Thực ra tôi chẳng cần gì. Bố mẹ, vợ con
tôi chẳng phải lo. Bản thân tôi cũng không đến nỗi nào. Tôi có hỏi Minh Tâm,
nàng bảo:
- Anh hãy làm vì anh chớ đừng vì em!
Tôi có thể làm được gì cho nàng? Cái đã
mất đi làm sao lấy lại! Vâng, tôi làm vì tôi thật sự. Tôi có biên thư hỏi ý vợ
tôi, cô ấy trả lời:
- Suy cho cùng, việc ấy cũng chẳng ảnh
hưởng gì tới mẹ con em !
Gia đình tôi biết chuyện, mẹ tôi hỏi:
- Anh điên à?!
Ông anh tôi nói:
- Thằng gàn!
Em trai tôi bảo:
- Ông anh sám hối để thành Phật sống cho
cả nhà hưởng lộc. Lộc trần, lộc thánh gia đình mình có đủ!
Cô em gái tôi khuyên:
- Anh nên nhớ rằng người đời bây giờ kỳ
lắm, họ quỳ lạy năm mớ vạn bái đấy mà họ có tin gì đâu, họ cứ làm theo ý họ!
Cha tôi vẫn cẩn trọng như xưa:
- Bố đã làm tất cả vì các con. Nay con
đã đủ khôn để tự quyết định cho mình!
Ở cơ quan người ta nghĩ tôi bị bệnh tâm
thần! Có người cho là tôi chán đời muốn đi ở ẩn!
Bỏ ngoài tai những định kiến và những
lời thị phi ấy cũng nhức nhối lắm rồi. Nhưng khi đặt vấn đề với địa phương đâu
phải dễ! Họ đắn đo suy nghĩ chán. Họ tìm hiểu xem mình có bị kỷ luật gì không?
Có phải là anh hay đấu đá bị thất trận tới cùng kỳ bí? Rồi là mình có học hàm,
địa vị cao, lương còn hơn cả lãnh đạo địa phương thì sắp xếp thế nào? Mình
thanh minh không nổi! Nhờ có anh Tân đã nói thật chuyện của mình với Tâm nên họ
rất nhiệt tình. Vậy chính là Minh Tâm đã bảo lãnh cho tôi về đây!
Anh nhận làm chuyên viên ở Phòng xây
dựng huyện.
Với tài trí của anh cùng những mối quan
hệ rộng rãi, anh làm được nhiều việc và được nể vì. Nhưng anh cuốn hút mọi
người ở chỗ anh làm việc miệt mài, say sưa, như đã lấy lại được sinh khí của
thời trai trẻ. Anh tâm tình:
- Tuổi trẻ phải có hoài bão lớn nhưng
lúc luống tuổi cần thiết thực. Mình đã từng mơ ước được xây dựng tiếp con đường
Trường Sơn hiện đại nhưng suy cho cùng không ai xuyên suốt được thời gian. Mỗi
người chỉ có một khoảng thời gian ngắn ngủi để hoàn thành sứ mạng của mình. Bây
giờ mình làm việc nhỏ: coi như nối mạng con đường lớn tới từng buôn sóc và trên
mạng đường ấy hàng ngày Tâm cùng những học trò bé nhỏ yêu thương hôm sớm đi về…
Có lẽ đó là nguồn vui và niềm an ủi của
anh. Anh sắp xếp có thời gian hàng ngày đưa đón Tâm đến trường dạy học, tới
những mái nhà hẻo lánh trong nương rẫy, nơi có những học trò nghèo khó cần cô
Tâm giúp đỡ.
Anh dựng một căn nhà ngói ba gian ngay
trong khuôn vườn của anh Tân. Nhà anh ít khi vắng khách: bạn bè xuôi ngược, bà
con chòm xóm, những cán bộ chức sắc địa phương qua lại bàn chuyện xây dựng và
phát triển vùng quê mới. Người ta gọi nơi đó là Câu lạc bộ đa hệ, mỗi
người hiểu theo ý của mình: là nơi hội
tụ người ở mọi lứa tuổi, đủ mọi ngành nghề giới chức và bàn về nhiều lĩnh vực
liên quan thiết yếu tới đời sống hàng ngày của người dân ở đây. Bộ ba
Tân–Thanh–Tâm là linh hồn của Câu lạc bộ. Mọi người đều chung một ý, chung một
nỗi suy tư và cùng xoay trở để có được ba mạng lưới: ĐƯỜNG SÁ – ĐIỆN NƯỚC –
THÔNG TIN, đó là điều kiện tiên quyết để quê hương họ đi lên. Lúc nào có dịp
bàn đến việc học hành cho các cháu, bao giờ Tâm cũng nêu lên một yêu cầu thiết
thực: TRƯỜNG – ĐƯỜNG – ĐIỆN, xem ra ý kiến của Tâm thuyết phục được mọi người.
Các anh còn kêu người hùn vốn xây dựng cơ sở chế biến hàng lâm thổ sản loại nhỏ
và vừa. Anh Tân nói
- Người trực tiếp sản xuất có nhiều nỗi
khổ: Mùa vụ thất thu thì đói! Được mùa lại bị o ép nhiều bề! Để yên tâm cho
người sản xuất vừa phải mở rộng thị trường vừa phải có cơ sở chế biến để không
bị động. Mặc dù thời thế giờ đã khác rồi, nhưng ta vẫn là người nghèo, phương
châm thời kháng chiến: Từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ nhỏ đến to
vẫn là cơ sở để mình đi lên vững chắc.
Thúy Liễu mỗi lần về nước cũng lên đây.
Cô ít nói, vẻ mặt luôn bình thản, ít biểu lộ vẻ buồn vui nhưng ẩn sau là những
nét suy tư sâu lắng, mắt đăm đăm nhìn xa, không hiểu cô đang chú ý lắng nghe và
phân tích hay là cô để những lời nói đó thoảng qua. Ít khi cô bộc lộ chính kiến
của mình.
Tiếng con chim cu
văng vẳng khi gần, khi xa trong buổi trưa tĩnh mịch. Khung cảnh ấy thật hiếm
hoi quý giá với những người thành phố phải sống nơi ồn ào náo nhiệt suốt ngày
đêm. Trong ngôi nhà là Câu lạc bộ thôn dã này, đung đưa trên cánh võng, tôi đắm
mình trong cái không khí thoáng đãng, u tịch, cảm thấy lòng mình nhẹ tênh,
thanh thản. Góc kia, Thúy Liễu và anh Thanh, người đọc sách, người cặm cụi với
bản vẽ trên bàn. Không một tiếng động, dường như không ai dám khuấy động sự yên
tĩnh giăng mảnh như tơ này.
Tiếng lọc cọc đều đều cùng với bước đi
lẹt xẹt từ ngoài sân đã phá tan bầu không khí ấy. Minh Tâm tay phải chống nạng,
tay trái dắt đứa bé trai liệt nửa thân bên trái khó nhọc bước lên thềm. Anh
Thanh nhanh nhẹn ra dìu cháu bé đỡ Tâm. Vừa thấy tôi, cô lộ vẻ mừng rỡ như gỡ
được mối lo canh cánh
- May quá anh ơi! Mẹ cháu bé này lên cơn
động kinh nặng lắm, anh đi giúp em với!
Cháu bé vẻ mặt khôi ngô, đôi mắt đen
lanh lẹn, thân hình mảnh dẻ, lại thêm tay và chân trái teo đét, lòng thòng,
đứng nép bên Tâm càng cảm thấy cháu mỏng dính như con cá ép! Tôi đoán cháu trạc
mười ba, mười bốn tuổi. Lời nói của Tâm như một yêu cầu giúp đỡ khẩn thiết cho
bản thân cô. Cả ba chúng tôi vội vàng ra lấy xe máy chở Tâm và cháu bé cùng đi.
Con đường đi vào bon xa khá rộng
và có những kè đá giữa hai chân đồi làm giảm bớt độ dốc nên xe đi khá dễ dàng.
Nhìn kè đá và dòng nước chảy dưới khe, tôi nhớ đến những ngầm đá ngày xưa và
nghĩ thầm:
- Những kinh nghiệm một thời dù đã qua
nhưng vẫn là điều có ích!
Xe chúng tôi dừng tại sân ngôi nhà gỗ
nhỏ hai gian xinh xắn. Bóng cây trùm mát rượi. Bước vào căn nhà bài trí đơn sơ
nhưng gọn gàng, sạch sẽ nhưng vắng tanh, lạnh ngắt. Trên giường một thiếu phụ
nằm chân tay co quắp, cứng đờ, mắt ngước lên trần nhà chỉ thấy đôi tròng trắng
không động đậy, nước miếng sùi nọt trắng chảy thành dòng hai bên mép, mớ tóc
lòa xòa trên vầng trán bệch bạc đẫm mồ hôi, chăn chiếu xô lệch. Dường như đã
quen với cảnh này. Tâm chỉnh trang giường chiếu, lau sạch sẽ và sửa lại tư thế
nằm cho người bệnh. Cô nói vẻ ái ngại:
- Lâu lâu chị ấy lại lên một cơn như
vậy, có khi ngã ở ngoài đường, ngoài sân rất nguy hiểm. Anh xem có thể nào chữa
khỏi hẳn được không?
Trong khi Tâm và cháu nhỏ lúi húi ở dưới
bếp, sân sau, tôi kiểm tra và khám xét toàn thân người bệnh. Anh Thanh giải
thích:
- Thằng bé là học trò cưng của cô Tâm,
cô ấy thương cháu lắm. Chị này là mẹ cháu và cũng là cô giáo, phận hồng nhan đa
truân lắm!
Tâm đã làm được một chén nước lá thuốc
nam. Đứa bé trèo lên giường, cầm thìa đổ từng chút thuốc cho mẹ uống. Tâm ngồi
bên cầm khăn lau những giọt thuốc chảy ra ngoài và thoa bóp khắp chân tay cho
người bệnh nóng lên. Cô nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:
- Chứng này gọi là động kinh, phía Nam bà
con gọi là bệnh phong xù. Nguyên nhân của nó có thể là tổn thương thực thể ở
não bộ hoặc có thể xảy ra sau một chấn thương tinh thần mạnh. Dù là nguyên nhân
nào thì việc chữa chạy hiệu quả cũng chưa chắc chắn!
Tâm chép miệng, giọng buồn rầu như muốn
chia sẻ với nỗi đau của người bệnh nằm đây:
Vậy là chịu hả anh? Đời cô ấy đa đoan
lắm!
Vừa chăm sóc thuốc thang cho người bệnh,
Tâm vừa kể cho chúng tôi nghe về một thân phận má hồng trong cơn gió bụi:
- Con gái Sàigòn đấy. Ngày trước thương
yêu một chàng sinh viên sĩ quan Đà lạt, đã bỏ đô thành lên cao nguyên theo
tiếng gọi của tình yêu. Tháng 4 năm 1975, trong cơn hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy.
Chờ chàng không thấy, quay về Sàigòn cũng chẳng biết chàng đâu! Lỡ đã mang bầu
với chàng nên không dám về nhà! Bơ vơ hoảng hốt ở Sàigòn, gặp mấy sỹ quan bạn
của người yêu đang lẩn trốn cải tạo, chưa biết nương tựa vào đâu, họ rủ nhau
lên Tây Nguyên nhập vào tổ chức FUNRO. Thân gái trong đám loạn quân đành phận
sang ngang lỡ bước! Cái thai đầu bị sẩy! Cô được gã cầm đầu một nhóm bảo bọc,
bao che. Gã này vốn là thiếu tá thủy quân lục chiến, trên đường tẩu tán vượt
biên bị ta bắt giam ở Hàm Tân, anh ta vượt trại về Sàigòn thì vợ đã qua tay một
viên sĩ quan đồng đội. Hận tình. Anh ta tìm lên Tây Nguyên nhập với FUNRO để có
quân, có súng, có chỗ nương thân chờ ngày trả hận! Mối tình gá nghĩa trong
rừng, cô ấy sinh ra một quái thai: không chân tay, đầu chỉ là một cục thịt đầy
lông lá! Từ đấy cô ấy lên cơn hoảng loạn thần kinh như một người điên! Trên
đường lẩn tránh, bọn phỉ bỏ cô ấy bơ vơ
đói khát trong rừng, may gặp đồng bào dân tộc đem về Bệnh viện Tâm thần Đà lạt.
Cô ấy như người ngớ ngẩn, bỏ đi lang thang ngoài phố chợ. Tuy vậy, trông cô vẫn
hiền lành, sạch sẽ, không quậy phá, may gặp được người quen thương tình đem về
nuôi. Cô ấy phụ giúp công việc gia đình, có khi giúp việc chợ búa nhưng hay lên
những cơn động kinh còn dữ hơn thế này, nhiều lần tưởng chết. Viên thiếu tá
lang bạt trong rừng chả làm nên tích sự gì, tàn quân tan tác, y lén về Đà Lạt
định trốn về xuôi, tình cờ gặp cô ta ngoài chợ. Lỡ đã gá nghĩa đèo bồng, giờ
tuy cô thân hình tàn tạ, xác xơ nhưng gã kia cũng muốn có nơi nương dựa, hai
người đem nhau về vùng này làm cái chòi ở mãi trong rẫy, như người miền dưới sa
cơ lỡ vận lên đây làm kinh tế, lần hồi sống qua ngày, chưa biết tương lai liệu
sẽ về đâu. Không hiểu sao bọn FUNRO biết được, cho người về lôi kéo anh đi. Anh
ta lẩn tránh nhiều lần, cuối cùng cũng không thoát đươc. Bọn chúng bắt đem đi,
ít ngày sau thấy xác quăng ở cửa rừng, khắp mình đầy vết đạn! Khi ấy cô đang
mang thai thằng nhỏ này, chứng động kinh dồn dập, lúc tỉnh lại như người ngơ
ngẩn. Bà con quanh đây tìm đến cưu mang. Thằng nhỏ này sinh ra đã mang tật từ
trong bụng mẹ. Hồi ấy chưa mấy ai quan tâm đến chuyện dị hình của trẻ sơ sinh.
Gần đây báo chí nói nhiều đến tác hại của chất độc màu da cam, cô ấy liên hệ
vào con, liệu nó có phải là nạn nhân khốn khổ của chất độc đó không? Suốt đời
lính, bố nó thường đi càn quét, lùng sục ở vùng rừng đước Cà Mau rồi quanh ra
Vùng Một, Vùng Hai chiến thuật, là những nơi người Mỹ rải nhiều thuốc độc diệt
cỏ để quân giải phóng hết nơi ẩn nấp, dễ bề tiêu diệt!.
Thằng bé này 16 tuổi rồi mà ai cũng nghĩ
nó là con nít! 9-10 tuổi đầu mới được cắp sách tới trường. Hận đời, mẹ nó đặt
tên là Trường-Hận! Hồi đó sống có khai sanh, khai tử gì đâu. Đến trường, em xin
làm giấy khai sinh cho cháu, mới bàn với cô ấy sửa tên là Trường Hạnh, mong cho
đời cháu được tốt lành, thù hận mãi làm chi! Lúc đầu nó nhút nhát và sợ mọi
người lắm, như nó không muốn cho ai thấy cái thân tàn tật. Biết gia cảnh cháu
gieo neo, em tìm đến nhà thăm. Cô ấy mặc cảm cứ lánh mặt hoài. Lâu dần gần gũi,
hai chị em thông cảm với nhau. Biết được cô ấy từng qua những nỗi đoạn trường
lại càng thương mẹ con cô ấy. Cả hai mẹ con yếu đuối ốm đau luôn, ngày ngày chỉ
trông vào gánh hàng rau sang tay rong ruổi khắp chợ cùng quê, vừa cực vừa chẳng
đủ ăn. Em nghĩ cô ấy đã có bằng Tú tài, ở đây đang thiếu giáo viên, em vừa động
viên cô ấy ra dạy học vừa thuyết phục để lãnh đạo địa phương chấp nhận. Lúc đầu
khó cả hai đằng: một bên thì mặc cảm không dám có mặt trước đám đông người, một
bên thì còn khe khắt và định kiến với những người liên quan đến ngụy. Cũng
không nên trách họ, vì suốt mấy mươi năm chiến tranh, vùng rừng núi, nông thôn
mới thực sự là nơi chiến địa, mỗi người dân từng thường xuyên chứng kiến bản
chất man rợ của kẻ tội phạm chiến tranh, nỗi đau của họ sâu đậm lắm, làm sao
quên được. Em phải vận động mãi mới xong. Từ ngày ra làm cô giáo, cô ấy gần gũi
với mọi người, được các cháu học sinh và bà con chòm xóm quí mến, mọi người góp
của góp công làm cho hai mẹ con căn nhà gỗ này. Xem ra cô ấy đã yên phận với
cuộc sống bình lặng ở đây. Bệnh tình lâu lâu, khi trái nắng trở trời đặc biệt
mới phát ra, năm một, hai lần. Gần đây người ta nói nhiều đến tai họa của chất
“dioxin” trong thuốc diệt cỏ mà người Mỹ đã rải ở Việt Nam . Cô ấy lo cho con liệu có bị
biến cố bất kỳ? Hoặc như cháu được gặp may thì liệu có khả năng di truyền mãi
về sau? Cô ấy thương con nên hoang mang lo sợ, xem ra những cơn động kinh có
dày hơn trước. Thằng bé này hiền lành, ít nói nhưng sáng dạ và sống tình cảm
lắm.
Nét mặt người đàn bà nằm đó dần tươi
lại, da mặt chị không còn vẻ căng thẳng vô hồn và trên vẻ mặt thanh tú xanh xao
phảng phất nét đẹp thời con gái đã hiện dần lên vẻ hiền hậu dưới những nếp hằn
khổ đau, cam phận. Đôi mắt đen mệt mỏi nhìn Tâm hàm chứa sự biết ơn.
Chúng tôi ngồi đấy, lặng lẽ suy tư…
Chiến tranh qua đã lâu rồi nhưng trong
ngôi nhà nhỏ vẻ thanh bình thơ mộng này những vết thương chiến tranh vẫn hành
hạ những con người bình dị, thơ ngây. Hai người phụ nữ ở hai đầu đất nước, với
những nỗi đau khắc khoải một đời và đứa nhỏ sinh ra khi đất nước đã hòa bình
nhưng trong dòng tuần hoàn vẫn âm ỉ một mầm chết chóc!
Tôi nhìn Thúy Liễu, cô xoay mặt ra phía
cửa, kín đáo lau sạch đi những dòng xúc cảm. Tôi nhớ tới lời nhận xét của anh
Thanh: Cô là sự mâu thuẫn của lòng vị tha đầy trắc ẩn với những nhu cầu thiết
thực của đời thường!.
Dịp này trên huyện tổ chức Đại hội
mừng công cuối năm. Các bạn rủ tôi cùng đi dự.
Những người lao động xuất sắc đáng biểu
dương, trên ngực được gắn bông hồng to đỏ chói. Các bạn tôi ngồi lẫn trong số
ấy, vẫn khiêm nhường giản dị. Những người tiêu biểu báo cáo hiệu quả công việc
của mình rất cụ thể, kèm theo con số thu nhập hàng năm đều có tăng lên. Mọi
người xuýt xoa, vỗ tay hưởng ứng nhiệt tình. Ông Chủ tịch tươi cười:
- Chúng ta khuyến khích mỗi người làm
giàu chính đáng. Dân giàu nước mạnh! Ai có của, có sức cứ mạnh dạn làm ăn. Ai
có công mà ít vốn thì hùn hạp liên kết với nhau cùng làm. Chúng tôi sẽ trợ vốn
cho những dự án thích hợp, khả thi. Trước hết, chúng tôi tập trung lo: Đường sá
thuận tiện tới từng thôn sóc. Điện đến từng nhà và mở rộng mạng lưới thông tin.
Chúng tôi ưu đãi và khuyến khích các nhà đầu tư đến với chúng tôi. Chúng tôi ý
thức được rằng mỗi người dân của chúng ta có no cơm, ấm áo; mỗi cháu nhỏ đều
được cắp sách đến trường; mỗi người khi ốm đau đều được thuốc thang chữa trị
tận tình; mỗi gia đình có một mái ấm yên vui –
Đó là cơ sở để đồng bào tin yêu và tín nhiệm chúng tôi!
Cả hội trường vỗ tay không muốn dứt.
Người ta giới thiệu Nhà doanh nghiệp
Việt kiều. Thúy Liễu bước lên diễn đàn, giọng run run, xúc động:
- Thưa quí vị! Vì tôi sống nhiều năm ở
nước ngoài nên trở thành kiều! Giờ đây tôi chỉ xin được là một đồng bào cùng
quí vị! Vâng, đúng là có đi xa mới biết dân mình còn quá nghèo, quá khổ! Nhưng
cũng nhờ đó mới biết tấm lòng của đồng bào mình đáng quí, đáng trọng biết bao
nhiêu! Và hôm nay, ở đây, tôi vừa ngạc nhiên vừa sung sướng thấy bà con mình
công khai trao đổi với nhau về cung cách làm ăn, cùng bàn cách giúp nhau thoát
cảnh đói nghèo để vươn lên làm giàu chân chính. Tôi xin được góp vốn đầu tư
cùng quí vị ở đây trong lĩnh vực thông tin điện tử, dẫu rằng lãi suất
tuy có thấp hơn nơi khác. Ngày nay, tin học là người trợ thủ đắc lực trong
kinh doanh và sản xuất. Hẳn có vị đặt dấu hỏi: Tại sao tôi chọn một huyện chưa
phát triển để đặt vào đó vốn liếng của mình? Lý do thật rõ ràng và đơn giản: Vì
quê hương của quí vị rất trù phú mà khai thác chưa được bao nhiêu, vì ở đây tôi
đã chứng kiến sự đồng lòng từ người dân thường đến các vị quan chức đều muốn
bằng sức mình biến đổi quê hương từ nghèo khó trở thành giàu có và nếu như có
một chút riêng tư đặt ngoài lợi nhuận thì đó là từ thâm tâm tôi muốn làm một
việc gì thiết thực chung sức, chung lòng với những người tôi hằng kính trọng và
thương yêu nhất đang dốc toàn tâm toàn lực cùng các quí vị xây dựng sự nghiệp
trên mảnh đất này.
Trong tiếng vỗ tay vang dậy, từ hàng ghế
đầu danh dự, Minh Tâm dắt cháu Trường Hạnh đi lên diễn đàn. Hai người với ba
cánh tay và một đôi chân, dìu dắt nhau như hai mẹ con, hân hoan, chững chạc, tự
tin, mang những bông hoa tươi thắm trao cho Thúy Liễu. Thúy Liễu dang rộng vòng
tay ôm chặt hai người đó vào lòng. Ba mái đầu chụm sát bên nhau yêu thương,
thông cảm. Đôi vai Thúy Liễu rung lên...
Nhìn vẻ vui mừng phấn chấn của mọi
người, tôi nghĩ rằng ngoài chúng tôi là những người thân thích, cả mấy trăm con
người đang có mặt ở đây hôm nay chỉ biết Tâm là một cô giáo thương binh, đầy
lòng nhân hậu với học sinh của mình, cùng chia sẻ vui buồn với cuộc đời của
chúng. Cô đã cảm hóa được nhiều người bởi lòng vị tha và nhân ái. Nhưng đã mấy
ai hiểu được và chia sẻ cùng cô những đau thương, mất mát một đời?!
Tôi quay sang nhìn anh Thanh ngồi bên
ghế Tâm bỏ trống: đôi hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống hai gò má sạm pha màu
nắng gió, tay anh đập mạnh hòa chung nhịp vỗ với mọi người. Tôi thấy lòng mình
trào dâng niềm cảm xúc, tất cả mọi hình ảnh trước mặt tôi mờ nhòa, hư ảo, tôi
nghe như rào rào tiếng sóng reo vui, lòng tôi ngất ngây, sung sướng được cùng
với các bạn tôi chia sẻ những thương đau và những niềm vui hạnh phúc...
Viết xong ngày 2/10/1997
NXB Văn nghệ TP. HCM
– 1998 –
No comments:
Post a Comment