LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ - TRANG 2

mẹ định! Đám cưới vội vàng đơn sơ nhưng bậc cha mẹ yên lòng vì con mình có nơi có chốn tử tế đàng hoàng, thời tao loạn biết đâu… Vui duyên mới không quên nhiệm vụ… Cưới nhau xong là đi. Người nơi chiến trận ra sức diệt thù. Người ở hậu phương đảm đang chung thủy. Cha ở nơi xa đâu có biết hai mẹ con ở nhà ngày ngày lo lắng chồng con nơi binh lửa, đêm đêm trằn trọc mong chờ một mầm sống mới nảy sinh thắp sáng lên nguồn hy vọng. Khi thấy sự chờ mong đã là vô ích, bà mẹ đành lòng bỏ việc ruộng vườn, gửi lại cửa nhà, dắt  dâu ra chiến trận tìm con.
Cha tôi là pháo thủ phòng không, đánh trận ở Hàm Rồng. Anh lính trẻ được nghỉ đánh mấy ngày hưởng thêm tuần trăng mật nhờ nơi nhà dân sơ tán. Hết mấy ngày phép nhưng bà mẹ vẫn dùng dằng. Anh lính pháo thủ không bỏ giờ trực chiến nhưng giờ nghỉ lại từ trận địa chạy mấy cây số vượt ruộng đồng về với vợ. Nguy hiểm gian nan vậy mà vẫn vui, vẫn không quên nhiệm vụ, lúc nào anh cũng nhằm thẳng mục tiêu mà bắn. Lòng mẹ ngổn ngang. Vào lúc trời vừa tắt nắng, con trai ngoài chiến địa chưa về, bà dúi gói tiền vào tay con dâu thì thào:
- Con cứ ở đây chờ được hãy về!
Tay quyệt nước mắt, len lén trốn con, bà vượt hàng trăm cây số trở về với ruộng vườn nhà cửa mà lòng ngong ngóng cầu mong…
Cả bà và mẹ có biết đâu đó là những ngày cuối cùng đau đớn.
Mẹ tôi kể lại mỗi lúc thấy cha về đất cát đầy người, mặt mày hốc hác nám đen khói đạn mà lòng càng thương chứ không thấy sợ. Có lẽ vì thế mà cuộc tình của các vị càng nồng nàn thắm thiết. Cha nói vui:
- Tơi bời ác liệt thế này mà đứa nào dám lộn kiếp vào mình phải là đứa gan lỳ tướng quân!
Lớn lên tôi gan lỳ thật! Mẹ thường nhắc lại lời tiên đoán của cha, nghĩ tôi phải là tướng quân nhà trời rơi xuống!
Bà mới ra về chỉ được mấy hôm thôi, một ngày trên trời dưới đất đánh nhau loạn xạ, bom rơi đạn nổ ầm ì, khói bụi đen nghịt một góc trời, mảnh bom mảnh đạn reo réo rào rào, mẹ không còn biết sợ, trồi ra ngoài hầm trú ẩn hồi hộp hướng về cây cầu kia, miệng lầm rầm cầu Trời khấn Phật che chở cho chồng đang giữa nơi mũi tên hòn đạn. Trời chưa tắt nắng, mấy vị chỉ huy hối hả tả tơi buồn bã tới nơi tìm mẹ. Linh cảm một điều bất hạnh, mẹ tái mét mặt mày, chân tay lạnh ngắt không còn đứng được. Mẹ như người mất hồn làm theo sự hướng dẫn của người ta trong lễ truy điệu liệt sỹ ngay đêm hôm đó, chỉ nghe văng vẳng tiếng người: “ Toàn bộ khẩu đội đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc”! … Hôm sau đơn vị cho xe đưa mẹ về tận quê nhà. Truớc khi lên đường, người ta dẫn mẹ ra thăm nơi cha đã bỏ mình. Trận địa chỉ còn là cái hố bom mênh mông sâu hoắm còn sặc mùi thuốc súng và hôi hổi nóng. Người ta dìu mẹ vào nhà. Hai người đàn bà một già, một trẻ goá bụa đơn côi ôm nhau ngất lịm nằm lăn lóc giữa nhà…
Xóm làng, đoàn thể… đến thăm viếng, chia buồn, uý lạo và tặng cho gia đình liệt sỹ cô đơn quả phụ cái ổ khoá thật to”!
Người tử tù giọng run run, anh đứng dậy lê từng bước nặng nề về khám…

“Cả ông nội và bố tôi đều chết mất xác khi còn rất trẻ! Tôi ra đời như là sự cứu rỗi cho hai người đàn bà tuyệt vọng. Bà nội nhìn thằng cháu mới lọt lòng nghẹn ngào trong nước mắt:
- Cảm ơn Trời Phật đi con, nhà này còn có phúc!
Thế mới biết cái này muôn đời vẫn là của quý!
 Anh chỉ vào phần hạ thể của một hình nhân: Bà thường nhìn tôi vẻ biết ơn lắm:
- Giá như lúc ấy không có cháu thì bà không thể sống đến bây giờ!
Mẹ nhìn tôi tự hào:
- Nếu không có con thì mẹ không đứng được đâu!
Tôi lớn lên trong sự thương yêu đặc biệt của bà và mẹ. Gia cảnh không giàu có gì, hai đời góa phụ thì làm sao cất đầu lên được nhưng nhờ các bà tần tảo, chi chút, đã thắt lưng rồi lại buộc bụng vì cháu vì con nên so với đám trẻ cùng làng trong hoàn cảnh ngặt nghèo thời ấy thì tôi vào loại khá. Trong khoảnh đời của tôi, lúc ra đi có chi lưu luyến chỉ là một thời ấu thơ và niên thiếu êm đềm được sự chở che và bao bọc bởi những tình máu mủ thiêng liêng ấy. Nhưng cũng từ đó manh nha nơi tôi những thói hư lớn dần lên theo năm tháng – Đó là thói muốn gì được nấy, thích hơn người, trịch thượng và hay tự ái. Bọn trẻ đa phần thiếu thốn, tôi sẵn lòng bao nhưng đứa nào không theo tôi là không được. Tôi được trời ban cho sức khoẻ, sự sáng dạ và tinh ý. Tôi thích gì là lăn vào học và làm nhưng chóng chán. Lớn lên, bạn bè bảo tôi có tài mà không có chí. Nhiều kẻ cần cù bù thông minh mà nên chuyện. Tuổi học trò của tôi trôi qua êm ả…
Tôi bước vào trường đại học với điểm đậu không cần có sự ưu tiên. Tôi thỏa mãn lắm vì tôi vẫn coi sự dựa dẫm là hèn. Mãi sau này tôi mới ngộ ra: Ưu ái ban cho bát cơm manh áo là việc làm từ thiện cần thiết giúp người qua bước khó nhưng ưu ái trao cho mảnh bằng chiếc ghế chỉ giúp người ta coi thường trí tuệ, coi khinh mọi người sẽ là điều tệ hại dài lâu. Tôi không thích khoe khoang truyền thống hai đời làm lính nghĩa binh vì suy cho cùng, người dân cày ít học không vác súng thì làm gì trong khi nước non binh lửa? Từ anh trai làng thành anh sinh viên trong môi trường học vấn nơi thị thành đô hội, tôi thích ứng khá nhanh. Với những tài vặt: hát hò văn nghệ, khéo tay vẽ vời, làm thơ, viết báo… tôi được cử làm cán sự sinh viên! Tôi thích đăng đàn diễn thuyết và được khen nói năng lưu loát có duyên, tôi lại càng hăng. Sau này thấy chuyện đó là ngớ ngẩn vì  mình chỉ nói theo với những lời sáo rỗng. Hay chăng là cái tài cho người ta cười lên chốc lát. Cười là một sự giải trí có thể quên đi buồn khổ nên thời nào người ta cũng thích và độ lượng với những anh hề. Nhưng làm cho người ta khóc thì khó lắm và khi để người ta biết bị khóc lầm rồi sẽ không ai bị lừa lần nữa!
Lúc ấy cuộc chiến tranh bên ngoài biên giới đã mấy năm rồi mà ngày càng dây dưa nóng bỏng. Việc tuyển quân không dễ dàng như hồi trước kêu gọi đi đánh giặc ngoại xâm. Người ta làm đủ mọi cách để thanh niên rứt ra được sự níu kéo của gia đình. Sinh viên không là đối tượng đăng lính nhưng cũng phải làm gì đó hưởng ứng phong trào. Có một số người tình nguyện xếp bút nghiên theo việc đao cung. Họ là những người tâm huyết, nhiệt tình và cả bồng bột nông nổi nữa. Không ai kịp nghĩ ngày trở về sẽ ra sao dù là một ánh hào quang thoáng qua trước mắt!”
Người tử tù ngồi đấy cúi đầu lặng thinh không nói nữa.

“Tôi thi vào Trường Sư phạm vì thích được dạy người hoặc ít ra được nói cho người ta nghe chứ tôi không nghĩ đến yêu cầu lớn nhất với người thầy là sự gương mẫu về đạo đức. Tôi chọn ngành Ngữ văn vì cảm thấy trong mình tiềm ẩn cái gì như là… thiên phú! Tôi thích là tôi làm chứ tôi không đam mê. Tôi cũng chưa nghĩ tới cần có một nghề để mưu sinh. Bà và mẹ lo toan chu cấp cho tôi không đến nỗi nào. Thời ấy, sinh viên trường Sư phạm có câu ví von độc đáo lắm: Ăn như sư / Ở như phạm ! Với tôi là dân quê nghèo, phận mình vô gia cư mà có chỗ trú không mất tiền vậy là tạm được chứ có nhu cầu gì cao đâu? Giường tầng kẻ trên người dưới leo trèo như mèo cũng vui. Trai trẻ đặt lưng là ngủ: Rét thì nằm chung ôm nhau, chăn đơn đụp lại là đủ ấm. Nóng thì trần trụi vẫn ngáy khò khò. Chỉ riêng một nỗi dày vò… Nhà nước cho mỗi sinh viên hưởng 13kilôgam lương thực mỗi tháng nhưng bị xén đầu khấu đuôi cho tới khi hạt gạo, củ khoai, củ sắn vào nồi đố ai biết còn được bao nhiêu? Cái dạ dày luôn gào lên vì lép triền miên! Tôi tranh thủ xây dựng tình cảm với mấy chị em nhà bếp nên thường được dúi thêm cho bọc cơm cháy, mang về phòng kín đáo bổ xung vào cái dạ dày còn lơ lửng. Đói cho sạch / Rách cho thơm, lời dạy của cổ nhân cũng nên hiểu cho đúng cảnh, đúng thời. Vả lại cái bần hàn của nhà nho thanh bạch khác xa với cảnh đói rét đời thường. Khi đói thì sĩ tử, tục tử chẳng khác gì nhau. Việc vụng trộm ấy rồi cũng bị phanh ra: Tôi đã xâm phạm vào xuất ăn của lợn! Suy lý ra thì bầy lợn giành phần của sinh viên mới đúng nhưng luật định rồi. Tôi được bêu dương và cảnh cáo trước toàn khoa! Thấy tôi ấm ức, thằng bạn nằm bên ứng tác mấy câu an ủi :
Lũ chúng ta khác nào thầy giáo Thứ
Được chắp cho đôi cánh thiên thần
Tưởng bay lên mãi tít trời xanh
Nợ áo cơm kéo ghì xuống đất
Để cùng nhau tranh ăn với vật !                                                  
làm tôi trào nước mắt ra. Sau đó, nhờ quen một vị bác sỹ, tôi xin được tờ đơn chứng thực có bệnh dạ dày phải ăn nếp lâu dài. Thế là tôi được cấp tem phiếu riêng lo tự túc. Gạo mắm ở nhà chi viện thêm đều đặn, tôi nhờ người nấu cho ăn nên không còn bị đói. Lúc ấy tôi tưởng vậy là hay nhưng không ngờ lợi bất cập hại gây sự phiền hà rắc rối về sau. Nhiều bạn mong mau thoát cảnh cơm tu, ở tù này nhưng tôi thì dửng dưng, mau hay lâu đều được cả.
Bấy giờ đoàn thể phát động sinh viên nhập ngũ, đang học năm thứ ba nhưng là cán bộ phải chứng tỏ mình cộng với chút máu phiêu lưu, tôi hăng hái xung phong. Ông thầy chủ nhiệm khoa là người khả kính, có thâm niên nghề lâu nhất, được cả trường nể trọng. Mỗi khi vào lớp, thầy trang phục chỉnh tề, đi đứng khoan thai, nói năng từ tốn chỉn chu, giảng bài truyền cảm, giáo án mẫu mực, tình cảm chan hòa  không thiên vị một ai, đúng mô hình một nhà sư phạm. Tôi cảm phục lắm. Ngày tiễn sinh viên lên đường đầu quân, tôi xúc động được thay mặt bạn bè nhận bó hoa tươi trong vòng tay thân ái của thầy với những lời gửi gắm rưng rưng thắm thiết:
- Đừng hỏi Tổ quốc phải làm gì cho mình. Hãy tự hỏi mình phải làm gì cho Tổ quốc. Nhà trường tự hào vì đã đào tạo được những lớp người như các bạn hôm nay và cổng trường ta luôn rộng mở bất cứ lúc nào đón chào những người thầy giáo tương lai hoàn thành nhiệm vụ trở về! 
Việc này tôi giấu bà và mẹ, chỉ nhắn về là tôi đi thực tập ở xa. Ban tuyển quân lúc đầu chọn tôi đi học trường Sỹ quan nhưng trong lý lịch của tôi còn rành rành dấu ấn một năm có lời nhận xét:  “Tích cực tham gia công tác đoàn thể. Mạnh về học tập. Yếu về ăn uống. Bị cảnh cáo về sinh hoạt. Cần tu dưỡng nhiều về tư tưởng”! Điều nghịch lý là thầy không dính tới việc phán xét trò mình, chỉ là trò này nhân danh quyền uy tổ chức đánh giá trò kia như thế! Cái tổ chức ấy thầy cũng sợ. Vậy là người ta chê, xếp tôi vào một khóa đào tạo Hạ sỹ quan đặc công cấp tốc. Tôi cũng mừng vì không bị cột vào con đường binh nghiệp. Khoác lên mình chiếc áo lính chỉ là nhiệm vụ nhất thời bình đẳng của mọi công dân khi đất nước có biến thôi. Hồi ấy tôi nhanh nhẹn, gọn gàng, dỏng cao, thon mình trắm, da ngăm bánh mật chứ không bệu bã trắng bủng như thế này đâu!
Anh tự ngắm mình buồn bã lắc đầu…
Sau mấy tháng ở thao trường, tôi về nhà từ biệt gia đình. Ba lô người lính không có gì đáng kể nhưng hai túi sách lặc lè. Tôi vẫn nghĩ có lúc lại cần đến nó. Thấy tôi mặc đồ quân nhân, bà và mẹ lúc đầu sửng sốt, rồi sau vừa buồn vừa sợ. Mẹ thì nước mắt ngắn dài. Bà thì than thở:
- Sao mà loạn ly cứ đeo đẳng mãi đất nước mình, như là nghiệp chướng? Cứ như cái nợ đồng lần đổ vào đầu dân đen con đỏ!
Tôi buột ra lời an ủi thật vô nghĩa:
- Bộ đội bây giờ khác!
Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu ý câu nói ấy là sao? Người lính thời nào chẳng phải cầm súng lao ra hỏa tuyến! Hay là thoáng qua phút bốc đồng ngu dại, tôi có ý tự hào rằng tôi khoác chiếc áo lính trong tư thế người có học thì phải khác ông cha mình xưa vốn chỉ là người nông phu ít học? Quả như vậy là tôi có tội! – Anh thở dài trầm ngâm nhìn đi đâu…
Ôi! Con cháu chưa ra trò trống gì đã coi rẻ cha ông nên mới thân tàn ma dại! Những ngày ở đây, có lúc nằm mơ tôi gặp nhiều người nhưng chưa bao giờ được gặp ông nội và cha để cho tôi nói lời tạ tội. Thi thoảng gặp bà nội, thấp thoáng có  hai người lính trẻ đau đáu nhìn tôi không nói năng gì. Hay chính các Người? Cuộc gặp chỉ thoáng qua thôi, sắc diện bình thản, vòng tràng hạt lăn đều trong tay, lời bà như gió thoảng: Đời trầm luân bể khổ, phúc đấy, họa đấy, nợ nần duyên nghiệp… Về với Phật mà lòng nhẹ tênh! – Bà hát ru tôi:
                        Kiếp phù sinh như hình bào ảnh
                        Có câu rằng: vạn cảnh giai không !
                        Ai ai lấy Phật làm lòng
                        Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Tôi chìm trong giấc ngủ mơ. Mấy thằng trời đánh sợ chết ré lên, tôi choàng tỉnh dậy thì tan biến hết!”

“Người lính thời nào chả thế, trong tay họ là thứ giết người. Ba đời nhà tôi dắt nhau đi đánh giặc. Tuy nhiên kẻ thù mỗi thời một khác. Với cha là thù, với con là bạn. Với ông là bạn, với cháu là thù! Giặc như Phạm Nhan thuở trước: chém đứt đầu này mọc ngay đầu khác. Đánh triền miên, dai dẳng, hết đánh trong nhà, đánh ra ngoài ngõ. Cứ đánh nhau mãi khó mà giữ được quân bình tâm thức!
Là người lính nắm khẩu súng trong tay thì không được biểu hiện sự hèn. Đó là danh dự, là nhân cách! Tôi từng thấy những thằng nằm bẹp sau vật cản, cắm đầu xuống bắn bừa bãi mà miệng hét xung phong trong lúc đồng đội đổ máu tiến lên! Giá như nó quăng súng nằm yên như chết còn có thể ngơ đi nhưng làm như thế khác nào nó đã lừa dối còn bắn sau lưng đồng đội. Điên lên, có lúc tôi thẳng tay bắn vào đầu một thằng hèn như thế! Bây giờ nó hiện về:
- Giá như ngày ấy mày đừng giết tao thì biết đâu bây giờ tao cứu được mày!
- Nhưng lúc ấy làm như thế khác nào mày phản lại anh em? Tao vì chiến thắng đâu phải của tao? Tao đã không báo lên trên nguyên do cái chết của mày. Bây giờ người ta vẫn cúng mày bình đẳng với anh em đồng đội!
- Không thằng nào muốn chết để được cúng đâu. Nhưng không thằng nào nói thật ra tâm địa của mình. Trên cõi đời này thiếu gì thằng hèn, thằng phản đang sống nhơn nhơn ra đấy. Mày bắn vào đầu lúc tao sợ, nằm úp mặt. Nhưng bây giờ nhìn nó cầm súng nhắm thẳng vào mình! Mày anh hùng lắm mà có tránh được viên đạn đó không?
Nó báo oán tôi! Ở đời này thực hư lẫn lộn, phải trái đảo điên quá. Tôi không thiết sống nữa!
Mặt người tù xanh lét, trán toát mồ hôi, môi run run tím ngắt. Anh trấn tĩnh lại dần…
Tôi được giao chỉ huy một đơn vị nhỏ thôi nhưng thường là mũi chủ công mỗi khi lâm trận. Anh em than thở:
- Mày được làm anh hùng thì chúng tao mất xác!
Tôi được triệu về hậu phương dự Hội báo công .
Ở nơi chiến sự, cái sống với cái chết vờn nhau, con người tự lột đi cái vỏ, lộ rõ ra bản chất là hạt mẩy hay là hạt lép. Trước hiểm nguy người ta phải dựa vào nhau. Bảo vệ bạn là bảo vệ mình. Nhưng về đây, qua thăm thú bạn bè, giao lưu tiếp xúc rộng hơn, tôi nhận ra nhiều điều lộn xộn. Người ta bon chen, ganh nhau thu vén lợi cho mình, đun đẩy nhau ra phía trước trong khi họ thương vay khóc mướn cho anh lính ở tiền phương chịu bao hy sinh mà bữa ăn hàng ngày vẫn là nước mắm đại dương / bát canh toàn quốc… Người khổ càng khổ, người sướng càng sướng hơn! Tôi thấy xao xuyến phân tâm. Kết thúc hội nghị, tôi xin gặp cấp trên, đề đạt nguyện vọng:
- Đã mấy năm rồi, em hoàn thành nhiệm vụ ở tiền phương, nay xin được giải ngũ trở về trường học tiếp!
Vị chỉ huy tròn mắt nhìn tôi lạ lùng làm sao: một cán bộ trẻ xông xáo, là nguồn của tương lai, lại phát sinh tư tưởng tiêu cực thối lui?! Ông chắp tay sau lưng đi đi lại lại, nhìn thẳng vào tôi:
- Nguyện vọng của đồng chí là chính đáng. Nhưng nhiệm vụ chưa phải đã hoàn thành. Đồng chí hãy trở về đơn vị tiếp tục công tác và chiến đấu tốt, cấp trên sẽ xem xét!
Đấy là bài bản chung rồi. Một khi tôi bước chân ra khỏi cửa này là các vị quên ngay nếu như tôi không có mối dây liên hệ nào đặc biệt. Tiền tuyến bao giờ chẳng thiếu  người. Anh có thể thoát hiểm vài lần nhưng một lúc giật mình thoát chết rồi sẽ khó lòng quen với nó! Giữ được ai cứ giữ. Tôi nhận ra rằng để mắt quen với cái đầu ruồi và tay quen với cái cò cơ bẩm mãi liệu chừng khi trở về với đời thường khéo thành vô dụng!
Tôi được ưu ái cho về phép thăm quê. Bà nội già quá rồi, mắt mờ nhưng thấy bóng tôi bà đã nhận ra. Bà đi từng bước chậm chạp, tay run run kéo đứa cháu vào lòng. Nỗi vui gặp mặt không xóa được nỗi lo buồn ly biệt của bà già gần đất xa trời với hòn máu duy nhất của mình đang lăn lóc nơi lửa đạn. Tôi giơ ra những tấm bằng và huân huy chương đỏ chói khoe tưởng để bà vui nhưng bà không ngó tới mà kéo tôi vào lòng:    
- Bà chỉ cần cháu bà thôi! Bà sắp chết rồi. Làm sao nhà này đừng tuyệt tự!
Mẹ như người mất trí, loanh quanh vào ra chăm cho tôi bữa ăn giấc ngủ và lo sợ đến ngày tôi lại cất bước ra đi… Tôi không ngờ rằng đấy là lần  cuối cùng được nghe tiếng nói của bà tôi. Bà mất sau đấy không lâu khi tôi đã trở lại chiến trường nhưng mẹ không báo tin buồn ấy. Khi về tôi trách, mẹ nhận lỗi trong nước mắt:
- Mẹ không dám báo tin cho con vì sợ con buồn bã hoang mang giữa nơi tên bay đạn lạc!
Mãi tới giờ tôi vẫn muốn gặp và hỏi mẹ: Sao ngày ấy mẹ không làm như bà và cụ, chắp mối cho con với một cô nào biết đâu cuộc đời tôi sẽ khác! Chắc là thời thế đã đổi thay. Xưa ông cha tôi chỉ là người dân quê mộc mạc quanh quẩn trong luỹ tre làng, mối tình quê dễ chắp. Bây giờ tôi là sinh viên của trường đại học to lắm ở Thủ đô, rồi sẽ làm thầy thiên hạ. Mấy đời nay gia tộc tôi chưa ai có vinh quang ấy. Với bà và mẹ, tôi là núm ruột rất thương yêu gần gụi nhưng lại có cái gì xa cách quá, hẳn mấy cô gái làng không thể níu chân tôi. Đến lúc ấy trong tôi vẫn chưa in bóng hình cô gái nào dù quê hay tỉnh. Tôi hoạt động sôi nổi vậy, có không ít bạn gái muốn làm thân nhưng thấy tôi thờ ơ, các cô lảng dần, còn bóng gió chê:
- Quê mà cũng biết làm cao!
Cô gái nào đến với tôi phải là người hiền dịu, có chút yếu đuối cần sự chở che của người hiệp sỹ! Con gái bây giờ mạnh bạo quá, chỉ muốn làm chồng! Tôi cứ vẩn vơ  với cái ước mơ về sự nghiệp, tình yêu hão huyền như thế… Nếu cuộc đời này không có tình yêu thì u ám lắm, phải không nhà báo? Rồi tôi cũng có một tình yêu nhưng nó đến trong đắng cay và ra đi oan trái lắm!
Trở về đơn vị tôi nói thẳng ra ý của mình và chờ đợi. Nhưng không có hồi âm mà công việc càng dồn dập. Tôi không còn hăng hái như xưa nữa. Khi nhận nhiệm vụ tôi thường nêu ra những khó khăn để bàn lùi. Nhiều khi tôi cự nự quyết liệt. Việc nào không thoái thác được tôi làm chiếu lệ. Ngựa hay mà chứng thì khó trị. Tưởng rồi người ta sẽ chán mà tống đi nhưng ngược lại, người ta bỏ mặc mình! Đơn vị tôi nhiều khi rơi vào tình thế độc lập tác chiến vất va vất vưởng. Tâm trạng mọi người chán nản, thi nhau cáo bệnh yếu đau lánh việc. Quân số lèo tèo, đụng giặc là né, thế cùng mới đánh.
Một lần trên đường đi chiếm lĩnh trận địa bảo vệ một đoàn quân xa, đơn vị tôi bị địch phục kích bất ngờ, tổn thất nặng nề, anh em thất tán. Gom lại được mấy đứa cũng thương tích đầy mình. Chúng tôi dìu nhau băng ra lộ, may gặp đoàn xe chạy ngược về biên giới, chúng tôi xin được lên xe, chạy thẳng về thành phố… Mấy đứa bị thương nặng thì nhập viện, mấy đứa bị nhẹ đâu dám lộ mặt ra. Một đứa có nhà ở thành phố rủ nhau cùng về.
Gia đình lính thường nghèo, lại trong lúc đời sống thắt ngặt khó khăn, không nhà nào có thể cáng đáng một lúc 5, 7 thằng con trai sức dài vai rộng đang ăn dở bữa dù chỉ vài ngày. Chúng tôi táp với đám thương binh đi chuyển hàng thuê cho bọn buôn lậu từ biên giới về. Thằng mù khoẻ chân đẩy thằng què sáng mắt ngồi trên xe lăn, thằng một chân, thằng một tay, thằng một mắt, thằng băng cái bụng trắng xóa, cả thằng sọ não giơ cái đầu trọc lốc ngớ ngẩn khặc khùng cũng bị lôi đi. Lực lượng uy thế lắm, kéo nhau lên xe đò, có tiền thì trả, rỗng túi thì thông báo rằng không! Dân người ta thương tình. Công an, thuế vụ không muốn dây dưa tới. Mỗi chuyến đi về ăn được ít ngày. Cũng như một trò vui trong những ngày buồn! Được một dạo thôi, chuyện ầm ĩ lên, tai tiếng quá, quân cảnh ra tay…
Bế tắc, tôi tính quay về đơn vị. Họ nhận thôi chứ không gây rắc rối lắm đâu, cũng như  việc đi phép trễ mấy tháng là thường, làm một bản tường trình, vài lời góp ý rồi kết bằng một lời khen: Đấu tranh tư tưởng tốt là xong! Mình đi vào cửa tử chứ có chạy ra cửa sinh đâu. Nhưng mấy thằng níu kéo rủ rê. Tôi tính nước liều: Mình như người đã qua cầu, cứ nhảy đại xuống sông đi… Bao lâu nay sống chết sá gì!
Tôi đi lang thang khắp các phố kiếm việc làm. Qua một ngôi nhà đang xây dở dang, thấy tấm biển nguyệch ngoạc ghi mấy chữ: Cần thợ hồ, tôi vào nhận việc.
Công việc tuy chẳng ra gì nhưng trước mắt tằn tiện cũng đủ ăn ba bữa mỗi ngày, ngủ ngay tại chỗ cũng chẳng phiền ai. Cứ làm thử chờ thời. Một buổi trưa, tôi nằm trên tầng lầu mới đổ tấm xong, bỗng nghe tiếng người ú ớ và tiếng động khác thường ở tầng dưới, tôi nhỏm dậy nhìn xuống góc sau nhà: hai thằng đang đè lên một con bé, đứa bịt miệng, giữ tay, đứa giằng áo kéo quần, con bé giãy đạp muốn kêu lên mà không được. Tôi nhảy vọt xuống, tay đấm chân đá tung hê hai thằng ra hai góc nhà. Chúng nó không chịu nổi đòn của tôi đâu. Con bé bật dậy, tay che tay kéo áo quần, úp mặt vào tường khóc rưng rức. Tôi giằn mặt hai thằng:
- Đồ mất dạy!
Hai thằng lồm cồm bò dậy len lét bước ra, miệng thì run, mắt thì dọa dẫm:
- Cứu bồ hả?
Tôi dỗ dành con bé mấy câu. Làm ở đây đựợc hơn tháng rồi nhưng tôi ít chú ý đến ai. Làm tạm bợ qua ngày, tiền không có, người tứ xứ bắt bạn làm gì cho mệt. Con bé này cũng làm hồ với tôi, nó chừng 14-15 tuổi, người gầy ốm, lúc nào cũng bịt khăn nửa mặt, đội nón sùm sụp, nhút nhát, yếu đuối, thường bị đám thợ xây chửi bới, đám thợ hồ đùn việc nên con bé càng lúng túng, nhiều khi tôi phải đỡ cho nó những công việc nặng, vậy mà mấy đứa con trai còn chọc ghẹo, trớt nhả gì đó, miệng bô bô:
- Để các anh làm cho nó phồng lên!
Con bé chỉ cúi đầu im lặng thôi. Mấy hôm sau con bé vẫn còn ra vẻ sợ, mấy thằng kia nhìn tôi với con mắt căm tức lắm. Một hôm tôi chuyển hồ lên lầu, vừa bước lên tấm ván đã bị hẫng, tôi lộn từ tầng hai xuống. Cũng may nhờ có “nghề” nên tôi chỉ bị sây sát khắp người thôi. Con bé sợ run lên. Tôi cho là sự rủi ro sơ suất của mình mặc dù trước đó tôi có đi kiểm tra giàn giáo rồi. Tưởng chuyện đã qua đi. Lại một hôm tôi đang lúi húi dọn dẹp bên dưới bỗng có vật gì đập mạnh lắm vào đầu, tôi lăn ra bất tỉnh. Mở mắt ra thấy mình nằm trong bệnh viện, đầu cuốn băng chặt cứng và đau ê ẩm, con bé ngồi bên khóc thút thít. Thì ra một viên gạch rớt trúng đầu tôi! Cũng may, tôi chỉ bị choáng chấn thương thôi, da đầu bị rách được bác sỹ khâu phục hồi mấy mũi, cho toa thuốc về nhà. Hai anh em ngồi trên xe, con bé bảo: 
- Anh ơi! Làm ở đây không được đâu. Người ta hại anh đó! Anh đi rồi thì em cũng không dám ở lại nơi ấy đâu!
Tôi thương nó quá và như là nó đã tin tôi.
Tôi rủ nó cùng đi xin việc làm ở bến chợ, khuân vác đủ thứ. Ở đây còn ô hợp hơn, nó càng cần dựa vào tôi. Tôi sẵn sàng che chở cho nó như người anh lo cho em gái. Hai anh em thuê chung một phòng trọ, tôi chẳng ngại ngùng vì không có điều gì mờ ám trong đầu. Thời gian ấy, tôi chỉ biết nó là con hoang, mẹ dắt đi xin ăn từ bé và hay chửi đánh nó rồi bỏ rơi luôn khi con mẹ ấy lại có thêm đứa con hoang nữa. Nó lưu lạc một mình tự sống. Có lẽ đến tuổi lớn rồi, nó cảm thấy chuyện con gái đi ăn xin là không được nữa và đi kiếm việc làm. Nó lang thang phiêu bạt từ Bắc vào Nam chưa được bao lâu. Con bé ít nói, lầm lì, nét mặt không lộ rõ buồn vui, hay lảng tránh người lớn và có đôi mắt đặc biệt lắm: nó âm u, thăm thẳm, hoang dại và khó hiểu… Cuộc sống chẳng có gì đáng nhớ nên tôi không để ý đến thời gian. Một hôm, khuya khoắt lắm rồi, đang đẫy giấc bỗng tôi cảm thấy có gì đè nặng lên mình. Thì ra là nó ôm choàng lấy tôi khóc tấm tức. Tôi ngồi dậy mà nó níu lại rúc đầu vào ngực tôi. Tôi gỡ ra, gặng hỏi mãi nó mới nói:
- Anh ơi! Sống thế này cực quá, là người mà không sướng bằng con chó! Ai cũng hành mình được, cũng khinh mình được. Người ta bảo em đi bán… trinh được mấy chỉ vàng làm vốn hoặc để phòng thân!
Nó càng ôm chặt tôi hơn và kéo tôi nằm xuống:
- Mai em đi! Em cho anh đó!
Thật tình lúc ấy tôi xót xa cho nó quá. Thằng con trai khổ còn chịu được, biết đâu còn vận hội. Nhưng thân con gái, lỡ để bọn chó vọc vào rồi, có vứt ra đường cũng như cái giẻ rách, chẳng ai thèm! Dầu hối cũng không được nữa. Tôi nhích lùi ra:
- Không được đâu, em nghĩ lại đi! Anh có thể giúp gì cho em được?
Nó ngồi dậy, gục vào vai tôi khóc mãi. Tôi giục:  
- Thôi, ngủ đi… mai tính!
Tôi bước sang chỗ nằm của nó, thao thức mãi không biết làm gì gỡ ra cho nó thoát cảnh này, vừa thương nó lại thương mình. Tôi thiếp đi. Lúc giật mình tỉnh dậy thì trời sáng lắm rồi, nhìn quanh không thấy nó đâu, cuốn sổ của tôi đặt giữa chỗ nó nằm mở tung ra. Tôi cầm lên thấy mấy chữ nguyềnh ngoàng: “Anh độc ác lắm!”. Tôi chạy vội ra cửa không còn thấy bóng nó đâu. Ngày mới về đây nó không biết chữ. Tôi cố công dỗ dành dậy cho nó biết đọc, biết viết, biết làm mấy phép tính đơn giản, nhắc nó luyện viết chữ đẹp là được rồi. Bây giờ nó viết ra những lời oán trách tôi như vậy! Tôi đã làm gì sai với nó?
Mấy hôm sau tôi nghỉ việc, mướn chiếc xe đạp chạy khắp thành phố mong tìm ra nó. Khi hết hy vọng gặp lại tôi mới tỉnh ra: Liệu mình sẽ giúp được gì cho nó? Tôi cảm nhận ra nỗi bất lực của mình dù có chút ít chữ nghĩa huống chi là nó.
Tôi chán chường, bế tắc, nghĩ đường về quê. Bấy lâu nay có lúc tôi thoáng nghĩ tới điều đó nhưng còn sĩ diện: Mình về trong tư thế nào? Là thằng đào ngũ? Là thằng thất nghiệp? Bao nhiêu người nhìn vào. Nhưng ở nơi đô hội này có ai thương xót mình đâu? Muốn yên thân cũng không được! Trên đường thiên lý, lúc cùng, người ta thường nghĩ về quê và mẹ!”

“Tôi xách cái túi rỗng thất thểu đi trên đường làng. Đám trẻ mới lớn nhìn người làng như người xa lạ, nghi ngờ. Mấy người lớn nhận ra chào nhạt mấy câu… Tôi cảm như quê hương hờ hững với mình… Nhà tôi sao tuyềnh toàng đìu hiu thế? Con chó không muốn sủa. Con gà mắt lim dim, đứng bất động ngay cả lúc tôi bước tới gần… Bước vào nhà, một người đàn ông chống đôi nạng rướn lên, trố mắt nhìn tôi. Mẹ ngồi trên giường giật vội đứa nhỏ đang nhay vú, há rộng miệng ra nhưng không bật lên được tiếng nào. Tôi vứt toạch chiếc túi lép xuống giữa nhà, ném mình trên chiếc phản như người cảm gió…
Bấy nhiêu năm, bao nhiêu biến cố ập đến nhà tôi. Bà nội mất là lẽ thường tình nhưng mẹ tôi thành người cô độc, ngày đêm thui thủi một mình với  bóng, chỉ còn hy vọng duy nhất vào tôi! Một ngày người ta cho giấy gọi mẹ lên trụ sở xã nhận thông báo về việc con đào ngũ! Mọi chế độ cho gia đình chiến sỹ dù chỉ có giá trị an ủi tinh thần cũng không còn nữa. Mẹ tôi suy sụp…
Ông thương binh cụt chân ở làng trên, bị vợ con ruồng rẫy, chán chường, đi làm mướn dạo. Hai con người cùng cô đơn tuyệt vọng gá cạp với nhau nhưng không hợp luật. Du kích “tình cờ” kiểm tra bắt quả tang hai người đóng kín cửa ở trong buồng. Dù già hay trẻ cũng là chuyện trai gái dâm ô. Sẵn cái ổ khoá từ mấy mươi năm trước treo ở cửa buồng, họ khoá trái cửa lại mời chính quyền tới làm biên bản! Nhưng mối tình ấy không gỡ ra được nữa cho dù mẹ chịu nhiều tai tiếng ê chề và vợ con ông thương binh bỗng có người nhảy vào cáng cho gánh nặng…
Tôi không trách mẹ mà tự trách tôi. Tôi thương và xót xa cho cha quá!
Mấy lần chính quyền cho giấy gọi lên trình diện, tôi không đến. Họ điều lực lượng xuống giải đi. Tôi cãi trong thế cùng:
- Quê tôi đây. Nhà tôi đây. Tôi đi đâu ai cũng biết. Tôi về nhà tôi, cần gì giấy tờ cho phép của ai? Miễn là tôi không làm việc gì hại làng hại xóm!
- Nghĩa vụ anh chưa hoàn thành quê hương cũng không chấp nhận!
- Chẳng lẽ chúng mày chỉ chấp nhận bộ xương khô để thờ hay sao?
Tôi điên lên lao tới giật cái ổ khoá cửa ném vào mặt thằng nhóc con nghênh ngang nói láo. Nó thét lên lăn quay xuống đất, máu tươi từ trán chảy ra bê bết mặt!
Mãnh hổ nan địch quần hồ, tôi bị trói gô lại giải về xã rồi giao lên tạm giam trên huyện. Tôi bị kêu án 12 tháng tù vì tội đào ngũ và chống người thi hành công vụ! 
Tôi ở tù trong tâm trạng phẫn uất không sao hoá giải được. Nhưng cũng  là những ngày tháng giải khuây với đám bạn tù. Đã không bắt nạt được tôi thì chúng quay sang nể phục. Dù là bất hảo nhưng chúng đa dạng, đa tài. Tôi học được ở chúng nhiều ngón nghề mánh khoé giúp mình thiết thực trong những ngày tha phương lang bạt kiếm sống sau này. Tôi cũng chưa hiểu khoảng thời gian ngắn ngủi ấy là tệ hại hay là hữu ích cho đời tôi sau đó. Giả như không có những ngày tháng ấy thì sao? Nhưng cuộc sống vẫn là cuộc sống, đặt sự giả như chẳng có ích gì.
Ông trưởng trại gọi tôi lên bảo: Cần có hình phạt để nghiêm minh phép nước nhưng vẫn soi xét chiếu cố gia cảnh đặc biệt, cho hưởng lượng khoan hồng! Tôi được gia ân tha về trước nửa hạn tù.
 Thằng đàn em thân cận cảm cái nghĩa tình ngắn ngủi tặng tôi bảo vật Ruồi vàng sơn cước vô cùng lợi hại: Tiến bất khả bại – Thoái  bất khả truy, không ngờ rất hữu ích cho tôi để giành giật miếng cơm manh áo sau này.
Mẹ tôi mặc cảm như đã mắc điều trọng tội với tôi. Bà bảo:                                         
- Con về rồi! Mẹ giao lại nhà này cho con thờ phụng. Mẹ không xứng và sẽ đi khỏi nơi này!
Tình cảnh này ở nhà làm sao chịu được?! Tôi nhất quyết ra đi và báo cho mẹ biết. Nhưng ngày thượng lộ thì tôi lặng lẽ…
Trong hành trang tôi mang theo tấm Bằng liệt sỹ của cha! Đến bây giờ tôi vẫn rất ân hận về thái độ tàn nhẫn ấy của tôi với mẹ! Tôi đã lặn lội đi tìm để cầu xin mẹ tha thứ cho con. Tôi biết rằng mẹ rất thương tôi, thương hơn cả những đứa con sau này dù chúng còn thơ bé. Mẹ không muốn thế nhưng số phận đưa đẩy mẹ như số phận đã đẩy đưa tôi. Có điều kỳ lạ là trong mơ tôi chưa bao giờ gặp mẹ. Những ngày nằm chờ ở đây tôi gặp rất nhiều người nhưng nghĩ lại chỉ toàn là người đã chết! Chắc hẳn mẹ tôi còn sống. Nhưng mẹ ở đâu? Con tuyệt vọng về ngày gặp mẹ! Đó là nỗi dày vò day dứt nặng nề cho đến ngày con bước ra đi như là điều quả báo…”
Người tù rầu rĩ, đầu cúi xuống lúc một thấp hơn như đeo trên cổ một cái gì nặng lắm trong khi ở ngoài kia bóng chiều chạng vạng.

“Tôi muốn làm lại cuộc đời nhưng lúc này mình tôi không gượng nổi. Tôi cầu cứu đến sự bảo lãnh tinh thần của cha và uy tín xã hội của thầy. Vị giáo sư chủ nhiệm khoa của tôi đã là một ông giám đốc tiếng tăm và uy tín trong số các vị giám đốc của các trường đại học. Người con trai út của thầy cùng lứa tuổi tôi cũng đang là một nghiên cứu sinh đầy triển vọng. Thầy không lạ gì tôi vì tôi là một trong số ít học trò từng nhiều lần được thầy biểu dương gửi gắm niềm tin. Tôi hy vọng ở lòng bao dung quảng độ và tầm nhìn xa hiểu rộng của thầy.
Thầy tiếp tôi trong văn phòng giám đốc như một kho sách rộng mênh mông toàn sách thánh hiền với hình các danh nhân tiêu biểu cho các nền văn hoá cổ kim của nhân loại. Lâu lắm rồi tôi mới được bước vào một khung cảnh thần tiên như thế. Tôi cảm thấy mình vừa nhỏ bé lại vừa như được bay lên. Thầy ngồi trước tôi hư hư thực thực.
 - Nhà trường luôn theo dõi từng bước đi của các anh chị và tự hào đã cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú!
Tôi tái mặt trước những lời khen ấy, không dám nhìn thẳng vào thầy nhưng thầy nhìn tôi thân thiết tin tưởng lắm. Tôi tự nhủ không thể dối thầy:
- Thưa thầy, giữa Đời với Đạo còn khoảng cách xa nhưng dù hoàn cảnh nào chúng con luôn hướng về Chân – Thiện – Mỹ như thầy vẫn dạy! Riêng con tự thấy chưa xứng với niềm tin của thầy… Dù sao sự học của con còn dang dở nên nhìn chưa tới, dễ xảy ra những điều đáng trách. Con tha thiết mong được thầy nhận về ngồi lại trên ghế nhà trường tiếp tục thọ giáo cho hết chương trình dưới 

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment