CHỊ TÔI - TRANG 2

bấy nay: xuất thân từ gia đình như vậy khó mà có được sự chịu đựng, trung thành! Chỗ này, chỗ nọ năm bảy người túm tụm than thở cùng nhau, họ kể lại những kỷ niệm về con em họ và khi chia tay, họ an ủi với nhau bằng niềm tự hào cố hữu: Chỉ có gia đình mình mới chí cốt vậy thôi! Nghĩ như vậy, nỗi đau thương của họ được xoa dịu phần nào.
Mấy hôm này loáng thoáng có người ghé nhà bà. Khi là bà hàng xóm, lúc là cô gái mới lớn nhà bên, có khi là anh du kích hay là một ông lão nhà mãi đầu đình. Hình như họ muốn dòm ngó cái gì. Họ xộc thẳng vào nhà bà tự nhiên, họ sục xuống bếp, họ ngó vào buồng bà, buồng chị lơ láo như tìm kiếm, có khi họ quanh ra sau bếp, ra cả tới chân đống rơm mục ở góc vườn. Lúc đầu, mẹ con chị mừng rỡ, tưởng có người tới được chia sẻ nỗi lòng. Nhưng mấy người chỉ chuyện trò vài câu đưa đẩy rồi lại quày quả bỏ đi. Bà già chân thật không hiểu ra điều gì, thân bà góa bụa từ thời son trẻ, có ai là người mặn mà san sẻ với bà? Nhưng chị tôi linh cảm được sự khác thường. Chị thật thà hỏi họ:
- Mẹ con tôi chỉ biết quanh quẩn từ nhà ra ruộng rồi lại từ ruộng về nhà. Ông bà, anh chị có biết thêm tin tức vì của chồng tôi và mấy anh em?
Có người thông cảm, yên lặng lắc đầu. Có người nói xa xôi bóng gió:
- Chà, thanh niên bây giờ có ba bảy loại. Có người xông pha mũi tên hòn đạn. Có kẻ mới xa hơi vợ đã không chịu được, lẩn trốn về nhà sống như con chuột!
Chị tôi đã hiểu họ nghi chồng mình. Chị nói lại với bà mẹ chồng, bà sợ hãi, run rẩy:
- Có thật không con?
Chị tôi nghẹn ngào:
- Con không muốn phải sống tủi nhục suốt cả đời mình lại đến đời con!
Bà lẩy bẩy đi đến bàn thờ, bà lầm rầm nói với chồng bà:
- Lạy ông sống khôn thác thiêng phù hộ độ trì cho thằng Yên mạnh chân khoẻ tay, da sắt mình đồng, thoát cơn binh lửa…
Bà gục đầu trên bàn thờ nức nở. Bà nghĩ đến cả một đời lẻ loi đơn chiếc của bà. Bà nhớ tới những nỗi tủi nhục và những lời thị phi dai dẳng mà thằng con của bà đã phải hứng chịu từ khi nó còn đỏ hỏn… Bà không muốn mất con! Bà không muốn con dâu bà góa bụa như bà! Bà muốn dòng máu của chồng bà cứ lưu truyền mãi… Nhưng bà cũng không muốn dòng họ nhà bà để tai để tiếng trong cái làng này!
- Ối giời cao đất dày ơi! –  không nén được lòng mình, bà buột miệng và ngước mặt lên. Bà giật mình: bóng một người đàn ông vạm vỡ lù lù đứng giữa nhà bà... Bà đã nhận ra cái bóng quen thuộc ấy là anh Quỷnh.
Bao nhiêu năm nay, gần đây anh xã đội Quỷnh mới bước chân vào lại cái nhà này. Ngày xưa anh rụt rè ngượng ngập bao nhiêu thì bây giờ anh lại tự nhiên chủ động bấy nhiêu. Ngày xưa anh chỉ dám nói nhát gừng khi có một chị Bình thì bây giờ anh ăn to nói lớn, đi lại đùng đùng và cười khạch khạch trước mặt mọi người. Anh ra vào nhà chị tôi lúc sớm, lúc trưa, lúc chiều, lúc tối tự do như ở nhà mình. Con chó không dám cắn! Ở quê nuôi chó để cho vui chớ mấy ai dám nuôi chó dữ. Đã chẳng có câu chó dữ mất mặt chủ đó sao. Nhà đơn côi, lâu lâu có người ghé vào là quý lắm, nuôi chó dữ thì ai thèm tới lại còn bị tiếng chê cười! Thành thử con chó nhà chị tôi dễ quen hơi bén tiếng với anh.
- Cúng bái gì mà khói hương nghi ngút thế này? – Anh bô bô hỏi trước sự im lặng của chủ nhà. Rồi anh nói một câu bâng quơ không hiểu anh động viên hay anh trách móc:
- Mình mà không quyết tâm thì có thần phật nào làm hộ!
Bà cụ se sẽ cúi chào anh rồi bà lánh mặt: để cho con mẹYên nó tiếp ông xã đội! Ông ấy quyền thế lắm! Con bà chưa biết thế nào...
Chị Bình ra bàn rót nước mời anh Quỷnh. Anh ngồi trên chiếc tràng kỷ phía ngoài, chị ngồi đối diện phía trong. Chiếc đèn hoa kỳ nhấp nháy hắt bóng chị tôi lên tường. Chị Bình nỗi lo cho chồng, nỗi sợ anh xã đội, chẳng biết nói chuyện gì. Lâu lắm, giờ đây anh Quỷnh mới có dịp một mình ngồi ngắm chị tôi. Cuộc đời mỗi người giờ thay đổi khác rồi. Anh đang là người quyền thế có uy. Chị tôi đang như chiếc bóng chập chờn. Những tình cảm xa xưa làm lòng anh dịu lại, nhìn chị tôi ái ngại, anh bỗng thốt lên:
- Tr... ô… ng… tr… ô… ng…  Bình gi... ố… ng… gi… ố… ng… thiếu phụ Nam Xương!
Lâu lắm rồi anh mới lúng túng và nói cà lăm như vậy! Chị tôi tuy ít học nhưng chuyện thiếu phụ Nam Xương, người lớn, trẻ con mấy ai không biết. Chị dồn dập hỏi anh:
- Vậy là chồng tôi vẫn còn! Anh có chắc không?
Anh ngồi thừ người trên ghế . Chị tôi nói nhỏ hơn, nửa trách móc anh nửa tủi thân mình:
- Hay là anh nói gở cho tôi?!
Biết là mình lỡ ví von không đúng cảnh , anh ngượng ngùng đứng dậy đi những bước nhẹ nhàng ra cổng... Chị tôi nhìn theo anh thắc mắc bồn chồn...
 Anh Yên ơi , anh có biết sự yên lặng của anh đáng sợ biết chừng nào? Bây giờ nó đang làm cuộc sống của mẹ anh, của vợ anh thêm nặng nề  và hơn nữa, nó là sự khởi đầu cho những mối oan nghiệt đeo đẳng suốt đời chị, đời anh...

Hiệp định Paris ký đầunăm 1973. Cả miền Bắc đã yên được tiếng máy bay gầm rú nhưng ở miền Nam, ở Lào, ở Campuchia lửa chiến tranh vẫn còn ngùn ngụt. Lớp tuổi mười tám, hai mươi chưa đủ, lớp tam thập, tứ thập nặng gánh thê nhi cũng phải ra đi.
Tôi đã ngoài ba mươi tuổi, đang làm kỹ sư ở một nhà máy lớn cũng được gọi lên đường. Mẹ tôi thắp nén nhang trên bàn thờ, nghẹn ngào khấn vái:
- Cầu xin Trời, Phật, ông bà phù hộ cho cháu nó ra đi chân cứng đá mềm, tránh được bom rơi đạn lạc, đi đến nơi về đến chốn trọn vẹn an lành!
Cha tôi mắt đỏ hoe vừa sịt mũi vừa dặn tôi:
- Thời tao loạn, thân làm trai khó tránh nơi rừng gươm, giáo, mác. Gươm ngắn giáo dài, mong con biết vận dụng tùy lúc tùy nơi. Phúc đức tổ tiên ông bà sẽ che chở cho con!
Dù rằng cái khí thế chiến thắng cũng tạo cho mọi người một niềm tin nhưng thực sự là sức người đã kiệt. Người ra đi nườm nượp mà mấy ai trở lại! Người ở nhà thắt lưng buộc bụng mòn mỏi đợi chờ.
Cũng may là tôi chưa có vợ con nên ra đi nhẹ gánh.
Đơn vị tân binh chúng tôi đóng quân ở miền đồi núi trung du. Toàn là lính già! Người ta gọi đó là lính thực binh : đủ ngành, đủ nghề, đủ phong cách, nhiều anh quen nếp khệnh khạng của ông chủ gia đình, tác phong luộm thuộm, sửa cho đúng quân phong, quân kỷ chưa biết đến bao giờ. Cán bộ từ cấp tiểu đội trưởng trở lên đều có sẵn khung rồi. Tôi được chỉ định làm tiểu đội phó vì xem ra tôi còn thuộc vào loại trai trẻ và nhanh nhẹn. Các thao tác quân sự tập tành cũng đơn giản thôi, chủ yếu là mấy động tác lăn lê bò toài cơ bản, cách sử dụng súng trường tự động và súng AK, đêm đêm hành quân leo đồi dốc với bao cát và ba lô gạch. Còi nghỉ giải lao chưa dứt, chiến sĩ ta đã cụm lại rít thuốc lào sòng sọc. Còi tập trung đến lần thứ ba, các tiểu đội còn gọi nhau í ới. Anh trung đội trưởng mặt non choẹt, nói như bất lực:
- Các bố tập tành thế này thì sớm phủi chân lên bàn thờ ngồi lắm!
Chiến sĩ ta tỉnh bơ đáp lại:
- Ngồi đó lại yên thân, khỏi phải lo đủ việc!
Tập tành chừng hai ba tháng, chúng tôi được xếp vào đội hình tiểu đoàn bộ binh chiến đấu đưa thẳng ra tiền tuyến.
Đường phía bắc xe đi công khai giữa ban ngày. Lính ngồi trên xe và người hai bên đường vẫy nhau hò reo ầm ĩ. Những nhà ga đổ nát. Những chiếc cầu gãy sập chỏng chơ. Những bến phà ùn tắc hối hả, ồn ào…
Càng vào sâu Khu Bốn, cảnh vật càng tan hoang, dấu tích phố phường chỉ còn là những đống gạch nổi lên giữa mấy mái nhà chơ vơ, xiêu vẹo. Những khu trọng điểm càng chằng chịt những hố bom khủng khiếp. Tới Nghệ An, xe đi lên hướng Tây, qua khu vĩ tuyến 17… Từ đây lại nghe tiếng máy bay trinh sát ì ì, ro ro suốt ngày đêm. Máy bay phản lực từng tốp gầm rú dội bom dọc tuyến đường mòn. Có khúc được đi xe. Có khúc hành quân bộ... Cả tháng trời, chúng tôi tới bắc Tây Nguyên.

Cái nắng ở miền cao nguyên này gay gắt như đổ lửa. Những rừng dầu ngùn ngụt phả hơi nóng trên đất sỏi cát hắt lên mặt người rát rạt. Từng cơn gió nóng ào ào rứt tung những chiếc lá dầu tàn úa trên cành, bay rơi lả tả trên nền cỏ khô héo quắt queo, đâm xen lơ thơ những ngọn cỏ xanh phơ phất làm tôi chạnh nghĩ tới sự tồn tại vĩnh hằng của sinh vật trong cái khắc nghiệt của thiên nhiên... Nó cũng có cái gì giống như chúng tôi đây...
Cả trăm người âm thầm, tản mạn lánh nắng trong khu rừng le thấp lè tè, lòng dạ đói meo. Bụng rỗng cồn cào. Cái gió nóng và nắng như vắt kiệt nước trong người. Đường tắc! Phía trước, một tiểu đoàn biệt kích đổ dò, đánh nhau ì xèo. Nằm lại đây năm ngày rồi, chưa biết lúc nào đi được. Nước phải hà tiện từng giọt, đi xa một hai tiếng đồng hồ mới tìm được con suối cạn. Từng cặp lui cui đào từng hố sâu tới nửa mét, chờ cả giờ cho nước rỉ ra, múc từng bát nước đổ vào bọc nilon khiêng về. Thực phẩm lĩnh nửa tháng, ăn chưa tới mười ngày đã hết. Gạo hết, ăn đậu xanh thay gạo. Canh lá nhạt thếch. Ruột nóng và háo không chịu được. Quân ta tỏa ra lùng sục. Ba người trong tiểu đội tôi đi đâu ba ngày nay tìm chưa thấy! Đã đói lại lo nỗi giặc, nỗi mình! Chung quy cũng chỉ tại  cái ông già làng chết tiệt! Đã 45 tuổi đầu, đang làm Chủ nhiệm hợp tác xã mà cũng bị điều vào lính theo lệnh tổng động viên, lúc nào cũng cái điếu cày kè kè như vật bất ly thân.
- Tao có thể vứt mẹ cái ấy đi chứ tao không thể bỏ cái này!
Ông vừa dứ dứ cái điếu lên, vừa tuyên bố như đóng đinh trước mọi người như vậy.
Công việc hậu cần, bếp núc thì ông siêng năng, xăng xái, nhưng việc quân quả thì đã có mấy chú em trẻ khoẻ nó lo. Ông nhanh trí và có tài chống chế. Hành quân đêm, vừa tới trạm, vẫn ba lô trên vai, ông lủi ngay vào gốc cây, bật lửa rít thuốc lào. Trời tối đen, trên đầu máy bay trinh sát ì ì. Cảnh giới trạm thét lên:
- Tắt lửa! Chết cả bây giờ! Bắt lấy nó!
Mọi người đổ xô lại. Ông thét toáng lên:
- Đứa nào? Lủi đi đâu rồi? Giết mẹ nó đi!
Mồm ông sặc múi thuốc xông ra. Tôi ghé tai ông giận dữ:
- Ông định giết chết tất cả đấy à?
- Ơ ! Cái anh này… Dơ bỏ mẹ!
Ông cãi và cun cút lủi đi...             
Nhưng cái mục nuôi quân thì ông hăng hái... Tới trạm nghỉ nào ông cũng lùng sục tìm các loại rau, loại lá có thể nấu canh. Mì chính, mắm ruốc ông nêm thoải mái. Có nhắc nhở ông phải phân bố cho đều kẻo hết nửa chừng, ông tặc lưỡi:
- Thực túc binh cường! Tới đó sẽ lo!
Mà ông lo thật. Ông cũng lăng xăng đi đây đi đó ngoại giao, săm soi kiếm cái này, đổi cái khác, có khi xin xỏ, có khi chỉ trời mới biết  nhưng cũng không ai tìm hiểu làm gì, miễn có cái ăn là được, ông lo cho cả tiểu đội chứ đâu chỉ một mình ông. Lúc túm tụm cán bộ, chiến sĩ chén chè, điếu thuốc, ông ngửa mặt lên trời phà khói quánh đặc, lim dim đôi mắt, chỉ chỏ mọi người, hứng chí:
- Ở đây tớ là lính. Nhưng nếu về quê, chỉ cần các cậu nhìn thấy bầy con gái nhà tớ như hương như hoa, bảo đảm cậu nào cũng năn nỉ xin hầu trà, hầu thuốc tớ!
Anh tiểu đội trưởng còn trẻ, giọng Khu Bốn, tức khí nói móc ông:
- Con gái bố đẹp hết chê, mê thật! Nhưng chỉ sợ nó giống cha, đẻ con một bề toàn giống đái ngồi thì làm sao tụi tôi đi tuyển quân cho được?!
Bị cụt hứng và từ đó ông ghét cay ghét đắng anh tiểu đội tưởng, có ăn ông không thèm gọi, thậm chí tới mức nghe lệnh ông tảng lờ đi. Ai trách được ông lớn tuổi nặng tai. Tiểu đội trưởng biết mình lỡ hố, có gì cần truyền đạt lại nhờ tôi.
Bây giờ ông dắt hai đệ tử đi đâu? Biết tìm ở đâu trong cánh rừng bạt ngàn này?! Liệu có làm sao?! Biệt kích? Thú dữ? Lạc tít vào rừng sâu? Hay là đi mò ăn vào nương rẫy, bị sập hầm chông, bãi ná? Hay các bố rủ nhau ngược đường đào ngũ? Ngày nào cũng phải đi tìm rồi lên đại đội, tiểu đoàn báo cáo. Cả tiểu đội mệt lả.
Tôi nằm trên võng bải hoải, lim dim. Có liên lạc tiểu đoàn gọi tiểu đội trưởng và tôi.

Tiểu đoàn bộ, người đứng ngồi lố nhố. Chúng tôi bước tới… ngạc nhiên, ngỡ ngàng nhìn ba đồng đội phờ phạc, ỉu xìu đang đứng giáp vào nhau, ở cổ tay còn lòng thòng sợi dây dù... “Ông già làng” vừa nhìn thấy chúng tôi bỗng miệng méo xệch, nước mắt ròng ròng nửa hờn nửa tủi nói:
- Tôi vì lo cho tập thể mà hai hôm nay bị nó trói như thân tù tội thế này!
Ông giơ tay lên, sợi dây dù kéo tay hai đệ tử của ông cũng đưa lên.
Tôi chưa kịp hiểu ra sao thì một người trong số mấy người lạ mặt đứng gần đó chạy bổ đến tôi và reo lên:
- Cậu Thành!
Tôi định thần nhìn lại rồi cũng reo lên:
- Anh Yên!
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau trước sự ngạc nhiên, mừng rỡ, hân hoan của mọi người.
Việc đầu tiên là anh Yên bảo mấy người của anh cởi trói cho đồng đội của tôi. Ngay lập tức tôi thấy ông già làng chạy tới ghé tai Tiểu đoàn trưởng thì thào điều gì. Tiểu đoàn trưởng gật gù, mặt tươi dần lên. Một lúc sau, ông đến bên anh em tôi và nói:
- Chúc mừng các đồng chí! Thôi, chiến sĩ chúng tôi sai, chúng tôi nhận khuyết điểm, sẽ kiểm điểm và xử trí sau. Bây giờ mời các đồng chí lại đây!
 Ông kéo chúng tôi tới một gốc cây lớn, tán lá xum xuê, mát mẻ – Đó là bản doanh của Tiểu đoàn bộ. Tất cả quây quần quanh ông và hai anh em tôi. Nhưng chúng tôi còn gì mà đãi khách?! Anh Yên rút từ trong túi ra bịch thuốc lá cuốn. Chẳng cần mời, tất cả mọi người xúm lại, vân vê mỗi người một điếu, bịch thuốc hết vèo! Anh Yên nhìn chúng tôi thông cảm. Chờ cho vị thuốc ngấm vào ruột, vào gan mọi người, Tiểu đoàn trưởng nhìn anh em, nhìn tôi, nhìn anh Yên, rồi chỉ vào ba vị tù binh mới được phóng thích, ông nói:
- Không ai bảo mấy người đó đi làm công việc ấy cả! Nhưng anh em đây phần lớn là tân binh, nhiều người lớn tuổi, thích nghi chậm, quen cách làm tùy tiện, lại rơi vào cái thế cùng – Ông ngắt lời cùng lúc dừng mắt nhìn tôi.
Tôi biết là mình phải tiếp lời ông:
- Đường xa, mang nặng lại ỷ vào khả năng vượt trạm nên tắc lại đây mấy ngày nay là thực phẩm cạn kiệt! Ăn đậu xanh thay cơm chịu không nổi… ruột gan ai cũng cồn cào!
Nét mặt anh Yên buồn buồn, suy nghĩ một lát rồi anh nói với Tiểu đoàn trưởng của tôi:
- Trạm của tôi là kho dự trữ chứ không cấp phát trực tiếp cho khách. Nhưng thôi, các đồng chí cứ theo tôi!
Một đoàn gồm đại diện tiểu đoàn, đại đội, trung đội và mỗi tiểu đội hai người chuẩn bị lên đường. Ông già làng nhanh nhẩu nói:
- Để ba anh em tôi cùng đi, đây đến đó cả nửa ngày đường, dù sao anh em tôi cũng đã từng đi, đường xa khỏi sợ lạc!
Ông nói cũng có lý, Tiểu đoàn trưởng gật đầu.

Về tới trạm kho thì trời tối lâu rồi. Anh Yên lo ngay việc tổ chức chiêu đãi chúng tôi. Cháo gà. Cơm không độn. Thịt lợn muối nấu canh khoai mì, xào mướp, bí ngô. Lại có cả hũ rượu cần. Lần đầu tiên lính chúng tôi được thưởng thức cái thứ rượu mới chỉ từng được nghe kể như trong chuyện cổ tích ấy. Anh Yên giải thích:
- Rượu này nấu bằng bắp (ngô) do anh em chúng tôi tự túc!
Chúng tôi được bữa no say. Mấy anh nổi hứng văn nghệ. Thơ, chèo, hát hò ầm ĩ… Nồi, soong, nắp vung , ca, bát... khua lẻng xẻng. Không còn phân biệt chủ, khách nữa. Ông già làng cầm cái cần rượu mút một hơi dài, phơi bày gan ruột:
- Hôm trước, ba đứa tôi bị các anh trói gô, cột vào mấy gốc cây kia chẳng khác gì thân con chó! Hôm nay lại được đãi đằng như thượng khách thế này. Thế mới biết  cuộc đời lên voi xuống chó, ai lường?!
Phấn chí, ông kể tiếp:
- Cuộc đời dại, khôn chưa biết thế nào! Tôi rủ hai thằng này đi tìm cái gì về cải thiện cho tiểu đội. Cứ đường mòn lớn rồi rẽ vào đường mòn nhỏ. Mỗi chỗ rẽ, tôi chặt một cây làm dấu. Mãi rồi cũng tới một nương sắn. Sướng hơn vớ được vàng! Hì hục nhổ một lúc, mỗi đứa một vác lặc lè. Lúc trở ra, trời tối dần, mất dấu, lại cứ lần theo dấu chân người. Khuya, vào tới kho này, lần mò một hồi trúng kho đồ hộp. Phen này cả tiểu đội sướng mê ly! Đêm tối rờ rẫm biết đâu mà chọn, cứ thùng nào dễ bê thì vác, toàn đồ ăn được cả thôi. Lâu lâu có một ông đi vòng vòng rọi đèn pin vu vơ. Lại lần ra theo đường mòn. Mệt và đói nhưng ráng đi xa kẻo lộ. Sáng ra tới bờ suối, mừng rơn. Nạy thử một thùng, toàn sữa bột! Sướng điên! Sữa bột uống với nước suối thả ga. Chẳng ai thèm nghĩ tới mấy bó củ sắn bỏ đâu. No rồi mới thấy rã rời chân tay. Tôi bảo đi sâu vào chỗ khuất mà nghỉ. Hai thằng này lần khân: “Cho thư thả chút đã, trời còn sớm chán, chỗ này khuất nẻo lắm rồi!”. Thế là  cả lũ lăn ra… ngủ thiếp đi lúc nào không biết! Lúc nghe thấy tiếng cười rúc rích mới choàng tỉnh dậy. Mặt trời rọi xuống suối chói con mắt. Một toán con gái xúm quanh nói cười líu lo. Nghĩ là con gái trong bản ra nương, bọn này làm quen, tán tỉnh. Chẳng ai biết tiếng ai, chỉ cười. Mình làm dấu hỏi đường. Mấy cô em vẫy đi theo. Có cô vượt chạy trước. Loanh quanh vòng vo lại vào gần đến kho. Biết là bị lộ, bọn này quẳng thùng đồ bỏ chạy kẻo bị bắt thì chết. Tiếng tù và báo động rúc lên. Bộ đội và dân bủa vây, tóm gọn!
Anh Yên giải thích:
- Bà con dân tộc ở đây cảnh giác cao lắm. Nhìn tướng các ông, nếu không phải là biệt kích cải trang thì cũng là dân B quay thôi! Đừng giận anh em nhé! Vì mấy ông ngoan cố, khai báo loanh quanh, làm sao tin được?                       
Rồi anh quay qua nói với Tiểu đoàn trưởng của tôi:
- Tôi chỉ là thủ kho, không được tự quyền xuất. Sớm mai, đồng chí cùng tôi lên Ban chỉ huy trạm xin ý kiến.
Hôm sau, sương sớm còn dày đặc tù mù, mấy người vội vã ra đi. Đến quá trưa mới về. Anh Yên cho lệnh xuất hàng. Ai nấy mừng rơn. Sau khi ăn uống no nê, anh Yên tặng riêng cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội mỗi người một gói khô nai và một bịch thuốc lá cuốn. Ai nấy hỉ hả. Lúc này anh Yên mới nói với cấp trên của tôi:
- Tôi là anh rể chú này. Ông cậu tôi coi vợ tôi như con. Anh em tôi lâu ngày mới gặp nhau. Xin thủ trưởng thông cảm cho chú em tôi ở lại đây ít ngày, anh em tâm sự, rồi tôi sẽ gửi chú ấy theo đường dây đặc biệt, có thể kịp đến trạm tập kết cùng đoàn.
Tiểu đoàn trưởng còn đang lưỡng lự thì ông già làng đã đứng bên từ lúc nào, nói xen vào:
- Phải đấy thủ trưởng ạ! Cái công của anh em chú Thành là đã giải nguy cho cả tiểu đoàn mình, có châm chế một chút cũng được thôi. Tôi tin là anh Thành này không tụt tạt đâu!
Tiểu đoàn trưởng gật đầu, nhắc tôi:
- Cậu ráng theo cho kịp đoàn đấy nhé!
Tôi chia tay với đoàn. Mọi người vác nặng mà mặt mày hả hê. “Ông già làng” nắm tay anh em tôi dặn với:
- Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ gặp nhau đấy nhé!
Tôi không ngờ rằng từ đấy cho đến nay, mấy chục năm rồi, tôi chưa gặp lại một ai trong tiểu đoàn tân binh ngày ấy. Sau này, tôi có may mắn được đi đó, đi đây, thường vào Nam ra Bắc, nhiều lần ra nước ngoài, tới cả những nước từng là đối phương trên chiến trận một thời, được đến các thành phố lớn, được ở những khách sạn cao tầng 3-4-5 sao. Nhưng nhiều khi tôi vẫn nhớ đến con đường hành quân ngày ấy, đến những ngày đói khát lòng dạ nôn nao, đến những con người từng chịu chung một nỗi gian lao, mỗi người một cá tính nhưng vẫn gắn bó, đỡ đần nhau. Như ông già làng ấy, tôi thật sự có lúc rất bực và tức với ông, nhưng chưa bao giờ tôi ghét ông hoặc nghĩ xấu về ông. Tôi vẫn thầm cảm ơn ông, cảm ơn đồng đội đã cùng nhau chung sức, chung lòng, chia sẻ cho nhau những ngọt bùi, cay đắng. Tôi cầu chúc mọi người cũng được may mắn như tôi.

Tôi có được một thời gian dưỡng sức ngoài sự mong đợi của mình. Anh em tôi tha hồ trò chuyện với nhau. Thiệt tình đang trên đường hành quân vất vả và thiếu thốn, nay được dừng chân trong không khí thanh thản, vô tư, ngày ăn no đủ, tối tối nhìn bầy gà như chim đậu san sát trên các cành cây, muốn cải thiện, cứ việc rọi đèn pin, cầm sào mà đập. Tôi nghĩ là đời lính coi kho tươi lắm, và anh tôi đã gặp may.
Khu vực kho mênh mông, có cả chục nhà chứa hàng lẩn khuất trong rừng, có kho nằm sâu trong hang đá. Chừng hơn chục người rải rác canh kho. Ban ngày anh em chia nhau đi làm rẫy hoặc vào các buôn, sóc xây dựng cơ sở, có khi làm cả việc tải hàng xuất nhập. Mỗi ngày, lúc nào rảnh rỗi anh kể tôi nghe về những năm tháng đã qua:
“... Tôi được chọn làm liên lạc cho Tiểu đoàn độc lập D.308, trùng phiên liệu với Sư đoàn F.308 chủ lực nổi danh. Sau này tôi mới biết là một hình thức nghi binh. Có thể vì thế mà trên đường hành quân, đơn vị tôi bị địch theo dõi sát. Vừa tới Khe Sanh, tôi được lệnh chuyển công văn tới Bộ chỉ huy tiền phương đóng cách đó gần một ngày đường. Khi đang ở đấy chờ chỉ thị mang về, tôi nghe tiếng bom B.52 nổ vang rền. Mới tới, tôi chưa biết định hướng. Mỗi tốp B.52 có ba chiếc – ba loạt nổ liên hồi. Lâu lâu sau lại một chập, một chập... Gần hết một đêm, núi rừng rung chuyển. Sớm hôm sau, một cán bộ gặp tôi:
- Đồng chí cầm chỉ thị này về gấp. Có gì trắc trở, tìm đến đơn vị gần nhất đưa công văn này, chúng tôi sẽ nhận được tin.
Có một giao liên đưa đường tôi trở lại. Dọc đường về vẫn nghe tiếng bom đạn ì ầm mỗi lúc một gần. Gần tới điểm đóng quân, thấy hàng bầy trực thăng bay lượn cùng những tiếng đại liên, rốc két ầm vang. Anh giao liên cho biết đơn vị tôi đã nằm gọn trong trận địa B.52 đêm qua. Anh dẫn tôi quanh quẩn tìm được một đơn vị của quân khu, anh giao tôi cho họ. Mấy hôm sau, tôi được bổ sung vào đơn vị hậu cần mới được điều đến làm nhiệm vụ thu dọn chiến trường. Cậu đã đi qua những dải rừng bị B.52 tàn phá: nó trống trơn, hoang vắng! Nhưng nếu cậu đến đó ngay sau khi xảy ra trận oanh kích ấy, tôi không hiểu cậu có chịu đựng nổi không? Đến bây giờ tôi vẫn còn cảm giác ghê rợn đến mức hoảng loạn khi mình bơ vơ, trơ trọi, không còn thấy dấu tích của một ai trong cái mùi bom đạn khét lẹt pha lẫn mùi tử khí vương vất trong những mảnh áo quần, đồ đạc văng khắp đó đây trên mặt đất, trên những cành cây đổ gẫy...
Tôi thấy rờn rợn người, nằm trên võng đu đưa, nghe tiếng con sâu, con dế nỉ non, lâu lâu con chim H’tớp gáy lẻ tìm bạn, nghe buồn thê thảm...
Tôi đi theo anh xuống buôn. Nhà dân ở rải rác ẩn mình dưới các lùm cây bên sườn đồi, triền núi. Những ngôi nhà sàn lúp xúp tả tơi, tạm bợ. Có bạn đường, có người tâm sự, con đường dài ngắn lại…
“… Một sự ngẫu nhiên, tôi từ lính chủ lực thành lính địa phương. Đơn vị coi như xóa sổ! Có một số người may mắn cũng tấp vào chỗ này, chỗ nọ. Ai biết đâu mà tìm. Người đã chết hoặc người mất tích cũng như nhau thôi! Chẳng cần thư từ làm gì. Cuộc chiến này biết đến bao giờ. Cậu tưởng đời lính hậu cần, coi kho là yên ổn lắm sao? Nghĩ cũng tội cho cô ấy ở nhà! Dù có thế nào tôi cũng chẳng trách đâu! Giá được thằng cu ấy cho bà cụ, bà cũng mát lòng mà tôi cũng yên tâm!
Mấy người dân đi rừng gặp anh, mừng lắm. Đời sống bà con còn khổ cực. Đàn ông chỉ một chiếc khố che thân. Đàn bà mặc váy, ở trần. Mấy cô gái mới lớn khoác trên mình một chiếc áo bộ đội, bởi các cô đã biết ngượng ngùng khi các anh lính trẻ cứ nhìn chằm chắm vào ngực mình. Hôm ấy trong buôn có hội. Năm bảy nhà chụm lại dưới vòm cây kơ nia ăn uống, hát ca. Lễ hội sơ sài, nghèo và đạm bạc nhưng có âm sắc riêng của núi rừng Tây nguyên là tiếng cồng  ngân vang và những bài hát vui bên hũ rượu cần. Tôi thán phục anh Yên vì anh nói tiếng dân tộc giỏi quá! Anh còn hát những bài ca dân tộc líu lo làm các chàng trai và cô gái cười rộ lên tán thưởng...
 Chúng tôi đang trên đường về. Nắng chiều Tây Nguyên trải vàng rực trên dải rừng dầu. Tiếng cồng cứ âm vang như theo chân chúng tôi. Lác đác những cánh lá dầu vàng, đỏ nằm rải rác đó đây gợi tôi nhớ tới những chiếc lá bàng khô cong nằm phơi trên hè phố vắng của Hà Nội vào tiết thu đông. Anh Yên dắt tôi rẽ vào ngôi nhà mồ vắng lặng. Trên ụ đất là mấy cái nồi trong còn chứa gạo. Một con gà thấy bóng người, nhảy tâng tâng và kêu lên kẹc kẹc vì bị cột chân không chạy được! Một tượng gỗ đẽo hình người phụ nữ ngồi tựa cằm trên đôi cùi tay buồn nhìn xa xăm. Trong ngôi nhà sàn lỏng chỏng lơ chơ mấy vật dụng hàng ngày... Vừa đi anh vừa nói với tôi:
- Không biết lúc nào thì mình thành người gác rừng như thế này?!
Anh chỉ vào một ụ đất cao chơ vơ như một gốc cây:
- Nếu nằm trúng ụ mối, chỉ cần một đêm là sạch! – Anh nói như than thở:
- Lính chiến đấu đâu phải quanh năm trận mạc. Chỉ có mùa chiến dịch thôi. Lính hậu cần quanh năm bận rộn. Người ta đánh, mình phải tiếp hàng. Người ta nghỉ thì mình nhận hàng. Đủ việc, từ coi kho, thồ hàng, áp tải, giao liên, sản xuất, làm cả anh dân vệ nữa. Thám báo, biệt kích nó lùng sục hoài, nhiều khi đơn phương chiến đấu, chết bỏ xác trong rừng không ai hay... Chúng tôi ví mình như cái thứ lính tạp...
Tôi hỏi anh hát bài gì mà trai gái họ vui thế? Anh hát lại bằng tiếng dân tộc với những tiếng ê... a... luyến láy, điệu đàng, rồi anh dịch cho tôi nghe. Tôi vẫn nhớ một khúc hát mộc mạc mà đắm đuối, thiết tha: “... Cái cây giữa đường người ta đốn – mình đốn! Sợi dây giữa đường người ta bứt – mình bứt! Khúc củi giữa đường người ta bửa – mình bửa! Quả trứng trên ổ người ta dùng – mình dùng! Nam nữ xuân thì người ta yêu – mình yêu!”.
Tôi cười khoái chí, bảo anh:
- Vậy là anh tán gái có hạng rồi đó!
Anh nói nghiêm túc:
- Chơi cho vui thôi. Con gái dân tộc họ thương mà chân thật lắm. Bập vào là chết. Thứ nhất là chẳng ai muốn suốt đời ở rừng! Thứ hai là muốn ở yên thì đừng có dại, phải được lòng dân, léng phéng người ta nghĩ con trai Kinh đến cướp con gái bản, còn ai bảo vệ cho mình! Cậu chớ có tặng vòng, tặng nhẫn cô nào. Họ mê mình lắm. Họ nhận có nghĩa là họ ưng lời cầu hôn của anh. Giỡn chơi là không được. Trước khi tôi về đây, có một anh thủ kho khéo tay, cứ rảnh rang là lấy vỏ đạn làm nhẫn, làm vòng đủ loại mang tặng lung tung. Họ ưng, họ tin, họ cho đổ nước và thế là để lại một bộ đội con trong... bụng! Cấp trên biết vội điều đi! Cả bản đòi đi theo... Không được họ thù vì họ không ưa chuyện gì lừa dối… Họ không thèm cho bộ đội vào buôn nữa. May mà có ông già làng là người cách mạng, phải nhờ có uy tín của ông mới giúp cho mình gây dựng lại tình cảm từ đầu… Cho nên anh em ở đây vẫn phải bảo nhau: Khuyết điểm gì thì còn châm chế, chớ dính vào chuyện đó là không xong đâu!
Ở được ít ngày, tôi đòi đi, sợ không theo kịp đoàn sẽ phiền phức. Anh bảo:
- Để thủng thẳng, chừng nào có đoàn đặc biệt sẽ tổ chức đi theo đường nội bộ, vừa mau, vừa an toàn. Chẳng ai hơi đâu mà chờ mình. Quân chi viện như nước mưa tưới xuống đồng hạn. Dù đến chậm đã có trạm thu dung sắp xếp, lo gì!
Tôi thường theo anh đi rẫy. Ngô sắn bạt ngàn. Lúa nương lơ thơ, phơ phất... Hôm nay trời hơi nằng nặng và dịu mát. Anh bảo sắp vào tiết mùa mưa. Đột nhiên một trận mưa rào như có người từ trên cao dội nước xuống. Chúng tôi kịp chạy vào một gốc cây lớn thì mưa đã tạnh.
- Mưa Tây Nguyên đột đến, đột đi như vậy đấy. Chẳng khác chi biệt kích đổ dò: bất thần ào ào, ầm ầm một trận rồi dông!
Chúng tôi giở cơm ra ăn. Bỗng có tiếng máy bay ì ì từ sau núi, không phải tiếng gầm rú của máy bay phản lực dội bom. Bóng mây phủ đen một mảng đồi còn dãi nắng. Rất nhanh lẹ, anh Yên tung tấm nilon che mưa phủ kín lên những thứ đồ ăn nước uống chúng tôi đã bày ra:
- Máy bay rải chất độc diệt cỏ đấy!
 Chiếc máy bay đã bay qua, những hạt bụi li ti màu vàng như sương mù mịt một vùng đồi núi. Đợi cả giờ sau chúng tôi mới giở ra ăn tiếp. Bây giờ tôi mới thấm thía với đời lính coi kho và nói với anh như lời tự thú về sự nóng ruột của mình:
- Thế này là ta cứ ở yên một chỗ, chẳng biết lúc nào máy bay nó dội bom lên đầu mình, gieo rắc chất độc hoá học trên nương rẫy, vườn tược, nguồn nước của mình… hoặc là thám báo mò tới hỏi thăm rồi bất thần biệt kích nó ào vô đánh điểm!
Anh bình thản như người cam phận:
- Đành chịu vậy, chứ sao?!

Gần tháng sau, có một đoàn cán bộ đặc biệt của Tổng cục Hậu cần đi công tác ra tuyến trước. Anh lo việc chuẩn bị và tổ chức cho đoàn đi theo đường đặc biệt. Anh gởi tôi đi cùng. Trong đoàn có mấy cán bộ của Cục Quân giới-quân xa, anh giới thiệu tôi với họ. Biết tôi là kỹ sư cơ khí, họ mừng lắm, hỏi han, thăm dò đủ điều. Anh chuẩn bị cho tôi chu đáo từ gói lương khô cho đến tấm tăng, chiếc võng, bidon nước, con dao. Khi chia tay, anh chỉ nói mấy lời:
- Chẳng biết chúc cậu điều gì. Nếu anh em mình còn được gặp nhau khoẻ mạnh là điều may mắn lắm!
Chúng tôi đi chừng hơn chục ngày thì tới trạm tập kết của đoàn tân binh. Cả tiểu đoàn đã được bổ sung vào một sư đoàn chủ lực và đang hành quân về hướng Buôn Mê Thuột. Mấy cán bộ quân giới đưa tôi qua trạm thu dung và làm thủ tục nhận tôi về. Thế là do sự tình cờ, tôi được đưa về công tác ở một trạm sửa chữa cơ khí tiền phương Z.50.
 Nhiệm vụ của chúng tôi là kiểm tra và duy tu xe tăng, thiết giáp, ô tô. Nghề nghiệp của tôi được sử dụng. Nhiều lần tôi xuống tận các đơn vị xe tăng, thiết giáp để kiểm tra, sửa chữa kịp thời xe pháo trước khi vào trận. Lính tăng – giáp của mình trẻ lắm. Thời gian huấn luyện không nhiều, kinh nghiệm chiến đấu còn ít, lại phải hành tiến trên địa hình xa lạ, tỷ lệ hư hỏng xe cao. Anh em lính bộ binh gặp tăng địch là ngán nên thấy lính tăng của ta thì thèm. Nhưng mấy chiến sĩ xe tăng nhìn anh lính bộ binh mà lại ham: gọn gàng, cơ động. Với mục tiêu ở xa thì tăng ta phát huy tối đa mãnh lực. Nhưng khi đã xông vào tao-ngộ, nếu không có bộ binh yểm trợ, tăng ta khác chi chàng khổng lồ quáng gà và chậm chạp. Lính tăng ta vẫn bảo nhau:
- Khi đã chui vào chiếc xe tăng, có khác chi chui vào chiếc quan tài bằng thép!
Tôi làm việc được anh em tin tưởng. Tôi coi đó là niềm động viên tinh thần: Thế là tôi có đóng góp thiết thực vào cuộc kháng chiến lớn lao của nhân dân ta ngay tại tuyến đầu khói lửa! Cũng như anh Yên, tôi tự nghĩ : May mà sống được thì  về, bằng không chết thì thôi, chẳng cần thư từ làm gì để người ở nhà mong ngóng, có khi còn khổ đau hơn!
Là kỹ sư nhưng tôi nhập ngũ theo diện lính thực binh nên không được phong hàm sĩ quan, coi như người lính làm kỹ thuật. Vì thế, sau ngày 30 tháng 4, các cán bộ chủ chốt đều về tiếp quản thành phố thì tôi được giữ lại hậu cứ trông coi các phương tiện vật chất. Cho mãi tới nửa năm sau, có lệnh của Tổng cục chuyển dời về cơ sở mới thì nhân dịp ấy tôi xin phục viên về lại nhà máy cũ của tôi ở Hà Nội và được cấp trên dễ dàng chấp thuận.
Ngày 30 tháng chạp năm Ất Mão, tức là ngày 30 Tết Bính Thìn, năm 1976, tôi đột ngột về nhà. Đã ba năm, kể từ ngày ra đi, gia đình không nhận được tin tức của tôi. Sau ngày chiến thắng, tôi vẫn biệt tăm, bố mẹ tôi khắc khoải lo âu, chờ đợi. Sáng sớm, khi tôi gõ cửa, mẹ tôi ra mở. Người bàng hoàng và quỵ xuống trong vòng tay tôi, không nói nên lời… Sau khi tôi đỡ mẹ lên, người mới nức nở, nghẹn ngào gọi: Con ơi! Cha tôi lật đật chạy ra… Mới hôm nào mà giờ đây tóc cha tôi đã bạc phơ, mẹ tôi da mặt nhăn nheo, già sọm. Tôi xót xa vòng cả hai tay ôm chặt bố mẹ vào mình mà khóc hu hu...
Chiều 30 Tết, gia đình tôi mới cuống cuồng đi chợ Tết.

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment