Người nói riêng với tôi:
- Con phải biết ơn anh ấy! Ở đời, ai họ
thật lòng giúp mình không bao giờ họ nghĩ tới sự trả ơn đâu nhưng mình phải
luôn nhớ và sẽ giúp người khác vô tư… huống hồ là gặp lại ân nhân!
Tôi giữ anh ở lại mấy ngày vì với hoàn
cảnh của anh lúc này cũng không có gì cần nôn nóng. Anh kể cho tôi về lý do anh
xa vắng mười mấy năm rồi:
- Từ sau hiệp định Paris , tình hình biên giới ngày một biến động
theo chiều hướng xấu. Tình hữu nghị kém mặn mòi và có cái gì khang khác như
muốn phản nhau. Trực tiếp ở trên đất người ta, chúng tôi cảm nhận điều ấy sớm
lắm. Họ eo xèo, gây sự và làm rắc rối. Có khi cướp bóc tài sản, quậy phá kho
tàng, hãm hại người mình. Có lần chịu hết nổi, tôi cho anh em nổ súng tiêu diệt
mấy tên. Thế là họ lu loa, vịn cớ ấy, đuổi toàn bộ cả khu vực căn cứ của mình
vẫn đóng bấy lâu nay. Cấp trên thấy lớn chuyện liền kỷ luật bọn tôi. Cả đơn vị
đều cho về sản xuất! Có người bất mãn bỏ đi. Mấy anh em tôi vẫn kiên trì, kệ mẹ
nó, cho qua cái thời buổi chiến tranh, trước sau gì rồi mình cũng là anh nông
dân cày ruộng. Khi tình hình đã rõ ra rồi thì cấp trên nghĩ lại, gọi tụi tôi
về, cho phục hồi chức tước. Có đáng kể gì mấy cái chức quèn. Nhưng lúc nào mình
cũng là người lính dù rằng mình đã có lúc sống như dân. Tiện thể, người ta
chuyển chúng tôi sang Ban Quân báo, đánh vào đối phương sống trà trộn với dân.
Năm 1977, tôi được phép về thăm quê. Trên đường về, tới Sàigòn, tình cờ gặp
thằng bạn cùng học nhà ở xã trên. Nó mới đi phép về quê, bây giờ nó chuyển
ngành về thành phố Hồ chí Minh. Nó biết chuyện gia đình tôi, rủ tôi xin chuyển
ngành về chỗ nó. Tôi chán ngán và tự ái, lên xe quay về đơn vị. Lúc này chiến
sự đang mở rộng. Tôi theo mặt trận dùi mãi về phía Tây. Năm 1985, tôi trà trộn
vào lính Khmer đỏ, bị quân ta tập kích
bắn gẫy tay! Tôi càng có dịp cài sâu và đã có lần đến tận căn cứ Pailin là nơi
mà chỉ có quan và lính chọn lọc của nó mới được về đây chốt giữ… Bây giờ mọi
việc xong rồi người ta cho tôi giải ngũ. Tôi qua thành phố Hồ Chí Minh, gặp mấy
thằng bạn cũ. Nhưng tất cả đã muộn rồi. Cái thời người ta cần tìm bạn bè vây
cánh thì mình lại thờ ơ. Bây giờ bộ sậu đủ rồi. Vả lại, mình đã hết thời: thương
binh, luống tuổi, chỉ biết cày ruộng và đánh đấm thôi, ai nhận làm gì! Đành về
quê thôi, rồi sẽ tính sau...
Tôi thông báo đầy đủ cho anh mọi chuyện
ở nhà nhưng tôi không bàn bạc, khuyên can gì cả. Tôi nghĩ một người lính dày
dạn như thế, họ tự biết phải xoay xở thế nào trong mọi tình huống. Tôi biếu anh
ít vải, áo và mền ấm là những thứ cần thiết trước mắt cho người lính từ phía Nam ra
và đặc biệt tặng anh chiếc xe đạp Diamond của Đức, vào thời buổi đó là quý lắm.
Tôi cùng anh về quê...
Đang vào vụ. Mọi người ở hết ngoài đồng.
Cổng ngõ chỉ khép hờ, chúng tôi đẩy cửa bước vào. Chiếc sân rộng phơi đầy rơm.
Bầy gà quanh quẩn kiếm ăn. Chú gà trống trang kim mào mặt đỏ gay loanh quanh gạ
gẫm mấy cô gà mái. Mấy cô ả làm bộ lảng ra. Chú gà trống mổ một viên sạn nhỏ,
đặt lên đặt xuống rồi rít kêu lục cục... lục cục. Mấy cô gà mái te tái
chạy tới, châu đầu vào ngó. Chú gà trống bỏ rơi cục mồi giả, quay lại nhảy bổ
vào một cô gà mái đứng gần, cô ta hốt hoảng chạy thục mạng, kêu la rầm rĩ...
Chúng tôi đứng tần ngần một chút rồi quay qua bể nước mưa mát rượi. Anh cúi sâu
vào bể, bóng anh sóng sánh mờ mờ dưới đáy...
Căn nhà trống tuềnh toàng càng rộng
thênh thang. Trên đường làng, anh Yên gặp một vài người… Phút chốc cả thôn xóm
vắng teo náo động lên. Người ta chạy huỳnh huỵch ngoài đường, trong ngõ như có
giặc. Người kéo đến đầy nhà, đầy sân.
Chị Bình chạy một mạch từ ngoài đồng về,
vào được nhà thì hết hơi, chị quỵ xuống, mặt mày xanh lét, chân tay lạnh ngắt.
Mấy người vực chị lên tấm phản, xoa dầu, cạo gió. Thằng cu Khoái đứng nép ngoài
cửa, không ai dám kéo nó ra giới thiệu với anh. Khi tỉnh lại, chị Bình ngồi
dậy, kéo thằng con đến trước mặt anh:
- Lạy bố đi con!
Thằng Khoái đứng thừ người ra, đầu cúi
xuống mà mắt thì nghếch lên nhìn anh, cho hai ngón tay cái vào miệng nhai nhai
như chờ anh nói với nó điều gì. Chị quỳ xuống bên con, mấy lần giục nó mà thằng
bé vẫn đứng ì ra. Chị khóc òa lên. Anh Yên ngồi như tượng gỗ, nhìn chị, nhìn
thằng bé, chẳng ra buồn cũng chẳng ra vui. Rồi anh đứng dậy đi đến bàn thờ. Anh
trèo lên bộ sập, tay trái với cầm ảnh mẹ, người anh rung rung và như từ miệng
một ống bơm nước khổng lồ chợt òa ra. Anh khóc hu hu, rất to, từng chập, từng
chập… Chập sau lớn hơn chập trước, vai anh rung lên, cánh tay cụt lắc lay trông
càng tội nghiệp. Những người có mặt ở đó, đàn ông nước mắt chảy tràn, đàn bà
thút thít, chỉ có đám trẻ là trố mắt nhìn mọi người, có đứa còn nhe răng cười.
Thằng cu Khoái giơ tay quẹt ngang đuôi hai con mắt.
Bữa cơm họp mặt đầu tiên sau hàng chục
năm xa cách mà không ai ăn được. Thằng cu Khoái quanh quẩn dưới bếp, không chịu
lên. Chị Bình phải xuống kéo nó. Chân tay nó gân lên cưỡng lại. Anh Yên lên
tiếng:
- Ê, vào đây mày! – như anh gọi bạn.
Thằng bé không dám chống lại nữa, theo
tay mẹ len lén bước vào. Anh vẫy nó lại gần, xoa đầu và hỏi:
- Tên gì?
- Dạ! Cu Khoái!
Anh bật cười:
- Ai đặt tên kỳ vậy? Mày khoái lắm sao…
cu?!
Anh lại cười to hơn. Đôi mắt nó thao láo
nhìn anh, đôi mắt sáng trong mà rực rỡ, mặt nó tươi lên, miệng nó toe toét
cười… nhưng nụ cười ấy dừng ngay lại, đôi mắt lộ vẻ ngạc nhiên, mặt nó xịu
dần... vì nó thấy tiếng anh cười lạ quá: Khặc khặc!… Khặc khặc khặc!…
Hai ba tiếng một, mặt anh xám ngoét, nước mắt anh túa trào ra. Chị Bình không
dám nhìn anh, cúi xuống, tay cầm đôi đũa cả bới bới nồi cơm, nước mắt rơi lã
chã, nói trong nghẹn ngào:
- Tôi xin mình! Mình tha tội cho tôi!
Trẻ con nó chẳng tội tình gì!
Chị bỏ chạy vào buồng...
Làng xóm sau cơn xúc động ban đầu, bây
giờ họ theo dõi mọi động tĩnh của nhà anh. Ông Chủ tịch mới, bạn bè trang lứa anh
Yên, đến thăm vui vẻ. Anh trình bày đủ
thứ giấy tờ. Ông Chủ tịch nói động viên anh:
- Chiến tranh ông ạ! Về được thế này là
mừng! Chúng tôi thực hiện đầy đủ chính sách cho ông!
Trong nhà anh không một lời to tiếng,
mỗi người một việc. Tuổi tác và thương tật của anh khiến chị tôi vẫn là người
lao động chính trong nhà nhưng có anh, chị thấy yên tâm như từ nay nhà có nóc.
Chị tìm mọi cách để chồng và con gần lại với nhau. Nhưng cả hai cứ ngãng ra thế
nào!
Thực ra, thằng cu Khoái, từ lúc còn năm
bảy tuổi nó đã từng nghe những người lẻo mép thọc vào chuyện gia đình nó. Nó
ghét lắm, phản ứng lại liền. Nó nghe mẹ nó, chỉ biết cha nó là Yên, đi bộ đội
chưa về. Lớn dần lên, nó mù mờ cảm thấy có chuyện gì, nhất là cả làng ai cũng
bảo nó giống cha con ông Chủ tịch. Có lần nó cầm tấm ảnh của nó so với tấm ảnh
anh Yên. Mẹ nó thấy, bảo hai người giống nhau cái tai dài dài và cái tóc đen
lởm chởm. Nó chẳng nói gì. Nhưng bảo nó là cái giống nhà ông Quỳnh ông Quỷnh là
nó tức lắm! Cả cái nhà ấy, nó không ưa. Ông Chủ tịch đi đường, thấy nó ông tảng
lờ như không biết! Bà Quỷnh gặp nó nếu không hấm hứ thì cũng nhổ toẹt một đống
nước bọt to như bãi cứt trâu! Mấy đứa con nhà ấy mặt cứ vênh vênh ra chiều
khinh nó! Ông cả Quỷnh từ xa thấy nó thế nào cũng quẹo qua đường khác!
Bây giờ thì cả nhà ấy đang như thuyền
gặp mùa nước nổi. Ông Chủ tịch đã nghỉ hưu nhưng với tuổi tác và bề dày kinh
nghiệm, người ta mời ông làm chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã và có chân
trên huyện. Cha khôn, con sướng. Ông thật là người biết nhìn xa. Lên huyện, anh
Quỷnh được xếp vào lớp trẻ, có thành tích, có truyền thống gia đình, anh tiến
như diều gặp gió. Người ta bồi dưỡng cho anh đủ thứ kiến thức: văn hoá, chính
trị, kinh tế. Anh theo học hệ đào tạo từ xa, vừa làm vừa học, lúc nào
anh cũng bám sát phong trào thực tế của địa phương. Bằng cấp anh có đủ. Thế là
anh lên phó Chủ tịch huyện, rồi lên tỉnh làm phó Ty Thương nghiệp. Anh đem cả
vợ và bầy con lên tỉnh ở. Hai thằng con đầu anh cho đi lao động hợp tác ở Đức
và Tiệp, toàn là những nơi lý tưởng. Chị được giao làm cửa hàng trưởng Cửa hàng
bách hoá. Chị chẳng phải lo vì anh đã dặn: Vừa làm vừa học. Lúc nào cũng phải
dựa vào tập thể thì mọi chuyện đều xong! Chị thường về làng tiếp tế cho hai ông
Chủ tịch già. Mỗi lần qua cái nhà xí hai ngăn, chị nhổ phì phì, kêu: Mất vệ
sinh! Thấy cái gì dơ bẩn, lấm lem, chị hét: Eo ơi, ghê quá! Chẳng hiểu ai
đặt bài vè, xúi trẻ đọc rêu rao khắp
xóm:
Xưa cô chân lấm tay bùn
Quần
xắn tới háng chôn thời hở ra
Nay
cô khăn gấm lụa là
Chôn
dầu phủ kín vẫn là... chôn đen!
Thằng cu Khoái cũng thuộc và nó là thằng
tích cực dạy truyền miệng bài ấy cho bọn trẻ trong làng. Cả nhà anh Quỷnh biết
chuyện đó.
Từ tấm bé, mẹ nó chỉ nói tới bố Yên. Nó
nhìn thấy bố trên ảnh hiền từ. Bây giờ là một ông lạ hoắc, đen thui, cái cánh
tay phải ngắn củn như một khúc cây ngoe nguẩy, cả ngày ít nói. Với vợ con chẳng
ra giận cũng chẳng ra thương. Mẹ nó thì cứ thin thít dạ, vâng. Có điều gì cần
nó thì gọi: Ê, nhỏ!… lấy cái này, làm cái kia... Một hôm nhà vắng, chỉ còn hai
bố con. Anh ngồi hút thuốc bên tràng kỷ. Nó hì hụi ngồi làm mấy việc trong nhà.
Anh nhìn nó đằm thắm, vẻ yêu thương lắm. Anh vẫy nó lại. Nó mạnh dạn tới gần.
Anh nắm tay kéo nó vào lòng, vuốt tóc, xoa má, nhìn thẳng vào mắt nó. Anh thốt
lên:
- Mày giống ai?
Nó thật thà:
- Không biết nữa!
Có lần anh tâm sự với tôi:
- Mình rất thương cô ấy. Cô ấy không
phải là người bội nghĩa, quên tình. Đời lính chúng mình nguy nan, sống chết,
cực thật đấy nhưng lại rảnh rang. Có lo là chỉ lo cho cái thân mình. Người đàn
bà ở nhà một mình lo trăm việc, cho mình thì ít, cho người thì nhiều, lại phải
lo phòng thân nữa! Ngày xưa mới có chuyện mẹ Mốc. Bây giờ chẳng ai điên
mà làm như vậy, nên mới dễ xẩy chân! Nhưng mình là thằng đàn ông, cậu ạ! Quên
đi thì thôi, nghĩ tới… là máu dồn lên cổ! Có ăn nằm với nhau cũng như ăn cơm
nhạt với mèo! Lại thêm lúc nào trước mắt mình cũng lù lù một cục nợ, càng gai
con mắt! Thà rằng mình vô sinh, đi xin một đứa con nuôi. Đằng này nó đấy, hiển
hiện đêm ngày, mở mắt ra, nhắm mắt lại đều thấy nó! Nó là kết quả của phút giây
khoái lạc của thằng vô lại mà mình phải hứng chịu trong khi nó nhởn nhơ! Trong
chiến tranh, mình đã qua bao nhiêu những làng xóm chết chóc, hoang tàn, gặp
những đứa trẻ cù bất cù bơ, lang thang, hoang dại cùng với bầy chó đói! Mình
phẫn uất, xót thương, ôm chúng vào lòng
che chở và chia từng khẩu phần ăn với chúng. Nhưng đấy là chuyện khác. Có lúc
mình đã dằn lòng, nghĩ cũng xót xa cho nó, mình ôm lấy nó muốn vuốt ve, bảo
bọc. Nhưng cậu biết không, cái mặt nó lồn lột giống ai như thế... làm mình muốn
điên lên! Tôi vẫn biết rằng thằng bé vô tội. Nhưng mình và nó cứ dày vò nhau,
thằng nào cũng khổ! Chị cậu tưởng như tôi thù oán nó, đêm ngày cứ khóc tỉ ti...
Thật tình là nếu tôi rơi vào cảnh ngộ
như anh, tôi cũng không biết mình sẽ ứng xử thế nào. Tôi nghĩ ba con người ấy
cùng sống chung dưới một mái nhà nhưng trong lòng mỗi người mang nỗi khổ đau
riêng. Không người nào hiểu được cho nhau. Mà điều nghiệt ngã là không ai trút
bỏ nỗi đau đi được và càng để lâu càng bị giằng xé, dày vò! Tôi nhớ lại hồi
sống ở rừng, bị sốt rét phải uống thuốc quinine. Viên thuốc kẹt ở cổ,
không dám nhổ ra, để lâu càng đắng, nuốt vào thì nhợn, có khi nôn thốc tháo ra
tưởng chết. Nhưng trong lòng tôi thấy lo lo, vì với người lớn tuổi họ cần phải
sống dựa vào nhau nên người ta biết chịu đựng, rồi như cam phận. Còn đứa trẻ đang lớn lên kia, sẽ tới một lúc nào
đó, nó sẽ dứt tung ra...
Cho tới một ngày chị tôi có dấu hiệu mang
thai thì cả nhà tôi ai cũng thở phào nhẹ nhõm, hy vọng rằng đó là cứu cánh duy
nhất để ba người thân thiết của tôi ra khỏi vòng bế tắc. Nét mặt anh chị tôi
nhiều khi tươi tỉnh. Trong nhà đã nghe thấy tiếng cười.
Thời gian hờ hững trôi đi, chẳng mong
ngóng chi mà cũng chẳng lưu luyến điều gì. Đã lâu rồi, hôm nay thằng cu Khoái
mới đến nhà tôi. Nó đã 15-17 tuổi rồi còn gì. Hồi bé thì nó trùng trục mà bây
giờ thì nó cao nhẳng, đen thui, tóc tai lởm chởm, mặt mày hốc hác. Tay nó xách cái túi con con. Nó đi chơi hay nó đi đâu mà
trông có vẻ buồn bã, âu sầu?! Mãi tới lúc ăn cơm, nó mới nói cho cả nhà nghe:
- Mẹ con đẻ em bé gái… mà cái tay nó làm
sao… ngắn cũn, như mọc từ… nách ra!
Tôi buột miệng:
- Dị tật bẩm sinh rồi!
Mọi người đặt bát xuống, miếng cơm còn
nuốt dở! Mẹ tôi kêu trời:
- Thật là Trời hành con bé!
Bố tôi ngậm ngùi than:
- Thân phận người đàn bà khốn khổ đến
thế là cùng!
Thằng bé chớp chớp con mắt. Tôi nghĩ tới
anh Yên: Bố mày khổ đâu có thua gì!
Ngay chiều hôm ấy tôi bổ về thăm chị.
Tôi bảo thằng cu Khoái cùng về. Nó buồn rầu nói:
- Bố con đuổi con đi!
Trong lúc vội vã, tôi dặn nó:
- Thôi, con cứ ở đây. Cậu về xem đầu đuôi
sự việc!
Nhà vắng tanh. Tôi nhìn vào buồng, chị
tôi nằm đấy, sụt sùi! Thấy tôi, chị ngồi bật dậy:
- Cậu ơi! Thằng Cu nhà tôi có ra ngoài
ấy không?
- Có, nó đang ở nhà em! – Tôi đứng bên
giường chị, nhìn đứa bé khăn tã bọc kín mình, chỉ lộ có cái mặt bé xíu nhăn
nheo. Tôi tránh không hỏi gì. Anh Yên từ dưới bếp đi lên, không kìm được xúc
cảm, anh gục đầu vào vai tôi, giọng nghẹn ngào:
- Tôi không chịu nổi, cậu ơi! – Vai anh
rung rung. Tôi ôm lấy vai anh, tình cờ nắm vào mỏm cụt cánh tay, cái khúc thịt
xương còn lại ấy teo quắt, run rẩy trong nắm tay tôi. Mắt tôi mờ nhòa. Chị tôi
nói trong tức tưởi:
- Tại tôi, tại tôi tất cả! Bố mẹ tôi
vụng đường tu nên tôi phải trả nợ kiếp này! Tôi làm sao cũng được. Chỉ thương
cho thằng bé, nó chẳng có tội tình gì!
Lúc này anh đã bình tĩnh lại, vẻ vững
vàng hơn, ngồi xuống bên giường vợ. Tôi hỏi:
- Chuyện thằng cu Khoái thế nào?
Chị nhìn anh không nói. Giọng anh rầu
rầu:
- Đón con bé về nhà. Tôi như người mất
trí. Nó cứ quấn lại hỏi: Cái tay em bé làm sao thế? Cái tay em bé sao lạ vậy?
Tôi phát điên lên, không hiểu mình đã làm gì!
Chị giọng đầy nước mắt:
- Ông xô nó ra và hét ầm lên: Cút đi!
Mày không phải là con tao!
Chị khóc thành tiếng và nói xen vào
trong tiếng khóc nghe càng ai oán:
- Trời ơi! Nó là con tôi! Tôi mang thai
và sinh ra nó trong đau khổ, đọa đầy. Tôi tủi nhục! Nó cũng chịu tủi nhục với
tôi! Mang tiếng đứa con không cha, nó sống
sao được với bạn bè! Tôi cho nó dựa vào anh! Bấy lâu nay nó cũng bấu víu
vào niềm tin ấy! Thế mà anh nỡ lòng nào! Anh đâu có thương xót gì tôi! Cu ơi!
Đừng đi đâu cả! Mẹ không cần ai hết! Về đây với mẹ đi con!...
Anh ngồi sững sờ như một tượng đá mờ mờ
trong bóng tối. Tôi nói vài lời an ủi cả anh và chị.
Ngày hôm sau tôi trở ra thành phố. Bố mẹ
tôi bảo thằng cu Khoái không chịu ở đây, nó đòi về nhà nó...
Chừng nửa tháng sau, anh Yên đạp xe từ
quê ra, hớt hải đưa tôi xem lá thư ngắn ngủi:
Mẹ!
Con đi đây! Mẹ đừng mất công tìm con vì
con cũng chưa biết đi đâu! Không có con chắc bố hết buồn! Cả làng chỉ có mình
mẹ thương con. Nhưng mẹ còn phải thương bố, thương em!
Thôi,
con chào mẹ!
Con
là thằng cu Khoái.
Anh nói như muốn khóc:
- Nó mà không về chắc cô ấy chết mất… mà
tôi cũng không sống nổi!
Tôi đã linh cảm chuyện này rồi. Nó đang
học lớp 9, ở cái tuổi dở dở ương ương này, thoát ra khỏi vòng tay cha mẹ là
nguy lắm! Bao nhiêu là cạm bẫy, tai ương. Cả
tuần tôi với anh lùng sục các phố phường, bến xe, bãi chợ, bến tàu, lang thang
các ngõ phố, gầm cầu... ngó trước nhìn sau... không thấy! Anh thẫn thờ trở về
nhà.
Mấy tháng sau cũng không thấy tin tức gì
của thàng cu Khoái. Anh nói với tôi giọng đầy lo lắng:
- Cậu ơi! Nếu nó bỏ nhà ra đi luôn không
về thì tôi ân hận lắm! Nếu đời nó không may rơi vào hố sâu, vực thẳm, tôi thành
người có tội! Ngày ngày nhìn đứa con tật nguyền, nhìn vợ sầu não, rũ rượi như
người sắp chết, tôi cảm thấy như mình sống trong cảnh âm ty, địa ngục! Cậu có
cách nào giúp tôi?!
Tôi đã trình cảnh sát, đăng báo nhắn tin
trên đài truyền hình:
“Bố là Nguyễn Đình Yên. Mẹ là Nguyễn Thị
Bình. Nhắn con là Nguyễn Đình Khoái, 17 tuổi, bỏ nhà đi đã mấy tháng nay! Con
về ngay. Bố mẹ sống không thể thiếu con. Ai biết cháu ở đâu nhắn về cậu Thành,
nhà ở phố Lò Đúc số... Điện thoại số... Gia đình xin hậu tạ!”.
Anh Yên như ngồi trên tổ kiến lửa, đã đi
đến các thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn, Điện Biên... là
những nơi hội tụ những người tha phương phía Bắc đến tìm sinh kế.
Những lần tôi có dịp vào công tác ở các
tỉnh phía Nam ,
tôi đều kết hợp thăm dò tin tức cháu. Tôi đã đến tận khu kinh tế mới Lâm Đồng,
Đồng Tháp, Cà Mau... là những nơi tập trung nhiều người từ phía Bắc vào đây lập
nghiệp.
Chị tôi ngày một võ vàng. Bao nhiêu ngày
tháng trông ngóng mỏi mòn khiến chị tôi thành người mê tín, hay đi lễ chùa gần
chùa xa, thậm chí còn tin vào bói toán! Con bé đã lẫm chẫm biết đi. Nó giống
mẹ. Khuôn mặt thật là đẹp. Mấy chiếc răng sữa trắng muốt. Nụ cười tươi tắn hồn
nhiên. Đôi mắt sáng, to, trong vắt... đẹp như tranh. Nhưng từ hai nách nó trồi
ra hai bàn tay ngắn cũn, vẫy vẫy như cánh con vịt con vươn lên đập đập, trông
thật não lòng! Không biết ai đó gọi nó là cô Tiên cánh cụp cánh xòe rồi
cũng thành danh, một vùng đều biết...
Bỗng một ngày nào trong làng phao lên một
nguồn tin: Anh Quỷnh giờ đã lên làm tổng giám Đốc Công ty du lịch tỉnh. Anh
giàu lắm, mở khách sạn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thằng cu Khoái đã lên
tỉnh lén tìm bố đẻ và anh đưa nó vào Sài Gòn trông nom khách sạn cho anh. Nó
vẫn kín đáo gởi tiền về cho mẹ nó. Nhiều người tò mò tìm cách dò la. Có người
thèm muốn và tỏ ra ganh tỵ!
Lời nói gió bay. Miệng thế gian dựng
chuyện, ai nghe ai bỏ mặc ai! Đúng là anh Quỷnh đang làm Tổng Giám Đốc Công ty
du lịch, cả tỉnh đều biết. Người ta còn biết vợ anh làm ăn thua lỗ, nay chuyển
qua làm giám đốc Nhà trẻ mồ côi SOS do quốc tế bảo trợ, việc này chẳng
lỗ lã gì, cũng có lộc chút đỉnh, lại được tiếng thơm từ thiện như việc làm để
phúc đức lại cho con cháu đời sau. Còn việc anh Quỷnh có khách sạn ở đâu thì ai
mà biết được! Dù thằng cu Khoái có ở SàiGòn hay ở trên trời dưới đất thì đã ai
nhìn thấy nó? Thực tế là tình cảnh anh chị tôi ngày một khó khăn vì chị Bình
sức khoẻ sa sút nhiều, anh Yên dù có ráng lên cũng đâu bằng được người ta,
thằng cu Khoái nếu ở nhà cũng giúp được nhiều, nó chẳng chịu thua ai. Tiền của
dành dụm được chút đỉnh lại đổ vào việc đi tìm kiếm nó. Nhưng người ta vẫn cứ
nghĩ rằng anh chị tôi là người kín đáo.
Anh Yên mới đích thân đi một chuyến các
tỉnh phía Nam
về. Thằng bé vẫn như chim trời cá nước. Người anh hốc hác. Tóc anh bạc nhiều.
Anh thành người trầm ngâm và hay suy lý. Anh nói:
- Mỗi khi nghĩ đến những ngày thằng bé
sống cạnh mình với những hẹp hòi cố hữu, mình càng thấy thương nó và tự trách
mình. Nỗi đau của mỗi người chỉ tự mình hóa giải được thôi. Nếu cứ lần tìm căn
nguyên rồi đi đòi nợ thì đó là món nợ khó đòi vì con nợ… là tất cả mà cũng
chẳng là ai! Mỗi người vừa làm con nợ, vửa là chủ nợ! Ở đời, người ta nợ lẫn
nhau, tôi đã vỡ ra cái nợ đồng lần. Vợ mình hiểu được điều ấy trước mình!
Đã ba, bốn năm rồi thằng cu Khoái vẫn đi
biền biệt. Anh chị vẫn nhân ngày sinh của con bé Tý để cả nhà nghĩ tới thằng
anh nó. Năm nay anh nói với tôi bằng nỗi lòng đau đớn và day dứt:
- Có thể là mình đã bị nhiễm chất độc
hoá học chiến tranh! Mình không nên sinh đẻ nữa. Như con bé Tý này: Bây giờ thì
khổ mình, sau này thì khổ nó! Để sinh ra nó là mình đã có lỗi. Nhưng cũng có
thể châm chế được vì có ai ngờ được… Nhưng để một thằng bé lành lặn thơ ngây,
cũng như mình phải gánh chịu nỗi oan nghiệt của chiến tranh lại không thể dựa
vào mình mà phải lao vào cảnh bơ vơ lúc tuổi đời còn non nớt thì thật là tội
lớn! Có một thời ta đã dám quên mình vì nghĩa lớn, nhưng rồi ta lại sa vào
những toan tính nhỏ nhen. Mình đòi phải được bù trừ lại những cái gì đã mất.
Như bát cơm đổ xuống đất rồi, dẫu vớt lên đầy sạn vẫn vơi! Mình già rồi mà còn
mông muội! Mình vẫn trong vòng xoáy của lòng ích kỹ, nhỏ nhen.
Chia sẻ nỗi khổ đau của anh, của chị,
năm nào vào dịp ấy tôi cũng đăng lại tin tìm người thân trên báo, trên đài...
Bỗng một hôm tôi nhận được bức điện khẩn:
“Con bị nạn! Bố mẹ lên ngay tại Bệnh
viện Bắc Cạn – Khoa Ngoại – Phòng A.
Con
Khoái!”
Tôi phóng ngay về quê, kín đáo bàn với
anh dấu chị. Tôi rủ anh ra Hà Nội và anh em tôi đi xe thẳng lên Bắc Cạn...
Thằng bé nằm ngay đơ, khắp người bột
băng trắng xóa, mặt mày rách mướp. Anh cúi xuống run run:
- Phải Khoái không con?!
Từ cái khối trắng bột, băng ấy, hai mí
mắt và cái môi động đậy, cái chân phải từ từ co lại, cái tay phải giơ lên vẫy
vẫy nhẹ như cái lá úa rung rinh… Anh Yên ôm lấy cái thân hình thương tật ấy,
khóc nấc lên...
Thằng Khoái theo người ta đi đãi vàng
trong mỏ. Nó gặp trận mưa sạt núi, đất đá đè lên tưởng chết. Nó nghĩ là không
sống được nên nhờ bạn gọi bố mẹ lên để nó được nhìn lần cuối. Nó kết nghĩa anh
em với một thằng cùng cảnh ngộ: Bố chết trận. Mẹ làm lẽ người ta. Gia đình lục
đục, nghèo khó, ghen tuông... nên nó bỏ đi hoang! Hai đứa gặp nhau từ những
ngày đầu ở chợ Bến Nứa – Long Biên. Cùng cảnh bơ vơ cần nơi nương dựa, chúng
mau gắn bó với nhau. Hai đứa cùng bảo nhau và cùng giữ cho nhau không sa đà vào
trộm cướp, hút sách, lưu manh. Những người giàu có hạch sách, bức bách quá
chúng không chịu. Những kẻ cùng cảnh nghèo khó, khốn cùng lại sách nhiễu, trấn
áp lẫn nhau chúng cũng lảng ra. Trên đường kiếm sống chúng lang thang đây đó,
từng vào Nam
ra Bắc, lên rừng xuống biển, làm đủ thứ nghề: quét đường, hốt rác, bốc xếp,
chạy quán, thợ hồ, sơn tràng, làm rẫy... Nhưng ở đâu khá lắm cũng chỉ đủ ăn
ngày hai bữa nói chi đến chuyện dành dụm phòng khi ốm khi đau... Cuối cùng
chúng theo người ta vào núi đãi sạn tìm vàng. Chúng hy vọng chắt chiu được chút
nào đấy để thoát cảnh khốn cùng, tìm cách lập thân. Mặc dù bọn cai khống chế và
o ép, hai thằng biết bảo nhau là vừa ý chúng, che chắn cho nhau tránh né được
những con mắt tò mò, soi mói. Chúng thề cùng nhau giữ tròn tình trước nghĩa sau
cho dù chẳng may đứa còn đứa mất. Bây giờ gặp rủi ro, cũng may là
thằng cu Khoái qua được cơn choáng chấn động ban đầu, chỉ bị gãy xương chân và
tay trái. Chúng tôi bàn cùng đưa bạn nó về luôn...
Chuyến xe riêng đỗ ở bến chợ bên kia
sông. Chiếc cầu bắc trên con sông đào chạy dọc theo làng cặp thẳng đầu đình.
Mấy người chúng tôi luộm thuộm lôi thôi dìu nhau kềnh càng bước trên cầu.
Chiếc xe du lịch bóng loáng từ trong
làng chạy ào ra bóp còi inh ỏi. Chúng tôi líu ríu nép sát thành cầu. Chiếc xe
vùn vụt chạy qua. Trong xe lố nhố mấy người. Mắt thằng cu Khoái vậy còn tinh:
- Trông như vợ chồng nhà ông Quỷnh!
- Anh Yên đáp lại tự nhiên:
- Kệ họ, chẳng liên quan gì tới mình!
Chiếc
xe dừng lại ở đầu cầu phía chợ. Anh tài xế thò đầu ra ngoái lại nhìn rồi
quay xuống ghế sau nhận xét:
- Hình như ông Yên và thằng cu Khoái đã
về!
Người đàn bà to béo quay ra nhổ phì phì,
nước bọt văng vào mấy chú nhóc đang bám sau xe:
- Mặc xác cha chúng nó!
Người đàn ông to lớn, bệ vệ ngồi bên:
- Mấy đứa này về là hỏng việc!
Chiếc xe rồ máy lao đi. Mấy chú nhỏ tức
khí la lối um xùm, quay lại kể chuyện tùm lum, có điều thêm thắt.
Trong, ngoài sân đình, đám đông người
bàn tán xôn xao. Thấy chúng tôi, người ta kéo tới vây quanh:
- A! Thằng cu Khoái!
- Ô… Ồ… Ông Yên đã tìm được thằng cu
Khoái về đây!
- Nó ở đâu về mà trông thảm hại thế này?
Người ta đổ xô đến hỏi han, giúp đỡ. Kẻ
mang người vác, lúc cõng, lúc khiêng thằng cu Khoái rầm rập về nhà. Chị Bình vồ
lấy con, nấc lên la lối:
-
Ối giời đất ơi… Ai làm con tôi đau đớn, khốn khổ thế này?!
Nhà mỗi lúc một đông, vòng trong, vòng
ngoài, chật ních. Anh Yên đã mệt, càng muốn đứt hơi vì cứ phải kể đi kể lại
không biết bao nhiêu lần chuyện tìm được thằng con...
Chán chê, người ta quay về bàn chuyện
thời sự làng xóm chiều nay. Chẳng là anh Quỷnh về làng nói “Mặt trận” xã mời
các vị cao niên, chức sắc uy tín trong làng đến bàn việc trên Tỉnh dự định di
dời làng lên núi, lấy mặt bằng liên doanh với nước ngoài xây dựng khu giải trí.
Anh nói đây là dịp để bà con làng xã đổi đời:
- Bỗng dưng tiền vào một cục. Có bột sẽ
gột nên hồ! Con cái lớn lên có việc làm, có lương, có bổng!
Người gật, người lắc, người ừ hử chưa
biết thế nào. Họ nhận xét:
- Xem ý ông Quỷnh kiên quyết lắm… Ông ấy
còn tiến xa!
Một bà chép miệng:
- Ối dào, chẳng biết tiến tới đâu? Đi xe
về làng bóp còi inh ỏi! Kia kìa, ai đã viết câu đối ngay trước cổng nhà... gì
nhỉ?!
Một thằng bé nhanh nhẩu đọc luôn: Xe
– bố cu bóp còi! Ghe – mẹ đĩ tốc váy!
Người này người nọ mỗi người đế một câu,
cười nói râm ran. Một ông cụ buồn rầu nói xen vào:
- Vậy người chết chôn ở đâu ?!
Thằng cu Tèo, bạn thân của thằng cu
Khoái dạo nào giải thích luôn:
- Ông khỏi lo đi, mai kia chết người ta
đốt điện, còn có tý tro, chứa trong cái bình nhỏ xíu, để đâu chả được. Vợ con
thương nhớ tối ủ vào lòng càng ấm!
Mọi người nhao nhao, mạnh ai nấy nói:
- Eo ơi… ghê lắm!
- Cần gì, có tiền có tất, mình đang
nghèo xác xơ!
- Liệu rồi mình sẽ ở đâu?! Xưa kia đất
rộng sông dài sao các cụ chọn nơi này? Đất phải có cái thế mới mở mang, phát
triển trường tồn. Sống lâu, đất cũng như người, xa nhau khó lắm!
- Người ta sống lâu cũng chỉ bảy tám
mươi năm! Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào!
- Liên doanh làm chơi ăn thật tội gì!
Khi mọi người đã mỏi mồm, chán tai, sự
ồn ào lắng xuống. Thằng cu Khoái ngồi lên, dựa lưng vào mẹ, nó còn mệt mỏi nhưng nói nhẩn nha rành
rọt:
- Người nghèo có chút của, sớm muộn rồi
cũng chết! Làm giàu khó lắm, phải có bạn bè thân thế. Mình dân quê, ai chơi?!
Chơi dại càng mau chết! Làm đầy tớ tưởng như dễ dàng? Có làm như trâu ngựa cũng
chẳng chủ nào dùng lâu! Người giàu nào cũng muốn bỏ một lấy mười và khi không
chắc chân thì họ rút… Rồi ra mình lại bơ vơ, tay trắng! Cái chòi không có mà ở.
Đến chết còn phải trông vào bố thí! Chi bằng sẵn ao vườn ruộng đất, mình chí
thú làm ăn, giàu thì đừng ai mơ tới, nhưng nghèo hèn thì chẳng đến mình. Nhà
cửa đề huề, gia đình êm ấm... Ai có tài thì hãy ra đi, nhưng phải có cái gốc để
mà nhờ cậy...như tôi!
Nó ôm choàng lấy mẹ…
Mọi người cứ ngồi im suy ngẫm, chỉ nghe
được tiếng sùi sụt của chị Bình tôi... Anh Yên đến, đặt con bé Tý ngồi bên, xoa
tay con bé rồi lại xoa chân thằng bé, anh nói vẻ hài lòng tin tưởng:
- Nhà mình mỗi người mỗi cảnh, nhưng bốn
cái lá rách biết đùm lại cũng thành một cái lá lành! Bố mẹ già rồi, giao lại
tất cả cho con!
Tôi nhìn thằng cu Khoái ngồi đấy, người
còn xanh xao, hốc hác nhưng đôi mắt nó không còn vẻ u buồn như hồi nào. Nó nhìn
bố, nhìn em đằm thắm. Tôi nghĩ vậy là anh chị tôi còn có phúc. Bây giờ khi mỗi
người đã quên đi nỗi đau của riêng mình để chỉ nghĩ đến nhau, họ thấy cần nhau,
tin nhau, yêu nhau và cùng dựa vào nhau để đứng được trên cuộc đời này.
No comments:
Post a Comment