dâu... Anh Tân bày ra năm bảy lọ:
- Ta ăn tạm bữa trưa đi cho đỡ đói. Chiều cô Tâm về sẽ vui hơn. Cô ấy đi dạy học trong bon, có xe máy đưa  đón sáng chiều. Cả ngày cô ấy lăn lóc với bầy cháu nhỏ hơn chục năm nay. Khắp huyện này ai cũng biết đến tên cô ấy. Họ khen mộc mạc: Cô giáo Hà Nội tốt lắm! Nghe cũng mát lòng!
Chúng tôi khen anh sức còn dẻo dai nhưng cũng thật thà khuyên anh nên cẩn trọng vì đã bước vào tuổi lục tuần rồi. Anh gật gù, chậm rãi:
- Kể ra thì đời mình cũng bảy nổi ba chìm, long đong lận đận! Chưa từng được lên voi nhưng đã từng xuống chó, dù là con chó đói mà vẫn tận tụy, trung thành. Trước đây mình làm nhiều nhưng hưởng chẳng bao nhiêu. Bây giờ làm nhiều là được hưởng cũng không đến nỗi nào. Phải tranh thủ để bù lại khoảng thời gian mất mát.
Tôi châm vào:
- Mất mát có nghĩa là vô tích sự?!
Anh nhìn tôi lắc đầu, tỏ ý không hài lòng. Anh nói chân tình:
- Suy cho cùng cũng không phải là vô tích sự vì có mất mát người ta mới hiểu ra. Coi như là một sự trả giá, người ít người nhiều. Đừng trách cứ làm gì! Dòng nước kia chảy cũng phải qua bao ghềnh thác huống chi cả một đời người. Mà trách cứ ai? Người nọ nối tiếp người kia, vừa hưởng vừa chịu những cái của lớp tiền nhân để lại. Cứ đem quá khứ ra mà gậm nhấm, mà oán hận lẫn nhau thì chẳng phải là đói rách, còn là tiêu vong nữa! Thời gian ủng hộ chúng ta mà. Còn sức, còn làm cho tới khi không làm được nữa thì mới chịu dựa vào con cháu!
Bữa cơm thật vui.
Chúng tôi – ba đứa bạn thân từ thời niên thiếu, xuất thân từ những hoàn cảnh khác nhau, trải qua gần bốn chục năm thăng trầm vật lộn với đời, giờ đây thành ba ông già tuy còn vướng bận với đời nhưng lòng vẫn hiểu lòng nhau, cùng ngồi điểm lại đời mình những gì còn mất và cùng chia sẻ với nhau những ly rượu nồng ấm, thân tình.
Chiều. Trời cao nguyên hơi lành lạnh, nhưng có bạn, có rượu, chúng tôi cứ thế nằm ngủ ngon lành trên bộ ván. Có lẽ anh Thanh không ngủ được, khoảng thời gian ngắn ngủi trong một buổi chiều thật là tội nghiệp với lòng anh khắc khoải.
           
Khi chiếc xe máy chở Tâm dừng lại và quay ra cổng, Tâm một tay mang túi xách, một tay chống nạng bước vào sân.
Tôi thấy nhói trong lòng: một nữ sinh Hà Nội, đẹp nổi tiếng một thời, bây giờ là một phụ nữ luống tuổi, đẫy đà, đang đi từng bước chậm chạp bất thường đến trước chúng tôi.
Tôi từ trong nhà chạy ra sân đỡ nàng.
Một thoáng ngạc nhiên nhìn tôi, nàng dừng lại rồi nắm chặt tay tôi, thốt lên như gặp điều kỳ lạ:
- Trời ơi! Sao còn có ngày được gặp nhau ở chốn này?
Tôi ôm choàng vai Tâm, hôn nhẹ lên mái tóc mà trên đỉnh đã nhiều sợi bạc như vỗ về một người em gái thân thương. Tôi đưa tay dìu nhưng nàng không chịu như đã quen tự lực bấy nay. Tôi cầm túi xáchh đi bên.
Bước qua thềm nhà nàng mới nhìn thấy người khách thứ hai.
Anh ngồi như tượng gỗ, mặt tái mét, đôi môi run run, hai giọt lệ lăn trên gò má!
Tâm nhìn anh sững sờ, chiếc nạng trên tay rơi xuống đất.
Tôi vội vã đỡ nàng. Cả tấm thân ấy đè nặng trên tay tôi.
Anh Tân vội vã giúp tôi dìu nàng vào nhà trong:
- Hãy để cô ấy nghỉ yên chút đã!
Mọi người đều mủi lòng trước cảnh ngộ này.
           
Sau bữa cơm chiều, trời đã tối. Trăng thượng tuần Đà Lạt xa xa, bàng bạc một màu như trăng thu Hà Nội.               
Anh Thanh và Tâm ngồi tâm tình với nhau ở bàn ngoài sân trước.
Tôi và anh Tân ngồi kể sự đời và nhâm nhi uống trà Bắc với những hoa trái ở miệt cao phương nam này. Anh kể tôi nghe về những năm tháng long đong, lận đận của mình:
- Tôi vào Thanh niên xung phong, lên Tây Bắc. Anh đi bộ đội vào Nam. Mỗi đứa một cảnh nhưng đều gian truân. Tôi làm cán bộ văn hóa đi xây dựng phong trào bổ túc và dạy học. Tôi hăng hái miệt mài với cả tuổi trai tráng của mình. Được anh em tín nhiệm, yêu thương, tôi càng cố gắng. Năm 1970, tôi thi vào Đại học Bách khoa, có giấy gọi học, nhưng đơn vị lúc ấy thiếu người quá, nhiều anh em lại xung vào quân đội, tôi không nỡ bỏ bê phong trào mình đã gây dựng bấy lâu, cứ lần lữa mãi năm này qua năm khác. Năm 1973, tôi yêu và cưới cô giáo viên người Thái – Chị đã ngoài năm mươi mà nước da vẫn trắng ngần, đôi mắt đen láy. Chị ít khi tiếp diện với khách ngoại trừ khi nào cần lắm. Chị cứ quẩn quanh trong nhà, ngoài sân với công việc nội trợ của mình. Tôi thầm nghĩ: Tướng này giỏi thật! Sau đó đẻ liền hai đứa con trai. Bố tôi đặt tên cho các cháu là Nhân Trí và Nhân Tín. Cụ bảo rằng ở đời phải có TRÍ mới thành nghiệp và phải có TÍN thì mới bền lâu. Thằng lớn tôi phải phá ngang cho nó học Trung cấp Nông nghiệp để giúp tôi trước mắt. Bây giờ cháu là chủ lực ở nhà này. Cháu đang theo học lớp Bảo vệ thực vật hệ học từ xa của Trường Đại học Nông Lâm. Thằng thứ hai học giỏi, cháu đang học ở Úc theo diện đi học tự túc. Gần như thu nhập cả nhà đều tập trung vào cháu nên chúng tôi vẫn phải làm cật lực. Năm 1977 vào đây, sinh thêm hai cháu gái: Cháu Lâm Hà học Quản trị kinh doanh dưới Sàigòn, cháu Lâm Thái đang học lớp 12. Năm 1975 cha tôi mất, tôi xin chuyển về Hà Nội làm cán bộ công đoàn ở Phòng vận tải đường sông. Vợ tôi không chuyển được hộ khẩu nên ba mẹ con ăn theo vào tiêu chuẩn dân dã của cả nhà tôi. Bốn anh em đều lớn cả nhưng mới có tôi lập gia đình. Chúng tôi xin lại phần nhà dưới của nhà tôi nhưng người ta bảo nhà đang cho người ta ở, đòi lại thì họ ở vào đâu? Nhưng thực tế thì ông ta đã được Nhà nước cấp cho một căn hộ ở khu tập thể Thành Công, nhà của tôi thì con trai ông ấy ở! Nhà ở phố Hàng Đậu là cha mẹ tôi góp vốn vào công tư hợp doanh, nay cái hợp doanh ấy đã tan biến từ bao giờ, chúng tôi muốn xin lại nhưng không có chỗ nào giải quyết. Cuối cùng ủy ban trả lời: với diện này Nhà nước chưa có chủ trương cụ thể! Biết kêu ai và chờ đến bao giờ?! Quá bức bách, chúng tôi đành nhường lại phần gác chúng tôi đang ở, nhà dưới họ chấp nhận liền! Năm ngoái, tôi có việc ra Hà Nội, ghé thăm phố cũ nhà xưa nhưng nay không còn dấu tích. Nó đã thành ngôi nhà kiến trúc tân kỳ năm tầng, là khách sạn ba sao! Thời đó, được năm, sáu cây vàng là lớn lắm, chúng tôi quyết định chuyển vào đây, cũng là do một anh bạn đi trước rủ rê. Lúc ấy ở thành phố khó khăn lắm. Tôi đánh liều mua 20 hecta đất. Đất có chủ quyền nhưng gần như hoang hóa. Làm tạm căn nhà tranh vách lá cả nhà đoàn tụ. Chỉ riêng mẹ tôivới chú Ngọc còn ở lại ngoài Hà Nội, trú tạm ở nhà bà dì vì nó đang học dở dang Trung cấp ở một trường kỹ thuật. Năm 1979, nó ra trường, lại đúng lúc Tàu đánh qua biên giới, có lệnh tổng động viên, người ta gọi nó luôn! Từ phía Bắc, đơn vị nó chuyển qua biên giới Tây Nam. Mẹ tôi lúc đó mới chịu vào đây. Năm 1981, nó hy sinh! Mẹ tôi héo hon sầu não, tôi tưởng cụ đi luôn hồi đó! Cụ mất cách đây ba năm. Cả hai mẹ con đều nằm ở lăng ngoài kia, có đặt cả bình tro hài  cốt của cha tôi nữa. Con đâu cha mẹ đấy mà! Mai tôi sẽ đưa các anh ra viếng mộ. May mà những năm ở Tây Bắc tôi học  được nghề nuôi ong. Mấy năm đầu vào đây, nhờ nó mà gia đình tôi qua được khúc gieo neo. Cả huyện này đều gọi tôi là ông Tân ong Bắc. Sản phẩm làm ra cô Mỹ Hạnh đi tiêu thụ. Thân gái dặm trường, nó ra vào xuôi ngược Bắc, Nam xoành xoạch. Trên đường mưu sinh anh chị gặp nhau. Cậu ta người Thanh Hóa, trung úy thời đánh Mỹ, phục viên, không nghề nghiệp, lặn lội kiếm ăn, tình cờ gặp gỡ rồi thành vợ chồng, bây giờ cũng ở cả đây. Đứa con gái Lâm Thanh, đứa con trai Lâm Xung – Nó bảo ở rừng mà không có một Lâm Xung thì khó sống! Từ đầu mình cứ lấy ngắn nuôi dài, cả nhà tần tảo, tích cốc phòng cơ. Bây giờ có cả một đồn điền hơn mười hecta cà phê mượt mà, còn lại thằng con tôi đang thí điểm trồng ca cao, hai cây ấy đi bộ đôi như cặp vợ chồng, trong nước dân càng giàu càng tiêu thụ nhiều, mà cả thế giới lúc nào cũng cần đến nó. Cho nên đất nước còn mở cửa thì mình không thể nào đói được,  chỉ trừ phi bế quan tỏa cảng thì lúc ấy sẽ chết chùm! Cửa hàng dưới thành phố để Mỹ Hạnh trông nom. Đó là đầu mối giao lưu, tiêu thụ.
Tôi nhìn anh thán phục, không ngờ cậu cả ngày nào chỉ  đàn xướng, thi ca. Tôi kể cho anh về cảnh ngộ của Thanh. Anh nói:
- Mình vẫn nghĩ cậu ấy là người tốt, có tài, có đức, có chí khí, lại cũng có gặp may nhưng không biết phát huy tác dụng! Suy cho cùng đều là số phận! Chỉ thương cô Tâm, một đời con gái! Vậy mà cô ấy cứng cỏi hơn mình, âm thầm chịu đựng đau thương! Cũng không ít người lân la đánh tiếng, là người lành lặn, đàng hoàng hẳn hoi mà cô ấy cứ lẳng lặng chẳng ừ, chẳng lắc! Chỉ miệt mài với mấy đứa nhỏ như người mẹ có một đàn con. Anh có dịp đi khắp vùng này, anh sẽ thấy mọi người lớn bé đều yêu mến, kính nể cô ấy tới mức độ nào! Là người anh mà mình cũng nể phục, coi như một tấm gương!
           
Thực lòng tôi thấy tiếc thương cho sự không thành của mối tình đa đoan ấy vì tôi không là kẻ bàng quan. Với cả hai người tôi đều quí mến, thương yêu, muốn có được chút gì tác động của mình. Nhân lúc ngồi nói chuyện riêng với Minh Tâm, tôi hỏi:
- Đến cơ nỗi này anh cũng chưa hiểu vì đâu? Tại sao bỗng dưng Tâm cắt đứt mọi dây liên hệ và ẩn mình biệt tích thế này?!
Nàng mới kể lại tôi nghe:
- Chuyện qua đã lâu rồi, em cũng đã già nên nỗi khổ đau đã nhạt đi nhiều. Anh Thanh cũng có hỏi em, em chỉ trả lời rằng: Em không muốn anh vướng bận! Vậy là lỗi tại em! Nhưng với anh thì em nói thật: Em biết anh Thanh là người con có hiếu rất kính cha, nể mẹ nên em không muốn anh ấy chịu thêm một nỗi đau về người sinh thành dưỡng dục của mình. Đó là điểm tựa cuối cùng của đời anh ấy.
Ngay từ lúc mới quen nhau em đã linh cảm thấy cha mẹ anh không muốn chấp nhận em vì các cụ muốn cho anh ấy hoàn toàn suôn sẻ trên con đường danh vọng được người ta ngụy danh dưới hai từ mới là: tiến bộ! Dù có thiện cảm với em về mặt nào đó nhưng em biết các cụ nghĩ rằng nếu em không là người cản trở thì cũng chẳng giúp gì được cho anh trên con đường ấy! Các cụ muốn con trai mình trên đường đi lên có thêm nhiều lực đẩy. Anh Thanh sẽ là người kế tục hay là kế nghiệp rất xứng đáng và có thể còn hơn thế nữa, các cụ đã thấy rõ trong tầm với. Em đã làm tất cả sức mình để có được một sự bình đẳng trong tình yêu vì em yêu anh ấy thật sự. Anh ấy nổi trội trong số các chàng trai đến với em lúc đó bằng tư cách rất chân thành, hoài bão của anh thật trong sáng. Một người con trai như vậy làm sao không hút hồn những cô gái mới lớn với những rung động đầu đời về một tình yêu mãnh liệt! Ngày anh ấy sắp hoàn thành luận án Phó tiến sĩ cũng là thời điểm cần thiết cho bước ngoặt của đời anh. Các cụ thấy đã đến lúc cần phải dứt khoát với mối tình của chúng em. Em vẫn ở trên Trại An dưỡng thương binh, vì về nhà cũng chưa biết làm gì. Em định xin đi học trường sư phạm nhưng các anh chị ở Trại bảo em khỏi cần học, đã có vốn văn hóa sẵn rồi, ở lại làm cô giáo cho đồng chí, đồng đội mình cũng tốt biết bao nhiêu, nghiệp vụ thì cứ vừa làm vừa học. Em nghe thấy có lý. Là trại viên an dưỡng nhưng em cũng được coi như là nhân viên của Trại, vui vẻ làm giáo viên Bổ túc văn hóa cho anh chị em cùng cảnh ngộ với mình.
Bà lên chỗ em hai lần, lần nào cũng đi chiếc xe Volga bóng loáng. Không ai biết chuyện tình cảm của em với anh Thanh, mọi người đều nghĩ em là cháu bà nên càng kính phục bà và quý nể em. Lần đầu, bà đem cho em cả chục mét vải đủ loại và bánh kẹo, thuốc tây đầy túi. Thời ấy là quý hiếm lắm. Bà cảm ơn những tình cảm tốt đẹp của em đối với anh Thanh và bà nói bóng gió rằng:
- Các bác đã chuẩn bị cả rồi. Thanh về bác lo ngay cho nó ổn định về mọi mặt để nó chỉ có một việc tập trung vào lo sự nghiệp. Bác chắc cháu cũng mừng cho nó!
Với em, điều ấy không có gì ngạc nhiên cả. Bây giờ là lúc dứt điểm đây. Các cụ thật tử tế: thẳng thắn và sòng phẳng đền ơn trả nghĩa cho con! Em chỉ đáp lại rằng:
- Vâng, cháu lúc nào cũng mong cho anh Thanh hạnh phúc!
Bà vui vẻ ra xe. Nhưng khi em đặt gói quà vào trong xe trả lại cho bà:
- Cảm ơn lòng tốt của bác, cháu đầy đủ cả rồi nên không cần đến những thứ này!
Nét mặt bà sầm  lại, hơi suy tư rồi bà nghiêm mặt nói như răn dạy:
- Cháu ạ, các bác đã hết lòng với cháu!
Đó là cách hết lòng của các ông bà ấy đấy! Chúng tôi hạ cố đến vậy, chị đã biết chưa? Chà, thật tinh vi và tế nhị. Nhưng thưa bà, tôi cũng có quyền không yêu con bà cũng như con bà có quyền không yêu tôi. Việc đó là của chúng tôi, không ai có quyền cấm cản, càng không có quyền đe nẹt! Cứ để xem sao. Đây là quyền yêu, quyền sống của chúng tôi. Tình yêu của chúng tôi hoàn toàn trong sáng, đã qua thử thách khắc nghiệt của cuộc sống và thời gian, không ai dễ gì dứt ra được đâu!
 Lần thứ hai, để tăng thêm uy thế, bà đem theo người thư ký  của ông. Anh thư ký đường hoàng chững chạc gặp Ban quản lý Trại và yêu cầu dành một phòng riêng để bà nói chuyện với em. Trước đó ít lâu, anh Thanh có thư về cho em, kể chuyện ông cụ qua bên ấy và hai cha con bất đồng với nhau về chuyện của chúng em và dặn: Bây giờ cả anh và em  cùng bảo vệ tình yêu của mình. Vào chuyện, không cần thăm hỏi, bà đi thẳng ngay vào chủ đề:
- Tôi xin thông báo với chị: gia đình tôi hoàn toàn không tán thành mối quan hệ giữa chị với con trai tôi!
A, vậy ra mâu thuẫn cha con nay trút giận vào tôi và bà thẳng thừng tuyên chiến trước! Đâu còn tình chi nữa? Hãy coi nhau như người xa lạ, càng hay:
- Thưa bác, cháu chưa hiểu bác định nói về mối quan hệ gì đây ạ? Nó tốt hay là xấu?
Em định dùng ngôi từ nhân danh xưng với tôi nhưng dù sao bao lâu nay đi lại mình vẫn tự coi như con cháu, cứ nhũn đi, dù bà có sai nhưng mình không phải là người tráo trở. Bà cười nhạt:
- Kể ra thì chị cũng khôn khéo thật, nhưng tôi nói thẳng: Yêu đương thì trai gái tự do nhưng tiến đến hôn nhân là không được lược quyền cha mẹ. Nền nếp nhà tôi xưa nay vẫn thế! Gia đìnhh chúng tôi đã quyết định hôn nhân cho anh Thanh với người xứng đôi vừa lứa con nhà môn đăng hộ đối rồi!
Bà đã xúc phạm đến tôi! Bà đã chà đạp lên tất cả mọi ranh giới. Nhưng để đến mức lành làm gáo, vỡ làm môi thì còn nói làm gì! Em giận run người mà vẫn phải kiềm chế lại:
- Thưa bác, đó là cái quyền đặc biệt của gia đình bác. Còn yêu ai và tiến tới hôn nhân với ai là quyền của riêng tôi!
Bà hết biết nói gì. Suy nghĩ một lúc, bà nói với giọng nhẹ hơn nhưng vẫn còn gay gắt:
- Nhưng tôi yêu cầu chị không được quan hệ với thằng Thanh nhà tôi nữa!
Tôi phải nẹt bà lại:
- Thưa bác, bác đã đi quá quyền hạn của mình. Điều ấy bác chỉ có thể đặt ra với con trai của bác!
Bà không còn nói gì được nữa, hầm hầm đứng dậy, bà buông một câu của người cùng đường, thất trận:
- Dù thế nào gia đình chúng tôi cũng không để thằng Thanh lấy cô làm vợ đâu! Đừng có mà cố đấm ăn xôi, xôi hẩm  đấy cô!
Không kiềm được nữa, tôi đứng bật dậy:
- Thưa bà, tôi sợ rằng chính bà sẽ là người được ăn xôi hẩm đấy!
Bà te tái đi thẳng ra xe. Anh  thư ký ngồi gần đó nghe từ đầu đến cuối, trước khi ra theo bà, anh đến bên em nói giọng ôn tồn
- Thôi, cô thông cảm  cho tấm lòng người mẹ!
Em chạy về phòng, nằm vùi đầu vào đống gối chăn, nước mắt cứ trào ra. Em hiểu anh Thanh, anh ấy hiền nhưng một việc gì anh đã quyết định thì không ai cản được. Anh ấy yêu em thật sự, gia đình anh ấy không cản được đâu. Em nói điều ấy ra không phải là để trả miếng với bà, mà là sự thực, là con bà sao bà không hiểu hết?! Vậy thì chuyện tình này, quyết định chỉ ở em thôi! Đời mình đã bao nhiêu trắc trở, dù có nên vợ nên chồng thì cũng bao nhiêu đổ vỡ, đắng cay! Con người  ta sống còn có nhiều mối quan hệ nữa chứ, cái này ràng buộc cái kia. Thôi phận mình đã chẳng may, giờ lại lao vào vòng xoáy nước! Trước thì được đấy, nhưng sau rồi sẽ ra sa? Lòng em ngổn ngang trăm mối. Nhưng cứ hình dung ra nét mặt kẻ trên và cái giọng kênh đời của bà ấy, em không chịu được. Bà đã miệt thị tôi thì tôi cũng chẳng thương xót gì bà. Nào, cứ để xem ai là người thắng cuộc?!
Khoảng một tháng sau, ông cụ lên trại gặp em. Ông đi chiếc xe com măng ca và ăn mặc như một cán bộ bình thường. Xe đỗ từ ngoài cổng, một mình ông đi thẳng vào căn phòng tập thể của em. Ông vồn vã, vui vẻ, thăm hỏi thân tình từng người. Chuyện trò hồi lâu, ông đề nghị:
- Hai bác cháu ta đi bách bộ thăm Khu an dưỡng.
Ông khen cảnh, khen người, biết một số khó khăn ông hứa sẽ chuyển đạt tới những người có trách nhiệm để mong chóng cải thiện cho anh chị em thương binh – những người thiệt thòi nhiều nhất trong cuộc kháng chiến giữ nước của chúng ta!
Hai bác cháu ngồi nghỉ trên chiếc ghế ghép cây dưới một bụi tre ở chân đồi. Sau ít phút trầm ngâm, ông nói:
- Bác mới đi công tác xa về. Hôm nay bác lên thăm cháu và xin lỗi cháu. Bác gái nông nổi để cháu bất bình là đúng nhưng thôi cháu bỏ qua đi. Thực ra cháu là ân nhân của  gia đình bác, là người bạn tốt nhất của Thanh, gia đình bác hiểu rõ điều đó. Bác cũng cảm thấy giữa cháu và Thanh có mối cảm tình đặc biệt với nhau từ lâu, có đúng không cháu?
Em lặng thinh.
- Các cháu đã trưởng thành có học, lại sống trong gia đình có giáo dục, đã qua nhiều thử thách, có cách sống vững vàng, chững chạc, còn mong gì hơn thế?
Tự nhiên hai hàng nước mắt em chảy ròng ròng. Giọng ông vẫn đều đều thấm thía:
- Là cha mẹ ai cũng thương và mong cho con hạnh phúc bền lâu. Hạnh phúc này không phải chỉ là của riêng đôi lứa, cũng là hạnh phúc của cả gia đình, nhất là cha mẹ, cho nên mỗi người cần phải cân nhắc kỹ.
Em cố ghìm những cảm xúc của mình để lắng nghe lời ông:
- Cháu đã từng nói với Thanh trong tình yêu phải bình đẳng, đúng không?
Em gật đầu nhưng chột dạ.
- Về ý chí và nghị lực cháu có nhiều ưu điểm hơn Thanh nhưng về…
Ông ngần ngừ rồi nói chậm rãi, rõ ràng từng câu:
- Sức khỏe cháu ạ! Sức khỏe cũng là điều rất quan trọng trong đời sống vợ chồng!
Em giật mình: Ông đã đánh thẳng vào điểm yếu của em – đó chính là điều bấy lâu nay em bị giằng xéo, dày vò.
- Đã yêu thương nhau thật lòng thì phải biết sống vì nhau, hy sinh cho nhau, cháu ạ!
Và ông nói thẳng ra một lẽ đời:
- Phải chăm lo cho sự nghiệp của Thanh. Đấy là điều các bác lo lắng nhất, mong cháu hiểu cho!
Em như người chết lặng!
Anh có biết những người bị thương phải cắt đoạn chi không? Cái mỏm cụt hở toác ra, chưa được khâu lại, thịt xương còn trắng hếu, đỏ lừ, đầu dây thần kinh bị cắt chưa có gì bao che, vậy mà hàng ngày người y tá cứ xối nước rửa lên cái mỏm cụt ấy, mỗi lần miếng gạc chạm vào các đầu dây thần kinh chết tiệt ấy là nó nhói lên tới tận đỉnh đầu, đau điếng, cái chi tàn tật cứ nẩy tâng lên! Mỗi lời nói của ông cứ như một lần ai đó đập vào cái đầu dây thần kinh ấy! Em tái tê, mê mẩn. Trong trạng thái tâm thần ấy, ông nói như năn nỉ:
- Cháu hãy thông cảm với bác gái vì bác ấy đã hứa hẹn với một người bạn thân từ khi hai đứa còn đang đi học, hai gia đình đã coi nhau như một từ lâu. Bác cũng day dứt, suy tư lắm! Bác trông vào cháu. Mong cháu hãy thương Thanh, thương các bác!
Em không biết mình đã nói gì, chỉ nhớ ông đưa em trở về phòng và vui vẻ chào từ biệt mọi người.
Em như người bị vết thương tái phát, cái đau đớn hồi nào lâu rồi đã quên đi, giờ nó trỗi dậy còn đau gấp bội vì không còn phải là một cái chân đã mất, mà đang mất đi tất cả những gì mình đã cố công gây dựng, mất đi niềm hy vọng chứa chan là mất cả đời mình! Tinh thần em suy sụp, có lúc bi quan tưởng như đến bước đường cùng.
Đúng lúc ấy gia đình em tính chuyện bán nhà.
Sau này em mới biết rằng khi anh Tân em rao sang nhượng lại nhà, có người đến xem đặt giá bốn cây, trong khi anh Tân cứ nói đại sáu cây. Nhà dưới biết chuyện xin chấp nhận ngay, không bớt chút nào và  trồng vàng ngay một lúc!
 Khi bình tâm nghĩ lại, giá mà không có lá thư của anh Thanh chắc rằng em cứ mãi tin đó là sự hạ mình cầu xin chân thành của một người cha quyền cao chức trọng vì tương lai và hạnh phúc của đứa con mình!
Trên chuyến tàu vào Nam, em như người mộng du. Lần trước đi B trên chiếc xe tải quân sự chật ních người và xóc lộn đi vào nơi khói lửa đạn bom chết chóc mà lòng phơi phới: đi vì một mục đích cao cả và đi để lột xác mình! Bây giờ cũng đi vào hướng Nam đây nhưng là đi chạy trốn tình yêu mà mình hằng mong đợi! Đi để tìm một cuộc sống cho cả gia đình mình đang bế tắc.
Bao nhiêu năm nay em vẫn chờ anh ấy. Những ngày đầu cồn cào, nung nấu tưởng như không chịu được. Nhiều lần em đã viết thư và cũng nhiều lần em đã xé đi những bức thư đẫm nước mắt. Em cứ ngỡ mãi cái ngày em đứng làm cọc tiêu bên ngầm trên đường Trường Sơn ngày ấy, trong đêm tối ầm ì tiếng đạn bom mà anh ấy vẫn nhận ra em! Bây giờ, giữa ban ngày em đi trên đường cái lớn rộng thênh thang, người xe nườm nượp, suốt bao ngày, bao tháng, bao năm, em vẫn chờ đợi một tiếng gọi thân quen: Tâm ơi!

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment