LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ - TRANG 1

LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ 
                                           {

“Kính gửi ngài chỉ huy việc thi hành án,
Tôi là một kẻ giết người. Cho dù bởi động cơ nào cũng là trọng tội. Hơn nữa tôi đã giết một con người khốn khổ từng thương yêu lo lắng cho tôi ! Theo pháp luật hiện hành, tôi bị ghép vào tội chết !
“Tôi không chống án xin xét xử nơi tòa phúc thẩm để mong nhẹ tội. Tôi chỉ xin ngài ban cho hưởng một đặc ân…”

Theo lệ thường, các án tử hình đều được thi hành vào lúc bắt đầu một ngày mới và bao giờ cũng kết thúc trước lúc rạng đông. Trời khuya khoắt mà cái rét cuối năm như phải dừng lại ở ngoài kia, sau các khung cửa của căn phòng này – nơi làm các thủ tục cuối cùng để rứt bỏ một con người ra khỏi xã hội mà họ đã tồn tại bấy lâu nay.
Nhìn một người trai tráng tươi tốt thế kia đang đi dần tới cái chết chỉ còn tính từng giờ, từng phút, lòng ai cũng thấy nặng nề. Dường như những người có mặt ở đây phải làm những việc miễn cưỡng trong công vụ của mình.
Tại khu biệt giam các tử tù, mọi sinh hoạt đều khác với đời thường. Họ ngủ vùi suốt ngày vì đã thoát qua thời khắc hồi hộp hãi hùng, giờ đây ít ra còn được hưởng thêm một ngày nữa ánh sáng của mặt trời… Nhưng khi bóng đêm sập xuống, họ lại hoảng sợ thần chết rình rập đâu đó trong bóng đen dày đặc sẽ đến dắt đi vào cõi vô tận mịt mùng. Họ thức chong chong với nỗi căng thẳng và sợ sệt, dõi theo từng tiếng động và nghẹt thở khi từ ổ khoá cửa vang lên tiếng lách cách lạnh lùng rồi tiếng người quản giáo khô khốc đoản hơi gọi tên một người nào đó. Con người khốn khổ kia co rúm lại, run rẩy không lê nổi bước chân…
Chỉ duy có người tử tù này là khác. Ban đêm, khi những con người tuyệt mệnh kia hoảng loạn kêu khóc, van xin, chửi bới, đập phá ầm ĩ làm kinh động tới giấc ngủ, anh quát lên:
- Câm mồm đi, đồ hèn! Cái chết đố ai thoát được. Sớm muộn phút chốc thôi, sợ hãi được gì?
Cả đám tử tù nể sợ anh.
Và bây giờ người quản giáo phải gọi anh tới mấy lần, lúc đầu nhỏ, sau to dần anh mới cựa mình thức giấc. Khi chiếc cùm chân được mở, anh đã hiểu ra, bật đứng dậy, thủng thẳng bước đi, thản nhiên, điềm tĩnh vì cái giờ phút mà anh ta sốt ruột đợi chờ như đã thỉnh cầu:
“… Tôi mong sớm được từ biệt cõi đời này càng mau càng tốt  vì  sự  sống  đối với  tôi chẳng  còn  nghĩa  lý gì” đã tới rồi!
Ban ngày anh ta thức một mình, không có ai để nói chuyện. Lâu lâu, người quản giáo lệnh cho anh những điều cần thiết, anh lẳng lặng thi hành. Anh gọi họ là cai vì rằng:
- Người ta xử tội chết có nghĩa là coi mình không còn khả năng hối cải thì cần gì quản giáo? Nằm trong chân cùm, tay xích có ở đâu ngoài ngục thất ra?
Để quên thời gian, anh hay lấy phần cơm dành lại nặn thành hình. Anh thật khéo tay, những hình người, hình thú đều dễ nhận ra từng loài. Anh xếp hàng la liệt quanh mình theo thứ tự: những con vật to đứng trước các con vật nhỏ và sau cùng là những hình nhân. Tôi chợt nhận ra cả người và vật đều có nét giống nhau: cái đầu thì nhỏ mà cái miệng thì to, phần mình trên thì lép mà phần hạ thể thì lớn, đặc biệt dưới cái bụng phình to lễ mễ lồ lộ ra cái giống của con hình…
Bữa ăn đặc biệt cho người tử tội vào phút cuối cùng bày sẵn trên bàn. Anh ta nhấp ly cà phê, xin lửa châm thuốc hút và mắt nhìn mãi đâu. Mọi người lặng thinh dõi theo các động thái của anh… Anh lặng lẽ móc từ túi áo ra một bọc, từ từ mở ra, lấy một hình nhân đặt vào giữa cái mâm. Đó là một vũ nữ, toàn thân tím đỏ như màu máu khô, đôi chân nhón nhảy tung lên, hai tay vươn dài ra. Ba cây que tăm giữ cho hình nhân như đang bay lượn trên trời. Hình này có sự chăm chút khác thường bởi tư thế dáng vẻ điệu đàng chứ không thô thiển như những hình nhân khác và đến lúc này mới được trưng ra. Từ đấy mắt anh không rời người vũ nữ…
Ly cà phê gần cạn, điếu thuốc cũng sắp tàn, anh nhìn chằm chằm vào mâm cơm, hỏi thật lễ phép:
- Các ông cho tôi toàn quyền sử dụng các món ăn này chứ ạ?            
Người đứng đối diện gật đầu. Anh nhặt cái bọc nylon từ tốn trút vào đó đĩa xôi, con gà rồi cột lại cẩn thận, quay về phía tôi, giơ nó lên, giọng thật hiền :      
- Nhờ nhà báo chuyển tới bà mẹ mù lòa ở cái xóm nghèo tôi đã kể !
Tôi không dám có phản ứng gì. Mấy vị quan chức đứng đó đưa mắt nhìn nhau. Một vị gật đầu:
- Được, nhà báo cứ nhận!
Như toại nguyện, người tử tù ngửa cổ dốc cạn ly cà phê, rít một hơi thật dài cho điếu thuốc cháy tới cuống rồi ném mạnh nó xuống sàn, nắm gọn cô vũ nữ trong tay, ngước nhìn mọi người dứt khoát:
- Nào… ta đi!
Cùng lúc một giọng đanh lại cất lên:
- Đứng dậy!
Hai người cảnh sát xô ngay tới xốc nách tên tử tội. Người đội trưởng thi hành án nghiêm trang dõng dạc đọc phán quyết của Tòa và Lệnh thi hành án. Người tử tù bình tĩnh cầm bút ký tên… Tôi run lên vì những thao tác chuyên nghiệp kinh hồn được thực hành gọn gàng chớp nhoáng: mắt anh ta được bịt chặt bằng giải băng đen, hai má phồng lên lúng búng như vướng một vật cứng trong mồm và người ta lôi tuột ra khỏi phòng khi đầu anh còn hướng về phía tôi gật chào, trong khi hai bàn tay anh chụm lại khư khư giữ chặt người vũ nữ. Tôi đứng trân mình, nhìn rõ chân anh sải những bước dài. Tiếng kim khí lạnh tanh ghê hồn của cái chốt  khóa buồng xe vang lên chói tai. Chiếc xe bịt bùng lao vọt đi trong tiếng còi hù hụ rít lên như xé tan cái bóng đêm–mai nhập nhoạng. Tiếng bánh xe lăn lép nhép vội vàng trong cơn mưa dầm dề dai dẳng. Tôi chùn chân lại không dám đi theo. Con đường cụt độc đạo này dẫn thẳng tới pháp trường không xa. Chút nữa, trong ánh ban mai, chiếc xe chở tù kia sẽ trở về với cái chốt cửa sau xe để hờ hững nửa chừng. Nó lại lăn vào nhà xe nằm chờ lệnh mới!
Tôi như người mộng du, bần thần đi ra phía cổng trại giam trong mưa giăng giăng căm căm giá rét…

Lá thư của người tử tù này tôi đọc nhiều lần:
“… Bữa cơm cho kẻ chờ chết kể ra cũng ngon lành. Chả lẽ chỉ để cho nó có sức bước ra trường bắn?! Những kẻ ăn sung mặc sướng càng sợ chết và hèn. Giá như bữa cơm này được dành cho những người đói khổ đang khao khát sống…”
Tôi tìm đến nhà bà cụ mù loà ở cái xóm nghèo ngoắt ngoéo quanh co lầy lội và hôi hám mãi ngoại ô. Sáng, trưa, chiều, tối, giờ nào túp lều ấy cũng vắng ngắt với cái cửa trống tuyềnh toàng. Tôi quyết định tìm bà vào lúc người ta đi chợ sớm trùng với thời gian người tử tù bị đẩy ra khỏi thế giới này. Bà chẳng ngỡ ngàng gì khi vừa bước ra khỏi cửa đã có người cầm tay níu lại:
- À… thì ra cô là người mang đến! Cái món ăn ấy lạ lắm… lạnh tanh… lạt nhách… mà lại như có mùi hương. Chắc là thằng Trai đã… Liệu nó có được một nấm mồ không?
Trống ngực tôi đập thình thình. Ngay buổi đầu tìm bà không gặp, tôi nhờ người hàng xóm chuyển món quà ấy tới bà, nói là của người nhà gửi lại. Cái linh cảm của bà già mù lòa ngơ ngác này lạ thật. Tôi kéo bà ngồi xuống cái giường  to chắc chắn nhưng tấm chiếu thì bờm xờm xô lệch. Tôi chưa kịp hỏi thì bà đã nói một thôi:
- Chúng nó không phải là con tôi. Tôi nghèo hèn, mù loà thì có ma nào thèm. Tự dưng có người nhận là mẹ, đi thăm về hỏi thì lòng nào tôi không thương, coi chúng như con. Vì thế mà nhiều khi chúng nó cũng sách nhiễu hành tôi đến khổ. Nhưng đã là mẹ thì con nó ngoan ngoãn hiếu thảo là mình được nhờ, còn như nó hư hỏng lăng loàn thì mình cũng đành cắn răng nuốt  hận mà chịu chứ sao! Nhà chẳng có nước nôi ấm chén gì đâu! Cô muốn nghe thì chịu khó ngồi…
Tôi rời nhà từ sớm, khuya lắm mới về. Mọi thứ ăn uống, sinh hoạt tuốt tuột ở ngoài đường. Nhà chỉ là chỗ nghỉ lưng chốc lát hoặc giả như lúc mưa gió thất thường hay khi trái nắng trở trời có chỗ trú tạm bợ qua ngày và lỡ có chết cũng khỏi mang tiếng chết đường chết chợ, vong hồn bơ vơ không nơi nương náu. Ban ngày tôi đi bán vé số, xin ăn. Ban đêm thêm nghề tẩm quất dạo vườn hoa, vỉa hè. Con bé ấy là khách mối của tôi.
Da thịt nó thơm phức, mịn màng mũm mĩm, váy áo nó mặc không phải đồ thường, tôi bảo nó cần gì đến một bà già cổ lỗ như tôi. Nó bảo:
- Đừng coi khinh mấy người quất dạo, đám phục hồi chỉ được bộ vó với cái miệng đẩy đưa thôi chứ chưa chắc đã hơn gì. Gặp mấy thằng ôn dịch giở trò rờ mó càng tức lộn tiết lên. Cái tật của đám đàn ông, Trời đày cũng không chừa!
Ngừng chút lấy hơi, bà kể tiếp :
Một hôm, trời khuya lắm rồi, nó vừa thúc tôi làm mạnh tay lên vừa chửi đổng :
- Tổ cha đám lắm của dư  tiền bày đủ trò rửng mỡ!
Làm xong, nó bảo tôi ngồi lên xe, chở đi nhà hàng đãi một bữa cho sướng đời. Ôi dào, mắt tôi có nhìn thấy gì đâu, chỉ thấy mát lạnh, tiếng giày lệt xệt, tiếng người cười nói lao xao, tiếng đàn hát eo éo, tiếng ly bát khua leng keng lách cách… Nó gắp cho tôi lia lịa, bát lúc nào cũng đầy, chắc là nhiều món lắm vì mỗi lần đưa thức ăn vào miệng lại có vị khác nhau. Ôi, mấy thứ đồ tây đồ tàu của quỷ đó tôi ăn không hạp vì cái bụng mình nó không có chịu. Ngày hôm sau thật khốn khổ. Mình nhà nghèo, mấy thứ ăn đường ăn chợ vậy chớ mà cái bụng mình quen rồi. Ăn xong nó đòi chở tôi về. Tôi bảo nhà tôi xơ xác lắm, không có chỗ ngồi đâu. Nó bảo:
- Nhiều đứa mạt hạng gặp vận hội phất lên đã vội quên đi cái thời đói rách, hợm hĩnh khinh người. Cái giống ấy đoản vận lắm! Đến đây nó lăn quay ra giường đánh liền một giấc. Nó thở ra sặc mùi rượu.  Hồi ấy là cái giường khác kia, xập xệ lắm, chỉ một tôi nằm cũng không dám cựa mình mạnh đâu. Cái giường này là từ khi có thằng ấy đi lại về đây chúng nó mới mang về, chả hiểu có đẹp đẽ gì không nhưng chắc chắn lắm. Chúng nó yêu nhau, giết nhau cũng ở trên cái giường này…
Thở ra một hơi dài, nhớ về chuyện cũ, lại có người than thở, bà tuồn tuột kể ra :
- Đêm hôm ấy tôi nằm dưới đất, lâu lâu nhỏm dậy quạt muỗi cho nó. Lúc mở mắt ra thì trời gần xế trưa rồi, nó hỏi: “Ơ, thế mẹ không đi làm ăn à? – Nó kéo tôi lại và gục vào lòng, khóc như trẻ con… Ôi, ước gì con có người mẹ thế này, mù lòa cũng được, ăn mày ăn xin cũng được miễn là hiền lành thương con”!
Từ đó nó thường lại đây, lúc ngày, lúc đêm. Tôi không có ở nhà thì nó lăn ra ngủ, lúc đợi, lúc không, có lúc nó để lại cho tôi ít đồ ăn thức uống. Khi vui thì nói cười ríu rít, hứng lên nó làm cái gì lịch kịch… rồi cười phá lên:
- Mẹ có nhìn thấy không? Con múa đấy! Mẹ có biết múa là gì không? Chao ôi, tiếc quá! Thế này này…
Nó nắm tay lôi tôi xềnh xệch ra giữa nhà quay vòng quay…
- Thế này! Thế này!… Không biết là uổng đời lắm!
Ôi chao, chóng cả mặt, nôn nao lộn ruột quá… Tôi thét lên:
- Đồ quỉ sứ!
Nó ấn tôi ngồi xuống giường rồi quát lên:
- Mẹ gì mà ngu ngốc thế!
Nó giận dỗi bỏ đi…
Khi buồn thì nó khóc lóc, đập phá lung tung. Mặc xác nó, nhà có cái quái gì quí đâu, mấy cái bát mẻ, mấy cái chai lọ thổ tả có vỡ bể thì tôi lại nhặt cái khác, thiếu gì. Nhiều lúc nó chửi bới bừa bãi, ngoa ngoắt lắm:
- Đời này trái khoáy… Cũng là quân ăn cướp mà thằng móc túi thì vô tù, thằng móc ruột thì vẫn nghênh ngang? Đám nai vàng sống giữa rừng người chớ đâu phải rừng cây mà ngơ ngác! Lắm thằng khôn chuyện cướp của, dại chuyện giữ tiền. Lớn bé, giàu nghèo, già trẻ, sang hèn gì đều chết vì cái… lá vàng khô!
Có lần tôi hỏi nó:
- Trẻ mày không tha, già mày cũng không thương. Vậy mày có chừa tao ra không?
Nó sừng sộ:
- Bà mà không biết điều quậy tới là tôi cũng không tha!
Nói vậy mà nó lại tới ôm cổ tôi làm lành:
- Bà già này cổ lỗ dở hơi nhưng được cái thật thà, thương người lắm đó. Mẹ mà không thương con được nữa thì ma quỷ cũng chẳng thèm con đâu!
Lúc túng tiền, nó hỏi xin, tôi cho. Có dành dụm được chút ít đấy nhưng tôi không bo bo bom bỏm làm gì. Mình mù lòa chẳng nhìn thấy đời, đời cũng chẳng thèm nhìn đến mình thì luyến tiếc cái gì? Chết càng sớm càng may… Nhưng có khi tự nó dúi vào túi tôi cả mớ tiền, có khi ấn vào tay tôi chiếc nhẫn, chiếc vòng, đeo vào tai tôi đôi bông, thậm chí quàng cả vào cổ tôi sợi dây truyền. Tôi hỏi:
- Cho tao rồi mày có đòi lại không?
Nó ghé sát vào tai tôi nói ra vẻ lắm:
- Của cải lúc ở trong túi người này, lúc nhảy qua tay người khác. Nó có chân đấy, tham lắm chẳng được đâu!
Tôi mang trong người cái của nợ ấy làm gì, có khi mang họa, dặn dò nó nơi tôi cất giấu. Coi như mình giữ gìn cho nó…                                                                 
Từ đầu, tôi vẫn thắc mắc một điều nên khi bà vừa dừng nói lấy hơi, tôi vội xen vào:
- Bà cụ ơi, thế cô ấy tên gì?
Bà giơ tay lên ra ý khuyên tôi:
- Chúng nó chúa ghét những ai có tính tò mò cứ muốn dò tìm ngọn ngành tông tích người ta. Lúc mới về đây, tôi cũng hỏi thế, nó đập đập vào vai tôi:
- Tuy là mẹ con nhưng ta chỉ cần biết nhau từ đây thôi đấy nhé! Tên con khó nhớ,  mẹ cứ gọi là… Gái đi! Dễ nhớ lắm. Muôn loài đều có đực có cái, giống người gọi là trai với gái!
Khi dẫn thằng ấy về đây, nó cũng nói luôn :
- Thằng này là bạn của con. Mẹ cứ gọi nó là thằng Trai đi! Trai mê gái, gái theo trai, mẹ ạ!
Tôi nôn nóng không chịu được:
- Họ mê nhau sao lại giết nhau?
- Cô đi mà hỏi nó!
Bà có vẻ giận nhưng rồi lại quên ngay như mê kể chuyện:
- Xem ra thằng ấy si tình lắm, lúc nào cũng anh với em nhỏ nhẹ nhưng con bé nhiều khi chẳng phải vui buồn gì cũng cứ mày – tao chướng tai lắm. Có lần tôi chửi:
- Vợ thằng ăn mày ở góc chợ cũng không nói với chồng như thế!
Nó cãi:  
- Vậy mới là yêu thật đấy! Cái thứ anh em lúc ngọt lúc nhạt không lọt vào lỗ tai con được!
Nghe riết rồi quen. Mỗi đứa một tính một nết. Thằng thì lầm lì ít nói mà chi li tỉ mỉ. Con thì muốn gì là làm, nghĩ gì là nói, vuốt mặt không nể mũi ai. Hai đứa cứ như mặt trăng với mặt trời. Ở nhà này, chúng nó yêu nhau, chửi nhau tự nhiên lắm, như cơm bữa vậy nhưng xem ra chúng nó không rời nhau ra được. Có lần tôi hỏi:
- Sao không cưới nhau đi?
- Cưới hay không cũng vậy!
- Sao không đẻ con đi Tao giữ trẻ cho!
- Đẻ có đau không?
- Tao có đẻ đâu mà biết!
- Thôi, để con kiếm giống thật tốt rồi thuê đẻ giùm. Mẹ được không?
- Tao đẻ ra giống ăn xin?
- Ăn xin lương thiện hơn ăn cướp! Con toàn chơi với đám cướp ngày, mẹ có sợ không?
Nhưng nó lại chạy đến dụi đầu vào cổ khóc ướt cả vai áo của tôi.                 
Mỗi khi về đây là chúng không cho tôi đi đâu cả:
- Chúng con về với mẹ chứ cần nơi ngủ thì thiếu gì!
Dầu ở nhà tôi có thấy gì đâu, có biết gì đâu mà nói. Nhưng thật lòng, mẹ con đều thấy vui. Ấy thế mà đang vui, không dưng bỗng ập đến buồn…                    
Ờ, mà bẵng đi một dạo, thằng ấy không bén mảng tới đây. Lại có cả mấy ông cảnh sát tò mò đến hỏi lung tung. Cảnh ngộ tôi thế này, ai muốn đến đây cứ đến, như cô ấy, tôi làm sao biết nhân dạng thế nào, con người tốt xấu làm sao. Tôi cũng chẳng thiết hỏi hà cớ từ đâu, chuyện ai nấy biết…
Đến một ngày chúng dắt nhau về đây. Ở cái xóm tuyềnh toàng tơ hơ thế này nhưng không ai thọc mạch chuyện của ai đâu, chỉ khi có chuyện cháy nhà hay là người chết, người ta la lối lên thì nhà nọ mới chạy sang nhà kia chốc lát thôi. Chả có gì là quan trọng với những người nghèo khổ ngoài miếng ăn ra.
Chúng giận dỗi từ đâu không biết, vừa về đây đã thấy tiếng nặng tiếng nhẹ rồi. Mặc xác chúng nó chứ, trai gái bây giờ sớm đào tối mận chuyện thường tình. Chúng ngúng nguẩy lớn tiếng với nhau, về những chuyện gì tôi không để ý, nắng mưa là chuyện của trời, âu yếm đấy, cãi lộn đấy là chuyện của hai đứa yêu nhau. Đang ngồi ở cửa, tôi bỗng nghe tiếng huỵch và tiếng thằng ấy rít lên:
- Vì mày tao thành kẻ giết người. Bây giờ mày phản… Tao với mày cùng chết!
Rồi tiếng con ấy rú lên, chúng vật lộn nhau, rồi tiếng người ngã đổ ập xuống giường, tiếng thở ằng ặc, tiếng rên i ỉ, tiếng con bé thều thào gì đó rồi tiếng thằng ấy rống lên như con bò bị chọc tiết:
- Em ơi, đừng chết! Mẹ ơi, con giết vợ rồi!
Tôi giật mình, nhảy dựng lên như ngồi trên thùng xăng cháy, la hoảng lên:
- Ối hàng xóm ơi… chết người… Nó giết con tôi!
Tiếng chân huỳnh huỵch, tiếng người lúc một ồn ào ầm ĩ. Người ta kéo đến đông lắm. Người hô, người hét hoảng hốt om xòm:
- Thằng chồng giết vợ!
- Thằng Trai giết chết con Gái rồi!
- Bắt lấy đứa giết người!
Yên được một chút lại có tiếng nói to:
- Còn thở… chưa chết… đưa đi cấp cứu mau!
Tiếng thằng ấy khóc lóc rên la cuống quýt như con lợn sắp chết rẫy lên đành đạch:
- Hãy cứu vợ tôi! Xin cứu vợ tôi!
Hình như nó bế con bé chạy đi. Tiếng người hối thúc nhau rẽ ra nhường đường cho nó. Tôi chỉ kịp hướng theo tiếng chân người nguyền rủa:
- Thằng khốn! Cớ sao mày giết con tao?

“…Sống ở cuộc đời này, người ta mỗi người mỗi cảnh. Khi đến đều khóc giống nhau nhưng lúc ra đi mỗi người một khác: có kẻ nuối tiếc, có kẻ oán hờn, có người nhẹ nhàng thanh thản, có kẻ nặng nhọc đớn đau. Tôi đi qua cuộc đời này như kẻ rong chơi vô tình gặp nạn !
Tôi không thù oán riêng ai lại càng không muốn ai chết vì mình…”

Người tử tù có cái tên nửa Miên nửa Việt, nói thạo tiếng Khmer và theo bản cung, anh ta là Việt kiều lai.
Mấy cán bộ quản giáo dặn tôi:
- Cho đến lúc chết, thằng này vẫn không có gì là thật. Nó lỳ lợm thâm thúy lắm!
Phần lớn án tử hình ở đây, đọc cáo trạng của Tòa thì ai đó dù có tính dễ mủi lòng cũng phải lắc đầu. Bọn giết người hung tợn ở mọi lứa tuổi, bằng đủ thứ mánh khoé bất nhân, vậy mà trong những ngày chờ chết đều tỏ ra ăn năn sợ hãi đến mất trí. Nhìn bi cảnh đó, không ai còn nỡ lòng oán trách, hận thù mà chạnh lòng suy nghĩ về một lẽ sống chung.
Nhưng có một người tử tù trai trẻ lại thờ ơ đến lạnh lùng đợi ngày ra trường bắn?… Tôi dành nhiều thời gian tiếp xúc với con người khó hiểu này.
Hội đồng xét xử tuyên bị can hai án ở khung hình phạt cao: Tử hình vì tội cố ý giết người dã man có chủ mưu với động cơ chiếm đoạt tài sản công dântù chung thân với động cơ trả thù vì mối hận tình bệnh hoạn… Tổng hợp hình phạt là: Tử hình!
- Dù trong hoàn cảnh này, tôi luôn nghĩ về một sự bình đẳng với anh để chúng ta cùng được nói thẳng ra suy nghĩ của mình…
Tôi và người tù ngồi cách nhau một khung song sắt nặng nề, tay chân anh lại mang xiềng xích.
- Tờ đơn của tôi đã đệ lên các ông cai, mong được nhà báo tác động cho. Mỗi người chỉ là khách du qua cuộc đời này, dù có kẻ may người rủi, kẻ dại người khôn nhưng đều tạm bợ và khi “biến” có để lại dấu vết to nhỏ gì thì bụi thời gian sẽ xoá sạch đi!
Giọng anh đều đều, đôi mắt anh chăm chú nhìn vào cuốn sổ tôi ghi:
- Tôi chưa tin như lời nhà báo nói đâu. Tuy nhiên những điều tôi kể ra đây không để thanh minh, không để oán trách và không liên lụy tới ai ngoài một người duy nhất biết được là tôi có tội!
Tôi tiếp xúc với người tử tù này không chỉ một lần vì câu chuyện nhiều khi đứt đoạn bởi nhiều nguyên do.

“Tôi mồ côi cha từ lúc nằm trong bụng mẹ, giống như cha tôi cũng chưa từng biết mặt ông nội của tôi. Đôi lúc tự nghĩ không biết tiền kiếp tôi thế nào mà dám đầu thai vào nơi như thế? Ông nội ra đi biền biệt, chỉ đến lúc nhận được tờ giấy báo tử, bà nội tôi mới biết ông đã tử trận từ lâu ở một nơi nào xa xôi lắm! Cha tôi cũng lớn lên trong thời buổi chiến chinh, mười bảy tuổi đầu lại bước đi theo dấu chân cha thuở trước. Bà nội tôi dù không muốn nhưng làm sao cản được! Ba tháng thao trường là đủ thời gian đưa người lính vào trận mạc. Cha tôi được mấy ngày phép về thăm nhà trước khi chuyển đến đơn vị mới. Có cô con gái mười sáu tuổi ở xóm dưới cùng làng. Hai bà mẹ là bạn từ thời con gái, một tối gặp nhau, tâm tình giao ước thuận cho các con nên vợ nên chồng. Tuổi mới lớn khờ khạo biết gì, nói chuyện vợ chồng vừa xấu hổ lại vừa nôn nao. Thôi, chuyện ấy tuỳ cha 

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment