“Nhưng lúc ấy tôi còn muốn sống.
Lời dỗ dành hứa hẹn với con bé thơ ngây tội nghiệp ngày nào: ngủ đi… mai
tính là món nợ tôi chưa trả được. Vẫn là những ngày mai hão huyền mà hôm
nay vẫn thế! Con bé không ngủ, bỏ đi lạc lõng bơ vơ, lênh đênh chìm nổi! Bây
giờ gặp lại, tôi phải tính thế nào khi tương lai cô ấy còn mờ mịt không khác gì
con bé tội nghiệp ngày xưa?
Tôi dò về thành phố, tìm gặp mẹ mù. Tôi
là khách nằm tẩm quất và cô ấy ngồi bên. Tôi tha thiết mong em từ bỏ cuộc sống
này, cùng tôi đi xa mãi vì tôi yêu em thật sự:
- Anh mong chuộc lỗi với em. Thiếu em
anh không chịu nổi!
Cô ấy khóc nhiều lắm:
- Bao nhiêu lâu nhớ tới anh em vừa giận
vừa thương! Bây giờ gặp lại càng thương và xa anh càng nhớ! Em đã chạy
để người ta đánh lạc hướng đi nhưng cái chết ấy rùm beng quá. Trước mắt phải lặn
thật xa, dần cho chuyện êm đi rồi tính đường xuất cảnh!
Việc trốn tránh qua mắt kiểm tra tôi
từng trải lắm. Với số tiền có trong tay tôi dễ che mắt thiên hạ và toan tính
cuộc sống tương lai không đến nỗi nào. Tôi mua đất lập đồn điền ở xứ sở xa, chờ
một ngày đón em qua ổn định gia đình. Tôi sẽ làm tròn lời hứa với đứa bé gái
ngày xưa dù có muộn màng và hôm nay tôi cũng là người chồng xứng đáng của một
người đàn bà lỡ bước xảy chân. Dù cuộc đời bị đày ải trầm luân như thân lươn
thân trạch nhưng chúng tôi cố ngoi lên. Tôi thỏa mãn với ý định của mình và tin
rằng vì tình yêu, cô ấy không ngại dấn thân.
Trở về thành phố lần này tôi hy vọng
biết bao nhiêu. Nhưng cô ấy hoàn toàn đổi khác! Lạnh lùng không thèm ngó tôi,
ném toạch mớ tiền USD xuống:
- Cầm lấy… đi kiếm người vợ khác. Có
tiền sẽ khối con theo!
Tôi ngạc nhiên trố mắt ra nhìn. Tàn nhẫn
như vậy mà mắt cô ấy giả bộ rưng rưng…
- Em có làm sao không đấy?
Cô ấy quay mặt đi, tay giơ ra tấm thẻ visa:
- Tao sẽ qua Ma Cao, Hương Cảng… Không
thể làm vợ thằng tội phạm quanh năm chôn mình nơi góc ruộng xó rừng!
- Ta là tội phạm?!… Lời nói ấy do chính
em phát ra?! – Tôi run lên. Cả người lạnh toát. Đầu óc tối sầm lại tưởng như
không còn trời đất nữa…
Trong khi cô ấy nguây nguẩy bỏ đi!
Như con thú bị thương gặp người chọc vào
nỗi đau, phản ứng thế nào tôi không biết nữa. Trong túi tôi lúc nào cũng sẵn con
ruồi vàng và con dao cận chiến để phòng thân…
Khi cô ấy đổ gục xuống, tôi rút dao ra đâm
ngược lại mình nhưng cô giữ chặt tay tôi thều thào:
- Anh không được… chết! Em đuổi đi vì…
không muốn anh bị… S… I… D… A!
Người tôi mềm nhũn ra như trong mình
không còn giọt máu nào.
- Em không được làm mẹ nhưng bắt nó phải
làm cha đứa trẻ tật nguyền! Nó thoát tay em mà không thoát khỏi tay anh! Đời em
không còn gì nữa! Em muốn anh khinh ghét… bỏ đi thật xa để anh không còn vương
vấn!… Em không yêu ai khác… ngoài anh! Cầu cho anh… thoát nạn!
Cô ấy thở khò khè, trào máu miệng ra.
Tôi cuống cuồng lên xin cứu mạng! Tôi cầu Chúa, cầu Trời, cầu Phật, cầu tất cả
đấng Thánh thần ban cho em sự phục sinh để tôi chuộc tội lỗi này! Hình như tôi
khóc rống lên. Kể từ khi lớn khôn chỉ một lần tôi khóc trước mọi người!
Người tử tù rũ xuống. Tôi đưa chén nước
mời anh muốn cắt ngang câu chuyện đã đến hồi kết thúc nhưng anh rướn người lên,
hít vào thật sâu và nói nhanh hơn :
-
Đặt xác vợ xuống, tra tay vào còng. Từ đó tôi coi như mình đã chết !
Tại tòa, tôi nhận tội giết cô ấy vì
không thoả mãn mối tình riêng đắm đuối: Tên tài xế nghèo, tên vệ sỹ thất
nghiệp, tên vô gia cư sống nhờ vào lòng nhân hậu của ân nhân lại dám mơ tưởng
đến tình yêu của bà chủ giàu có, cao sang, trẻ trung, xinh đẹp và đã làm một
việc hèn hạ khi mộng không thành!
Mọi người nguyền rủa tôi và xót thương
cô.
Vị luật sư mong Tòa coi việc bị can tự
nộp mình như là một sự ăn năn.
Tòa động lòng vì mối tình si bệnh hoạn,
tha cho tội chết. Nhưng còn tội tham của giết người lương thiện, để sống là mối
nguy cho xã hội!
Tôi đã làm ngơ trước một bé thơ tội
nghiệp cầu cứu vớt và giết người đàn bà khốn khổ yêu thương cứu vớt mình… Tội
ấy đáng chết hai lần!”
Mọi sự đã an bài, tôi không muốn anh tự
dày vò mình nữa:
- Anh có tâm sự gì liệu tôi có thể…
- Tôi tin mẹ tôi còn sống. Điều thiết
tha mong muốn của tôi là mẹ không biết chuyện này. Hãy để mẹ nghĩ rằng con mẹ
đang sống sung sướng dù ở nơi góc bể chân trời nào… Nếu như mẹ biết tôi khổ
đau / Nhất định mẹ sầu mẹ chết mất!
Bài thơ là người bạn đường gần gũi an ủi vỗ về tôi trong những năm lưu lạc tha
hương và cả những ngày chờ đợi ở đây.
- Anh còn có quyền xin ân xá?
- Chỉ tạo hóa cho con người quyền sống,
ngoài ra mọi người đều bình đẳng, dù sướng khổ nhưng đều lần lượt ra đi, sớm –
muộn dăm năm phỏng có ích gì? Ở đời ai chẳng phạm lỗi lầm. Việc đã làm phải
chịu. Tôi chẳng oán giời, chẳng trách người, coi như mình gặp nạn trong cõi
nhân gian !
Người tử tù lẳng lặng quay vào phòng tối.
Anh chợt dừng, quay lại nhìn tôi, hai tay chụm lại chỉ giơ lên nửa chừng bởi
vướng chiếc còng sắt. Miệng anh động đậy… Tôi thoảng nghe một lời chào vừa quen
vừa lạ của du khách thập phương:
- See you again!
Lòng tôi u ẩn với buổi tiễn biệt buồn thương
thế mà anh đón nó như ngày giải thoát bởi một triết lý nhân sinh về sự kết thúc
mọi đời người? Tôi ngập ngừng lúng túng giơ tay lên mà cứ lóng nga lóng ngóng
buột ra lời chào đáp :
- Good bye! Chúc mọi sự tốt lành!
Tôi tự trách mình mãi về lời chúc thật
vô duyên ấy. Nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa nghĩ ra một lời chào thích hợp
trong hoàn cảnh bất thường như thế. Biết đâu sẽ là kiếp sau với những người oan
khổ!
- Không có luân hồi đâu! Cuộc đời tôi
chấm dứt cùng với cái chết của con người ấy. Coi như vở kịch diễn xong rồi. Các
vai diễn đều thăng thiên. Để sân khấu lại cho đời!
Hai tay anh thõng xuống, giọng anh bình
thản trong khi mắt anh ngước lên nhìn bầu trời một chiều đông xám…
Một sinh linh đã về cõi vô cùng.
Dù sao cũng một kiếp người. Mong người quá cố nghỉ yên và đừng ai liên hệ điều
gì để người mẹ khốn khổ ấy đến lúc xuôi tay vẫn tin rằng con bà đang vui sướng
ở một nơi nào. Trên thế gian này cảnh giống cảnh, người giống người thiếu gì.
Tư trang của người đã khuất, có duy nhất
một cuốn sổ tay cũ nhỏ và mỏng. Người chết không có thân nhân, tôi nói khó xin
được giữ làm tư liệu. Ban quản giáo vị tình người viết nên thuận cho tôi. Trong
cuốn sổ không ghi một dòng địa chỉ hay tên tuổi. Hình như chủ của nó không muốn để lộ mình ra. Ngay
trang đầu, vẽ cảnh một nấm mồ cô quạnh đìu hiu giữa nơi hoang vắng, với lời chú
giải ở trang bên. Nét chữ khá đẹp, mềm mại và hơi bay bướm :
Tạo hóa ban cho ta tất cả:
Sức
mạnh, tình yêu, tiền bạc, trí khôn
Ta lại đem cho đi tất cả
Chẳng còn gì khi về cõi thiên thu!
Tôi giật mình cảm như anh đã dự báo sự
kết thúc của đời mình! Tiếp sau là một bài thơ, từng là người bạn đời gần
gũi của anh trong bao tháng năm lưu lạc. Ngoài ra là những hình vẽ lẫn nét
chì, nét mực: con sông, ngọn núi, khoảng rừng, cánh đồng, mái nhà lúc sớm lúc
chiều, cảnh trời lúc nắng lúc mưa… như nỗi nhớ thương day dứt, một lúc nào trỗi
dậy mà không thể viết, đã trào ra nét vẽ. Hình vẽ không sắc xảo nhưng biểu hiện
được cái hồn của một người có hoa tay. Bài thơ dịch ở đâu, hoài hương da diết
lắm, xem ra hợp với anh cả về cảnh và tình. Tôi để công tìm mới biết tác giả là
nhà thơ cách mạng Hungarie cận đại và người dịch là nhà thơ nổi tiếng Hoàng
Trung Thông khả kính.
Tôi ghi lại bài thơ vào đây để nếu tình
cờ đọc truyện này, bạn sẽ đọc lên những lời thơ ấy, như lời an ủi một linh hồn…
Thư gửi từ phương xa
Sandór Petófie
Căn nhà nhỏ bên sông Đa nuýp
Ôi xiết bao lưu luyến lòng người
Bao nhiêu lần tôi ngồi tưởng nhớ
Giọt lệ đầy… mờ cả mắt tôi !
Tôi vẫn tưởng ở yên đây mãi
Nhưng ước mơ đã đuổi tôi rồi
Bao ước mơ mọc thành đôi cánh
Cảnh gia đình không thể giữ chân tôi !
Khi chiếc hôn từ biệt kêu lên…
Mẹ đau đớn không sao chịu nổi
Nước mắt tràn… Không dập tắt trong tim
Ngọn lửa tình yêu ngùn ngụt cháy !
Cánh tay mẹ ôm tôi run rẩy
Khẩn cầu tôi ở lại quê hương
Nếu không biết trước bao điều ấy
Sao tôi giờ được ở tha phương
Dưới ánh sao hy vọng thắm tươi
Tương lai tựa vườn hoa tiên nữ
Nhưng vào trong láo nháo cuộc đời
Mới biết chúng ta nhầm lẫn cả !
Tôi đã từng thấy ánh tương lai
Đau khổ trong tim không muốn nói !
Tôi toàn đi giữa đường chông gai
Toàn giữa cuộc đời trôi với nổi !
Nay có người quen về quê hương
Biết đưa tin gì về cho mẹ?
Bạn ơi… có đến mái nhà con
Xin bạn hãy vào thăm mẹ nhé
Bảo rằng mẹ chớ có lo âu
Có Chúa trên đầu ban hạnh phúc
Nếu như mẹ biết tôi khổ đau
Nhất định mẹ sầu mẹ chết mất !
TP. HỒ CHÍ
MINH
Tháng 4 năm 2004 –
Giáp thân
LỜI XIN LỖI MUỘN
MÀNG
{
Tôi lên nghĩa trang thành phố viếng
người thân, tình cờ chứng kiến một đám tang chưa từng thấy. Người quá cố hẳn là
khả kính: Một cháu trai chừng 14 – 15 tuổi mang khung hình lớn một bà trạc tuổi
lục tuần, vẻ đoan trang nghiêm nghị mà phúc hậu. Mấy xe hoa cườm hoa tươi chồng
chất. Sau những xe “bus” đời mới là một dãy dài dằng dặc những xe con biển
trắng biển xanh. Bước ra khỏi xe là những vị trang phục chỉnh tề, dáng dấp tốt
tươi, phổng phao đĩnh đạc vừa thể hiện sự phú quý vừa thể hiện quyền uy! Đám
tang không kèn trống mà trang nghiêm. Nét mặt mọi người tỏ vẻ sùng kính tiếc
thương. Đi sát ngay sau quan tài lẫn trong số những thân nhân là một người đàn
ông mang bộ quần áo tù xanh sọc, tay vẫn bị còng, hai gọng còng nơi hai cổ tay
nối với nhau bằng một đoạn dây xích ngắn khiến hai tay người ấy lúc nào cũng
đưa ra phía trước , làm cho cái đầu hơi cúi xuống lộ ra cái lưng gù gù, dáng đi
trở nên thô cứng . Có hai người mặc sắc phục cảnh sát đi kèm hai bên. Thấy lạ
tôi tò mò đi lẫn vào dòng người đưa tang và chen gần tới huyệt.
Giây phút xúc động nhất lúc vĩnh biệt
một con người là khi chiếc quan tài hạ huyệt. Từ đây chia lìa đôi ngả âm dương.
Cùng với tiếng khóc gào thét hoặc nấc nghẹn của những người thân yêu nhất,
người tù quỳ xuống, gục đầu bên huyệt. Nhờ đứng ngay bên mà trong những âm thanh
hỗn độn của sự thương đau tưởng chừng xé nát gan ruột từng người, tôi nghe rõ
tiếng người tù khàn khàn lẫn tiếng nấc nghẹn ngào: Cô ơi… Đời người rồi ai
cũng đến nước này. Cô ra đi cao cả mà con chết sao nhục nhã!!! Dường như nỗi đau thương của
người tù đã vượt lên tất cả, bỗng dưng những lời than khóc lắng xuống và tiếng
khóc của người tù lúc một dội lên, nức nở, ai oán và day dứt! Trong khắc giây
lắng đọng ấy, nước mắt mọi người túa trào nhiều hơn... Có mấy người bước tới
vực người tù dậy và dìu anh ta tránh ra để chỗ cho những người đô tùy san lấp
mồ! Tôi chợt nhận ra trong số ấy có một người quen…
Chốc lát, nấm mồ đã thành một núi hoa!
Mỗi người trước khi ra về đều thắp một nén nhang kính cẩn giã từ lần cuối cùng
với người nằm lại! Nhiều người đưa mắt về phía người tù và gật đầu chào. Có
người đến bên nắm cánh tay anh lắc lắc rồi đi. Nét mặt mỗi người nặng thêm nỗi
u buồn nhưng không ai nói với anh một lời... Trên đường ra khỏi nghĩa trang,
anh bạn đến bắt tay tôi. Anh hỏi tôi về mối quan hệ với người thiên cổ. Tôi lắc
đầu. Anh rầu rầu nói:
- Bà là cô giáo của tôi!
Và qua ánh mắt của tôi, anh bạn đoán
được trả lời điều tôi muốn hỏi:
- Người ấy giờ là một tử tù! Anh là bạn
học với tôi và còn hơn thế, anh là học trò yêu quý của bà!
Một đoạn đường ngắn ngủi, trong bối cảnh
này, chúng tôi chỉ nói với nhau được thế thôi. Chia tay tôi, với cái bắt tay
thật chặt, anh nói vẻ chân thành:
- Có dịp nào mời ông ghé lại tôi chơi!
Dường như những lúc phải suy nghĩ về sự
kết thúc một đời người, con người ta bỗng thấy cần phải sống có tình với nhau
hơn.
Vậy là tôi có dịp đến thăm một người bạn
cũ và nhờ đó tôi được biết câu chuyện bi thương gắn với số phận hai con người
ấy.
Chiếc xe Renault phóng như bay từ Sàigòn
theo quốc lộ Bốn xuôi về miền Tây. Con lộ lởm chởm đá xanh, có chỗ còn một đoạn
dài phẳng nhựa. Mặt đường nhiều chỗ lồi lõm những hố mìn mới tháo gỡ. Cái nắng
cuối mùa khô chói chang và hầm hập mà hai bên đường người ta đi lại hối hả vui
tươi. Người người trong lòng hân hoan, nét mặt hớn hở như muốn reo lên : Hòa
bình rồi! Hòa bình rồi! Đất nước sẽ thống nhất và độc lập!
Nước Việt Nam
là của chúng ta!... Đó là hình ảnh của đồng bằng Nam Bộ sau Hiệp nghị
Genève 1954 -1955. Trên xe, ngồi phía sau là hai người phụ nữ chênh nhau vài
tuổi, ăn mặc lịch sự và trang nhã, họ ngồi lặng lẽ ngả đầu vào nhau và những
giọt nước mắt cứ tuôn trào. Phía trước, người lái xe lặng thinh, mắt chăm chú
dõi trên đường, đôi lúc liếc nhìn thằng bé ngồi bên vẻ yêu thương, quyến luyến.
Thằng bé chừng 11 – 12 tuổi, ngộ nghĩnh, khôi ngô, tỏ vẻ vô cùng sung sướng và
thỏa mãn như con chim được thoát khỏi chiếc lồng chật hẹp, giờ tung sải cánh
bay trên màu xanh tươi mát của ruộng đồng, làng mạc với bầu trời cao rộng mênh
mông… Nó líu lo hỏi đủ thứ chuyện trên đời mà không ai buồn trả lời nó một câu!
Nó thò đầu ra ngoài cửa xe hò la, réo gọi mọi người qua lại và giơ tay vẫy
vẫy...
Chiếc xe hướng về thị xã Cao Lãnh. Ngày
mai họ sẽ xa nhau kẻ Bắc, người Nam .
Chị lớn tuổi hơn thủ thỉ:
- Chị ra ngoải thì sướng rồi! Chúng mình ở lại chưa biết ra sao? Thằng Hữu Nghĩa
ra với Bác Hồ, lại có chị ở bên, mình yên tâm lắm. Chỉ thương nó mới chút xíu
mà đã phải sống xa cha mẹ... Tội nghiệp nó!
Người đàn ông nói gạt đi:
- Chà! Hai năm là mấy! Cứ cho là gấp đôi
đi thì cũng như giấc ngủ dài!
Người đàn bà lớn tuổi nói như trách
chồng:
- Chị xem ảnh như vậy đó… Chẳng can cớ
gì! Ai cho anh ngủ? Coi chừng rồi thức lồi con mắt đó!
Chị trẻ hơn, xem chừng còn son rỗi nói
như an ủi:
- Anh chị yên tâm, em coi cháu như con!
Cháu là hạt giống sau này về xây dựng quê hương mình đó hà!
Hai người phụ nữ là đôi bạn thân. Chị
lớn là cô giáo. Chị trẻ hơn đang là nữ sinh viên trường đại học Sư phạm Sài
Gòn. Cô Thanh Vân hoạt động trong phong trào Sinh viên–Học sinh, đã bị lộ nên
được điều ra tập kết. Cô giáo Quế Hương và chồng là ký giả Thành Tâm còn ở lại
hoạt động trong phong trào trí thức. Anh chị gửi đứa con trai duy nhất cho
người bạn đem cháu đi tập kết.
Con tầu to lớn phải đậu tít ngoài xa.
Những chiếc ghe lớn nhỏ đủ loại chở từng tốp người đi tập kết chuyến cuối cùng
chuyển ra tầu. Thằng Hữu Nghĩa nhảy nhót tung tăng. Lần đầu tiên trong đời,
cảnh đồng quê, sông nước, người ta nườm nượp, với nó cái gì cũng lạ. Nó khấp
khởi chỉ mong cho chiếc tác ráng mau mau đưa nó ra với con tầu. Mẹ nó
gục đầu bên vai ba nó cao gầy. Hình bóng ấy nhỏ dần rồi mờ lẫn trong đám người
đông đảo đứng trên bờ, chỉ còn thấp thoáng cánh tay ba nó giơ lên cao vẫy vẫy,
cứ như một cành lau phơ phất.... Sau này, suốt đời nó vẫn ân hận vì sự vô tư
thơ ngây ấy! Ngay cả khi đã lớn khôn, mỗi khi gặp trắc trở, buồn đau trên bước
đường đời, nó thầm gọi: Ba Má ơi! Và trước mắt nó là hình bóng má nép
bên ba như hòa nhập thành pho tượng đá và một cành lau phơ phất mờ nhòa rồi tan
biến trong không gian tĩnh lặng.
Chiếc tầu hú còi rời bến và quay đầu
hướng ra biển cả. Hai cô cháu đứng trên boong tầu mỗi người một suy tư. Nhìn
những con hải âu lênh đênh trên sóng nước, cô giáo Thanh Vân nghĩ mình giờ đây
như một cánh chim phiêu bạt, biết bao giờ quay về tổ ấm! Nhìn những cánh hải âu
sà trên mặt nước dập dềnh rồi lại vọt bay lên, thằng Hữu Nghĩa muốn được như
một cánh chim rỡn sóng.
Ra miền Bắc, thằng Hữu Nghĩa được vào
trường học sinh miền Nam
nội trú. Lúc này nó mới thấy nhớ ba má và cảm được sự đơn côi trống vắng như
thế nào của một đứa nhỏ phải sống xa cha mẹ! Nhưng cả trường, hàng ngàn bạn
đồng trang lứa cùng cảnh ngộ, đấy là điều an ủi dễ làm chúng khuây đi. Thằng
Hữu Nghĩa còn được hưởng một niềm an ủi thiết thực hơn nhiều bạn là cô giáo
Thanh Vân lúc nào cũng ở bên và chăm sóc nó không khác chi mẹ ruột! Dù cô có
thuyên chuyển đi đâu, cô cũng xin bằng được cho nó đi theo. Ngay cả khi cô lập
gia đình và đã có con, vợ chồng cô đều coi nó như một thành viên không thể
thiếu của gia đình.
Cả thời niên thiếu, nó gần như tách biệt
xã hội trong cái khung bao của nhà trường với sự giáo huấn lúc nào cũng làm cho
người ta tự hào đến sôi lên: Mỗi người ở miền Bắc, một ngày được ăn ngon ngủ
yên là phải cảm ơn đồng bào miền Nam đang đêm ngày trong dầu sôi lửa bỏng đấu
tranh trực diện sống chết với kẻ thù! Nó tự hào về miền Nam của nó. Nó tự hào về ba má nó
đang chiến đấu ở miền Nam và
tự hào nó là giọt máu của miền Nam
trên đất Bắc!
Hữu Nghĩa là đứa trẻ sáng dạ và tinh
nghịch. Trong đám choai choai, nó là đầu trò và được bạn bè tôn sùng vì những
hậu quả của những trò tinh nghịch nó luôn đứng ra nhận trách nhiệm về mình. Nhà
trường có nương nhẹ vì biết cha mẹ nó đang gian lao chiến đấu và cũng vì cô
giáo Thanh Vân là người có uy tín trong trường. Sự quản lý của nhà trường dù có
chặt chẽ nhưng không thể sâu sát và nhạy bén như ở gia đình. Sự giáo dục của
nhà trường thiên về các lời giáo huấn kèm theo các biện pháp trừng phạt cụ thể
hơn là sự dạy dỗ nặng nhẹ điều hòa như trong một gia đình đầy đủ cha mẹ. Cũng
vì không được sống trong cảnh gia đình yên ấm nên đứa trẻ vừa khát khao lại vừa
thiếu thiện cảm trước những cảnh đời như thế. Với đầu óc còn non trẻ chúng chỉ
đủ suy luận rằng trong sự ấm êm của mọi người có sự chịu đựng hy sinh của chúng
và tuổi thơ của chúng biết bao mất mát, thiệt thòi! Dù sao sự nghịch ngợm của tuổi
học trò thường là ngây dại, vô ý thức và bồng bột, người đương thời không chịu
nổi nhưng qua rồi nghĩ lại thấy thương! 9 giờ tối, các phòng học sinh đều phải
đóng cửa, tắt đèn và đi ngủ, một lũ nhóc hẹn nhau vượt tường rào ra đường lang
thang, bát nháo! Cái dạ dày của tuổi 13–17 thun giãn cực kỳ, trong khi tứ chi
của nó chẳng lúc nào được để yên, mà ở nội trú một ngày chỉ gọn có ba bữa lửng
lơ thì cái dạ dày lúc nào cũng cồn cào nóng rát đòi cái miệng phải kiếm đồ
nhai! Có đồng nào chúng gom mua kẹo bánh chia nhau rồi túa ra đồng bẻ bắp, bới
khoai bất kể non, già! Chúng tụ thành từng nhóm theo lớp, theo vùng bênh vực
cho nhau, cãi lộn thậm chí đánh nhau bươu đầu sứt trán mà hôm sau lên lớp vẫn
êm re! Nhưng khi hòa hoãn được với nhau rồi thì chúng lại kéo đàn, kéo lũ đi
trêu chọc người ta! Vào những giờ khuya khoắt ấy, đám thanh niên nam nữ trong
làng xem chiếu bóng ở rạp ngoài trời từng tốp kéo nhau về. Những cặp
trai gái tình tứ tách ra đi lẻ từng đôi. Chọc ghẹo bằng lời thì chẳng ai dại gì
đáp lại vì bọn chúng đông. Thằng Hữu Nghĩa nghĩ ra một trò tinh quái: Nó thủ
sẵn một cây gậy dài, đi dọc mé đường gặp cặp nào đi xe đạp chở nhau, trong khi
cô cậu đang chuyện trò rôm rả quên cả sự đời thì nhanh như cắt, nó thọc lẹ cây
gậy vào bánh xe! Cả chàng và nàng đều ngã quay lơ! Nó ù té chạy và lẩn vào đám
đông nhốn nháo hò reo trợ chiến nếu cần! Trò chơi quái đản ấy kích thích bọn
trẻ rộ lên một dạo thậm chí gây nên mấy vụ tai nạn nặng nề, dẫn tới những cuộc
xô xát giữa đám trai làng với đám học sinh. Chính quyền địa phương và nhà
trường phải gặp nhau giải quyết. Thằng Hữu Nghĩa một mình đứng trước toàn
trường nhận tội: nó vừa là kẻ chủ mưu, vừa là người thực hiện. Cô giáo Thanh
Vân khốn khổ vì nó. Cô đã đổ không biết bao nhiêu nước mắt trong các cuộc họp
của nhà trường. Nhưng khi gặp riêng nó, cô không nỡ lòng nào nói nặng nó một
câu...
Cho đến một hôm có xe từ Hà Nội xuống
tận trường đón cô về gặp Ban thống nhất trung ương. Bước lên xe, cô hồi
hộp nghĩ rằng chắc cô được gọi về trỏng để sát cánh với bà con ruột thịt
cùng bạn bè, đồng chí... Dầu phải vấn vương bịn rịn với thằng Phương Nam nhỏ xíu
nhưng đây là tiếng gọi của quê hương, nó thiêng liêng, cao cả mà vì nó cả tuổi
thanh xuân cô đã dấn thân vào! Mấy năm trời xa cách, miền Nam vẫn canh
cánh bên lòng! Ngày ngày từng tin tức từ miền Nam cứ nhoi nhói trong tim! Lời thơ
tha thiết của Tố Hữu:
Ôi miền Nam …
Vì sao mỗi lúc
Mây chiều xa
bay giục cánh chim
Đêm
khuya một tiếng bầu tiếng trúc
Một
câu hò cũng đọng trong tim?!
đã nói thay tiếng lòng những đứa con của
miền Nam
day dứt từng phút, từng giờ hướng về quê hương yêu dấu... Tình cảm ấy đã được
lớp thanh niên miền Bắc cùng thời cảm thông sâu sắc và cùng chia sẻ...
Buổi gặp gỡ làm cô choáng váng! Với luật
10/59 ở miền Nam ,
những người kháng chiến còn ở lại bị đặt ra ngoài vòng pháp luật! Cô giáo Quế
Hương sau những ngày bị tù đày tra tấn vẫn giữ một lòng son sắt với Cách Mạng,
với Bác Hồ nên cô đã bị địch thủ tiêu! Ký giả Thành Tâm phải thoát ly trốn
tránh về vùng căn cứ cũ vẫn bị địch truy lùng và giết hại! Lòng cô trĩu nặng ưu
tư, xót xa cho bạn và thương thằng Hữu Nghĩa. Đúng lúc thằng Hữu Nghĩa đang
chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông trung học, cô quyết định không nói cho nó
biết tin này và cô thấy trách nhiệm của cô nặng nề hơn với tương lai của nó...
Nét
mặt đau buồn biểu hiện sự u uẩn trong lòng cô, thằng Hữu Nghĩa cảm nhận được:
-
Sao con thấy cô buồn và ít nói, dường như cô có mối suy tư....?
Cô
lảng tránh:
-
Lớn lên con sẽ thấy, đời thì có vui thật đấy nhưng chẳng thiếu chi chuyện để
buồn!
Nó
vẫn hướng cô vào nỗi trăn trở mà cả cô và nó vẫn đau đáu bên lòng :
-
Cô ơi! Nay mai tốt nghiệp phổ thông rồi, cô cho con vào bộ đội, con không thể
nào học được nữa đâu!
Cô
không cầm nổi nước mắt, cô nghĩ nếu nó biết được chuyện ba má nó bị giết hại
rồi thì không còn lý do gì cản được nó! Cô kéo nó vào lòng vuốt ve như mẹ nựng
con:
-
Con ơi! Lòng con cũng giống lòng cô! Ai có thể ngồi yên được lúc này! Nhưng con
có tin là sự nghiệp của ba má con, của chúng ta sẽ thắng không con?
Nó
gật đầu. Cô an ủi nó:
-
Bác Hồ nhìn xa thấy rộng lắm nên mới tập kết anh em, cô cháu mình ra đây! Rồi
khi cần, lần lượt sẽ về thôi con ạ! Lớp trẻ các con rồi cũng trở về nhưng bây
giờ việc chủ yếu của các con là phải học tập để nâng cao kiến thức! Mai này
thắng lợi, khi buông tay súng chẳng lẽ chúng ta chỉ biết cầm cày cuốc và quai
búa thôi sao?
Nó
đứng dậy, hai tay dang ra, mặt nó đỏ gay lên:
-
Nhiều lúc con nôn nao, muốn giục đi tất cả để bay vô trỏng!
Cô
kéo nó ngồi xuống bên mình, nhẹ nhàng nói từng lời thấm thía:
-
Cách mạng không phải là sự bốc đồng! Phải tỉnh táo và sáng suốt thì mới tránh
được những sai lầm con ạ! Tính tỉnh táo tự mình rèn luyện. Óc sáng suốt là kết
quả của việc học hành. Con biết không, sai lầm của cách mạng là phải tính bằng
máu và sự thụt lùi của lịch sử đấy! Cô lo cho con. Con có năng lực, quả cảm
nhưng dễ bốc đồng và bất cần gì! Sự thiếu tự chủ, không kiềm chế được mình rồi
buông thả sẽ dễ sa xuống vực sâu không ai cứu nổi. Cô sẽ là người có lỗi với ba
má con!
Lần
đầu tiên cô nhận xét với lời cảnh báo nó một cách thẳng thắn và nghiêm khắc như
vậy. Nó ngồi im lặng, cúi đầu. Không ai nghĩ rằng lời cô nhận xét nó hôm nay
lại là lời tiên đoán cho số phận nó mấy chục năm sau đó.
Thằng Hữu Nghĩa tốt nghiệp phổ thông
trung học vào loại khá và được chọn đi học ngành Hàng hải theo nguyện vọng
thiết tha của nó. Từ ngày chia tay ba má trên bến tàu Cao Lãnh năm nào, biển cả
mênh mông với những lớp sóng bạc đầu, những cánh hải âu dập dìu sóng gió và mờ
mờ nơi bến bờ xa, bóng hình người thân yêu ngóng đợi đã cuốn hút tâm trí nó vào
cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm và thơ mộng.
Thấm thoát bốn năm chẳng là bao. Nó đã
xa quê hương, ba má đằng đẵng chục năm trời! Cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam
tưởng chừng tới đích thì quân Mỹ ùn ùn đổ vào kéo theo quân của những nước đồng
minh. Các cuộc tấn công bằng máy bay oanh kích và tàu chiến pháo kích vào sâu
nội địa và dọc vùng duyên hải ngày càng tàn khốc. Lửa chiến tranh ngùn ngụt lan
ra cả nước. Toàn miền Bắc dồn sức vào cuộc đối đầu này.
Thằng Hữu Nghĩa đã lãnh bằng kỹ sư Hàng
hải. Cô Thanh Vân đã lo cho nó được đi tu nghiệp ở nước ngoài theo tiêu chuẩn
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam . Nhưng một hôm cô nhận được
thư của nó, lá thư chỉ có một trang ngắn ngủi:
Thưa
cô,
Con xin lỗi cô vì đây là lần đầu khi con
quyết định một việc lớn có liên quan đến cuộc đời của con mà con không xin ý
kiến của cô! Cô hãy tha thứ cho con. Con đã hết kiềm chế nổi mình! Con muốn
được góp sức vào cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù để giải phóng quê hương.
Mong cô thông cảm cho con, mỗi lúc nhớ lại hình ảnh của má con gục đầu bên vai
ba nức nở trên bến tàu ngày ấy, lòng con quặn thắt và ân hận: Không hiểu má
khóc vì nhớ thương con hay má khóc vì sự thờ ơ đến vô tâm của thằng con trai
duy nhất?! Và cánh tay ba gầy guộc giơ lên như cành lau phơ phất đang vẫy gọi
con về! Con tin là đất nước mình sẽ hòa bình, thống nhất và độc lập. Cho dù
ngày đó có vắng bóng một ai thì sự hy sinh ấy cũng không phải là vô ích !
Thằng con
trai tinh nghịch của cô Hữu
Nghĩa.
Cô Thanh Vân đã khóc mấy ngày: Nó nghĩ
cũng phải thôi, chẳng trách gì được nó. Nó chịu đựng như vậy đã là kiên nhẫn
lắm rồi! Duy có việc cô lần lữa chưa cho nó biết tin đau thương về cha mẹ nó,
cô vẫn dấm dứt chưa hiểu là đúng hay sai...
Hữu Nghĩa được tuyển vào lực lượng hải
quân. Anh đã trở thành một sĩ quan có học, có tài, gan dạ, mưu lược và táo bạo.
Người ta khó hình dung nổi là chiến thuật du kích lại được vận dụng cho
cả những binh chủng hiện đại như chiến xa, tên lửa và cả hải quân, không quân nữa.
Vẫn là lấy ít đánh nhiều, địch mạnh ta né, địch nghỉ ta tranh thủ. Đánh nhanh,
bất ngờ và rút gọn... Không ai nghĩ rằng chiếc chiến hạm nhỏ bé của anh dám
xông vào chiếc tuần dương hạm khổng lồ đậu tít ngoài khơi vào lúc xuất kỳ bất
ý... Và cũng trong những ngày căng thẳng sôi động ấy, anh được hưởng vị ngọt
của tình yêu…
Hoa Duyên là bạn cùng học với anh ở
trường đại học. Với một cô gái từ quê lên tỉnh học thì cái anh chàng học sinh
miền Nam
đẹp trai, ngang tàng, bướng bỉnh ấy làm cô nể phục nhưng không dám làm thân.
Thái độ kính nhi viễn chi ấy khiến cô hay lén nhìn anh. Anh cũng chẳng
thèm xáp vô với con thỏ ấy làm gì! Riêng với Hoa Duyên, có một kỷ niệm
mà cô nhớ mãi, còn anh thì chóng quên đi. Đó là một lần cả lớp đi dã ngoại
tập quân sự. Mỗi sinh viên đều phải đeo một ba lô gạch và mang thêm khẩu súng
trường vượt một chặng đường đèo dốc dài chừng 4 – 5kilômét vào lúc xế chiều.
Khi mới khởi hành, mọi người vui đùa ríu rít như chim.
Nhưng dần dà im ắng rồi chẳng còn ai nói nữa. Họ đi tản mạn, rải rác, ì ạch,
hổn hển kéo lê về đích. Lúc mọi người còn vui vẻ nói cười, Hữu Nghĩa cùng với
mấy đứa trong nhóm của anh lẳng lặng rẽ vào một quán bên đường, khề khà bát
nước chè xanh, phì phèo điếu thuốc, mặc xác tụi bay. Lâu lâu họ mới thủng thẳng
vừa đi vừa tán dóc. Trời xâm xẩm tối, đến lưng chừng dốc, bên đường một cô gái
vứt ba lô và súng chỏng chơ ĐỌC TIẾP
No comments:
Post a Comment