CHỊ TỐI - TRANG 3


Tôi kể chuyện ngày gặp anh Yên. Cả nhà tôi đều mừng, nhưng rồi người nọ nhìn người kia như ngại nói ra một điều gì. Bố tôi bảo:
- Vậy là Trời Phật, ông bà run rủi cho anh Yên nó cứu con đó! Nghĩ mà thương cho nó! – mắt người rơm rớm. Tôi lờ mờ cảm thấy có chuyện không hay.
Sau này, dần dà bố mẹ, anh chị em tôi mỗi người tỉ tê một chút, tôi mới biết chị Bình tôi nên nông nỗi ấy...

Anh Quỷnh lấy vợ do bố mẹ tìm cho. Người mà anh thích là chị Bình tôi. Nhưng anh nhút nhát lại mặc cảm nên không dám thổ lộ nỗi lòng. Anh  năng lui tới nhà chị và thường ngồi lặng thinh, đôi lúc loanh quanh tìm việc gì giúp chị, lâu lâu anh mới nói một cách một cách ngượng ngập khó khăn, thấy vừa tội nghiệp lại tức cười. Chỉ vậy thôi, chớ chị Bình đâu có nói gì anh.
 Cha mẹ anh vừa lo cho con, vừa sĩ diện, đã chọn vợ cho anh ở mãi xã bên, vừa là nơi môn đăng hộ đối, vừa xa xôi chẳng ai được nghe những lời châm chọc từ cửa miệng người đời. Ở thôn quê, việc trai gái nên vợ nên chồng do cha mẹ định liệu vẫn là chuyện thường tình, họ chấp nhận một cách đương nhiên, coi như mối duyên tiền định. Ấy vậy mà khi chiếc thuyền tình của anh đã được neo cột chặt rồi, bà mẹ anh còn bóng gió ví von với bà con trong làng trên xóm dưới:
- Chuông khánh còn chẳng ăn ai. Nữa là mảnh chỉnh nằm ngoài bụi tre!
Chị tôi nghe được, tủi thân, tủi phận, chỉ biết khóc thầm:
- Mẹ ơi, con đâu dám trêu chọc gì ai?!
Vợ anh là chị cả trong một gia đình đông con, cô học xong lớp 7 thì ở nhà làm ruộng, không thua gì một người chủ lực trong gia đình. Bước về nhà chồng, cô cũng chỉ biết có chồng và công việc từ trong nhà ra ngoài đồng ruộng. Có sức vóc, tần tảo, cô vừa đảm việc nhà vừa đẻ như gà. Qua bảy vụ mùa kể từ ngày cưới, cô sinh liền năm đứa! Thân voi cũng phải mỏi mòn! Người cô như cái xác ve! Ông chủ tịch hoan hỉ, cứ vần Q mà đặt tên cho bầy cháu trai theo cái lệ nhà ông : Ông Quỳnh – Bố Quỷnh – Con: Quýnh – Quáng – Quang – Quàng – Quạc! Xấu tốt đâu bởi cái tên. Con đàn cháu đống nhớ được từng thằng đâu phải dễ! Và như một sự ngẫu nhiên, chị Quỷnh – người đàn bà chưa đến 30 tuổi ấy đã được cả xóm trong, xóm ngoài gọi là bà La Sát không phải với một ác ý gì, bởi vì lúc nào người ta cũng thấy chị quýnh-quáng-quang-quàng-quạc...
Là người chỉ huy của bà La Sát và nửa tá nhóc vần Q, đã là sự rèn luyện cho anh Quỷnh bỏ được tính nhút nhát, tự ti. Anh đã là người ăn to, nói lớn. Những buổi theo du kích hội họp, tập tành, anh vui với bạn bè kể chuyện tiếu lâm, pha trò thỏa chí cho bõ những những ngày phải lặng lẽ nín thinh trước đám đông người. Gì thì gì anh cũng là người chỉ huy quân sự từ thôn lên xã, anh không còn mặc cảm và tự tin dần. Anh nói năng mạch lạc và lưu loát, có lúc hùng hồn, đôi khi có những câu ví von dí dỏm.
Những tình cảm mến mến thương thương với người con gái xinh đẹp ngày nào đã chìm vào quá khứ mờ nhạt không có gì đáng nhớ của anh. Bây giờ nhiều lần gặp lại người bạn gái năm xưa, tuy chẳng còn mẩy mầm hay hạt nhưng vẫn là một thiếu phụ thon thả tròn đầy với tâm trạng rối bời, u uất… Sâu mãi trong lòng anh dâng lên cảm giác thương nhớ bâng khuâng. Anh Quỷnh biết rằng chị Bình hiện là vợ bộ đội đi B và anh trong số những người chủ chốt thực hiện chính sách hậu phương quân đội ở xã này. Anh vẫn còn nhiều tình cảm với chị Bình.
Nhưng trường hợp anh Yên là đặc biệt. Chỉ mấy năm gần đây, nhu cầu tuyển quân ào ạt, những người trong gia đình như vậy mới được chọn đi nên chưa biết thế nào mà tin được. Mấy thương bệnh binh còn sống sót trở về kể lại rõ ràng rằng ngay sáng hôm đơn vị mới hành quân tới điểm đã không ai nhìn thấy anh Yên! Anh nói với chị Bình:
- Tôi không tin là thằng Yên nó trốn về nhà. Bình chẳng bao giờ chứa chấp một thanh niên lạc hậu thế đâu. Nhưng nghe nói có không ít thanh niên tụt tạt, họ cụm nhau lại loanh quanh trên đường Trường Sơn, có người trốn qua Lào và Campuchia, tệ hại hơn, còn có kẻ cam tâm hàng giặc!
Chị Bình chống chế cho chồng, không mấy tự tin:
- Anh Yên đã biết thân phận anh ấy khổ từ tấm bé vì bố anh ấy lầm đường. Nhưng bây giờ trước cái sống, cái chết, rồi bạn bè rủ rê, chưa biết làm sao?!
Anh Quỷnh biết chị Bình đang yếu lòng, cần chỗ dựa. Ngày xưa có vẻ chị coi thường anh. Bây giờ anh sẽ cho chị biết! Cả làng này đã quên đi cái thằng “Quỷnh lắp” thời nào. Giờ đây mọi người đều gọi Anh Quỷnh với vẻ tin tưởng và nể trọng. Lời anh nói có gang có thép. Anh sẽ ra tay che chở cho cô Bình tội nghiệp. Trước những lời xầm xì to nhỏ nghi ngờ của xóm làng, anh Quỷnh nói đầy lý lẽ:
- Chuyện ngã ngũ chưa biết thế nào. Ai hay, ai dở để hạ hồi phân giải. Đây là một gia đình bộ đội neo đơn, Chính quyền, Đoàn thể cần quan tâm giúp đỡ!
Lời anh nói thật là có uy. Nó như một sự giải oan. Nhà chị ít khi vắng vẻ, bà con lối xóm vào ra thăm hỏi, đỡ đần. Ngôi nhà gạch năm gian đỡ phần lạnh lẽo. Những ngày vụ, ngày mùa đều có người chia sẻ, chung lo. Mẹ con chị Bình biết rõ là đã được nhờ ơn anh Quỷnh. Bà vui ra, chị Bình tươi lại. Bà cầu mong con bà sáng cái mắt, cái lòng, đừng có đâm vào đường xiên ngõ cụt. Chị nhớ chồng rạo rực, nỗi mong mỏi xen lẫn nỗi lo sợ.
Anh Quỷnh thành người gần gũi của bà, của chị. Anh ra vào nhà chị thường xuyên, cũng là trách nhiệm của người cán bộ cơ sở địa phương, chẳng thể là điều tai tiếng và xưa nay ai cũng biết anh cơ chỉ, hiền lành. Với anh, ở cái làng này, mơi dăm năm mà đã bao nhiêu vật đổi, sao dời, ngay cả đời  anh cũng vậy, chỉ duy có chị Bình ngày nào giờ vẫn còn đây, có khác chăng cũng chỉ như con gà mái đổi chuồng, vẫn là sự kín đáo âm thầm và lôi cuốn với chút đổi thay mà chỉ có riêng anh mới hiểu: xưa cô hờ hửng, anh nói câu nào cô cũng lặng lẽ cười. Bây giờ anh lại lặng lẽ ngắm nhìn cô và cô luôn hỏi anh điều này, điều nọ. Anh nói gì cô lắng nghe như mấy anh du kích ngồi nghe chỉ thị của anh. Có những lúc anh lãng quên đi nghịch cảnh  của hai người, anh nhìn cô đắm đuối, cô lảng tránh nhìn đi, vẻ sợ sệt tần ngần. Hai người trong hoàn cảnh ấy gần nhau như lửa gần rơm...
Người ta nói tình cũ không rủ cũng đến! Thật ra tình cũ cũng chửa là chi nhưng kỷ niệm thuở xuân thì vẫn còn giăng mắc, một khi được gợi nhớ, những mối tơ nhện ấy nó lại rung rinh khiến lòng người xao xuyến. Anh Quỷnh giờ đã là người có quyền, có thế và đang là người bảo trợ cho chị Bình tôi. Chị Bình như ván đã đóng thuyền, nhưng con thuyền bé nhỏ ấy đang chơi vơi, chao đảo trong gió táp, mưa sa. Một mảnh thuyền vỡ rồi sẽ trôi dạt về đâu giữa mênh mông sóng nước.
Bà mẹ chồng chị ốm mấy ngày nay, nằm bẹp trong buồng. Chị Bình bận bịu ngoài đồng, bước chân về nhà lại tất bật lo cho mẹ bát canh, bát cháo. Thuốc thang chưa biết làm sao.
Anh Quỷnh hối hả bước vào, tay cầm nắm lá, tay cầm gói thuốc đưa cho chị Bình. Như gặp cứu tinh, chị cảm động nhận lấy từ anh, nghẹn ngào không nói nên lời. Hai tay anh giữ hai tay chị trong những cây lá thuốc. Tay chị run run... rồi chị hớt hải cầm nắm lá chạy ù xuống bếp. Anh bước nhanh theo chị. Chị lúng túng không biết để nắm lá ở đâu, chị ngước nhìn anh, rồi chị giơ tay với lên gác bếp, hai chân chị phải kiễng cố lên. Anh Quỷnh giơ tay phụ chị. Bàn tay anh nắm chặt bàn tay chị trên cao. Chị rơi thõng tay xuống, hai chân chị đứng không vững nữa. Anh vòng tay ôm chặt chị vào lòng. Người chị mềm nhũn ngả vào anh. Chị rên rỉ:
- Mẹ ơi con chết mất!
Anh ghì chặt vòng tay siết chị như con trăn siết chặt con mồi:
- Tôi thương Bình lắm, Bình ơi!
Tiếng thở của hai người quyện với nhau… hổn hển...
Chị Bình tôi đã ngả vào lòng anh Quỷnh như thế đấy.
           
Chuyện trai gái bén hơi nhau, điều gì sẽ đến?! Ở hai con người vừa sung sức, vừa khao khát ái ân buộc lòng phải chế ngự, càng thêm nồng nàn cho những cuộc hẹn hò lén lút. Và hậu quả của nó ngày một rõ ra. Đến lúc không còn che giấu được ai.
Đầu tiên là những tiếng eo xèo đến tai chị Quỷnh, người ta hát bóng gió, xa xôi:
- Ai ơi, chẳng biết giữ chồng – Người ta… phỗng mất, chổng mông mà gào!
Chị Quỷnh giật mình, te tưởi đi hóng chuyện chỗ này, chỗ nọ. Có người thì thào vào tai chị. Có người lại chọc thẳng vào nỗi khắc khoải thầm kín luôn day dứt trong lòng của người phụ nữ chỉ biết tận tụy với chồng con:
- Ai bảo em đẻ sòn sòn – Để anh ôm cái... xác con ve sầu!
Không thể dằn lòng được nữa, chị lồng lên, cong cớn:
- Bà đây tuy là gái năm con nhưng còn ngon hơn cơm tám! Chớ cái ngữ đàn bà thối thây chỉ để cho cái gậy thằng ăn mày nó chọc!
Chiều chiều, những người đi về qua xóm nhà anh Quỷnh nhiều lần nghe thấy tiếng la choe choé, tiếng huỳnh huỵch như người bửa củi...
Đàn bà con gái ở cái làng này xa chồng, xa người yêu hồi ấy thiếu gì. Ngoài đời có biết bao nhiêu chuyện động trời nhưng người ta đâu có biết. Bởi vậy những chuyện như của chị Bình đủ làm rung động cả làng. Người ta kháo nhau mọi lúc, mọi nơi, không thiếu những lời chê bai, riếc móc. Lại có những người lái thành câu ca, bài vè tán dóc cho quên đi cái nỗi đau ngấm ngầm trong lòng. Nhà chị Bình ngay sát đường làng, chỉ có một cái tường bao. Một đám người qua cổng, ai đó nổi hứng xướng lên:
- Thà rằng chưa biết thì thôi – Biết rồi nó... ngứa đứng ngồi khó yên!
Họ cười ré lên và đấm nhau thùm thụp. Ra đồng, để tiêu tan nỗi sầu, nỗi mệt, họ hát ví von đối đáp  với nhau:
- Đêm đêm em mở cửa ngóng chồng / Chồng đâu không thấy, thấy... gió đông lọt vào / Đêm đêm em mở cửa ngóng sao / Sao không rớt xuống mà lại có anh nào… mò vô!          
- Anh nảo… anh nào? Chị em cho tôi biết được không nào?!                         
- Dạ, thưa rằng anh... xã đội đấy ạ!                                  
Họ cười rũ ra... Có người kể thêm rằng đêm qua họ nghe thấy từ nhà anh Quỷnh vọng ra tiếng gào the thé như chó sủa đầu hôm:                                     
- Ối giời đất ơi! Xã đội gì mày! Việc quan thì nhác, việc khác thì siêng! Về nhà còn vênh mặt lên với vợ con!
Phụ họa vào là những tiếng la khóc nhiều bè của bầy ca sĩ nhí vần Q.
Tất cả những động tĩnh từ trong xóm tới ngoài đồng đều như có cánh bay đến tai mẹ con chị Bình. Bà cảm thấy như có ai xát muối vào gan ruột mình. Chị cảm thấy như người ta hơ lửa đốt vào mặt mình rát rạt, đầu óc bưng bưng muốn nổ tung ra! Mẹ không dám hỏi con! Con không dám nhìn mẹ! Họ không còn chỗ dựa, trơ vơ, xiêu vẹo giữa cuộc đời như cây khô đứng giữa trời trong mưa dầm gió bấc! Ngôi nhà ngói năm gian trống trải, lạnh lùng không khác ngôi nhà mồ hoang vắng! Bà cụ run rẩy, sa sút, đêm ngày rền rĩ trước bàn thờ nghi ngút khói hương:                     - Ông ơi! Thằng Yên nếu nó không còn, ông cho tôi đi theo với ông!             
Chị không dám bén mảng tới gian thờ, sợ làm uế tạp chốn thiêng liêng, thanh khiết! Ra đường, chị ngó trước nhìn sau, không có bóng người chị mới dám trùm khăn, che nón cun cút bước đi vội vã...

Chuyện đã tới tai ông Chủ tịch nhưng từ đầu ông vẫn im hơi lặng tiếng xem chuyện dẫn tới đâu. Là người từng trải, ông thấy đã tới lúc phải có tay ông can thiệp. Là bậc cha chú có uy tín ở trong làng, ông biết cách dàn xếp làm sao để giữ thể diện cho bố con ông. Ông gọi vợ chồng anh Quỷnh lại. Ông dằn mặt vợ anh:                                                                   - Tôi cưới hỏi chị về làm con dâu trưởng ở cái nhà này, chị phải biết sống làm sao cho phải với chồng con, cha mẹ, anh em, họ hàng, giữ cho danh giá gia đình. Chị tưởng ở cái làng này chỉ có mình chồng chị là đàn ông thôi sao? Còn đàn bà nó đã muốn nằm dạng ngửa ra thì thằng đàn ông nào ngủ mà chẳng được?! Sao bỗng dưng chị chuốc vạ vào mình?! Rõ là cái đồ ngu! Bát cơm chồng con đang và vào miệng mà chị giật xuống cho chó nó ăn! Chị chẳng còn là cái giống người! Chồng chị xấu thì mặt chị đẹp gì?! Xấu chàng hổ ai? Chị có biết không? Con dại, cái mang! Thằng Quỷnh nó hư thì liệu tôi còn có ra gì?! Rút dây động rừng! Tôi bị điều tiếng ở đây thử hỏi ông bà thông gia trên ấy liệu có êm đẹp được không ?! Đã năm mặt con rồi mà sao chị hàm hồ như vậy?! Tôi cấm chỉ chị từ rày không được hở răng ra lu loa, bép xép một lời về chuyện ấy nữa, nghe chưa?!
Ông dồn chị một chặp. Chị bỗng hoảng sợ. Giờ chị mới nhớ ra rằng ít ra thì mình cũng là con hai ông chủ tịch xã trên, xã dưới, là vợ ông xã đội ở đây, ai chẳng nể vì. Chị im thin thít. Ông ra lệnh:                                                    
- Chị hãy đi lo tròn phận sự của người đàn bà trong cửa trong nhà. Còn việc đại sự đã có người lo!                       
Chỉ còn hai bố con, ông nói gay gắt nhưng vừa đủ nghe:
- Thằng đàn ông có cái cu. Sướng cũng nó mà khổ cũng nó! Anh muốn sướng hay muốn khổ? Bao nhiêu năm tôi mới gây dựng được sự nghiệp thế này. Thiếu gì đứa nó dòm, nó ngó. Bây giờ anh chọc vào đúng gia đình chính sách, đứa nào nó chịu tha anh? Dù có chui xuống đất nó cũng nắm tóc moi lên. Mặt anh, mặt tôi như cái mặt mo. Tôi đốn củi bao nhiêu năm, anh thiêu rụi một giờ!                                                 
Anh Quỷnh ngồi đực người ra. Anh vốn người chân chất, thật thà, không phải là người mưu lược. Chuyện này chẳng qua là cái tình đời đưa đẩy, rồi ma xui quỷ khiến làm anh mụ mẫm đê mê chứ anh không chủ mưu chiếm đoạt, hãm hại một ai! Hồi lâu anh mới ấp úng hỏi cha:                     - B... â... ây... bây giờ bố b... a... ảo bảo làm sao?  
Ông dặn dò anh rành rọt như người chỉ huy giao cho cấp dưới một công việc quyết định sự được, thua:           
- Anh muốn sống, muốn ngẩng mặt lên với đời, anh phải làm đúng lời tôi dặn: Một là từ nay cấm không được lai vãng tới nhà đó, cấm anh thậm thụt cái trò mèo mả gà đồng, trước sau cũng bể bạc ra, không sao gỡ được. Hai là anh không được đánh đập vợ con để cho người ta rình rập đi bêu riếu khắp làng khắp xóm. Ba là anh cứ hoạt động bình thường, đứa nào nói gì cứ bỏ ngoài tai, càng thanh minh nó càng được nước, càng nài nỉ nó càng làm già. Chuyện trai gái lời ong tiếng ve, miệng thế gian xía vào xưa nay thiếu gì. Không bắt được quả tang trai trên gái dưới đố đứa nào làm gì được nhau!
Anh vẫn còn bứt rứt, cuối cùng anh mới phụt được ra cái nỗi băn khoăn lo sợ của mình:
- Nh... ư... ưng nhưng… còn c... ai... ái cái thai?!
Ông nói trôi chảy như đã giải quyết xong xuôi:
- Nó đã đi ngủ với trai thì dù lớn, bé, già, trẻ gì mà không phễnh bụng ra được? Có điều để cái bụng nó phượt ra đến thế thì Y tế nó cũng chẳng can thiệp vào. Tôi đã giao cho Phụ nữ nó lo!                                                             
Anh như trút được gánh nặng lo âu, mặt anh tươi lại. Anh xin ông sự cứu viện cuối cùng:             - Mấy điều bố dặn con đều làm được. Chỉ riêng con mẹ la sát thì bố phải trị giúp con. Nó là đồ bất trị!                       
Ông chủ tịch phà một hơi khói thuốc lào, nhìn thằng con trai thương hại rồi phẩy tay như giục anh đi và nói với theo:                                                                   
- Khôn sống, mống chết con ạ!

Ít hôm sau, ông Chủ tịch cùng mấy vị Ủy ban, Đoàn thể đến nhà chị Bình tôi. Hai mẹ con chị líu ríu, đưa đẩy nhau không ai muốn xuất đầu lộ diện. Ông chủ tịch ân cần xuống tận bếp, nắm tay hai mẹ con, dắt lên nhà đặt ngồi vào bàn khách. Ông nói rỉ rả, chân tình:     
- Mọi chuyện, chúng tôi đã biết cả rồi. Thuyền dại thì lái chịu đòn. Dân dại thì cán bộ phải lãnh trách nhiệm thôi. Vả lại chuyện này thế gian đây đó chẳng phải một người. Đoàn thể, Chính quyền lúc nào cũng rộng lòng là còn nghĩ tới người ở xa vì dân, vì nước. Tôi với ông nhà xưa cũng là trai đinh trong làng. Ông ấy lạc đường, nhân dân tha thứ. Con cái lớn lên, dù là dâu con cũng phải làm mát mặt ông bà, cha mẹ. Ở đời ai cũng có dại rồi mới nên khôn. Chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Lỡ dại thì thôi, biết là được rồi, để sau này sửa. Bà con làng xóm bảo bọc cho nhau qua lúc lửa hồng, nắng rát thế này. Chớ có nghe người ta xúi bẩy, hốt hoảng, hoang mang, đổ vấy vá chỗ này, chỗ khác, gây điều tai tiếng cho người tử tế thì từ cái lỗi nhỏ lại thành cái lỗi to, càng thiệt cho mình lại thêm hổ người đến cả cha ông!
Quay sang bà cán bộ phụ nữ, ông nói:                
- Chính quyền đã giao cho Hội Phụ nữ việc này. Nhớ động viên giúp đỡ chị ta. Làm việc phải nghiêm minh nhưng cũng phải biết khoan hồng. Không được để làm mất đoàn kết trong làng, trong xóm!                                                       
Hai mẹ con chị chỉ biết ngồi đấy, nước mắt chảy tràn. Ông Chủ tịch vỗ về, an ủi mấy câu rồi bước ra sân. Mọi người lục tục theo ông...
Chỉ còn hai mẹ con trong căn nhà trở lại vắng vẻ. Cả hai người chưa hết bàng hoàng. Đã tưởng làng nước người ta khinh rẻ mình, người ta chừa cái mặt mình ra! Thế mà cả đoàn người đủ ông to bà lớn kéo vào đây, nói năng khuyên giải ân tình. Ông Chủ tịch nói gì? Những là... tha thứ, khoan dung, lỡ dại thì thôi, chớ đổ vạ cho ai, nghĩ tới người vì dân, vì nước. Lâu lắm rồi hai mẹ con mới ngồi đối diện với nhau, buộc lòng phải nói với nhau về cảnh ngộ của mình. Bà cụ nói với chị:                                                                           
- Thôi, con ạ! Mình làm mình chịu. Nếu thằng Yên nó còn mà về đây, mẹ sẽ nói để nó thương con. Bằng không, nếu nó đi rồi, đời con cũng đỡ lẻ loi, đơn chiếc! Mẹ không còn sức để sống lâu đâu. Có bới đống tro ra, cũng chỉ khói bụi cay xè, mình chịu trước!    
Chị không cầm lòng được nữa, sụp xuống chân bà:
- Mẹ ơi… con lạy mẹ! Con có lỗi với mẹ, với chồng con! Con xin mẹ tha thứ cho con. Con cố gắng đợi anh Yên về, anh ấy bắt tội con thế nào con xin chịu hết! Con chẳng đổ lỗi cho ai. Lỗi tại con! Tại con tất cả. Sao đời con khốn khổ thế, mẹ ơi?!                           
Hai người đàn bà – một già, một trẻ, xa nhau cả nửa thế kỷ vậy mà vẫn mang nỗi đau cay nghiệt của chiến tranh! Giờ đây họ lẻ loi đơn chiếc mà vẫn ráng vực nhau dậy, dựa dẫm  vào nhau để đứng được giữa cuộc đời này!.

Sau ngày hôm đó, có một vài lần, ông Chủ tịch lúc đi một mình, lúc cùng với người này, người nọ ghé vào nhà thăm bà và chị. Bà cán bộ phụ nữ xã là cháu gọi ông Chủ tịch bằng cậu, thường xuyên đến nhà chị chuyện nhỏ, chuyện to.
Một hôm ông Chủ tịch gọi anh Quỷnh tới dặn dò:        
- Ngày mai có cuộc họp liên tịch của xã về chuyện của anh. Tôi không có mặt. Tôi chỉ nhắc anh rằng ai nói sao mặc họ, anh chỉ biết nghe và rút kinh nghiệm mà thôi!      
Anh Quỷnh tỏ ra lo lắng:                                       
- Con nghĩ có bố thì họ sẽ nể, có nói họ cũng nói nhẹ đi…                             
Anh chưa nói hết câu, ông chủ tịch đã bực dọc ngắt lời anh:                          
- Bây giờ tôi mới biết là anh dốt! Anh chỉ là loại ăn no, vác nặng, hứng lên nhắm mắt làm bừa mà thôi! Liệu rồi anh có khôn lên được?!
Những ngày cuối năm, phải giải quyết cho xong mọi việc để bước sang năm mới. Cuộc hội nghị liên tịch của xã vắng ông Chủ tịch vì phải lên Huyện họp, có ông Phó Chủ tịch chủ trì. Bà đại diện Hội Phụ nữ đọc biên bản  vẻn vẹn mấy dòng cùng chữ ký của chị Bình tôi: “Tôi có thai với Trời vơí Đất, do ý của tôi. Tôi chỉ có lỗi với chồng tôi. Không có ai liên lụy đến chuyện này!”
Mấy người hăm hở định nhân chuyện này lật đổ cha con ông Chủ tịch, ngồi ngay như phỗng! Họ cố vặn vẹo được mấy câu nhưng chẳng thể ghi vào biên bản. Anh Quỷnh cứ ngồi yên như ngậm hột thị mà lòng nôn nao. Câu cuối cùng ghi trong biên bản có chữ ký của mọi thành phần là: “Nhắc nhở đồng chí Quỷnh cần rút kinh nghiệm trong mối quan hệ với nhân dân!”.
Trên đường về, lòng anh nhẹ thênh thênh. Anh nghĩ cha anh là nhất! Ông cao kiến thật! Anh tuổi Thân, năm nay năm Dần, ông đã giải hạn cho anh! Anh nhoẻn miệng cười, nghĩ mình khỉ thật! Vợ anh lỏm nghe được ý nghĩa trọng yếu của cuộc họp trên xã ngày hôm nay, chị bồn chồn gan ruột, quẩn quanh ở nhà không dám ra đồng. Mặt trời sắp lặn mà chị vẫn chưa bụng dạ nào đặt được nồi cơm lên bếp trong khi nửa tiểu đội thiếu sinh quân luôn háu đói túc trực trong nhà! Ngóng ra cổng, thấy bóng chồng về miệng cười toe toét, gan ruột chị như lộn hết ra ngoài, buột miệng văng ra tất cả những nỗi bực tức hờn giận dồn nén bấy lâu:                       
- Rõ là cái đồ mặt dày mày dạn! Giơ cái mặt mo ra cho làng nước người ta xỉ vả mà còn cười nhăn nhở!              
Anh thẳng tay cho chị một cái tát như trời giáng, con mắt nổ hoa! Đó là sự giải phóng đôi tay bị trói buộc bấy nay! Chị lăn đùng trên sân, rẫy đành đạch, miệng la oai oải! Lập tức dàn đồng ca nửa tá vần Q phụ họa! Ông Chủ tịch từ huyện về, dắt xe vào cổng, cám cảnh lắc đầu...

Tháng 5 năm 1975, trong khi cả nước râm ran tiếng pháo mừng chiến thắng, làng xóm kẻ cười, người khóc về sự hợp – tan thì chị Bình tôi một mình lủi thủi, ậm ạch mang túi xách tới nhà Hộ sinh xã và sinh một đứa con trai. Chị nhìn con vừa mừng, vừa sợ: cuộc đời chị từ nay không còn đơn lẻ! Nhưng anh về, chị biết nói sao! Lần đầu tiên trong đời, chị cất tiếng gọi: “con ơi!” mà nước mắt ràn rụa… Chị mừng hay thương cho con chị?
Thằng bé đỏ hỏn, nhăn nheo, sao biết được là nó giống ai, vậy mà đã nghe đồn  đại khắp làng: Thằng cu giống anh xã đội ở cái thân lực lưỡng và giống ông Chủ tịch ở cái trán hói trợt, tóc lơ thơ! Ông Chủ tịch biết lời độc miệng từ những người ấm ức với ông. Ông nhổ bọt lầm bầm:                     
- Mẹ cha những thằng phá đám!

Tôi về thăm chị vào dịp đầu năm. Thấy tôi, chị khóc nức nở, không nói được gì. Thằng cu chưa đầy một tuổi, cũng chẳng bụ bẫm gì vì ngoài vú mẹ day dứt cả ngày, nó chỉ ăn thêm cháo và bột gạo với chút đường vàng! Tôi không dám nói với chị về chuyện tôi đã gặp anh Yên ở Tây nguyên năm ấy. Tôi cũng không thể giải thích cho chị vì sao anh Yên vẫn bằn bặt không có tin về. Đêm ấy, tôi ở lại bên nhà chị. Khuya, tôi bỗng dưng trở bụng, phải tìm ra nhà sau ở phía cuối vườn... Bỗng tôi nghe có tiếng động và thấy bóng người từ ngoàii đường vượt tường nhảy vào vườn. Người đó lực lưỡng, đi thẳng tới cửa sổ buồng chị Bình tôi, ghé vào và se sẽ gọi: - Bình ơi!
- !
- Cô Bình ơi!
                                                                                                                                          
Lát sau, chị Bình tôi ra tới. Hai người đi tới một gốc cây bên bức tường bao, cũng gần nơi tôi đang đứng. Một cuộc nói chuyện vội vàng:                             
- Có tin gì của Yên không?                                    
- !                                                                               
- Cậu Thành có hỏi gì về chuyện của mình? Bình có nói tôi không?!           
- !                                                                               
- Bình mà nói ra, đời tôi hỏng hết! Nếu tôi không chết thì cũng phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi!                       Thì ra là anh Quỷnh. Anh cứ hỏi dồn. Chị tôi đứng đó. Sau cùng mới nghe được tiếng chị Bình tôi, bình tĩnh và tỉnh táo:                                                   
- Anh như quỷ ám tôi! Anh đã làm tôi hỏng mất đứa con đầu! Bây giờ tôi ra nông nỗi này anh vẫn chẳng buông tha! Tôi chỉ mong anh hãy để tôi yên! Anh đi đi!          
- Chị Bình bước quay vào. Anh ta còn năn nỉ với theo:
- Bình thương tôi… Bình nhé! – rồi anh nhảy vọt ra ngoài.                            
Tôi ghê tởm, nhổ bọt phì phì:                   
- Thằng đê tiện!                                                       
Tôi về giường, nằm thao thức cho đến sáng, vừa thương vừa giận chị Bình tôi. Tôi lại tự trách mình sao không nhân lúc ấy nhảy ra cho thằng đốn mạt kia một chập!...
Sáng ra, trước khi chia tay chị trở về thành phố, tôi hỏi ướm:                         
- Bố thằng này đâu? Sao chị không bắt nó phải cùng chung trách nhiệm?!  
Chị nói với tôi, giọng thiết tha:                             
- Chị chỉ mong cậu đừng nghĩ chị là đồ bỏ đi. Em hãy hiểu cho chị và thương chị. Khổ bao nhiêu chị chịu cũng được. Thằng bé chẳng tội tình gì. Nói cho nó biết cha nó là ai thì nó càng khổ thêm thôi! Chị vẫn cầu mong anh Yên về, anh ấy xử thế nào, chị xin chịu hết. Chị sẽ quỳ lạy anh ấy hãy nhận thằng bé làm con thì dù chết chị cũng cam lòng!          
Tôi nói lời an ủi chị:                                                           
- Nếu ngoài nhà nghĩ khác thì anh chị em đâu có thường xuyên về đây thăm chị!
Trên đường về, tôi nghĩ : Tối hôm qua mình không xông ra can thiệp vào chuyện riêng của chị, như thế mà hay.
Bà mẹ chồng chị suy sụp khá nhanh. Bà như người lẩm cẩm, suốt ngày ngồi chờ ngoài cổng, có bóng người đàn ông qua lại, cụ ngước lên đón hỏi:
- Yên đấy ư con?!
Đằng đẵng hàng năm chờ đợi mỏi mòn, rồi cụ quỵ xuống, nằm bất động. Chị Bình đã làm hết sức để chăm sóc bà mẹ già tội nghiệp, chị coi đấy là cách chuộc lỗi với bà. Ngay những người thờ ơ cũng phải thốt lên:                       
- Thằng Yên có về cũng chẳng thể làm gì để đáp được cái nghĩa, cái ơn của vợ nó đâu!
Cả năm trời quần quật lo ngoài đồng áng, lo việc trong nhà, mẹ già bệnh tật, con nhỏ đau yếu, thiếu ăn... đã làm chị tôi hao mòn, héo hắt như một bà già. Rồi vào một chiều đông buốt giá, bà đã ra đi trong vòng tay của chị. Câu nói thều thào cuối cùng của bà:
- Đời mẹ đã khổ, đời con còn khổ hơn!
           
Sau năm 1975, lãnh đạo các cấp đều sắp xếp nhân sự có trẻ, có già xen kẽ để khỏi trống người kế tục. Anh Quỷnh đã thành người có tiếng. Ông Chủ tịch đủ điều kiện để bồi dưỡng người con cả kế nghiệp mình. Ông là Chủ tịch, con ông là phó Chủ tịch, cũng chẳng ai nói được điều gì, vì ông ngồi đấy chẳng còn bao lâu nữa. Nhưng ông nghĩ xa hơn. Ông bảo con ông:
- Anh không thể ở cái xã này! Mai kia cái thằng nhỏ ấy nó lớn dần lên, càng ngày càng rõ là cái mặt ấy, mặt này chớ ai. Vô phúc thằng Yên nó sống sót trở về, lúc đó anh biết ăn làm sao, nói làm sao với làng, với nước?!      
Anh Quỷnh băn khoăn:
- Chuyện thằng nhỏ phải tính làm sao?               
Ông lắc đầu nhìn anh:
- Tôi nghĩ không sai. Cái đầu óc anh vẫn còn tính quẩn! Nhà này không thiếu gì đứa nối dõi tông đường. Con tôm, con tép anh chỉ được bắt một con thôi! Đây là cái dịp tốt nhất để anh dứt bỏ. Anh phải đi xa nhưng phải là cao hơn khi anh ở cái làng này!                    
Ông thuộc lớp lão trượng trong huyện. Bạn bè, đồng chí ông nhiều người đang ở trên huyện, trên tỉnh, tất nhiên họ nể ông. Ông đã đề đạt với trên :
- Cha làm Chủ tịch, con làm phó Chủ tịch là không nên. Dù là khi tôi đã nghỉ thì cũng không nên để con kế nghiệp cha. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thiếu gì người có đức, có tài!
Người ta nghĩ  ông trong sáng và có lý, đã rút con ông lên huyện. Cái ghế Chánh văn phòng Ủy ban Nhân dân huyện là vị trí thăng tiến dễ dàng. Ông thỏa mãn động viên anh Quỷnh lẹ làng dứt áo ra đi.

Thời gian cứ trôi đi theo vòng xoay trái đất. Hồi đó mọi người đều tất bật, không ai nghĩ tới ngày, tới tháng. Cả nước lại lao vào cuộc chiến tranh biên giới. Nhìn con cái ngày một cao lên, cha mẹ thót tim khi thấy con mình đến tuổi tòng quân! Anh Yên vẫn bặt tin. Chúng tôi đã giúp chị Bình tìm hỏi nhiều nơi. Người ta xếp anh vào diện mất tích. Gia đình không hưởng chính sách gì. Trong chiến tranh, chuyện ấy cũng thường thôi. Chị vẫn luôn nhớ anh và mong ngóng có ngày anh trở lại. Chị lấy ngày anh đi tòng quân làm ngày tưởng nhớ hàng năm. Chị không dám làm như ngày giỗ, lỡ sao sẽ có tội với anh. Mâm cơm được đặt trên bộ ngựa giữa nhà. Chị thắp hương vái lạy Trời Phật, gia tiên:
- Cầu phù hộ chồng con là Nguyễn Đình Yên thoát mọi hoạn nạn, hiểm nguy, lòng luôn nhớ về quê cha đất tổ, đừng quên nẻo về nhà để vợ đợi, con mong!
Anh em, bạn bè thân thiết rót chén cượu nâng lên, chúc người ở xa động lòng nhớ về mái nhà xưa, bạn cũ. Chị rơm rớm mắt, cảm ơn cái tình thân thiết ấy.
Thằng bé con cứ lớn dần lên. Nó không có tên! Chị sinh ra nó trong hoàn cảnh ấy thì có ai là người đứng ra làm khai sinh cho nó! Ở nhà, chị cứ gọi nó là thằng Cu. Chị chẳng bận tâm, dù nó có lớn mấy thì vẫn cứ là thằng Cu của chị. Ra đường, ra ngõ chơi với chúng bạn, không biết duyên cớ gì hoặc có ai xúi vào mà bọn trẻ gọi nó là thằng cu Khoái để phân biệt với những thằng cu Tèo, thằng cu Tý, thằng cu Em... Gọi riết rồi thành danh. Đến lúc nó cắp sách tới trường làng, tên ấy được ghi đích danh trong sổ, chỉ thêm họ Nguyễn Đình của anh Yên. Cũng may là thằng cu Khoái khoẻ mạnh, trùng trục như trâu lăn, bọn trẻ cùng lứa lúc nào cũng sợ vì lôi thôi là nó tỉn liền, nhất là với những đứa nghe ai xúi bẩy nói móc máy chuyện xa xưa của gia đình nó thì nó quyết không tha. Có đứa hộc máu mồm, máu mũi làm mẹ nó nhiều phen liên lụy. Mẹ nó dỗ dành:
- Mẹ xin con, trách chi những đứa độc mồm độc miệng!
Nó đáp thẳng thừng:
- Thế thì phải cho nó phun hết cái độc trong mồm, trong miệng nó ra!          Mấy người lớn tuổi nói động đến gia đình nó, nó gườm gườm, lừ lừ như muốn cắn người ta và rồi vào một đêm tối trời nào đó sẽ có một viên gạch củ đậu văng trên mái ngói hoặc rớt  trên sân! Không ai bắt được quả tang nhưng nếu đừng trêu chọc nó thì họ cũng được yên. Dần dà người ta sợ nó. Ấy vậy mà ở lớp, nó tuy là đứa trẻ tinh nghịch nhưng sáng ý. Không mấy khi nó bị thầy cô quở trách về chuyện học hành. Nó lại hay bênh vực những đứa hiền lành, yếu đuối nên lúc nào nó cũng phải đương đầu với đám trẻ hùng hổ, đành hanh. Vậy nên có lúc nó cũng bị những trận đòn nhừ tử, cũng là cách tập cho nó tính lỳ đòn. Đau đòn mấy nó cũng cắn răng chịu đựng, dấu mẹ đến cùng vì nó rất thương mẹ. Nó biết tính mẹ hay tủi thân, hơi một chút là sụt sịt, nó nói:
- Có gì mẹ cứ bảo con. Việc gì mà phải khóc, người ta biết họ cười cho!
Nó khéo tay, thường giúp mẹ nhiều việc trong nhà. Nó mạnh mẽ, mang đúng tính khí đàn ông, nên tuy còn nhỏ nhưng nó cũng làm được chỗ dựa và là nguồn an ủi cho chị Bình tôi. Chị tươi dần lên và an phận. Nhan sắc của chị trở về hợp với cái tuổi trời cho của chị. Trong làng xóm, chị là một thiếu phụ mặn mà. Những kẻ vô công rồi nghề, ngứa miệng lại tìm chỗ khác lê la.

Những năm 1980 đi qua thật nặng nề. Gần cuối thập kỷ, đất nước mới thoát khỏi cuộc chiến tranh biên giới ở phía Tây Nam. Một hôm đi làm về, tôi thấy nhà đông người khác thường, ai nấy mặt mày hớn hở. Tôi ngỡ ngàng. Một người mặc quần áo bộ đội, cái tay áo lòng thòng bên phải, tóc ngắn, cứng và xoăn, mặt đen nhẻm giống như người Thượng, hàm răng trắng và nét cười quen làm tôi giật thót mình nhẩy đến ôm chầm lấy anh:
- Anh Yên!
Tôi không kìm được xúc động:
- Anh Yên ơi!  Mười mấy năm rồi còn gì kể từ khi anh em mình gặp nhau ở cánh rừng le Tây Nguyên ngày ấy!
 Tay tôi lần sờ, vô tình nắm lấy mỏm cụt ở cánh tay anh...
Anh được phục viên và từ đơn vị về thẳng nhà tôi. Chuyện nhà, anh có biết đại khái: Mẹ anh đã qua đời! Vợ anh có một đứa con! Bố tôi bảo:
- Cậu giờ già rồi, đã lạc lõng với thời thế, như người cổ xưa. Anh em góp ý giúp đỡ nhau thật tình. Người trong nhà không lo cho nhau thiết thực chờ xã hội quan tâm thì biết đến bao giờ!



ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment