C H Ị T Ô I
{
Quê tôi ở một
làng ngay đầu Ô Đống Mác. Ông bà nội tôi sinh năm người con, nếp tẻ đủ cả, bố
tôi là út. Người ta nói: Giàu con út, khó con út hoặc: Giàu út ăn,
khó út chịu chẳng sai. Tuy ruộng vườn, nhà cửa, ông bà tôi chỉ thua có ông
Chánh tổng trong làng, nên mới kết được thông gia với họ – ấy là ông bác cả tôi
được làm rể nhà ông Chánh. Nhưng cả đời bố tôi sống trong thời tao loạn, nhà
cửa, ruộng vườn, của nả có khi mang vạ vào thân! Cái cảnh bỏ của chạy lấy
người chẳng phải riêng mình bố tôi từng chịu! Người dân lương thiện, hiền
lành cứ như cây lau, cây sậy trước trận bão tố cuồng phong gió giật bốn bề...
Vậy mà bố tôi cũng vượt được cơn sóng gió can qua. Người vẫn ví thân phận
mình như mây trôi, bèo dạt. Người hài lòng với số phận, vì so với các cô, các
bác tôi chỉ sống được tới quanh tuổi tứ tuần, thì sự được tồn tại tới tuổi cổ
lai hy đã là thứ lộc trời mà người được thừa hưởng bở sự tu nhân, tích
đức của ông bà, cha mẹ. Vì thế bố tôi chỉ là cha đẻ của hai anh em tôi, mà
cả chục anh chị họ tôi cũng quây quần, hội tụ quanh bố tôi như một người cha
thật sự. Cũng bởi bố tôi luôn lấy câu nhất con, nhì cháu chi phối mọi
tình cảm và hành động của người...
Cho nên khi bố tôi qua đời, đứng bên
chiếc quan tài với khói hương nghi ngút đầy nhà, buồn thương và ảm đạm, tôi chỉ
biết khóc rống lên từng chặp và gọi: Bố ơi!. Nhưng gần như suốt hai ngày
bố tôi nằm đấy, lúc nào cũng vang lên tiếng khóc nỉ non, thảm thiết của các chị
tôi. Bằng giọng khản đặc, các chị gào lên những tiếng gọi thân thương nhất với
một con người: Cậu ơi! Chú ơi! Cha ơi! Mẹ ơi!... Tất cả chỉ là một người nằm
đấy: Cha tôi!
Một bà chị cứ ti tỉ kể lể suốt ngày làm
tôi càng thêm nẫu ruột:
- Ối cậu ơi! Mẹ con mất lúc con còn
đỏ hỏn! Cậu nuôi con thay mẹ sớm chiều! Cậu ơi! Lúc nhỏ cho uống nước cơm – Lúc
lớn bát cháo cậu nhường cho con! Ới mẹ ơi! Mẹ cha con chẳng được nhờ! Cậu thay
cha mẹ lo cho con suốt đời! Ơi cha ơi! Chồng, con chẳng được như người! Bây giờ
vắng cậu, ai người thương con! Ới mẹ ơi là mẹ ơi! Con chưa trả nghĩa một ngày!
Nằm sương, gối đất từ nay một mình!... Ối cha ơi! Ối mẹ ơi!...
Bao nhiêu năm rồi, bây giờ nhớ lại một dĩ
vãng xa xôi, những niềm vui và nỗi buồn xen quyện: những ngày bé thơ, anh chị
em ríu rít, túm tụm với nhau dưới một mái nhà mà sợi dây ràng kết những đứa trẻ
hồn nhiên ngây thơ ấy là một người cha mà cả đám trẻ vừa thương vừa sợ! Đám
tang cha tôi đi trong cơn mưa tháng tám tầm tã và những lời khóc thảm thương
của chị... tự dưng nước mắt tôi trào ra… Tôi thấy thương cha, nhớ chị...
Tôi biết rằng đằng đẵng cả chục năm
trời, chị không giáp mặt với cha tôi bởi lỗi lầm của chị. Mỗi khi giỗ tết, chị
từ quê lễ mễ mang ra thành phố con gà, thúng gạo... thì cũng chỉ nhỏ to trò
chuyện với mẹ tôi ở dưới nhà. Bố tôi ngồi nhà trên hút thuốc, thỉnh thoảng đằng
hắng lên một tiếng như báo hiệu sự hiện diện của người. Tiếng đằng hắng với âm
thanh trầm lơ lửng trong không khí gia đình yên tĩnh và êm ấm nghe trang nghiêm
và thương mến làm sao! Đến lúc cha tôi bệnh trọng, người nằm gần như bất động
trên giường, chỉ còn đôi mắt long lanh, đưa đẩy nhìn những người thân thương
lần cuối, chị tôi mới dám len lét tới bên giường nắm tay người. Người nắm tay
chị trìu mến, mắt người chớp chớp, một dòng nước mắt lăn trên gò má, thấm thành
một vết loang trên tấm gối trắng nhờ nhờ, người nói trong nghẹn ngào như thành
tiếng nấc:
- Sao đời con khổ thế?!...
Tôi thường tự hỏi: Đời chị khổ vậy mà
vẫn còn nước mắt để khóc sao?! Chị khóc cha tôi hay chị khóc cho chính cuộc đời
của chị?! Ôi, thân phận người đàn bà mười hai bến nước... Chị tôi giữa
cơn bão táp, mưa sa...
Chị là con cô lớn của tôi. Là chị nhưng
lại thua em mấy tuổi. Chị sinh năm 1945 –
Cái năm Ất Dậu khủng khiếp ấy, mấy thế hệ đi qua, nghĩ lại vẫn kinh
hoàng! Cha chị thất nghiệp, trốn phu, trốn thuế, bỏ nhà chạy tuốt vô Nam ,
bặt vô âm tín.
Ngày ông ra đi, mẹ chị lấy làm ngày giỗ
hàng năm. Một thân góa bụa nuôi con, mẹ chị nhọc nhằn, thiếu đói, người cứ phù
thũng lên như bịch nước. Cho đến một ngày anh con trai lớn mười ba tuổi chạy
qua nhà tôi mếu máo:
- Cậu ơi, mẹ cháu làm sao ấy!
Cha tôi vội vã chạy qua: Cô tôi nằm co
quắp một góc giường, người lạnh tanh, bất động; đứa con gái miệng mút tùn tụt
vào cái vú nhẽo nhèo, rồi lại èo ẹo bò quanh!
Đồng lương viên chức vào thời loạn ly
mất giá, một gia đình hụt hẫng, một đàn cháu nheo nhóc, bố tôi chẳng thể cưu
mang! Một bà quả phụ ở bên Chợ Đường Cái, mới sanh con không đậu, vừa tiếc con,
vừa tiếc bầu sữa luôn căng tức cứ chảy ròng ròng, xin chị làm con, bố tôi chấp
nhận. Người anh trai của chị, mười ba
tuổi mũi xanh vẫn chảy thò lò, bố tôi xin cho học nghề thợ máy, trước mắt cũng
đủ ăn hai bữa một ngày.
Trong cảnh túng đói và ngột ngạt, cả Hà
Nội rùng rùng! Người ta ào ào rủ nhau đi phá kho thóc chống đói, cầm súng chống
giặc ngoại xâm.
Và rồi thoát qua cơn đói, mới đủ rau
cháo cầm hơi, Hà Nội đã cùng cả nước bừng bừng ngọn lửa kháng chiến trường kỳ.
Hằn trong đầu óc trẻ thơ chúng tôi, thời
dĩ vãng xa xôi là một chuỗi dài những hình ảnh u buồ: xác người chết đói nằm co
quắp, thảm thương nơi xó chợ đầu hè, tiếng lọc cọc của chiếc xe bò phủ chiếu,
rủ xuống những mớ tóc dài rũ rượi quét lê trên đường phố, những thân người bầm
dập, phơi mình bên những vũng máu loang lổ nơi gốc đa bến nước đầu làng, phố
phường đổ nát, vườn ruộng hoang tàn, xóm làng xơ xác, quán vắng đìu hiu, góa
phụ, trẻ thơ nháo nhác một bầy, lớp lớp những chàng trai tráng ra đi...!.
Gia đình tôi ly tán một thời rồi cũng tụ
gom lại được. Trong số cả chục anh chị em, chỉ có một người anh con bác Hai tôi
thất lạc, đi mãi không về! Lúc ấy anh còn ở tuổi thiếu niên, chừng đôi tám!
Dù cuộc đời có gian truân cay nghiệt đến
đâu, tuổi trẻ vẫn dễ vượt qua, bỏ lại sau lưng quá khứ ngổn ngang, bừa bộn.
Chúng tôi lớn lên tuy vất vả nhưng được hưởng tình cảm gia đình đằm thắm, ấm
êm. Chị tôi thoáng đấy đã thành cô gái nhan sắc một vùng quê. Người ta bảo nếu
chị sinh vào cửa giàu sang chắc là đẹp lắm. Nước da trời cho dầm trong lam lũ
dãi dầu mưa nắng lại như sự pha hòa màu sắc tự nhiên đã tạo nên một làn da
trắng nâu tươi mịn! Chị tôi tính hay e thẹn và lúc nào cũng như ngỡ ngàng trước
cuộc đời này! Khi đôi mắt to tròn đen láy mở bừng ra ngơ ngác và đôi má ửng dần
lên, người ta có cảm tưởng như trên khuôn mặt hiền hậu thoáng một áng mây buồn
ấy vừa có ánh mặt trời một sáng ngày thu lại vừa có ánh trăng khuya bàng bạc.
Chẳng phải chỉ là mấy cậu trai làng, có chàng trai đôi mươi nào không thấy lòng
mình xôn xao lay động trước một người con gái thùy mị, u huyền...! Mối quan hệ
gắn bó với đại gia đình tôi ở trên thành phố lại càng khiến các chàng trai quê
e dè không dám mạnh dạn đến với chị tôi. Nhiều ông cả bà lớn trong làng ngấp
nghé muốn chắp mối cho con trai họ, luôn tỏ ra quý mến, trọng vọng cha mẹ và
anh em tôi mỗi khi chúng tôi về quê thăm chị. Đám nào cũng đánh tiếng qua bà mẹ
nuôi của chị. Bà nói với cha mẹ tôi:
- Cháu tuy là con nuôi tôi nhưng là máu
mủ của ông bà, tôi không dám quyết!
Cha tôi nói lại với bà:
- Tôi là cậu mà không nuôi được cháu,
nhờ bà cho bú mớm, cháu mới nên người. Công sinh không bằng công dưỡng, tùy bà
định liệu!
Người dặn chị:
- Đời cháu côi cút không may, nhờ gặp
người hiền lương cho bú ẵm, được đến ngày nay là phúc nhà còn lớn, phải lấy ân
nghĩa mà báo đáp người ta. Duyên phận cháu thế nào, cậu không ép uổng. Giàu
sang có khi là tai vạ. Quyền thế chũng chỉ một thời. Chọn cửa nào hiền đức, ấm
êm. Phận hồng nhan bước chân qua cửa, họa phúc còn do trời định liệu!
Chị lẳng lặng ngồi nghe...
Thời gian trôi qua một cách mệt mỏi theo
những tiếng Vắt!... Vắt!... Họ!... Họ!... vang lên
buồn tẻ trên những cánh đồng nay úng, mai hạn! Trẻ con mau lớn theo những đợt
tuyển quân! Người lớn thấy mau gìa theo những đợt giải ngạch nghỉ hưu non!
Cuộc sống hồi hộp, nặng nề, âu lo và
quẫn bách!
Nhưng rồi mỗi người phải có ngày đứng
trước bước ngoặt của đời mình. Bà mẹ nuôi của chị nói với bố mẹ tôi:
-
Đã bao người đến hỏi, cháu nó chẳng chịu
một ai . Dường như nó chỉ ưng cái anh... nhà chỉ một mẹ một con thôi. Người
hiền lành, tốt nhịn lắm. Cả làng chẳng mất lòng ai! Nhà trước kia thì khá, bây
giờ cũng đủ bát ăn. Cái thằng khoẻ mạnh, siêng năng mà hiếu thảo. Mẹ con tần
tảo nuôi nhau. Song chỉ có điều nhà này cha nó trước đi … lính ngụy, chết trận!
Hồi cải cách bị qui phú nông. Sợ rằng sau này nó khổ! Bao nhiêu con cái ông này
bà nọ, nó chẳng ưng cho! Nó phải duyên phải số hay sao ấy!
Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, bố tôi mới hỏi:
- Cái điều cốt yếu là ông bà, cha mẹ nó
có làm điều gì thất đức hay không?
Bà phân trần:
- Ông nội anh ta ngày xưa là lính cụ Đề
Thám, thất trận, chẳng thấy về! Bố anh ấy cũng chỉ một mẹ một con! Thời Pháp,
thanh niên lớn lên ở vùng tề, không theo du kích thì cũng bị bắt vào lính thôi.
Không chịu đi xa, ở nhà thì làm lính dõng. Một sáng ra mở cổng làng, bị mìn bẫy
nổ tung! Từ ấy mẹ góa con côi. Nhà có hơn mẫu ruộng nên bị qui phú nông. Mẹ con
chăm chỉ siêng năng, giờ cũng được vào hợp tác. Anh này chỉ học xong lớp 7 rồi
ở nhà với mẹ, nhất nhật cần cù chí thú…
Bố tôi bảo:
-
Đời người ta ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, ai mà cưỡng lại được thời
thế! Nếu các cháu nó thương nhau thật, bên đó êm ấm trong ngoài, bà chấp thuận
thì tôi cũng đồng ý với bà!
Thế rồi từ quê lục tục kéo ra chạm ngõ, ăn hỏi
và đám cưới được tổ chức ở trong quê. Cả họ nội nhà tôi từ thành phố về mừng
ngày vui của chị. Thời đó đám cưới cũng đơn sơ thôi, nửa đời sống mới, nửa theo
nếp cũ. Nhìn hai chữ BÌNH – YÊN được cắt lồng trong một trái tim đỏ rực nấp
dưới cánh bồ câu trắng tung bay trên nền trời xanh, anh em tôi cầu mong được sự
trùng hợp may mắn như vậy cho đời chị. Thật ra, hồi nhỏ, mọi người vẫn quen gọi
là chị Gái, rồi thành tên, chứ đâu có chứng sinh, chứng chỉ gì. Lớn lên, bạn bè
thôn xóm đặt cho chị cái tên Bình, chị cũng thích thế, rồi thành tên thật. Chị
tôi về nhà chồng lúc 25 tuổi. Con gái quê như vậy là đã muộn màng.
Cuộc chiến trên bình diện toàn khu vực,
bước vào những năm 1970, như những lò thiêu lớn : Ở miền Bắc là cuộc chiến
tranh phá hoại trên không, trên biển cực kỳ gay gắt. Ở miền Nam , cuộc chiến tranh giành đất,
giành dân quyết liệt đến mức mất còn. Các cuộc chiến tranh phối hợp ở Lào và
Campuchia càng mở rộng. Lại lớp lớp những người trai tráng ra đi. Người ta quy
định chỉ tiêu tuyển quân cụ thể cho từng huyện, xã. Những người có chức quyền
không thiếu gì cách cho con cái mình lánh né việc đi vào nơi mũi tên hòn đạn.
Cũng có những người gương mẫu nhưng số đó giảm dần theo mức độ ác liệt của
chiến tranh. Con cái dân dã thì biết đường nào mà chạy? Và có chạy thì ẩn nấp vào
đâu? Chỉ có một con đường ra phía trước, nơi ấy bom rơi đạn nổ, khói lửa mịt mù
như Hỏa Diệm sơn!.
Hai vợ chồng anh đưa nhau ra chào bố mẹ
tôi. Bữa cơm tiễn biệt sơ sài. Trời đông lạnh, lòng người càng buốt giá. Bố tôi
hỏi:
- Gia đình con một có được miễn không?
Chồng chị trả lời:
- Cũng chẳng ai biết luật lệ thế nào. Mẹ
con tìm đến hỏi ông Chủ tịch xã, ông ấy mắng cho : Con một là với gia đình liệt
sĩ, thương binh. Thằng con nhà bà phải đi mà rửa tội cho cha nó! Thôi, có chết
cũng chẳng sao, chứ sống để nghe người ta nhiếc móc cha ông mà thấy nhục.
Mẹ tôi và chị, hai mợ cháu nhỏ to ở
trong buồng. Chị ngồi yên lặng, những giọt nước mắt rơi lã chã trên chiếu. Mẹ
tôi lắc đầu vẻ thương hại.
Ít lâu sau khi anh rể tôi lên đường ra
trận. Bà mẹ nuôi của chị từ quê lên thăm bố mẹ tôi. Bà và mẹ tôi thù thì chuyện
gì đó ở dưới bếp, nét mặt tươi tỉnh lắm. Tối hôm ấy, mẹ tôi nói với bố tôi:
- Tội nghiệp cái con Bình! Vợ chồng ở
với nhau cả năm chẳng có chuyện gì, thế mà ngày chồng lên đường, nó lại mang
thai… Thôi, cũng mừng cho chúng nó, chớ lỡ bề nào khéo là tuyệt tự...
Theo đà
cuộc chiến leo thang, người Mỹ đem máy bay ra thả bom ở Miền Bắc càng
khốc liệt. Cuộc tọa đàm ở Paris
cứ như một trò chơi: lúc thì tưởng như hòa bình đã trong tầm tay! lúc thì nó bị
đẩy xa ra mịt mùng bom đạn! Người Hà Nội kéo nhau đi sơ tán. Phố phường thưa
thớt. Lòng người vừa lo lắng, vừa căm hận. Máy bay Mỹ ném bom rải thảm lên các
phố phường Hà Nội, Hải Phòng. Chị tôi ra đón cha mẹ tôi về quê sơ tán. Dù sao
thì ở đó cũng xa những căn cứ quân sự, nhà cửa rộng rãi, có hệ thống hầm hào
chắc chắn và nhất là ở gần Hà Nội, tiện cho việc chúng tôi đi lại tiếp tế và
chăm lo bố mẹ tôi.
Lúc này chị tôi đi đứng rõ là dáng dấp
của người phụ nữ mang thai. Nhưng ở thôn quê, trong thời chiến tranh bóng dáng
người đàn ông vắng tanh, trăm việc đều trong tay người phụ nữ từ trong nhà cho
đến ngoài đồng ruộng. Nhà chỉ còn có một mẹ già, tranh thủ lúc còn đi lại được
chớ nay mai nằm ổ ai người cáng đáng! Vất vả vậy mà chị tôi vẫn tươi vui, có lẽ
cái mầm sống đang nẩy trong mình làm chị tôi chứa chan hy vọng.
Một tối thứ bảy, chúng tôi qua thăm mẹ
tôi và nghỉ tại đây. Đêm khuya, máy bay Mỹ lại kéo cả bầy ra ném bom Hà Nội.
Bầu trời đỏ rực lên. Tiếng bom rền ầm ầm như sấm.
Từng đám lửa phừng phực rọi lên nhấp nhoáng
trên trời đan xen nhằng nhịt các tia lửa đạn đủ các loại, nổi bật lên là những cục lửa sáng lòa của tên lửa lao đi vùn
vụt. Các tiếng nổ to, nhỏ chát chúa của đạn bom âm vang như tiếng cối xay khổng
lồ. Bỗng từ trên bầu trời cao tít bùng lên một cục lửa, ngay lập tức cục lửa đó
bị xé ra thành nhiều mảnh, tan tác tả tơi, vùn vụt lao xuống đất… Vang lên
những tiếng hò reo:
- Trúng rồi!
- Máy bay Mỹ rơi rồi!
Mấy người vội từ trong hầm ào ra, trên
đầu những mảnh lửa nhỏ to rơi lả tả. Thấp thoáng mờ mờ một bóng trắng bồng
bềnh, đu đưa. Cùng lúc tứ phía nghe tiếng thét lên:
- Dù! Dù! Phi công Mỹ nhảy dù!
Mấy anh em tôi lao ra cổng. Chị Bình
chạy theo giúp chúng tôi mở cổng. Người ta xô nhau chạy huỳnh huỵch trên đường
làng, tiếng ai đó hô to, dõng dạc như mệnh lệnh:
- Dù phi công Mỹ rơi về phía đồng thượng
làng mình!
Đám đông cả đàn ông, đàn bà, người lớn,
trẻ con vừa chạy, vừa hét, vừa la, vừa gọi nhau í ới, bất chấp cả sự hiểm nguy của mảnh bom
rơi, đạn lạc. Mấy bà lạch bạch chạy sau cùng, thấy anh em chúng tôi đứng lấp ló
sau vòm cổng, một bà thét lên vừa như thúc giục, vừa như trách móc:
- Không đi mà bắt giặc lái, còn đứng đó
làm gì?!
Chúng tôi như bị cuốn theo, vớ vội chiếc
đòn gánh, cây gậy tre... chạy theo ra phía đồng làng. Lúc này tiếng loa vang dậy
khắp đầu thôn, cuối xóm:
- Các anh chị em dân quân, du kích,
thanh niên nam nữ! Toàn thể nam, phụ, lão, ấu làng ta quyết không để tên giặc
lái máy bay Mỹ trốn thoát! Dù có chạy lên trời bà con ta cũng lôi nó xuống đây
trị tội!
Văng vẳng phía sau, tiếng bà cụ mẹ chồng
chị tôi réo gọi:
- Con mẹ thằng Yên ơi! Bụng mang dạ chửa
đi đâu?!
Chị tôi đi sau quày quả, vai vác cây đòn càn,
nói to lên như để đáp lại lời gọi đầy lo âu của bà:
- Chém cha quân ăn cướp!
Người ta chạy đã xa tít trên đồng, mấy
anh chị em tôi còn lẹt đẹt mãi sau. Phần vì chị tôi ậm ạch với cái bụng bầu.
Phần vì chúng tôi là người xa lạ, đường xá không quen... Cả một cánh đồng tiếng
người la quát râm ran... Cái dù trắng nằm phơi giữa đồng mà thằng giặc lái chạy
trốn đi đâu?! Người ta tỏa ra tứ phía sục sạo khắp bụi bờ. Đêm tối nhờ nhờ dưới
những ánh sao khuya nhấp nháy. Phía Hà Nội ánh lửa bốc rực lên nhưng khói đen
còn mờ mịt! Người ta không dám đốt đèn đuốc. Thỉnh thoảng có ánh đèn pin loáng
lên rồi tắt lịm ngay.
Đang đi trên đường mòn, chị tôi rẽ tắt
qua một gò mộ. Cái gò này cao, trống lốc. Chúng tôi đứng nhìn tứ phía và nghe
tiếng người lao xao. Chị tôi bước xuống một bờ ruộng cao nối vào gò mộ, bỗng
chị tôi ngã lộn xuống góc bờ cùng lúc tiếng chị la lên:
- Ối giời ơi!
Và tiếp đó là tiếng ồ ồ chu chéo, không
ra tiếng người, không ra tiếng thú, cùng với một bóng người cao lớn lênh khênh
nhô lên từ bờ ruộng rồi lăn bịch về phía bên kia. Tiếng chị tôi thất thần:
- Giặc lái đây rồi!
Và không biết bằng sức mạnh nào chị cũng
lao bật từ phía bờ bên này qua bờ ruộng bên kia. Chiếc đòn càn trong tay chị
đập bình bịch. Anh em tôi cũng la toáng lên:
- Giặc lái đây rồi!
- Giặc lái đây rồi!
Cùng lúc chúng tôi nhảy ngay về phía
chị. Chúng tôi thấy một đống đen lù lù ở góc bờ, dường như là một người cao
lớn, hai tay ôm đầu chúi sâu xuống đất, đít chổng lên trời, miệng rống lên
những tiếng ú ớ ồ ồ, không rõ nó kêu hay nó khóc! Trong đêm tối mù mờ, chúng
tôi chẳng kịp nghĩ gì. Như một phản xạ phòng thân, bằng những thứ có trong tay,
chúng tôi phang túi bụi như phang vào con rắn, con chuột ở góc bờ. Chẳng hiểu
những nhát gậy ấy đập vào đâu: vào bờ? vào ruộng? hay vào cái đống thịt nằm
chình ình ở đấy?
Người đâu mà đổ xô đến rất nhanh và đông
như vậy? Có ai đó gạt phắt chúng tôi ra, chị tôi ngã quay lơ, miệng vẫn còn la
ơi ới mà chẳng ai ngó tới! Người ta chen lấn đè lên cái đống thịt lù lù như xác
con trâu. Tiếng một người đàn ông nói lớn:
- Hãy bắt sống lấy nó! Ai đánh nó là vi
phạm chính sách tù binh!
Lẫn với những tiếng la hét, chửi bới ầm
ĩ ồn ào, tiếng thằng giặc lái rên ư ử… Nó đứng lên, cao lênh khênh như cái cột
nhà. Đám đông xô đẩy. Cái cột nhà cao đen trùi trũi di động. Tôi phải thét lên:
- Tránh ra, kẻo đạp vào người ta!
Trong nhập nhoạng bóng đêm, đám đông
người như một mảng bè trên sông trôi đi, mang theo những tiếng la hét xa dần.
Mấy anh em chúng tôi dìu chị về nhà.
Người chị lạnh ngắt. Dưới ánh đèn lù mù, da mặt chị tái xanh, nhợt nhạt. Chị
ghé vào tai mẹ tôi thì thầm điều gì. Mẹ tôi hốt hoảng cuống quýt bảo chúng tôi
phải đưa chị tới trạm xá xã ngay. Chúng tôi đặt chị lên cái chõng tre, luýnh
quýnh khiêng đi.
Trong đêm tối ầm ì tiếng máy bay, tiếng
cao xạ gần xa, tiếng còi hụ lúc báo động lúc báo yên... Ở đầu làng, người ta
đẩy thằng phi công lên chiếc xe tải quân sự chở về trên, thì ở gần đấy, anh em
tôi cột chiếc võng cáng trên hai chiếc xe đạp, bước cao, bước thấp chở chị tôi
lên bệnh viện huyện, cách đó cả chục kilômét...
Ở bệnh viện huyện, người ta chẩn đoán chị tôi bị Nhau bong non do
bị chấn động mạnh! Cái thai không thể giữ được. Chị tôi băng huyết tưởng chết.
Bao nhiêu dịch truyền vào người, huyết áp vẫn không lên được. Người ta động
viên chúng tôi cho máu. Trong cơn thập tử nhất sinh biết tính làm sao! May mà
có hai anh em tôi đồng nhóm máu, nên lấy được nửa lít máu truyền cho chị mới
tỉnh lại dần…
Cái thai nhi đẻ non trắng bệch, đã chết
từ trong bụng mẹ! Chúng tôi phải dấu mẹ con chị mãi, không dám nói thật cái
thai nhi đó là một đứa con trai!
Trong khi chị tôi ốm yếu, xanh xao, còn
nằm trên bệnh viện thì ở làng quê, đủ các thứ tin truyền cứ loang ra, không
biết từ đâu mà ai cũng tin là sự thật:
- Anh xã đội trưởng Quỷnh đã bắt sống
được thằng phi công Mỹ!
- Nếu không có anh xã đội trưởng lấy
thân mình che chở cho thằng phi công thì
người ta đã đánh chết nó rồi!
- Con vợ thằng Yên ở đâu nhảy bổ vào
đánh hôi, bị nó đạp cho đến nỗi cấn thai!
Ông Chủ tịch xã là cha anh Quỷnh, đứng
giữa đám đông đang hào hứng tại sân đình hùng hồn tuyên bố:
- Bà con thôn dưới, thôn trên không nề
nguy hiểm, khó khăn, quyết tâm bắt sống giặc trời Mỹ. Dù đau thương căm thù
biết mấy ta cũng phải thể hiện lòng nhân đạo, khoan hồng. Phải bảo vệ nó bằng
được vì nó sẽ là vốn quý cho ta đấu tranh ttrên bàn hội nghị. Chiến công này là
của bà con toàn xã. Nhưng công đầu là của lực lượng dân quân, du kích xã nhà!
Mọi
người hồ hởi hoan hô ông và thán phục con ông.
Mấy hôm sau, một tờ báo lớn đã đăng hình ảnh
hai cha con ông tươi cười trước dân làng kèm theo những lời đáp cuộc phỏng vấn
chớp nhoáng của phóng viên (PV) với anh xã đội trưởng (XĐT):
- PV: Trong đêm tối mù mờ, cả một cánh
đồng mênh mông và dưới lưới lửa đạn hiểm nguy như vậy, làm sao anh phán đoán
trúng hướng di chuyển của mục tiêu?
- XĐT : Tôi biết là bọn giặc lái Mỹ nó
được học hỏi chính quy, bài bản nên rất
mưu mô xảo quyệt. Nó không dại gì dấu mình trong những mục tiêu lộ liễu. Nó
biết lợi dụng địa hình vì thế tôi không sục vào những bụi rậm mà triển khai
sang hướng khác!
- PV: Bọn giặc trời này đã gây nên những
tội ác lớn lao với bà con ta như vậy, làm sao anh có thể kiềm chế được sự phẫn
nộ của mình và của bà con? -
XĐT: Khi tôi phát hiện được mục tiêu liền hô hào anh em hợp đồng tác chiến. Tên
giặc dù có ngoan cố nhưng cũng phải khiếp sợ trước lực lượng dân quân, du kích
và quần chúng nhân dân đông đảo. Nó run lên và ú ớ xin tha tội chết. Một số bà
con căm phẫn dùng gậy gộc đánh đập nó, tôi đã kịp thời lấy thân mình che cho nó
và kiên trì giải thích cho đồng bào rõ chính sách tù binh, đặc biệt là với bọn
giặc lái Mỹ này!
Chẳng mấy lâu sau, Nhà nước có sắc lệnh
tưởng thưởng cho xã huân chương Chiến công hạng hai và một chiếc hạng ba
cho anh xã đội!...
Chị tôi về nhà, người xanh lướt vì mất
máu, đi lại lẩy bẩy, gầy rộc hẳn đi và vẻ mặt đầy nét khổ đau! Trong lòng chị
đã tan nát cả một niềm hy vọng! Bà mẹ chồng chị trông còn khổ sở, suốt ngày rền
rỉ:
- Con ơi là con ơi!
Bà thương chị? hay thương con bà?!
Anh Quỷnh thời mới lớn cũng thích chị
Bình tôi. Bố anh thời kháng chiến chống Pháp là du kích xã, sau ngày hòa bình
ông làm xã đội rồi lên làm Chủ tịch xã. Anh Quỷnh chỉ học đến lớp 5 rồi bỏ học
vì cái tật nói lắp của anh làm cả thầy trò trong lớp không thể nín cười mỗi khi
anh bị gọi lên trước lớp trả bài. Anh lớn dần lên không ai để ý vì cái cố tật
ấy làm anh nhút nhát, ít dám nói chuyện với ai. Anh lụi cụi làm việc một mình
nên có dáng người vạm vỡ, hiền lành. Anh đến nhà chơi với chị Bình mà chỉ ngồi
nín lặng, vẩn vơ, đôi lúc buột miệng nói ra điều gì thì chị tôi lại quay đi,
kín đáo bụm miệng cười làm dòng tình cảm của anh đứt đoạn! Có thể là anh cũng
yêu chị Bình tôi, nhưng đó chỉ là mối tình câm, nên dù anh có miệt mài đeo đuổi
bao lâu thì mối tình ấy vẫn dậm chân tại chỗ! Mấy bà, mấy cô trong xóm lại đem
cái chuyện anh đến trồng cây nêu ở nhà chị tôi ra kháo với nhau như câu
chuyện làm quà lúc họ túm năm, tụm ba nơi đầu xóm lúc đình làng! Bà mẹ anh nghe
được, xót con, tự ái, nói chỏng cho bõ tức:
- Con tao đâu phải đui què mẻ sứt! Nhà
tao đâu phải nghèo hèn! Cửa nào con tao không vào lọt? Lấy vợ chọn tông, lấy
chồng chọn giống! Cái ngữ chẳng biết tông giống ở đâu, có các vàng bà cũng đếch
vào!
Rồi đùng một cái, ông bà Chủ tịch cưới
ngay cho cậu con trai trưởng của mình cô con gái ông Chủ tịch xã bên, bạn cùng
nếm mật nằm gai với ông thời trai trẻ. Chuyện phong thanh đến tai chị tôi, chị
đã khóc nhiều. Không phải chị tiếc cho duyên số bẽ bàng, mà chị tủi thân tủi
phận trời đầy chị thân côi cút!.
Anh Quỷnh từ ngày lấy vợ, vẻ mạnh bạo tự
tin hơn. Anh nói bớt cà lăm chỉ trừ khi anh tức khí chuyện gì. Anh còn dám trêu
ghẹo phụ nữ, dùng cả những lời tục tĩu làm các cô gái làng đỏ mặt chạy biến đi.
Có lẽ anh muốn trả thù cho cái thời trai xoan cứ phải ngậm miệng dằn lòng không
dám thổ lộ can tràng! Anh cày cuốc khoẻ và tham gia du kích. Có bố anh là cây
cột cái nên người ta dễ dàng giao cho anh chức “thôn đội” rồi lên “xã đội”. Là
nòng cốt của địa phương, nên những đợt tuyển quân, anh đều được yêu cầu giữ
lại. Thế là công việc lớn nhỏ của cả cái xã này: lo chi viện tiền phương, lo
đảm bảo hậu phương, hai cha con anh bốn tay chèo chống. Kể từ cái ngày bắt sống
được thằng phi công Mỹ đem về tấm huy chương đỏ chói luôn trưng giữa trụ sở Ủy
ban, làm vẻ vang cho cả xã, hai cha con anh càng có danh giá trong một xã ngoại
thành hầu như chỉ toàn những ông già, bà cả cùng với những đàn bà, con gái...
ĐỌC TIẾP
No comments:
Post a Comment