LÁ THƯ CỦA NGƯỜI TỬ TÙ - TRANG 4



“Nhưng lúc ấy tôi còn muốn sống. Lời dỗ dành hứa hẹn với con bé thơ ngây tội nghiệp ngày nào: ngủ đi… mai tính là món nợ tôi chưa trả được. Vẫn là những ngày mai hão huyền mà hôm nay vẫn thế! Con bé không ngủ, bỏ đi lạc lõng bơ vơ, lênh đênh chìm nổi! Bây giờ gặp lại, tôi phải tính thế nào khi tương lai cô ấy còn mờ mịt không khác gì con bé tội nghiệp ngày xưa?
Tôi dò về thành phố, tìm gặp mẹ mù. Tôi là khách nằm tẩm quất và cô ấy ngồi bên. Tôi tha thiết mong em từ bỏ cuộc sống này, cùng tôi đi xa mãi vì tôi yêu em thật sự:
- Anh mong chuộc lỗi với em. Thiếu em anh không chịu nổi!
Cô ấy khóc nhiều lắm:
- Bao nhiêu lâu nhớ tới anh em vừa giận vừa thương! Bây giờ gặp lại càng thương và xa anh càng nhớ! Em đã chạy để người ta đánh lạc hướng đi nhưng cái chết ấy rùm beng quá. Trước mắt phải lặn thật xa, dần cho chuyện êm đi rồi tính đường xuất cảnh!
Việc trốn tránh qua mắt kiểm tra tôi từng trải lắm. Với số tiền có trong tay tôi dễ che mắt thiên hạ và toan tính cuộc sống tương lai không đến nỗi nào. Tôi mua đất lập đồn điền ở xứ sở xa, chờ một ngày đón em qua ổn định gia đình. Tôi sẽ làm tròn lời hứa với đứa bé gái ngày xưa dù có muộn màng và hôm nay tôi cũng là người chồng xứng đáng của một người đàn bà lỡ bước xảy chân. Dù cuộc đời bị đày ải trầm luân như thân lươn thân trạch nhưng chúng tôi cố ngoi lên. Tôi thỏa mãn với ý định của mình và tin rằng vì tình yêu, cô ấy không ngại dấn thân.
Trở về thành phố lần này tôi hy vọng biết bao nhiêu. Nhưng cô ấy hoàn toàn đổi khác! Lạnh lùng không thèm ngó tôi, ném toạch mớ tiền USD xuống:        
- Cầm lấy… đi kiếm người vợ khác. Có tiền sẽ khối con theo!
Tôi ngạc nhiên trố mắt ra nhìn. Tàn nhẫn như vậy mà mắt cô ấy giả bộ rưng rưng…
- Em có làm sao không đấy?
Cô ấy quay mặt đi, tay giơ ra tấm thẻ visa:
- Tao sẽ qua Ma Cao, Hương Cảng… Không thể làm vợ thằng tội phạm quanh năm chôn mình nơi góc ruộng xó rừng!
- Ta là tội phạm?!… Lời nói ấy do chính em phát ra?! – Tôi run lên. Cả người lạnh toát. Đầu óc tối sầm lại tưởng như không còn trời đất nữa…
Trong khi cô ấy nguây nguẩy bỏ đi!
Như con thú bị thương gặp người chọc vào nỗi đau, phản ứng thế nào tôi không biết nữa. Trong túi tôi lúc nào cũng sẵn con ruồi vàngcon dao cận chiến để phòng thân…
 Khi cô ấy đổ gục xuống, tôi rút dao ra đâm ngược lại mình nhưng cô giữ chặt tay tôi thều thào:
- Anh không được… chết! Em đuổi đi vì… không muốn anh bị… S… I… D… A!
Người tôi mềm nhũn ra như trong mình không còn giọt máu nào.
- Em không được làm mẹ nhưng bắt nó phải làm cha đứa trẻ tật nguyền! Nó thoát tay em mà không thoát khỏi tay anh! Đời em không còn gì nữa! Em muốn anh khinh ghét… bỏ đi thật xa để anh không còn vương vấn!… Em không yêu ai khác… ngoài anh! Cầu cho anh… thoát nạn!
Cô ấy thở khò khè, trào máu miệng ra. Tôi cuống cuồng lên xin cứu mạng! Tôi cầu Chúa, cầu Trời, cầu Phật, cầu tất cả đấng Thánh thần ban cho em sự phục sinh để tôi chuộc tội lỗi này! Hình như tôi khóc rống lên. Kể từ khi lớn khôn chỉ một lần tôi khóc trước mọi người!
Người tử tù rũ xuống. Tôi đưa chén nước mời anh muốn cắt ngang câu chuyện đã đến hồi kết thúc nhưng anh rướn người lên, hít vào thật sâu và nói nhanh hơn :
-  Đặt xác vợ xuống, tra tay vào còng. Từ đó tôi coi như mình đã chết !
Tại tòa, tôi nhận tội giết cô ấy vì không thoả mãn mối tình riêng đắm đuối: Tên tài xế nghèo, tên vệ sỹ thất nghiệp, tên vô gia cư sống nhờ vào lòng nhân hậu của ân nhân lại dám mơ tưởng đến tình yêu của bà chủ giàu có, cao sang, trẻ trung, xinh đẹp và đã làm một việc hèn hạ khi mộng không thành!
Mọi người nguyền rủa tôi và xót thương cô.
Vị luật sư mong Tòa coi việc bị can tự nộp mình như là một sự ăn năn.
Tòa động lòng vì mối tình si bệnh hoạn, tha cho tội chết. Nhưng còn tội tham của giết người lương thiện, để sống là mối nguy cho xã hội!
Tôi đã làm ngơ trước một bé thơ tội nghiệp cầu cứu vớt và giết người đàn bà khốn khổ yêu thương cứu vớt mình… Tội ấy đáng chết hai lần!”
Mọi sự đã an bài, tôi không muốn anh tự dày vò mình nữa:
- Anh có tâm sự gì liệu tôi có thể…         
- Tôi tin mẹ tôi còn sống. Điều thiết tha mong muốn của tôi là mẹ không biết chuyện này. Hãy để mẹ nghĩ rằng con mẹ đang sống sung sướng dù ở nơi góc bể chân trời nào… Nếu như mẹ biết tôi khổ đau / Nhất định mẹ sầu mẹ chết mất! Bài thơ là người bạn đường gần gũi an ủi vỗ về tôi trong những năm lưu lạc tha hương và cả những ngày chờ đợi ở đây.
- Anh còn có quyền xin ân xá?
- Chỉ tạo hóa cho con người quyền sống, ngoài ra mọi người đều bình đẳng, dù sướng khổ nhưng đều lần lượt ra đi, sớm – muộn dăm năm phỏng có ích gì? Ở đời ai chẳng phạm lỗi lầm. Việc đã làm phải chịu. Tôi chẳng oán giời, chẳng trách người, coi như mình gặp nạn trong cõi nhân gian !
Người tử tù lẳng lặng quay vào phòng tối. Anh chợt dừng, quay lại nhìn tôi, hai tay chụm lại chỉ giơ lên nửa chừng bởi vướng chiếc còng sắt. Miệng anh động đậy… Tôi thoảng nghe một lời chào vừa quen vừa lạ của du khách thập phương:
- See you again!                                                                  
Lòng tôi u ẩn với buổi tiễn biệt buồn thương thế mà anh đón nó như ngày giải thoát bởi một triết lý nhân sinh về sự kết thúc mọi đời người? Tôi ngập ngừng lúng túng giơ tay lên mà cứ lóng nga lóng ngóng buột ra lời chào đáp :
- Good bye! Chúc mọi sự tốt lành!
Tôi tự trách mình mãi về lời chúc thật vô duyên ấy. Nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa nghĩ ra một lời chào thích hợp trong hoàn cảnh bất thường như thế. Biết đâu sẽ là kiếp sau với những người oan khổ!
- Không có luân hồi đâu! Cuộc đời tôi chấm dứt cùng với cái chết của con người ấy. Coi như vở kịch diễn xong rồi. Các vai diễn đều thăng thiên. Để sân khấu lại cho đời!
Hai tay anh thõng xuống, giọng anh bình thản trong khi mắt anh ngước lên nhìn bầu trời một chiều đông xám…

Một sinh linh đã về cõi vô cùng. Dù sao cũng một kiếp người. Mong người quá cố nghỉ yên và đừng ai liên hệ điều gì để người mẹ khốn khổ ấy đến lúc xuôi tay vẫn tin rằng con bà đang vui sướng ở một nơi nào. Trên thế gian này cảnh giống cảnh, người giống người thiếu gì.
Tư trang của người đã khuất, có duy nhất một cuốn sổ tay cũ nhỏ và mỏng. Người chết không có thân nhân, tôi nói khó xin được giữ làm tư liệu. Ban quản giáo vị tình người viết nên thuận cho tôi. Trong cuốn sổ không ghi một dòng địa chỉ hay tên tuổi. Hình như  chủ của nó không muốn để lộ mình ra. Ngay trang đầu, vẽ cảnh một nấm mồ cô quạnh đìu hiu giữa nơi hoang vắng, với lời chú giải ở trang bên. Nét chữ khá đẹp, mềm mại và hơi bay bướm :
                        Tạo hóa  ban cho ta tất cả:
                        Sức mạnh, tình yêu, tiền bạc, trí khôn
                        Ta lại đem cho đi tất cả
                        Chẳng còn gì  khi về cõi thiên thu!
Tôi giật mình cảm như anh đã dự báo sự kết thúc của đời mình! Tiếp sau là một bài thơ, từng là người bạn đời gần gũi của anh trong bao tháng năm lưu lạc. Ngoài ra là những hình vẽ lẫn nét chì, nét mực: con sông, ngọn núi, khoảng rừng, cánh đồng, mái nhà lúc sớm lúc chiều, cảnh trời lúc nắng lúc mưa… như nỗi nhớ thương day dứt, một lúc nào trỗi dậy mà không thể viết, đã trào ra nét vẽ. Hình vẽ không sắc xảo nhưng biểu hiện được cái hồn của một người có hoa tay. Bài thơ dịch ở đâu, hoài hương da diết lắm, xem ra hợp với anh cả về cảnh và tình. Tôi để công tìm mới biết tác giả là nhà thơ cách mạng Hungarie cận đại và người dịch là nhà thơ nổi tiếng Hoàng Trung Thông khả kính.
Tôi ghi lại bài thơ vào đây để nếu tình cờ đọc truyện này, bạn sẽ đọc lên những lời thơ ấy, như lời an ủi một linh hồn…
                                    Thư gửi từ phương xa
                                                Sandór Petófie
Căn nhà nhỏ bên sông Đa nuýp
Ôi xiết bao lưu luyến lòng người
Bao nhiêu lần tôi ngồi tưởng nhớ
Giọt lệ đầy… mờ cả mắt tôi ! 
Tôi vẫn tưởng ở yên đây mãi
Nhưng ước mơ đã đuổi tôi rồi
Bao ước mơ mọc thành đôi cánh
Cảnh gia đình không thể giữ chân tôi !
Khi chiếc hôn từ biệt kêu lên…
Mẹ đau đớn không sao chịu nổi
Nước mắt tràn… Không dập tắt trong tim
Ngọn lửa tình yêu ngùn ngụt cháy !
Cánh tay mẹ ôm tôi run rẩy
Khẩn cầu tôi ở lại quê hương
Nếu không biết trước bao điều ấy
Sao tôi giờ được ở tha phương
Dưới ánh sao hy vọng thắm tươi
Tương lai tựa vườn hoa tiên nữ
Nhưng vào trong láo nháo cuộc đời
Mới biết chúng ta nhầm lẫn cả !
Tôi đã từng thấy ánh tương lai
Đau khổ trong tim không muốn nói !
Tôi toàn đi giữa đường chông gai
Toàn giữa cuộc đời trôi với nổi !
Nay có người quen về quê hương
Biết đưa tin gì về cho mẹ?
Bạn ơi… có đến mái nhà con
Xin bạn hãy vào thăm mẹ nhé
Bảo rằng mẹ chớ có lo âu
Có Chúa trên đầu ban hạnh phúc
Nếu như mẹ biết tôi khổ đau
Nhất định mẹ sầu mẹ chết mất !

                                                                        TP. HỒ CHÍ MINH               
                                                            Tháng 4 năm 2004 – Giáp thân
     

     
                                   




























                        LỜI  XIN  LỖI MUỘN  MÀNG
                                  {

         Tôi lên nghĩa trang thành phố viếng người thân, tình cờ chứng kiến một đám tang chưa từng thấy. Người quá cố hẳn là khả kính: Một cháu trai chừng 14 – 15 tuổi mang khung hình lớn một bà trạc tuổi lục tuần, vẻ đoan trang nghiêm nghị mà phúc hậu. Mấy xe hoa cườm hoa tươi chồng chất. Sau những xe “bus” đời mới là một dãy dài dằng dặc những xe con biển trắng biển xanh. Bước ra khỏi xe là những vị trang phục chỉnh tề, dáng dấp tốt tươi, phổng phao đĩnh đạc vừa thể hiện sự phú quý vừa thể hiện quyền uy! Đám tang không kèn trống mà trang nghiêm. Nét mặt mọi người tỏ vẻ sùng kính tiếc thương. Đi sát ngay sau quan tài lẫn trong số những thân nhân là một người đàn ông mang bộ quần áo tù xanh sọc, tay vẫn bị còng, hai gọng còng nơi hai cổ tay nối với nhau bằng một đoạn dây xích ngắn khiến hai tay người ấy lúc nào cũng đưa ra phía trước , làm cho cái đầu hơi cúi xuống lộ ra cái lưng gù gù, dáng đi trở nên thô cứng . Có hai người mặc sắc phục cảnh sát đi kèm hai bên. Thấy lạ tôi tò mò đi lẫn vào dòng người đưa tang và chen gần tới huyệt.
Giây phút xúc động nhất lúc vĩnh biệt một con người là khi chiếc quan tài hạ huyệt. Từ đây chia lìa đôi ngả âm dương. Cùng với tiếng khóc gào thét hoặc nấc nghẹn của những người thân yêu nhất, người tù quỳ xuống, gục đầu bên huyệt. Nhờ đứng ngay bên mà trong những âm thanh hỗn độn của sự thương đau tưởng chừng xé nát gan ruột từng người, tôi nghe rõ tiếng người tù khàn khàn lẫn tiếng nấc nghẹn ngào: Cô ơi… Đời người rồi ai cũng đến nước này. Cô ra đi cao cả mà con chết sao nhục nhã!!! Dường như nỗi đau thương của người tù đã vượt lên tất cả, bỗng dưng những lời than khóc lắng xuống và tiếng khóc của người tù lúc một dội lên, nức nở, ai oán và day dứt! Trong khắc giây lắng đọng ấy, nước mắt mọi người túa trào nhiều hơn... Có mấy người bước tới vực người tù dậy và dìu anh ta tránh ra để chỗ cho những người đô tùy san lấp mồ! Tôi chợt nhận ra trong số ấy có một người quen…
Chốc lát, nấm mồ đã thành một núi hoa! Mỗi người trước khi ra về đều thắp một nén nhang kính cẩn giã từ lần cuối cùng với người nằm lại! Nhiều người đưa mắt về phía người tù và gật đầu chào. Có người đến bên nắm cánh tay anh lắc lắc rồi đi. Nét mặt mỗi người nặng thêm nỗi u buồn nhưng không ai nói với anh một lời... Trên đường ra khỏi nghĩa trang, anh bạn đến bắt tay tôi. Anh hỏi tôi về mối quan hệ với người thiên cổ. Tôi lắc đầu. Anh rầu rầu nói:
- Bà là cô giáo của tôi!
Và qua ánh mắt của tôi, anh bạn đoán được trả lời điều tôi muốn hỏi:                                  
- Người ấy giờ là một tử tù! Anh là bạn học với tôi và còn hơn thế, anh là học trò yêu quý của bà!
Một đoạn đường ngắn ngủi, trong bối cảnh này, chúng tôi chỉ nói với nhau được thế thôi. Chia tay tôi, với cái bắt tay thật chặt, anh nói vẻ chân thành:
- Có dịp nào mời ông ghé lại tôi chơi!                 
Dường như những lúc phải suy nghĩ về sự kết thúc một đời người, con người ta bỗng thấy cần phải sống có tình với nhau hơn.
Vậy là tôi có dịp đến thăm một người bạn cũ và nhờ đó tôi được biết câu chuyện bi thương gắn với số phận hai con người ấy.

Chiếc xe Renault phóng như bay từ Sàigòn theo quốc lộ Bốn xuôi về miền Tây. Con lộ lởm chởm đá xanh, có chỗ còn một đoạn dài phẳng nhựa. Mặt đường nhiều chỗ lồi lõm những hố mìn mới tháo gỡ. Cái nắng cuối mùa khô chói chang và hầm hập mà hai bên đường người ta đi lại hối hả vui tươi. Người người trong lòng hân hoan, nét mặt hớn hở như muốn reo lên : Hòa bình rồi! Hòa bình rồi! Đất nước sẽ thống nhất và độc lập! Nước Việt Nam là của chúng ta!... Đó là hình ảnh của đồng bằng Nam Bộ sau Hiệp nghị Genève 1954 -1955. Trên xe, ngồi phía sau là hai người phụ nữ chênh nhau vài tuổi, ăn mặc lịch sự và trang nhã, họ ngồi lặng lẽ ngả đầu vào nhau và những giọt nước mắt cứ tuôn trào. Phía trước, người lái xe lặng thinh, mắt chăm chú dõi trên đường, đôi lúc liếc nhìn thằng bé ngồi bên vẻ yêu thương, quyến luyến. Thằng bé chừng 11 – 12 tuổi, ngộ nghĩnh, khôi ngô, tỏ vẻ vô cùng sung sướng và thỏa mãn như con chim được thoát khỏi chiếc lồng chật hẹp, giờ tung sải cánh bay trên màu xanh tươi mát của ruộng đồng, làng mạc với bầu trời cao rộng mênh mông… Nó líu lo hỏi đủ thứ chuyện trên đời mà không ai buồn trả lời nó một câu! Nó thò đầu ra ngoài cửa xe hò la, réo gọi mọi người qua lại và giơ tay vẫy vẫy...
Chiếc xe hướng về thị xã Cao Lãnh. Ngày mai họ sẽ xa nhau kẻ Bắc, người Nam. Chị lớn tuổi hơn thủ thỉ:
- Chị ra ngoải thì sướng rồi! Chúng  mình ở lại chưa biết ra sao? Thằng Hữu Nghĩa ra với Bác Hồ, lại có chị ở bên, mình yên tâm lắm. Chỉ thương nó mới chút xíu mà đã phải sống xa cha mẹ... Tội nghiệp nó!     
Người đàn ông nói gạt đi:
- Chà! Hai năm là mấy! Cứ cho là gấp đôi đi thì cũng như giấc ngủ dài!
Người đàn bà lớn tuổi nói như trách chồng:       
- Chị xem ảnh như vậy đó… Chẳng can cớ gì! Ai cho anh ngủ? Coi chừng rồi thức lồi con mắt đó!
Chị trẻ hơn, xem chừng còn son rỗi nói như an ủi:
- Anh chị yên tâm, em coi cháu như con! Cháu là hạt giống sau này về xây dựng quê hương mình đó hà!
Hai người phụ nữ là đôi bạn thân. Chị lớn là cô giáo. Chị trẻ hơn đang là nữ sinh viên trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Cô Thanh Vân hoạt động trong phong trào Sinh viên–Học sinh, đã bị lộ nên được điều ra tập kết. Cô giáo Quế Hương và chồng là ký giả Thành Tâm còn ở lại hoạt động trong phong trào trí thức. Anh chị gửi đứa con trai duy nhất cho người bạn đem cháu đi tập kết.
Con tầu to lớn phải đậu tít ngoài xa. Những chiếc ghe lớn nhỏ đủ loại chở từng tốp người đi tập kết chuyến cuối cùng chuyển ra tầu. Thằng Hữu Nghĩa nhảy nhót tung tăng. Lần đầu tiên trong đời, cảnh đồng quê, sông nước, người ta nườm nượp, với nó cái gì cũng lạ. Nó khấp khởi chỉ mong cho chiếc tác ráng mau mau đưa nó ra với con tầu. Mẹ nó gục đầu bên vai ba nó cao gầy. Hình bóng ấy nhỏ dần rồi mờ lẫn trong đám người đông đảo đứng trên bờ, chỉ còn thấp thoáng cánh tay ba nó giơ lên cao vẫy vẫy, cứ như một cành lau phơ phất.... Sau này, suốt đời nó vẫn ân hận vì sự vô tư thơ ngây ấy! Ngay cả khi đã lớn khôn, mỗi khi gặp trắc trở, buồn đau trên bước đường đời, nó thầm gọi: Ba Má ơi! Và trước mắt nó là hình bóng má nép bên ba như hòa nhập thành pho tượng đá và một cành lau phơ phất mờ nhòa rồi tan biến trong không gian tĩnh lặng.
Chiếc tầu hú còi rời bến và quay đầu hướng ra biển cả. Hai cô cháu đứng trên boong tầu mỗi người một suy tư. Nhìn những con hải âu lênh đênh trên sóng nước, cô giáo Thanh Vân nghĩ mình giờ đây như một cánh chim phiêu bạt, biết bao giờ quay về tổ ấm! Nhìn những cánh hải âu sà trên mặt nước dập dềnh rồi lại vọt bay lên, thằng Hữu Nghĩa muốn được như một cánh chim rỡn sóng.

Ra miền Bắc, thằng Hữu Nghĩa được vào trường học sinh miền Nam nội trú. Lúc này nó mới thấy nhớ ba má và cảm được sự đơn côi trống vắng như thế nào của một đứa nhỏ phải sống xa cha mẹ! Nhưng cả trường, hàng ngàn bạn đồng trang lứa cùng cảnh ngộ, đấy là điều an ủi dễ làm chúng khuây đi. Thằng Hữu Nghĩa còn được hưởng một niềm an ủi thiết thực hơn nhiều bạn là cô giáo Thanh Vân lúc nào cũng ở bên và chăm sóc nó không khác chi mẹ ruột! Dù cô có thuyên chuyển đi đâu, cô cũng xin bằng được cho nó đi theo. Ngay cả khi cô lập gia đình và đã có con, vợ chồng cô đều coi nó như một thành viên không thể thiếu của gia đình.
Cả thời niên thiếu, nó gần như tách biệt xã hội trong cái khung bao của nhà trường với sự giáo huấn lúc nào cũng làm cho người ta tự hào đến sôi lên: Mỗi người ở miền Bắc, một ngày được ăn ngon ngủ yên là phải cảm ơn đồng bào miền Nam đang đêm ngày trong dầu sôi lửa bỏng đấu tranh trực diện sống chết với kẻ thù! Nó tự hào về miền Nam của nó. Nó tự hào về ba má nó đang chiến đấu ở miền Nam và tự hào nó là giọt máu của miền Nam trên đất Bắc!
Hữu Nghĩa là đứa trẻ sáng dạ và tinh nghịch. Trong đám choai choai, nó là đầu trò và được bạn bè tôn sùng vì những hậu quả của những trò tinh nghịch nó luôn đứng ra nhận trách nhiệm về mình. Nhà trường có nương nhẹ vì biết cha mẹ nó đang gian lao chiến đấu và cũng vì cô giáo Thanh Vân là người có uy tín trong trường. Sự quản lý của nhà trường dù có chặt chẽ nhưng không thể sâu sát và nhạy bén như ở gia đình. Sự giáo dục của nhà trường thiên về các lời giáo huấn kèm theo các biện pháp trừng phạt cụ thể hơn là sự dạy dỗ nặng nhẹ điều hòa như trong một gia đình đầy đủ cha mẹ. Cũng vì không được sống trong cảnh gia đình yên ấm nên đứa trẻ vừa khát khao lại vừa thiếu thiện cảm trước những cảnh đời như thế. Với đầu óc còn non trẻ chúng chỉ đủ suy luận rằng trong sự ấm êm của mọi người có sự chịu đựng hy sinh của chúng và tuổi thơ của chúng biết bao mất mát, thiệt thòi! Dù sao sự nghịch ngợm của tuổi học trò thường là ngây dại, vô ý thức và bồng bột, người đương thời không chịu nổi nhưng qua rồi nghĩ lại thấy thương! 9 giờ tối, các phòng học sinh đều phải đóng cửa, tắt đèn và đi ngủ, một lũ nhóc hẹn nhau vượt tường rào ra đường lang thang, bát nháo! Cái dạ dày của tuổi 13–17 thun giãn cực kỳ, trong khi tứ chi của nó chẳng lúc nào được để yên, mà ở nội trú một ngày chỉ gọn có ba bữa lửng lơ thì cái dạ dày lúc nào cũng cồn cào nóng rát đòi cái miệng phải kiếm đồ nhai! Có đồng nào chúng gom mua kẹo bánh chia nhau rồi túa ra đồng bẻ bắp, bới khoai bất kể non, già! Chúng tụ thành từng nhóm theo lớp, theo vùng bênh vực cho nhau, cãi lộn thậm chí đánh nhau bươu đầu sứt trán mà hôm sau lên lớp vẫn êm re! Nhưng khi hòa hoãn được với nhau rồi thì chúng lại kéo đàn, kéo lũ đi trêu chọc người ta! Vào những giờ khuya khoắt ấy, đám thanh niên nam nữ trong làng xem chiếu bóng ở rạp ngoài trời từng tốp kéo nhau về. Những cặp trai gái tình tứ tách ra đi lẻ từng đôi. Chọc ghẹo bằng lời thì chẳng ai dại gì đáp lại vì bọn chúng đông. Thằng Hữu Nghĩa nghĩ ra một trò tinh quái: Nó thủ sẵn một cây gậy dài, đi dọc mé đường gặp cặp nào đi xe đạp chở nhau, trong khi cô cậu đang chuyện trò rôm rả quên cả sự đời thì nhanh như cắt, nó thọc lẹ cây gậy vào bánh xe! Cả chàng và nàng đều ngã quay lơ! Nó ù té chạy và lẩn vào đám đông nhốn nháo hò reo trợ chiến nếu cần! Trò chơi quái đản ấy kích thích bọn trẻ rộ lên một dạo thậm chí gây nên mấy vụ tai nạn nặng nề, dẫn tới những cuộc xô xát giữa đám trai làng với đám học sinh. Chính quyền địa phương và nhà trường phải gặp nhau giải quyết. Thằng Hữu Nghĩa một mình đứng trước toàn trường nhận tội: nó vừa là kẻ chủ mưu, vừa là người thực hiện. Cô giáo Thanh Vân khốn khổ vì nó. Cô đã đổ không biết bao nhiêu nước mắt trong các cuộc họp của nhà trường. Nhưng khi gặp riêng nó, cô không nỡ lòng nào nói nặng nó một câu...
Cho đến một hôm có xe từ Hà Nội xuống tận trường đón cô về gặp Ban thống nhất trung ương. Bước lên xe, cô hồi hộp nghĩ rằng chắc cô được gọi về trỏng để sát cánh với bà con ruột thịt cùng bạn bè, đồng chí... Dầu phải vấn vương bịn rịn với thằng Phương Nam nhỏ xíu nhưng đây là tiếng gọi của quê hương, nó thiêng liêng, cao cả mà vì nó cả tuổi thanh xuân cô đã dấn thân vào! Mấy năm trời xa cách, miền Nam vẫn canh cánh bên lòng! Ngày ngày từng tin tức từ miền Nam cứ nhoi nhói trong tim! Lời thơ tha thiết của Tố Hữu:
                   Ôi miền Nam… Vì sao mỗi lúc
                        Mây chiều xa bay giục cánh chim
                        Đêm khuya một tiếng bầu tiếng trúc
                        Một câu hò cũng đọng trong tim?!
đã nói thay tiếng lòng những đứa con của miền Nam day dứt từng phút, từng giờ hướng về quê hương yêu dấu... Tình cảm ấy đã được lớp thanh niên miền Bắc cùng thời cảm thông sâu sắc và cùng chia sẻ...
Buổi gặp gỡ làm cô choáng váng! Với luật 10/59 ở miền Nam, những người kháng chiến còn ở lại bị đặt ra ngoài vòng pháp luật! Cô giáo Quế Hương sau những ngày bị tù đày tra tấn vẫn giữ một lòng son sắt với Cách Mạng, với Bác Hồ nên cô đã bị địch thủ tiêu! Ký giả Thành Tâm phải thoát ly trốn tránh về vùng căn cứ cũ vẫn bị địch truy lùng và giết hại! Lòng cô trĩu nặng ưu tư, xót xa cho bạn và thương thằng Hữu Nghĩa. Đúng lúc thằng Hữu Nghĩa đang chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông trung học, cô quyết định không nói cho nó biết tin này và cô thấy trách nhiệm của cô nặng nề hơn với tương lai của nó...
Nét mặt đau buồn biểu hiện sự u uẩn trong lòng cô, thằng Hữu Nghĩa cảm nhận được:
- Sao con thấy cô buồn và ít nói, dường như cô có mối suy tư....?                  
Cô lảng tránh:
- Lớn lên con sẽ thấy, đời thì có vui thật đấy nhưng chẳng thiếu chi chuyện để buồn!
Nó vẫn hướng cô vào nỗi trăn trở mà cả cô và nó vẫn đau đáu bên lòng :    
- Cô ơi! Nay mai tốt nghiệp phổ thông rồi, cô cho con vào bộ đội, con không thể nào học được nữa đâu!   
Cô không cầm nổi nước mắt, cô nghĩ nếu nó biết được chuyện ba má nó bị giết hại rồi thì không còn lý do gì cản được nó! Cô kéo nó vào lòng vuốt ve như mẹ nựng con:
- Con ơi! Lòng con cũng giống lòng cô! Ai có thể ngồi yên được lúc này! Nhưng con có tin là sự nghiệp của ba má con, của chúng ta sẽ thắng không con?       
Nó gật đầu. Cô an ủi nó:                                        
- Bác Hồ nhìn xa thấy rộng lắm nên mới tập kết anh em, cô cháu mình ra đây! Rồi khi cần, lần lượt sẽ về thôi con ạ! Lớp trẻ các con rồi cũng trở về nhưng bây giờ việc chủ yếu của các con là phải học tập để nâng cao kiến thức! Mai này thắng lợi, khi buông tay súng chẳng lẽ chúng ta chỉ biết cầm cày cuốc và quai búa thôi sao?
Nó đứng dậy, hai tay dang ra, mặt nó đỏ gay lên:
- Nhiều lúc con nôn nao, muốn giục đi tất cả để bay vô trỏng!
Cô kéo nó ngồi xuống bên mình, nhẹ nhàng nói từng lời thấm thía:
- Cách mạng không phải là sự bốc đồng! Phải tỉnh táo và sáng suốt thì mới tránh được những sai lầm con ạ! Tính tỉnh táo tự mình rèn luyện. Óc sáng suốt là kết quả của việc học hành. Con biết không, sai lầm của cách mạng là phải tính bằng máu và sự thụt lùi của lịch sử đấy! Cô lo cho con. Con có năng lực, quả cảm nhưng dễ bốc đồng và bất cần gì! Sự thiếu tự chủ, không kiềm chế được mình rồi buông thả sẽ dễ sa xuống vực sâu không ai cứu nổi. Cô sẽ là người có lỗi với ba má con!
Lần đầu tiên cô nhận xét với lời cảnh báo nó một cách thẳng thắn và nghiêm khắc như vậy. Nó ngồi im lặng, cúi đầu. Không ai nghĩ rằng lời cô nhận xét nó hôm nay lại là lời tiên đoán cho số phận nó mấy chục năm sau đó.

Thằng Hữu Nghĩa tốt nghiệp phổ thông trung học vào loại khá và được chọn đi học ngành Hàng hải theo nguyện vọng thiết tha của nó. Từ ngày chia tay ba má trên bến tàu Cao Lãnh năm nào, biển cả mênh mông với những lớp sóng bạc đầu, những cánh hải âu dập dìu sóng gió và mờ mờ nơi bến bờ xa, bóng hình người thân yêu ngóng đợi đã cuốn hút tâm trí nó vào cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm và thơ mộng.
Thấm thoát bốn năm chẳng là bao. Nó đã xa quê hương, ba má đằng đẵng chục năm trời! Cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam tưởng chừng tới đích thì quân Mỹ ùn ùn đổ vào kéo theo quân của những nước đồng minh. Các cuộc tấn công bằng máy bay oanh kích và tàu chiến pháo kích vào sâu nội địa và dọc vùng duyên hải ngày càng tàn khốc. Lửa chiến tranh ngùn ngụt lan ra cả nước. Toàn miền Bắc dồn sức vào cuộc đối đầu này.
Thằng Hữu Nghĩa đã lãnh bằng kỹ sư Hàng hải. Cô Thanh Vân đã lo cho nó được đi tu nghiệp ở nước ngoài theo tiêu chuẩn của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Nhưng một hôm cô nhận được thư của nó, lá thư chỉ có một trang ngắn ngủi:                                                                      
                        Thưa cô,                                
Con xin lỗi cô vì đây là lần đầu khi con quyết định một việc lớn có liên quan đến cuộc đời của con mà con không xin ý kiến của cô! Cô hãy tha thứ cho con. Con đã hết kiềm chế nổi mình! Con muốn được góp sức vào cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù để giải phóng quê hương. Mong cô thông cảm cho con, mỗi lúc nhớ lại hình ảnh của má con gục đầu bên vai ba nức nở trên bến tàu ngày ấy, lòng con quặn thắt và ân hận: Không hiểu má khóc vì nhớ thương con hay má khóc vì sự thờ ơ đến vô tâm của thằng con trai duy nhất?! Và cánh tay ba gầy guộc giơ lên như cành lau phơ phất đang vẫy gọi con về! Con tin là đất nước mình sẽ hòa bình, thống nhất và độc lập. Cho dù ngày đó có vắng bóng một ai thì sự hy sinh ấy cũng không phải là vô ích !
                                                Thằng con trai tinh nghịch của cô                                                                                                                                    Hữu Nghĩa.                           

Cô Thanh Vân đã khóc mấy ngày: Nó nghĩ cũng phải thôi, chẳng trách gì được nó. Nó chịu đựng như vậy đã là kiên nhẫn lắm rồi! Duy có việc cô lần lữa chưa cho nó biết tin đau thương về cha mẹ nó, cô vẫn dấm dứt chưa hiểu là đúng hay sai...

Hữu Nghĩa được tuyển vào lực lượng hải quân. Anh đã trở thành một sĩ quan có học, có tài, gan dạ, mưu lược và táo bạo. Người ta khó hình dung nổi là chiến thuật du kích lại được vận dụng cho cả những binh chủng hiện đại như chiến xa, tên lửa và cả hải quân, không quân nữa. Vẫn là lấy ít đánh nhiều, địch mạnh ta né, địch nghỉ ta tranh thủ. Đánh nhanh, bất ngờ và rút gọn... Không ai nghĩ rằng chiếc chiến hạm nhỏ bé của anh dám xông vào chiếc tuần dương hạm khổng lồ đậu tít ngoài khơi vào lúc xuất kỳ bất ý... Và cũng trong những ngày căng thẳng sôi động ấy, anh được hưởng vị ngọt của tình yêu…
Hoa Duyên là bạn cùng học với anh ở trường đại học. Với một cô gái từ quê lên tỉnh học thì cái anh chàng học sinh miền Nam đẹp trai, ngang tàng, bướng bỉnh ấy làm cô nể phục nhưng không dám làm thân. Thái độ kính nhi viễn chi ấy khiến cô hay lén nhìn anh. Anh cũng chẳng thèm xáp vô với con thỏ ấy làm gì! Riêng với Hoa Duyên, có một kỷ niệm mà cô nhớ mãi, còn anh thì chóng quên đi. Đó là một lần cả lớp đi dã ngoại tập quân sự. Mỗi sinh viên đều phải đeo một ba lô gạch và mang thêm khẩu súng trường vượt một chặng đường đèo dốc dài chừng 4 – 5kilômét vào lúc xế chiều.
Khi mới khởi hành, mọi người vui đùa ríu rít như chim. Nhưng dần dà im ắng rồi chẳng còn ai nói nữa. Họ đi tản mạn, rải rác, ì ạch, hổn hển kéo lê về đích. Lúc mọi người còn vui vẻ nói cười, Hữu Nghĩa cùng với mấy đứa trong nhóm của anh lẳng lặng rẽ vào một quán bên đường, khề khà bát nước chè xanh, phì phèo điếu thuốc, mặc xác tụi bay. Lâu lâu họ mới thủng thẳng vừa đi vừa tán dóc. Trời xâm xẩm tối, đến lưng chừng dốc, bên đường một cô gái vứt ba lô và súng chỏng chơ 

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment