Ba năm làm nghiên cứu sinh thực tập ở
Liên Xô, tôi luôn đau đáu nghĩ về quê hương đang chìm trong lửa đạn chiến
tranh, mong cho chóng được trở về nhà.
Ngày 30/4/1975, trong nỗi hân hoan chung
của mọi người, tôi đã khóc. Tôi nghĩ đến
Tâm: Em ơi! Để có ngày hôm nay em đã phải mang nỗi đau đớn cho đời người con
gái! Anh phải chia sẻ cùng em gánh nặng này!
Tôi được các thầy giáo Nga tận tình
hướng dẫn.Tôi bù đầu vào sách vở cùng những thí nghiệm, và các đồ án: biện
luận, chứng minh, phản biện...
Một ngày nghỉ cuối tuần, cô em gái tôi
từ Tiệp qua, dẫn đến phòng tôi một người
con gái. Người con gái này không xa lạ gì với tôi: Cô là con gái ông Bộ trưởng
của tôi, cũng là bạn em gái tôi từ hồi còn học ở nhà. Cô đang học ở đây, theo
ngành Điện-toán. Cô tên là Thúy Liễu. Và từ đó cô năng lui tới chỗ tôi.
Thời gian đầu tôi và Tâm vẫn thư đều cho
nhau. Trong khi thư của tôi nồng nàn những lời lẽ yêu đương thì thư Tâm vẫn đằm
thắm và chừng mực. Lúc nào Tâm cũng nhắm vào sự nghiệp của tôi. Nàng còn ước ao
tôi tiến xa hơn nữa: “Em nghĩ rằng anh nên tranh thủ dịp này để suy nghĩ và
chuẩn bị cho một dự án có chất lượng cao hơn. Những cái ta đã làm được hôm nay
mới chỉ là giải pháp trước mắt, tạm thời. Nhưng một ngày nào đó, con đường
Trường Sơn xuyên xuốt Bắc–Nam
sẽ phải là con đường hiện đại. Có thể là công trình tiêu biểu cho thế kỷ. Em ao
uớc anh sẽ đại diện cho lớp trẻ hôm nay là người có đóng góp xứng đáng cho “con
đường thống nhất” tương lai ấy! Ôi… Nghĩ đến ngày đó đem lại cho anh sự vẻ vang
và niềm vinh dự em thấy sung sướng qua! Chắc là Tâm không thể giúp gì được cho
anh vì lúc đó Tâm không còn đủ sức nữa rồi!”
Tôi tràn đầy nghị lực trong việc học
hành và quyết tâm xây dựng hạnh phúc với nàng. Và tôi đã biên thư cho bố mẹ
tôi, nói thẳng ý định đó khi tôi về nước...
Liễu thường đến với tôi hơn và có những
ngày nghỉ tôi cùng đi chơi với Liễu. Những người xa xứ gặp nhau thường rất dễ
gần nhau.
Hồi
đó, đời sống của nhân dân Liên Xô còn là niềm mơ ước của dân mình. Liễu rất
quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của đời sống. Thấy tôi có vẻ thờ ơ và đôi
khi tỏ ra lạc hậu, Liễu thành thật khuyên tôi:
- Anh cứ yên chí đi, cái bằng Phó tiến
sĩ đã nằm ở Đại sứ quán rồi! Họ hướng dẫn mình mà mình không làm được thì họ
còn ra cái quái gì! Hữu nghị mà anh! Còn cái vị trí của anh ở Viện thì đã có bố
em lo! Anh phải nghe em đi! Tranh thủ lúc này mình làm được khối việc, kẻo khi
về nước rồi là ân hận đó!
Tôi cảm thấy mạch máu hai bên thái dương
nẩy rần rần! Có lẽ mặt tôi đang đỏ bừng lên! Chưa ai dám xúc phạm và coi thường
tôi đến thế! Và thật tình cũng chưa ai nói bộc tuệch với tôi một cách chân tình
như vậy! Tôi cảm thấy sợ sợ nhưng cũng không thể khước từ thô bạo những yêu cầu
của cô được. Gần như tôi giao cho cô quản lý số tiền học bổng của tôi. Cô chủ
động mua sắm những thứ gì cô cho là cần thiết. Cô rành rẽ thủ đô Mascơva có lẽ
còn hơn chúng mình rành Hà Nội ấy. Đồ đạc, hàng hoá chất đầy một góc phòng tôi.
Chỉ còn một năm nữa tôi hoàn thành luận
án. Bố tôi qua Mascơva, gặp tôi tại nhà lưu trú sinh viên. Cụ đã nắm hết tình
hình của tôi qua Đại sứ quán, qua em gái tôi và qua Thúy Liễu. Cụ rưng rưng
nói:
- Con là niềm tự hào của bố! Cả nhà rất
hy vọng vào con! Anh con tuy làm việc ở Đại sứ quán mà nó không biết làm chính
trị! Con vợ nó lại tham! Con Nga (em tôi) thì chỉ vẩn vơ với mấy vần thơ nhăng
nhít và ba cái triết lý lăng nhăng! Chúng nó chỉ ham mê vật chất!
Tôi nói hơi gay gắt:
- Thì người ta chẳng dạy vật chất là hạ
tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc đó sao?!
Bố tôi điềm đạm nói:
- Đành rằng vật chất ai chẳng cần, nhưng
có ham muốn thì cũng phải kín đáo và tế nhị. Chúng nó lộ liễu và lố lăng quá,
bố rất buồn lòng! Trong khi nhân dân mình còn biết bao nhiêu khó khân mà chúng
nó chẳng biết ý tứ gì!
Cụ nhìn vào góc phòng có chất đống đồ
đạc rồi quay nhanh nhìn ra cửa sổ. Tôi chột dạ và tê tái trong lòng! Cụ khen
tôi hay cụ chê tôi? Tôi cười chua chát:
- Vậy ra lỗi của họ là không khôn khéo?!
Bố tôi im lặng, rồi cụ nói qua chuyện
của tôi:
- Bố tin là con sẽ bảo vệ luận án thành
công. Về nước, vị trí của con rất vững vàng, không ai suy tỵ được! Con còn có
thể tiến xa. Việc tương lai hạnh phúc của con đã đến lúc phải đặt vấn đề. Tâm
là người tốt, bố rất quý. Nhưng chọn vợ đâu chỉ một điểm tốt thôi! Trên đời này
thiếu gì người tốt?!
Đây là lần đầu tiên từ khi tôi trưởng
thành bố tôi can thiệp thô bạo vào chuyện riêng của tôi! Tôi rất bực mình nhưng
kiềm chế được:
- Thế bố định lấy vợ cho con à?!
- Chuyện hôn nhân là của các con nhưng
nó hệ trọng đến cả đời người và liên quan tới cả gia đình. Cha mẹ nào nuôi
con cũng ước về sau, trao tơ phải lối, gieo cầu đúng nơi, đó là truyền
thống tốt đẹp của dân tộc mình, con ạ!
- Vậy thì bố định gá duyên cho con với
ai đây?!
Chắc cụ nghĩ là đã thuyết phục được tôi:
- Con Liễu, con bác Bộ trưởng đó! Nó
trẻ, khoẻ, có văn hóa, có cơ sở vững vàng (cụ nhấn trọng âm hai từ cơ sở). Khi
con hoàn thành luận án Phó tiến sĩ thì nó cũng vừa xong chương trình Đại học.
Hai đứa cùng về nước, cùng công tác tại một cơ quan. Chẳng phải tình yêu và sự
nghiệp hỗ trợ đắc lực cho nhau đấy sao?!
Tôi giật mình. Thì ra lời cảnh báocủa cụ
mấy năm trước đây tôi đã hiểu sai! Và nghĩ đến Liễu tôi thấy bần thần: Tôi
không có lý do gì để ghét cô nhưng rõ ràng là tôi không thích hợp với cô! Nghĩ
đến Tâm tôi thấy đau xót như một sự phản bội! Tôi nhìn bố tôi trách móc và cay
đắng hỏi:
- Thế bố quên rằng con có món nợ rất lớn
với Tâm sao? Chính cô ấy thành người tàn tật cũng bởi tại con!
- Con không nên tự ràng buộc mình như
vậy! Trong chiến đấu sự hy sinh mất mát là lẽ thường tình, không lúc này thì
lúc khác, không chỗ này thì chỗ khác! Còn như mang nợ thì ở đời này con đâu chỉ
mắc nợ một người? Con mắc nợ cha mẹ, anh em, đồng đội, đồng chí, đồng bào! Con
trả được nợ cho người này thì lại mang nợ người khác nặng hơn. Phải nghĩ đến
tương lai sự nghiệp của mình con ạ!
Phải thừa nhận cụ là nhà chính trị, nhà
thuyết khách đại tài. Tôi hoang mang,
lúng túng, chưa biết đối đáp thế nào. Tình yêu! Tình yêu anh ạ, có cái gì đó
không thể nói ra. Tôi chống chế yếu ớt:
- Con không thể phản bội!
Cụ đứng bật dậy, nói dằn từng tiếng rõ
ràng, dõng dạc:
- Nào đã ai hứa hẹn điều gì ? Nào đã ai
xâm phạm đến ai? Ở nhà đã chuẩn bị hết rồi. Đây là danh dự của bố, sự nghiệp
của con!
Cụ đóng cửa đánh rầm, đi thẳng!
Ngay tối hôm ấy tôi viết cho Tâm một
bức thư dài. Tôi xác định rằng tôi tha thiết yêu Tâm! Tôi phải có Tâm và Tâm
phải có tôi! Trong thâm tâm tôi tự nhủ lòng sẽ đấu tranh quyết liệt chống lại
cuộc hôn nhân áp đặt này.
Thư Tâm đến với tôi vẫn đằm thắm và chừng
mực nhưng thưa dần như một sự thử lòng và chừng dăm bảy tháng trước khi tôi về
nước thì bặt thư nàng! Tôi càng bận rộn vào giai đoạn cuối của việc học hành
nên thư cũng ít và nội dung thư ngắn gọn, chỉ khái lược tình hình học tập và
sinh hoạt ở trường. Có thể là những thư ấy nhạt đi tình cảm tha thiết, mặn
nồng?!
Thúy Liễu đến với tôi nhiều hơn và cô
thể hiện sự thân tình, chăm chút cho tôi
rất cụ thể. Phải nói thật rằng với tôi lúc đó, Thúy Liễu đã trở thành một hiện
thân của sức mạnh bởi nhiều áp lực: của cha tôi, của cha cô, của sự nghiệp, của
tuổi trẻ sung sức với kiểu cách biểu hiện phương Tây mà người mình không quen,
dễ xỉu lắm!
Vị Giáo sư Tiến sĩ Chủ tịch Hội đồng xét
duyệt luận án của tôi nhận xét:
“Bản luận văn của nghiên cứu sinh NGUYỄN
CAO THANH là có giá trị thực tiễn trong điều kiện cụ thể của Việt Nam .
Chúng tôi liên tưởng đến đất nước Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh chống phát
xít, các quốc gia đang phải tiến hành cuộc chiến tranh chống sự nô dịch
của các nước có nền khoa học kỹ thuật
cao thì sự đóng góp tích cực và táo bạo của các nhà khoa học như anh sẽ là nhân
tố không thể thiếu được để đưa đến thắng lợi cuối cùng. Tôi tin rằng trong điều
kiện hòa bình, với sự thông minh và sáng tạo, với những điều kiện cho phép thực
hiện những quy trình công nghệ chính xác cao, nghiên cứu sinh NGUYỄN CAO THANH
có thể bổ sung và nâng cấp công trình của mình đạt được những chuẩn mực nghiêm
ngặt của khoa học. Công trình đó có thể
xét đạt học vị cao hơn”!
Tôi đã rưng rưng nước mắt nhận bằng Phó
tiến sĩ với những lời khen như vậy! Trước mắt tôi hiện lên những con đường mịt
mù khói lửa, lồi lõm đạn bom, ngổn ngang cây đổ: những chiến sĩ vận tải lái xe
thồ hai bánh lên xuống đèo cao, dốc đứng; những chiến sĩ lái xe tải vùn vụt dưới làn đạn nhằng nhịt,
bên những vực sâu trong đêm tối không đèn. Và tôi thấy Tâm nằm đó – giữa con
đường ấy và lời căn dặn của nàng thủ thỉ bên tai: “Em ao ước anh sẽ là người
đại diện cho lớp trẻ hôm nay có đóng góp xứng đáng cho con đường thống nhất
tương lai”!
Tôi viết ngay một bức thư thật dài cho
Tâm, tường thuật khá tỉ mỉ buổi bảo vệ luận án Phó tiến sĩ của tôi và cả những
giấc mơ một thời sống lại.
Thúy Liễu chia sẻ niềm hân hoan bên tôi!
Tôi ngậm ngùi nhớ đến Minh Tâm
Đầu năm 1978, tôi cùng Thúy Liễu trở về
Hà Nội.
Ngay
chiều hôm ấy, lẳng lặng không nói với ai, tôi bổ đến nhà Tâm. Bây giờ tại đó,
chỉ còn gia đình chú thím tôi ở cả trên gác, dưới nhà! Hỏi ra mới biết: phần
dưới nhà coi như đã cho thuê, thuộc diện Nhà nước quản lý! Anh em Tâm đã nhiều
lần xin lại nhưng không được! Cuối cùng họ bàn nhau nhượng lại cả mấy buồng
trên gác cho chú thím tôi! Hình như mấy anh em đã di chuyển vào phía Nam
nhưng không ai biết cụ thể ở đâu!
Tôi
cảm thấy như mình bơ vơ, lạc lõng giữa đời!
Cả
nhà tôi đều giữ sự im lặng và kín đáo.
Cùng lúc ấy có quyết định chính thức đề
bạt tôi làm Viện phó. Thúy Liễu cũng về làm việc ở Viện tôi.
Từ đó, công việc bộn bề đã cột chặt tôi
vào những lo toan cho việc xây dựng và phát triển của ngành. Những công việc
chuyên môn, công việc hành chính và sự vụ cùng với các cuộc hội nghị trong và
ngoài nước cuốn hút tôi, hầu như rất ít có ngày giờ rảnh rang. Những lần đi hội
nghị gần xa, Thuý Liễu thường đi cùng vì cô ấy quản lý các số liệu công trình
và rành ngoại ngữ. Những lần vào họp ở phía Nam , tôi cũng có ý tìm Tâm nhưng
chẳng biết hỏi ai. Những người tôi thường giao tiếp thì không ai biết gì về họ.
Bạn bè cũ như các anh thì không biết đang lặn hụp ở đâu? Có những lúc nhớ tới
Minh Tâm, tôi vẫn thấy nhức nhối trong lòng: Minh Tâm ơi, anh vẫn yêu em! Vì cớ
gì em đã bỏ anh? Giờ này em ở nơi nào? Em sống ra sao?!
Tôi cảm thấy lòng mình lẻ loi, trống
trải.
Trong
tâm trạng ấy, với sự quyết định và sắp xếp của gia đình, với sự hiện diện của
Thúy Liễu thường xuyên, đã thành định mệnh của đời tôi!
HẠNH PHÚC MONG
MANH :
Đầu năm 1980,
người ta cưới vợ cho tôi!
Hồi đó cả hai phía biên giới Bắc, Nam
còn đang căng thẳng, đời sống của Hà Nội mình khó khăn thắt ngặt là thế mà tôi
vẫn được cơ quan và gia đình lo cho chu tất. Ngày mai làm lễ thành hôn mà chiều
nay tôi mới đi công tác ở nước ngoài về! Nhiều tiếng khen nhưng xì xầm cũng có
những tiếng chê! Tôi tặc lưỡi: miệng thế gian mà! Hôn nhân là chuyện cá nước
duyên ưa hay là số phận?
Tôi lại lao đầu vào công việc.
Gia đình tôi thêm nàng dâu mới. Cuộc
sống rộn rã vui chung được ít lâu rồi lại chìm vào sự bình lặng thường ngày. Ai
cũng tất bật vào công việc của mình.
Anh tôi tuy lấy vợ trước tôi nhưng cả
hai người đều sống ở nước ngoài. Đôi ba năm về thăm gia đình vài ngày thì chủ
khách đều hồ hởi san sẻ cho nhau những ngọt bùi. Dù rằng bố mẹ tôi không ưng
cách sống của người chị dâu nhưng việc đời ai nấy sống. Với ông anh, thì cha
tôi là cây cao bóng cả để vợ chồng ông triệt để khai thác hiệu năng cái bóng
mát của cây đại thụ!
Bố tôi là người cẩn trọng và đúng mực.
Cụ nói năng từ tốn, cân nhắc từng ý, từng câu và bao giờ cũng chú ý tới phản
ứng của người nghe. Cụ có tài hướng người nghe vào mục đích chủ đề của cụ. Xưa
nay cả nhà tôi kính cẩn lắng nghe lời cụ. Với các con, cụ là người đưa đường,
chỉ lối và sắp đặt chỗ cho chúng tôi ngồi. Cụ là người bố đầy tình thương
nghiêm khắc và cũng là người cha quyền uy tối thượng!
Mẹ tôi từng một thời gian buôn gánh bán
bưng nuôi một đàn con dại và tiếp tế cho chồng những ngày ông thoát ly hoạt
động. Bà như cái vịnh bình yên cho con thuyền mong manh của bố tôi neo đậu
trong những ngày biển động! Cha tôi rất thương và nể mẹ tôi. Từ ngày về thành
phố, bà được sắp xếp làm việc ở cơ quan phụ nữ. Vốn học của bà chẳng có bao
nhiêu nhưng bà đã từng một tay chèo chống cả một đại gia đình thoát cơn binh
lửa can qua nên bà nhanh nhạy và tháo vát, sau này bà được lõm bõm học thêm qua
những lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Bà là cán bộ tuyên truyền nên bà nói theo nghị
quyết và theo ý của bố tôi nhưng mọi chuyện gia đình thì bà phải quyết theo ý
của bà và mọi người trong nhà âm thầm chấp nhận vì bà là người mẹ tần tảo,
người vợ đảm đang, người quản gia tận tụy trung thành.
Thằng em trai tôi lúc ở tập thể, lúc ghé
về nhà vô chừng, có cũng như không!
Vợ tôi kém tôi năm tuổi. Từ nhỏ cô đã
học trong các trường nội trú, được sự ưu ái vì gia thế cùng với việc xã hội
đương nhiên phải lo lắng cho cô. Đến tuổi trưởng thành, cô sống lâu năm ở nước
ngoài tạo cho cô tính tự do phóng khoáng. Cô hiểu biết xã hội theo sự giáo huấn
ở nhà trường nửa Á, nửa Âu. Cô thích nghe nhạc cổ điển và đọc sách triết học
nên những nhận xét của cô rất tinh vi sắc sảo. Mới làm dâu được ít ngày, cô đã
nói với tôi nửa đùa, nửa thật
- Ở nhà này mẹ hay nói, vậy mà chỉ là
cái đuôi thôi! Bố cái gì cũng ừ nhưng lại là cái đầu! Mọi buồn vui cứ nhìn cái
đuôi thì biết. Cái đầu đầy toan tính nhưng lúc nào cũng lặng thinh!
Cuộc sống Hà Nội những măm 80 thật khó
trăm bề. Cán bộ công nhân viên nhà nước chủ yếu sống theo chế độ cung cấp với
các loại bìa như sự phân loại đẳng cấp thời xưa. Nhà tôi năm người, có ba loại
bìa: bìa A là của bố tôi. Bìa C là của mẹ tôi và tôi. Bìa D là của vợ tôi và
chú em trai. Mẹ tôi quản lý chặt chẽ năm tấm bìa ấy để điều tiết cuộc sống gia
đình. Bìa A và B đặc biệt được mua ở cửa hàng phố Tôn Đản, ngoài những tiêu
chuẩn định mức còn được phân phối bổ sung thêm. Bìa C của cán bộ trung cấp được
mua ở cửa hàng phố Vân Hồ. Bìa D là của công nhân viên chức và bìa E là của
thường dân thì mua ở chợ. Đó đây người ta nghe được những câu vè đường phố: “Tôn
Đản là của vua quan / Vân Hồ là của trung gian nịnh thần / Chợ
trời là của nhân dân”! Một hôm, thằng em tôi về nhà, trong bữa cơm, nó chỉ
những món ăn nào mua được ở đâu rồi nó tthốt ra mấy câu vè không biết lượm từ
đâu: “Đầy tớ ăn ở cao sang / Ông
chủ ăn ở ngang hàng cu ly / Ông chủ đâu dám phân bì / Tớ không vừa ý,
chủ đi đằng đời”! Mẹ tôi chỉnh ngay:
- Đây là tiêu chuẩn, chế độ do Nhà nước
qui định, con không được xuyên tạc!
Vợ tôi nói nhẩn nha:
- Ở nước mình làm đầy tớ sướng hơn ông
chủ cho nên cứ kêu gọi làm chủ hoài mà có ai dám nhận đâu? Ai cũng muốn làm đầy
tớ!
Cha tôi nhắc nhở cả nhà:
- Tất cả đều trong thời kỳ quá độ! Gia
đình mình toàn cán bộ, nói năng cần thận trọng!
Thực tình vợ tôi rất lo cho tôi. Có lần
cô thủ thỉ tâm tình:
- Em thương anh cái nết thật thà và tận
tụy. Nhưng vừa vừa thôi em còn chịu được. Người ta có lúc say rồi tỉnh lại,
nhưng anh cứ ngủ say hoài như con gấu mùa đông!
Tôi nói về những ước mơ cháy bỏng một
thời vẫn còn thôi thúc không nguôi.
Vợ tôi cười, ôm lấy cổ tôi nhắc nhở:
- Mục đích cuối cùng của khoa học cũng
là để phục vụ con người, trong đó có cá nhân mình. Mình có tồn tại thì mới phát
minh được chứ! Muốn tồn tại anh biết phải làm gì không? Hiện nay sự tồn tại của
anh đang phải dựa vào mọi người trong nhà này, anh chẳng khác chi một anh chàng
ăn bám! Vậy mà anh cứ nghĩ rằng anh lương thiện và trong sạch. Đó cũng là một
loại đạo đức giả! Nhà này toàn một kiểu như anh!
Tôi giận tái người.
Trong tập ảnh lưu niệm, tôi vẫn giữ
những tấm ảnh chụp ở Trường Sơn khói lửa một thời, trong đó có cả hình của Minh
Tâm. Tôi không cần giấu vợ. Vợ tôi biết nhưng không hề có ý ghen tuông bóng gió
thường tình. Một hôm, vợ tôi ngồi giở những tấm hình đó ra coi. Tôi thấy vui
trong lòng và ngồi xuống bên nàng. Vợ tôi nói vẻ chân thành
- Em rất kính phục các chị các anh này.
Chồng của em trong số những người như thế. Thật ra không có những lớp người đó,
đâu có ngày nay. Em không lẫn lộn những điều hay, dở. Em rất khinh những kẻ bội
bạc với quá khứ!
Tôi mừng khôn xiết ôm chặt vợ vào lòng.
Và nàng ôn tồn nói tiếp:
- Nhưng nếu anh chị nào còn được tới
ngày hôm nay cũng phải biết sống khác đi mới tồn tại được. Anh không biết đấy
thôi, lúc các anh ở tuổi đôi mươi, lửa tình rừng rực, người ta kêu gọi các anh
“Ba khoan” (Chưa yêu thì khoan
yêu. Yêu rồi thì khoan cưới. Lỡ cưới rồi thì khoan đẻ)! Phải thế không
nào? Để làm g? Phải chăng để các anh chỉ có một việc lăn xả vào cái tuyến đường
lửa bom, chết chóc ấy! Thế nhưng chính người đã khai sinh ra cái phong trào “ba
khoan” ấy thì sao? Cái ông đầu trò của anh đấy! Đã quá tuổi tứ tuần, vợ
chết chưa xanh cỏ mộ đã vội khoan ngay một cô đào trẻ nõn nường chỉ đáng
tuổi con! Đành rằng về pháp lý không có gì sai nhưng về đạo lý có khác chi một
trò đại bịp! Quang minh chính đại cái gì?! Các anh vẫn thường được rao giảng:
người cách mạng phải lấy đạo lý làm cơ sở để xây dựng đời sống mới đó sao?! Ai là người cách mạng? Các
anh à ? Đâu phải chỉ có một ngài nói suông như thế! Anh là người có học, anh
từng được nghe giảng khá nhiều về duy vật, duy tâm. Vậy mà anh chẳng thấy được
những biến đổi ngay trong ngôi nhà anh đang ở!
Tôi từ trạng thái sung sướng, yêu thương
chuyển thành ngạc nhiên, thắc mắc! Vợ tôi lẳng lặng ngồi thoa phấn và sửa sang
da mặt để mặc tôi với bao trăn trở suy tư. Lát sau cô lại thủng thẳng đưa ra
những nhận xét làm tôi tái tê, cay đắng:
- Tình yêu thương con cái là bản năng
của giới động vật có cấu tạo hệ thần kinh cao cấp. Suy cho cùng nó cũng là phản
xạ tự nhiên để bảo tồn nòi giống. Nó tỷ lệ thuận với sự cấu tạo tinh vi của hệ
thần kinh. Ở loài người nó mang tính vị tha cao cả, thiêng liêng. Nhưng nó cũng
sẽ là độc ác nếu tình thương ấy mang tính độc tôn vị kỷ! Dưới mái nhà này, tình
thương ấy lại được điểm tô dưới chiêu bài cách mạng. Người ta nói đó là lo việc
trồng người! Kết quả là sản sinh ra được bốn đặc chủng trí tuệ cùng chung sống
hòa bình dưới một cái gậy chỉ huy trong ngôi nhà tưởng chừng như bình yên, lặng
lẻ này!
Tôi cũng muống tò mò xem vợ tôi phân
loại thế nào vì dù sao cô cũng ở một vị trí khách quan và vô tư nhất định:
- Vợ chồng ông trưởng là tiêu biểu của
loại người thực dụng. Phương châm của họ là: Tôi làm tất cả để có những cái mà
tôi cần! Chú em lãng tử cứ như người mộng du: Đời chẳng có chi và ta cũng chẳng
cần chi – ngoại trừ cái ăn để sống! Cô em gái học đòi kiểu sống hiện sinh: Tất
cả tồn tại vì tôi! Cái hạng người này họ bất cần nên bất trị! Còn ông chồng của
tôi là một kẻ lạc loài: Anh đam mê! Người ta có thể đam mê quyền lực, tiền tài
hay sắc dục. Họ có những thủ đoạn dù nham hiểm hoặc tàn nhẫn để đạt cho bằng
được. Nhưng chồng tôi lại đam mê những thứ viển vông vì anh không lượng hết sức
mình! Cuối cùng rồi anh sẽ quàng vào cổ mình một con số không tròn trặn!
Tôi lờ mờ cảm thấy những lời nhận xét
của vợ tôi tuy cay độc nhưng không phải là vô căn cứ!
Dù sao những quan niệm khác nhau về cuộc
sống trong một gia đình Việt Nam
vẫn có thể dung hòa được. Nhưng sự khác nhau về cách sống đặc biệt là của những
người phụ nữ xa lạ phải ràng buộc lại với nhau vì những mối quan hệ dây mơ rễ
má đã trở thành một cái ách nặng nề mà người đàn ông trong gia đình phải hoàn
toàn gánh chịu.
Cha tôi là cán bộ cấp cao, có tiêu chuẩn
người lái xe, cần vụ và bảo vệ nhưng việc ai nấy làm. Mẹ tôi trước kia vẫn phải
lo lắng việc gia đình trong, ngoài, giờ có nàng dâu: thêm người thêm việc nhưng
chẳng ai đỡ đần. Mẹ tôi phật ý! Tôi cũng vô tâm, không lưu ý tới những việc cụ
thể trong gia đình nhưng lại là mối giao lưu tình cảm tế nhị tạo nên sự thuận
hòa hay rối rắm. Một buổi tối, sau bữa cơm, cha giữ tôi lại, khuyên bảo mấy
câu:
- Con phải chú ý nhắc nhở vợ con, đừng
để mẹ phiền lòng!
Tôi cũng chưa hiểu chuyện bắt nguồn từ
đâu? Khi tôi bước vào phòng, vợ tôi đang nghe nhạc, vẫn để dây head phone
bên tai, cô lơ đãng hỏi:
- Chắc ôn (OH: tiếng Nga, đại từ
ngôi thứ ba nhân xưng, số ít, giống đực) bảo anh phải biết dạy vợ chứ gì? Ana
(OHA: đại từ ngôi thứ ba nhân xưng, số ít, giống cái) bao giờ chẳng đúng!
Tôi giận run người, ngồi bịch trên chiếc
ghế dựa. Vợ tôi vẫn mơ màng nghe nhạc, mắt lơ đãng đâu đâu.
Ngày hôm sau, tại phòng ăn, mẹ tôi làm bảng phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng người. Đương nhiên cha tôi không có tên trên đó. Tôi làm một số công việc
phụ. Chú em trai: tổng vệ sinh ngoại cảnh khi có mặt ở nhà. Mẹ và vợ tôi thay
nhau nội trợ. Vợ tôi bĩu môi:
- Bất bình đẳng!
Để mẹ khỏi buồn, tôi ráng làm tròn cả
việc tôi, việc vợ. Mẹ tôi xót con, đôi khi buông lời bóng gió gần xa. Vợ tôi
càng lạnh như tiền!
Trên
bàn làm việc của mẹ tôi đầy những chồng nghị quyết và báo chí cùng với
hai tấm hình lãnh tụ dưới ghi kèm lời giáo huấn. Một tấm ảnh với câu: “Một
ngày chưa đọc báo Đảng chưa biết phải làm gì”! Một hôm vợ tôi nhìn thấy, cô
lấy tay bụm miệng mà vẫn nghe tiếng cười khúc khích. Mẹ tôi giận đỏ mặt, bà
đứng giữa phòng nói lớn:
- Bàn làm việc của tôi không ai được
tới!
Từ đấy vợ tôi không bén mảng tới đó làm
gì. Nhưng một lần, cô mượn tờ báo Phụ nữ của bà từ tay tôi, đọc xong, cô để lại
bàn ăn. Mẹ tôi nhắc:
- Để lại ở bàn của mẹ!
Cô thủng thẳng trả lời:
- Bàn làm việc của mẹ không ai được tới!
Mẹ tôi đứng ngây ngườii nhìn cô trân
trân. Tôi hoảng quá, lật đật cầm tờ báo đặt ngay ngắn tại giữa bàn của mẹ.
Cha tôi có lẽ vì thương tôi mà cụ rất
kiềm chế, kiên trì và mềm mỏng. Một hôm nhân chuyện vui cả nhà, cha tôi lái qua
kể về những công lao nhọc nhằn của mẹ tôi trong việc gây dựng gia đình. Vợ tôi
kết luận một câu:
- Giá mẹ cứ làm bà nội trợ như vậy thì
đáng quý biết bao!
Mẹ tôi không chịu được nữa, bà xô chồng
bát, đứng dậy và nói lớn:
- Biết thế này tao cưới con què
cho nó còn hơn! Tôi
choáng váng mặt mày. Vợ tôi cũng đứng bật dậy:
- Đấy nhé, chính các người xô đẩy họ tới
nông nỗi ấy để rồi các người khinh thị họ! Thử hỏi những người như thế họ được
cái gì? Và các người đang hưởng cái gì? Thì ra những giọt nước mắt các người
nhỏ xuống chỉ là nước mắt cá sấu thôi!
Cha tôi ngồi chết lặng, để rơi cả bát
đũa xuống nền nhà. Vợ tôi xồng xộc chạy lên buồng, xách vali, đùng đùng bước
xuống cầu thang và nói:
- Tôi không chịu đựng nổi sự giả dối đến
kinh tởm này!
Cô lấy xe đi thẳng về nhà cô. Lúc đó vợ
tôi đang mang thai sáu tháng.
Vợ tôi sinh cháu trai ở bên nhà ngoại.
Cha mẹ tôi có sang xin đưa mẹ con về nhưng bên kia khéo léo đẩy đưa, lần lữa.
Tôi thành người một chốn đôi nơi, mất đi
sự tín nhiệm, yêu thương của hai bên nội, ngoại. Phía nhà tôi trách tôi là kẻ nhu nhược, sợ vợ nên để cho nó trèo lên đầu, lên cổ rồi coi
thường luôn bố mẹ, anh em! Phía đằng vợ trách tôi cù lần, cha mẹ bảo gì nghe nấy, không biết
phân biệt phải trái, trắng đen để cho vợ tôi bị cô lập và vất vả! Sức
khoẻ tôi giảm sút. Tôi thành ra người chán nản! Con tôi một tuổi, vợ tôi xin đi
làm cán bộ quản lý người lao động hợp tác ở nước ngoài. Tôi cũng muốn cô đi cho
cả hai đứa được thảnh thơi. Con tôi cũng đi theo mẹ.
Khi người ta đã có vợ con mà phải sống
độc thân, đơn chiếc mới cảm thấy hết được sự đơn côi trống vắng. Tôi thẫn thờ,
tưởng như người mất hồn! Nhà tôi thường xuyên chỉ có ba người như ba cái bóng
lặng lẽ, mỗi người có riêng những suy tư trăn trở.
Khoảng giữa những năm 1980, cả bố ruột và
bố vợ tôi đều không làm công việc lãnh đạo chủ chốt nữa. Các cụ về Ban nghiên
cứu lịch sử các phong trào. Đó là chặng dừng chân cuối cùng của các cụ già đặc
biệt không có chế độ nghỉ hưu. Một ông Phó tiến sĩ về làm Bộ trưởng thay bố vợ
tôi. Ông này tôi biết, cùng lứa học ở Liên Xô. Tuy có học vị, nhưng ông không
thích làm khoa học, ông làm công tác quản lý và lãnh đạo, từng giữ chức Tổng
giám đốc xí nghiệp liên hiệp công trình. Một ông trẻ, có học vị Tiến sĩ đảm
nhiệm chức Viện trưởng viện tôi.
Từ ngày đổi mới, đứa em gái của tôi
thường xuyên cùng chồng về nước xây dựng cơ sở làm ăn. Nó có một khách sạn ba
sao ở Hà Nội. Mẹ tôi đã nghỉ hưu làm người trực tiếp quản lý khách sạn ấy.
Vợ tôi một hai năm về nước một lần. Sau
khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, tôi khuyên cô ấy nên về nước vì cô là người được
học hành cơ bản, không nên bỏ phí khả năng nghề nghiệp của mình nhưng cô ấy
nói:
- Nước mình trước đây nghèo nàn, chỉ một
số ít người được học nên có chút vốn học vấn là được xếp vào hàng quan lại:
Quan đốc tờ, Quan đốc học, Quan tham và những ông Phán, ông Thông, ông Ký được
coi như cấp tiểu quan! Nhưng một khi mặt bằng dân trí được nâng lên, người có
học phải biết sử dụng cái trí của mình để mà dựng nghiệp, chớ nên câu nệ vào
cái ghế ngồi để được tiếng là mát mày, mát mặt!
Và cô đã chuyển qua kinh doanh ngành tin
học, đến nay đã có được một shop khá lớn tại một Đôm ở ngay giữa
Mascơva, có khả năng mở rộng địa bàn về nước nữa. Xem ra cô ấy còn nặng tình,
nặng nghĩa với tôi:
- Em còn có nhiều việc làm ăn ở bên đó,
trước mắt chưa thể về nước được. Mà em ở đâu thì con ở đó. Anh cứ yên tâm, em
sẽ lo cho con học hành đến nơi đến chốn. Em tích lũy cũng là cho nó. Nếu con có
sức học em có thể lo cho nó du học đâu cũng được! Chúng mình tuy còn là vợ
chồng, xa nhau mỗi đứa một nơi nhưng sẽ không ai ràng buộc được ai. Khi mỗi
người tự cảm thấy cần thiết phải có một cuộc sống mới thì cứ thẳng thắn thông
báo cho nhau. O.K thôi! Không ai trách cứ ai điều gì. Riêng em thì hiện nay em
thấy điều đó là chưa cần thiết! – Cô khóc…
Cô khổ đau không kém gì tôi! Cô cũng
không hám gì cuộc sống vật chất xô bồ. Cô muốn được sống yên tĩnh nhưng phải
hoàn toàn độc lập tự do! Đó là điều chưa thể có được ở xứ mình! Bản thân cô là
sự mâu thuẫn giữa lòng vị tha trắc ẩn với những nhu cầu thiết yếu của thời đại
tiêu dùng! Tôi vẫn lo cho cô: một mẹ, một con ở xứ người, giữa các nơi người ta
tranh giành, cướp giật của nhau để có thật nhiều tiền, coi đấy là bậc thang giá
trị của mỗi người trong xã hội. Rồi hai mẹ con sẽ ra sao? Tôi hoàn toàn bất
lực… Tôi cảm thấy cuộc đời này như vô định, chẳng khác gì một chuyến lãng
du!...
Anh buồn rầu nói:
- Sức khỏe và tinh thần của tôi đều giảm
sút, có muốn lăn vào công việc cũng không làm gì được! Tôi xin nghỉ một thời
gian để an dưỡng cho hồi phục sức khỏe và tinh thần. Tôi quyết định với thời
gian ấy tôi đi tìm Tâm!
Tôi nhìn anh thăm dò.
- Không phải là để chắp nối lại mối tình
xưa. Dù sao thì tôi cũng đã có vợ, có con. Cái gia đình ấy dù hay, dù dở là do
tôi tự dấn thân vào! Tôi chấp nhận. Nhưng còn Minh Tâm?! Nàng yêu tôi lúc tuổi
mộng mơ đầy trắc trở. Chúng tôi đã lạc nhau rồi lại tìm thấy nhau trong cảnh
đời biến động. Nàng đã hy sinh tất cả cho tôi: Cuộc đời! Tâm lực! Và cả hạnh
phúc lẽ ra nàng được hưởng! Bây giờ nàng ở đâu? Nàng sống thế nào? Tôi có thể
làm gì được cho nàng trong phần đời còn lại của tôi?
Tôi hiểu lòng anh và quyết cùng anh đi
tìm nàng: Người yêu của anh, người bạn thời niên thiếu của tôi.
NHỮNG SỐ PHẬN ĐA ĐOAN:
Tìm em như thể tìm chim…
Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông
Tìm bể Đông thấy lông chim nhạn
Đi tìm bể Bắc thấy đàn chim bay !
-
Ca dao -
Chúng tôi cùng
nhau đi tìm Tâm. Nhưng nàng ở đâu?
Ở nước mình, các dòng sông thường chảy
từ tây qua đông – từ núi cao ra biển cả. Sông nước mang bao phù sa bồi đắp cho
các châu thổ đồng bằng. Nhưng lại có dòng người di chuyển như sông, luôn chảy
từ Bắc vào Nam, dù phải vượt qua trăm ngàn đèo dốc và những dòng sông nước với
bao ghềnh thác, nó chảy trôi như dòng lịch sử, có lúc bình lặng êm đềm, có lúc
dội trào lên trong cơn biển động xã hội lớn lao, tạo nên đợt sóng ào ạt xô bờ.
Làm sao tìm được những hạt phù sa trong dòng trôi chảy ấy?
Bắt đầu từ anh Tân.
Chúng tôi mất nhiều ngày tìm gặp các bạn
bè từ thời xa xưa, nhiều bạn còn rất nhớ Tân, có người cũng nghe phong phanh
Tân đã cùng gia đình di chuyển vào phía Nam nhưng biệt tung tích. Chưa ai gặp
dù chỉ một lần! Anh nhắc tôi:
- Nghe nói ở thành phố Hồ Chí Minh có Câu
lạc bộ người Hà Nội, ta tìm đến hỏi xem sao!
Chúng tôi gặp một anh bạn cũ hay la cà
đây đó để thăm dò, anh cười và bảo:
- Đấy không phải là Hội đồng hương Hà
Nội! Ở đó các ông gặp đủ thứ thổ âm. Ngay cả ông chủ tịch cũng là người khu
Bốn. Có đến đấy các ông cũng chẳng gặp được mấy người quen. Láo nháo một chút
rồi về!
Ông cụ thân sinh ra anh đã ngoài 80 tuổi
mà con minh mẫn. Cụ giảng giải cho chúng tôi:
- Người Hà Nội thật sự không thích ngộ
nhận. Thủ đô là tinh hoa của cả nước, không còn là của riêng ai. Thị thành là
nơi đô hội, tứ phương họp lại, đủ các giới thượng lưu quan quyền, trí thức,
doanh nhân lớn nhỏ, cần lao đủ loại, giang hồ tứ chiếng. Ít có mối giao cảm
thâm sâu như họ hàng, làng xóm tỏ tường lai lịch tông tích của nhau. Những cái
hay cái dở, những điều tốt xấu họ nhìn nhận khác nhau. Những niềm vui nỗi buồn
họ khó san sẻ cho nhau. Họ giao du theo giới nghiệp, cảnh đời. Ai cũng có thể
đến đấy tạm cư hoặc ngụ lâu dài nhưng mấy ai có thể ăn đời ở kiếp, lưu truyền
dòng tộc? Nó là nơi thanh lọc tự nhiên, ai không thích nghi sớm muộn rồi sẽ tự
bỏ nó mà đi! Dù người ta nói: Chẳng
thơm cũng thể hoa lài / Chẳng thanh cũng là người Tràng An nhưng thử
hỏi rằng mấy ai dám tự nhận là mình tiêu biểu cho người Tràng An thật sự?
Chúng tôi nghe ra và đi tìm hướng khác.
Có người mách hãy lên Đồng Nai, Sông Bé,
Đà Lạt, Lâm Đồng vì ở đó có khá nhiều người Hà Nội vào khai khẩn đồn điền trồng
cây công nghiệp. Nghe có lý, chúng tôi rủ nhau đi, coi như một chuyến du lịch
vậy.
Trên đường đi, chúng tôi cố ý dừng lại ở những nơi có
nhiều người từ phía Bắc vào đây khai khẩn như: Long Khánh, Phương Lâm, Định
Quán, Bảo Lộc, Đức Trọng... Đến cao nguyên Di Linh, không khí se lạnh thật dễ
chịu. Nhìn lên núi ĐỌC TIẾP
No comments:
Post a Comment