tiếng công khai tuyên bố ở lại Liên Xô
và ngay ở nước nhà cũng có nhóm người bị quy là xét lại đã bị cô lập về
tổ chức!
Tôi cảm thấy cha tôi lo lắng nhiều về
tôi. Tính tôi thẳng thắn, thật thà, bao giờ cũng bộc lộ và quyết liệt bảo vệ
chính kiến của mình. Có ai hiểu lòng con bằng cha mẹ? Năm 1966, tôi tốt nghiệp
Kỹ sư cầu đường bộ với tấm bằng đỏ. Việc tôi tiếp tục làm nghiên cứu sinh sau
Đại học để đạt được những học vị cao hơn là rất dễ dàng nhưng cha tôi quyết
định gọi tôi về nước. Trong thư gửi cho ông bạn Đại sứ, cụ nói: “Học vậy đủ
rồi! Nó phải về nước để hòa mình vào cuộc đấu tranh cách mạng. Nó sẽ
hiểu đâu là chân lý”! Tôi ấm ức: “Hay
là cụ sợ mất con và hệ lụy”! Học thì làm sao cho đủ? Chân lý ư? Thì từ thâm
tâm tôi vẫn xác định mình gắn bó sâu nặng với Tổ quốc, với nhân dân mình. Tôi
phân vân trăn trở: Có một chân lý chung không cho tất cả mọi người trong khi
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi con người có một yêu cầu bức xúc cho sự tồn tại
của mình? Tôi về nước với tâm trạng sẽ lăn xả vào cuộc sống bằng tất cả tâm
huyết cùng với các bạn bè tôi để được thấu tỏ lòng mình...
Anh đã biết rõ gia đình tôi rồi. Cha mẹ
tôi có bốn người con. Đứa em gái út, ba đứa trai đầu thì tôi ở giữa. Ông anh
tôi học về Kinh tế đối ngoại ở Cộng Hòa Dân chủ Đức trước tôi. Học xong, anh
tôi đề xuất với cha tôi xin làm trợ lý tùy viên của Đại sứ quán mình ở Đức. Tất
nhiên anh tôi đạt được nguyện vọng. Thằng em trai tôi lại có máu giang hồ lãng
tử, thích thơ văn. Nó học Tổng hợp văn xong, đi dạy học. Nó có thơ đăng trên
báo nhưng nó bảo đó là thơ hứng cảm phong trào còn thơ đích thực của nó thì để
khi nào bố... qua đời nó mới trương ra:
- Sợ cha bất đắc kỳ tử, tôi bị oan gia!
– nó nói.
Năm 1979 khi Tàu đánh qua biên giới phía
Bắc, nó cũng bị gọi tổng động viên. Bữa cơm tối để ngày mai tiễn nó lên đường,
nó ứng khẩu mấy câu thơ theo giọng thơ chinh phụ:
Dấu
binh lửa vẫn đang ngùn ngụt
Ngoài
biên thùy lại sự binh đao
Chém
cha cái kiếp ba đào
Nước
non chìm nổi, ra sao phận mình?!
Bố tôi nhắc nhủ:
- Con không nên bi lụy!
Mẹ tôi động viên:
- Con cứ yên tâm lên đường, ở đâu cũng
phải phát huy truyền thống cách mạng của gia đình mình con ạ!
Không biết nó hiểu ý mẹ tôi thế nào, mặt
nó tươi lên, tay nâng cao ly rượu về phía tôi, nó nói dõng dạc:
- Hổ phụ sinh hổ tử! Nhà này có cả một
bày cọp con!
Nó vào quân trường, rèn luyện mấy
tháng rồi được điều về Học viện Quân sự, làm giáo viên văn hoá.
Cô em gái tôi, lúc tụi mình chơi với
nhau nó còn lít nhít. Nó tốt nghiệp Đại học ở nước ngoài nhưng không về nước.
Nó lấy một anh chàng mắt xanh thứ thiệt. Cha mẹ tôi khổ sở vì nó. Cha tôi nhiều
lần qua để dụ nó về, nó đều lánh mặt. Nó gửi thư về giải thích rằng: “Tình yêu không biên giới. Bố là người cộng
sản, có mục tiêu phấn đấu cho một thế giới đại đồng với sự bình đẳng và tình
hữu nghị vậy mà bố lại chưa bỏ được nếp suy nghĩ hẹp hịi truyền thống phong
kiến từ bao đời! Người ta cũng như con chim vậy, ở đâu đất lành là chim đậu”!
Sau khi có chính biến ở Đông Âu, nó chạy qua một nước phương Tây, bỏ anh chồng
cũ lấy anh chồng mới là một thương nhân tuy già nhưng giàu có.
Tôi tìm đến nhà Tân, bố mẹ anh đã nghỉ ở
nhà vì lúc này mấy cơ sở công tư hợp
doanh làm ăn đình đốn nên không còn
nữa. Cụ ông sắm bộ đồ nghề sửa xe ngay ở cổng nhà. Cụ bà bày mẹt thuốc
lá cạnh ông. Khi tôi lên đường đi du học thì Tân hăng hái vào đội Thanh niên
xung phong lên miền Tây tổ quốc. Anh là cán bộ văn hóa, dạy học ở các công
trường, nông trường heo hút. Bà cụ kể độ một hai năm anh về phép một lần và mỗi
khi đi kèm theo một bao tải sách lặc lè! Tâm học xong trung học cũng theo đoàn Thanh
niên xung phong, đang ở miệt khu Bốn và đi sâu mãi vào miền Trung. Tôi thật
không ngờ! Cô em gái từ khi cái xí nghiệp hợp doanh của nhà giải thể thì
vào làm công nhân một nhà máy dệt. Cậu em út còn đang học cấp cuối phổ thông.
Tôi ước ao được vào bộ đội công binh
trực tiếp phục vụ trên các tuyến đường khói lửa ở tiền phương để được chia sẻ
với các bạn mình những nỗi gian lao nhưng bố tôi đã can thiệp để người ta xếp
tôi vào công tác ở Viện nghiên cứu và thiết kế của Bộ Giao thông Vận tải. Lý do
của cụ tất nhiên là xác đáng: Tôi có bằng đỏ, lại đúng ngành nghề vậy là rất
phù hợp với khả năng. Còn một điều cụ không nói ra nhưng tôi hiểu: Ông Bộ
trưởng là bạn thân của cụ từ thời tiền khởi nghĩa thì với năng lực và tư cách
của tôi, với sự bảo trợ của ông, tôi sẽ tiến xa.
Tôi muốn cưỡng lại nên cố lý sự để đạt
được ý mình thì anh trai tôi đã cho tôi bài học:
- Chẳng ai ngố như mày, ở đâu mà chẳng
là phục vụ! Trên bàn cờ phải có quân xe, quân tốt chứ!
Tôi ngạc nhiên nhìn anh thì em gái tôi
lúc đó mới tí tuổi đầu mà đã giảng giải cho tôi:
- Anh như sống trên mây, anh chẳng hiểu
xã hội là gì!
Thằng em tôi giải hòa rất khéo:
- Đâu Đảng cần ta có. Cha là Đảng mà
anh!
Tôi thấy thật lạ vì cha tôi vốn nghiêm
khắc, cụ luôn đòi hỏi mọi người phải nói năng nghiêm chỉnh chín chắn và rất
khắt khe với những lời nói bạt mạng không xứng đáng với gia đình mình nhưng bây
giờ cụ lần lượt nhìn các con, lắc đầu khó hiểu rồi bỏ lên phòng. Mẹ tôi cập rập
ôm mớ tài liệu và báo chí đi theo cha tôi.
NGỌC TRONG ĐÁ :
Tôi mê mải vùi
đầu vào công việc với tinh thần mỗi người làm việc bằng hai để không hổ
thẹn với các bạn mình đang lăn lóc trên những nẻo đường gian khổ. Tôi đã từng
là cán bộ Đoàn nhiều năm, những điều tôi đã nói với các bạn tôi là thực lòng
mình, bây giờ họ ở tuyến trước, tôi ở mãi tuyến sau là điều tôi thường dấm dứt.
Tuy nhiên hồi đó ở Hà Nội cũng rất khó khăn. Cơ quan phân tán hai, ba chỗ, mọi
người lòng dạ ngổn ngang việc nước, việc nhà. Cơ quan khoán việc cho từng
người. Tôi vừa đảm nhiệm trực chiến thường xuyên ở cơ quan, vừa sẵn sàng phụ
giúp các anh chị gặp khó khân vì gia đình sơ tán nhiều nơi. Bởi thế tôi có được
niềm tin yêu ở đồng nghiệp và lãnh đạo thì cũng là việc thường tình. Thật là
điều hiếm thấy đối với một kỹ sư trẻ, mới ra trường chỉ có mấy năm, chưa phải
là Đảng viên mà đã được giao trách nhiệm phó Phòng Kỹ thuật tổng hợp của Viện,
như tôi. Dù có được uy tín của gia đình thì cũng chỉ la một lý do để tăng thêm
độ tin cậy mà thôi.
Tôi cũng đã nhiều lần gửi thư cho Tâm
theo địa chỉ hòm thư, nhưng tin lại cũng chỉ vài thư khoan nhặt. Thư viết ngắn
và chỉ là những lời thăm hỏi bình thường, không một lời than vãn về những gian
khổ, hiểm nguy, cũng không một lời điểm tô hào khí kiểu của những người lính thập
tự chinh trên đường tuẫn tử vì một đấng chí tôn. Nàng nhớ Hà Nội những đêm
đông heo hút gió, nhớ chiều thu nhàn nhạt nắng vàng... Nàng lo cho những người
thân thích làm sao vượt qua được những khó khân. Nàng xót xa về những dãy nhà
phố xưa đổ nát, những con đường thân quen bị cày xới đạn bom. Nàng tha thiết
được sống yên bình trong căn gác cũ cùng cha mẹ, anh em và được gặp lại bạn bè.
Nàng ước mơ lại được cắp sách tới trường. Nhưng nàng không một lời nhắc đến kỷ
niệm ngọt ngào của hai đứa chúng tôi. Lòng tôi tha thiết nhớ mong và thôi thúc
một dịp gặp em.
Vào khoảng năm 1970, nhân có một đoàn
lãnh đạo củ Bộ đi thị sát tiền phương, tôi xin được cùng đi. Cha tôi băn khoăn,
cụ nói: -
Con là người nghiên cứu khoa học, thực tế chính là những số liệu cụ thể mà con
có thể yêu cầu người ta cung cấp cho con. Đào tạo một cán bộ khoa học giỏi đâu
có dễ!
Nhưng chuyến ấy có ông Bộ trưởng cùng đi
và ông cũng muốn tôi đi theo đoàn.
Anh đã từng là người lính thực thụ của
Trường Sơn ngày đó, anh biết rõ hơn tôi về sự ác liệt của chiến tranh trên
những nẻo đường. Và tôi đã tìm lại được Tâm trong khói lửa đạn bom trên những
con đường ấy. Đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời tôi!
Cuối nhữngnăm 1960 gần như toàn bộ lớp
trẻ phía Bắc đều dồn về giải Trường Sơn. Một đêm, xe tôi theo một đoàn xe bộ
đội hành quân qua khu vực Cổng Trời. Đường bị bom đạn cày xới nát nhừ, bộ đội
không thể ngồi trên xe. Đêm tối mênh mông. Chiếc đèn dầu nhỏ ngọn leo lét dưới
gầm xe chỉ đủ tỏa ra một khoảng sáng mờ nhạt không thoát ra ngoài vòng bốn bánh
xe lăn. Trên trời, tiếng máy bay trinh sát ro ro, eo éo, đôi lúc lại bùng lên
một trái dù pháo sáng lửng lơ, lay lắt, bầu trời đang tối đen, bỗng lung linh,
mờ ảo, đung đưa và nhạt mờ dần theo ánh hỏa châu rồi lại chìm vào bóng tối mênh
mông. Nhờ nhờ bóng những người mặc áo trắng đứng làm cọc tiêu bên bờ ngầm, bên
miệng những hố bom. Những cọc tiêu sống ấy đều là phụ nữ! Nam Thanh niên xung phong
đang san đường lấp hố. Bộ đội bám theo xe vượt mau qua trọng điểm. Tất cả những con người tứ xứ ấy
như bầy chim lạc tha thiết muốn tìm gọi về đàn. Đủ mọi âm thanh hỗn độn: bổng,
trầm, ngắn, dài, thanh, cộc... phát ra từ một guồng máy cơ khí chạy đều. Một
tràng đại liên 12ly7 từ chiếc máy bay C130 bắn vu vơ trong khoảng đêm mù mịt.
Tiếng đạn chói tai! Ánh lửa đạn đỏ nhòe nhấp nhoáng dòng người hỗn độn. Những
bóng trắng mờ mờ của các cọc tiêu người vẫn giữ nguyên vị trí. Tiếng hét lanh
lảnh như ra lệnh:
- Bình tĩnh! Nó bắn vu vơ! Nhìn cột tiêu
làm đích, vượt mau!
Trong cái cảnh lửa đạn chết chóc ấy mà
tiếng người chỉ huy thật rõ ràng, đĩnh đạc, vừa là lời động viên vừa như là
mệnh lệnh đã tạo được một niềm tin. Tiếng la lớn mà vẫn trong trẻo, ngọt ngào.
Trong hốt hoảng tôi vẫn cảm giác mơ hồ như tiếng vọng từ xa thẳm ký ức một
thời! Tôi cùng xe hướng tới ngầm nơi có tiếng người chỉ huy can đảm ấy. Những
chiếc cột tiêu rì rầm biết nói! Tôi điếng người vì nhận ra giọng nói quen thuộc
ngay sát bên tôi:
- Bình tĩnh các đồng chí! Quan sát các
cột tiêu, tiến mau lên phía trước!
Tôi tiến sát tới cột tiêu vừa phát ra âm
thanh đó:
- Tiếng ai nghe sao mà quen thế?!
Cùng lúc hai đầu chúng tôi chạm sát vào
nhau và cùng thốt lên:
- Tâm!
- Anh Thanh!
Chúng tôi ôm chặt lấy nhau tưởng như
thân thích, ruột rà.
- Anh ơi! Hà Nội mình có sao không?
- Chỉ sây sát sơ thôi! Tất cả còn nguyên
vẹn!
Đôi vai em run lên trong cánh tay tôi
ghì chặt! Giữa cuộc hành quân không thể nói dài. Chia tay nhau, tôi chỉ kịp mò
mẫm, nguệch ngoạc ghi số địa chỉ hòm thư mới của em. Chạy theo xe, tôi vẫn nghe
vẳng tiếng em dặn với:
- Nhớ tin cho em nhé!
Đứng trên lưng chừng dốc đá, nhìn lại
phía em, dưới ánh hỏa châu vàng vàng lay lắt, những bóng đen dài người xe lẫn
lộn như một dòng nhấp nhô sóng lớn đôi lúc ánh lên những mảnh sáng lăn tăn của
dòng nước chảy dưới chân. Bóng em lẫn trong những bóng cột tiêu nhờ nhờ trăng
trắng như trời trồng bên bóng đoàn quân. Tôi rùng mình sờ lên vai áo, thấy đã
ướt đẫm. Ngồi lại trên xe xóc lộn người mà tôi như mộng ảo. Tôi nghĩ về các cọc
tiêu. Tôi nghĩ đến em: Ôi! Em là cọc tiêu
hướng ra tiền tuyến cho thắng lợi của cuộc chiến tranh này! Em là cọc tiêu
hướng cho đời anh không lạc lối!...
Những ngày dừng lại làm việc ở cung
trạm địa đầu này, một hôm tôi đưa địa chỉ của em hỏi anh cung trạm trưởng,
anh thốt lên:
- A… Minh Tâm! Đó là một Đại đội trưởng Thanh
niên xung phong giỏi nhất cung đường này. Gái Hà Nội mà tháo vát, dũng cảm
và sáng tạo lắm. Còn được mệnh danh là kỹ
sư cầu đường nữa đó! Người thân của ông hả? Tôi sẽ cho đón lên ngay!
Chiều tối hôm sau em đã theo xe về tới
trạm nghỉ của chúng tôi!
Người ta nói có thức lâu mới biết đêm
dài, cả đêm ấy chúng tôi không ngủ mà đêm sao qua mau thế? Đêm rừng Trường
Sơn âm u, leo lét những ánh đêm mờ khuất trong hầm. Chúng tôi cũng không nhớ đã
nói với nhau những gì, chỉ biết rằng chúng tôi vẫn yêu nhau, tưởng đã mất nhau,
giờ đây tìm lại được nhau và sẽ không bao giờ để lạc nhau trong cuộc đời này
nữa. Tôi đã đặt nụ hôn cháy bỏng trên đôi môi em giá lạnh và tôi đã nuốt vào cả
những giọt nước mắt mằn mặn và nồng ấm của em. Lúc sớm mai, em lại theo xe về
đơn vị gấp:
- Em phải về ngay thôi, công việc bộn bề
lắm. Những người như anh ở đây rất cần. Em cứ phải mò mẫm tự học mà làm. Họ gọi
em là kỹ sư cầu đường nghe mà thấy ngượng! Ngày trước em ước mơ thành
bác sĩ chữa bệnh cho người. Bây giờ khác rồi, chừng nào yên bình, em sẽ theo
nghề xây dựng cầu đường như anh. Em sẽ sửa lại những con đường chiến tranh hiện
nay cho hiện đại, sẽ ích lợi biết là bao nhiêu!
Trước mọi người chúng tôi chỉ nắm tay
nhau dặn với. Tôi muốn níu em lại bên tôi thêm chút nữa.
Tôi theo Đoàn đi kiểm tra tới Bắc Tây
Nguyên rồi lại quay ra. Lúc nào lời Tâm cũng văng vẳng bên tai: “Những người
như anh ở đây rất cần. Em cứ phải mò mẫm tự học mà làm”, thôi thúc tôi.
Những ngày sắp về tới trạm địa đầu, tôi mạnh dạn trình bày ý định của mình với
ông Bộ trưởng:
- Bác ạ! Cả một tuyến đường dài và quan
trọng thế này, bao nhêu là vấn đề chuyên môn cực kỳ phức tạp: đường bộ, đường
xe, đường ống dẫn dầu, cầu treo, phà, ngầm… dù có đơn sơ nhưng vẫn phải đảm bảo
an toàn, có nơi bắt buộc phải làm cả cầu bán kiên cố nữa. Vậy mà lực lượng cán
bộ kỹ thuật cơ bản quá ít!
- Cháu nói đúng! Bác rất suy nghĩ về
điều này. Cán bộ chuyên môn mình thiếu quá. Nhưng ở đây ngoài sự hiểu biết về
chuyên môn còn có yêu cầu phải có lòng dũng cảm xả thân thì mới làm được việc!
- Cháu xin được ở lại với tuyến đường
này, vừa giúp cho anh chị em về kỹ thuật vừa chuẩn bị cho cháu một nội dung đề
tài nghiên cứu khoa học có thể viết thành luận án!
- Người ta nói: Nhà nghèo mới biết
con có hiếu. Nước loạn mới biết tôi trung, những người như cháu thật quý.
Nhưng bác sợ bố cháu trách!
- Cháu ở lại một thời gian cũng
được. Mình nỡ lòng nào chỉ biết đi thị sát rồi phán chung chung! Phải có giải
pháp thiết thực và cụ thể, cần thiết thì mình cũng phải lăn xả vào làm. Nếu
không mình không hoàn thành trách nhiệm!
- Bác tán thành thôi! Vậy cháu ráng giữ
gìn cẩn thận rồi mau mau trở về nhé. Những người như cháu rất cần cho hôm nay
và cả cho ngày mai nữa!
Tôi đã ở lại cung trạm ác liệt
địa đầu này. Tôi đã làm được những công việc thiết thực cần đến khả năng chuyên
môn của mình. Tâm và tôi đã là những cộng sự tâm đắc cùng nhau. Chẳng những tôi
được toại nguyện mong ước bấy lâu là được chia sẻ bao nỗi gian truân với các
bạn bè cùng lứa trẻ ngay ở tuyến đầu cuộc sống. Và cũng ở đây tôi đã tìm lại
được mối tình trong sáng buổi ban đầu tưởng như đã mất. Tôi nhớ đến tâm sự của
nhà thơ lớn Petofi: Sống vì tình yêu và rượu ngon / Chết hy sinh cho Tổ quốc / Đời ai được thế này /
Đó là người hạnh phúc! Tôi đâu cần gì nữa? Tôi năng nổ, xông xáo và làm hết
sức mình. Lời khen ngợi lan truyền khắp cung đường dài hàng trăm kilômét: Một
chàng đi học nước ngoài về, đẹp trai, can đảm, có tài, có mối tình son sắt thủy
chung với một cô gái Hà Nội xinh đẹp, tài ba, đảm đang, dũng cảm mà lại hiền
dịu, dễ thương!
Tôi và Tâm không ở chung một chỗ. Tôi ở
với Ban chỉ huy cung trạm và đi lại thường xuyên vào ra dọc một tuyến
đường. Mỗi lần tới đơn vị của em, tôi được em chăm sóc chi li từng việc nhỏ. Em
kiểm tra từng chiếc khuy, chiếc dây cột võng và dán kín lại những lổ thủng của
tấm tăng. Một lần, sau những nụ hôn nồng nàn thắm thiết, tôi âu yếm hỏi:
- Em có tin rằng chúng mình sẽ rất hạnh
phúc hay không?
Em nép vào ngực tôi thủ thỉ:
- Trước đây em còn hoài nghi. Bây giờ
thì em tin vì em với anh đã hoàn toàn bình đẳng!
Tôi ôm chặt em vào lòng và nói trêu em:
- Vì em đã cải tạo tốt quá rồi chăng?
Em nhìn thẳng vào mắt tôi và nói với nét
mặt nghiêm nghị và giọng nói rõ ràng nhưng đầm ấm:
- Nhắc lại chuyện đã qua ấy làm gì! Một
thời tuổi trẻ ngây thơ cũng không có gì đáng trách. Cuộc sống đã cho em thấy
rằng không ai có thể cải tạo được cho ai nếu người ta không tự giác. Đúng ra là
mỗi người luôn tự cải tạo mình vì suy cho cùng đó là một quá trình thích nghi
để tồn tại. Hôm qua anh chẳng có gì, hôm nay anh đã có tất cả trong tay, có ai
đảm bảo được rằng anh vẫn sau trước một lòng? Như vậy cải tạo mình mới khó làm
sao! Nhưng nói cải tạo làm chi cho nó nặng nề. Chẳng phải là con người ta luôn
hướng thiện? Vậy chẳng lẽ phải dùng đòn roi để hướng con người đi đến chân lý
hay sao?
Tôi nóng tai, hỏi lại:
- Có ai ép buộc em vào Thanh niên
xung phong và đi tới nơi này?
- Chẳng có ai ép buộc được em đâu! Em
muốn thử sức mình. Mỗi người có một hoàn cảnh sinh ra và lớn lên rồi phụ thuộc
vào đấy. Cuộc đời có khi may thành rủi và rủi lại thành may. Nếu chỉ biết bám
vào cái đã qua, người ta dễ chết chìm. Nhớ những ngày Hà Nội mưa to, bọn nhóc
tụi em chơi thả thuyền giấy cho nó trôi theo dòng nước bên đường. Em đã như con
thuyền ấy trong cơn mưa bão và theo dòng nước lũ cuốn vào đây!
Tôi nhìn em khâm phục, không ngờ rằng cô
em gái nhỏ ríu rít thuở nào giờ đây đã thành người dày dạn. Thật sự em đã
trưởng thành hơn tôi trong cuộc sống. Tôi ghì chặt em vào ngực mình yêu thương,
trân trọng như muốn bảo vệ em – con chim
bé nhỏ, cánh diều chơi vơi, con thuyền mỏng mảnh…
“Tôi đã sống ngần
năm trời trên tuyến đường Trường Sơn ngày ấy. Tôi đã thật sự hòa mình với những
chiến sĩ cao xạ phòng không, với những chiến sĩ công binh chân đồng vai sắt,
với những nam nữ Thanh niên xung phong từ mọi miền đất nước dồn vào đây
bán trụ đêm ngày. Tôi đã cùng họ chịu chung những cơn mưa bom bão đạn,
đã cùng nhau gánh vác một mối lo toan, đã chia sẻ với nhau những khó khăn gian
khổ. Và cũng chính ở đây, mối tình của tôi được thử thách và trở thành cao cả.
Bây giờ có một số tác phẩm văn học mô tả
về lớp thanh niên ấy thật là quái dị! Người ta tả một đơn vị bộ đội chiến đấu
ròng rã năm, bảy năm trời trên một địa bàn ác liệt để giữ đất, giữ dân mà hệt
như một phường lục lâm thảo khấu! Người ta mô tả một đơn vị Thanh
niên xung phong với những chàng trai, cô gái ngờ nghệch dại khờ và sống
ngẩn ngơ hay cuồng loạn chẳng khác chi bầy khỉ trong rừng! Ngươi ta tìm tòi
những tình tiết u uẩn éo le để biện minh cho những anh chàng trốn lính! Họ có
biết rằng cho đến hôm nay, dù thời thế đã đổi thay nhưng ở bên kia đại dương,
Tổng thống Mỹ vẫn không dám công khai biện hộ cho hành vi chống nghĩa vụ
công dân của mình (TT Bill Clinton chống thi hành nghĩa vụ quân sự, phản
đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam – NV) dù là những người điều hành cuộc chiến
tranh lúc ấy đã hối hận và đắng cay thừa nhận những sai lầm của họ. Nhưng ở
Việt Nam ,
nếu không có những người con gái, con trai dám tự nguyện xả thân vì nghĩa lớn
thì liệu có được một đất nước vẹn toàn, thống nhất hôm nay? Người ta nói đó là
hiện thực, đó là con người đích thực đời thường, đó là tính nhân bản phải có
của văn chương! Thực ra họ chú trọng đến bản năng sinh vật và coi nhẹ bản
năng con người trong mỗi cá nhân. Họ lạm dụng lòng nhân ái, lượng bao dung
của con người để đòi tha thứ tất cả và tôn vinh tất cả! Đành rằng trong cuộc
sống có những con người thế này thế nọ và ngay ở một con người cũng có lúc này
lúc khác, nhưng để có một lớp người dám hy sinh một cách vị tha cao cả như thế
phải có sự chế ngự bản năng đáng khâm phục biết bao! Mỗi người phải tự kiềm chế
mình và mọi người phải biết kiềm chế lẫn nhau. Trong điều kiện ấy, thực tế đã
sinh ra không ít người khắc kỷ và khổ hạnh! Chúng ta đã phải chịu đựng những
đau khổ, dày vò, nhiều lúc căng thẳng tưởng không sao chịu nổi! Song để làm gì?
Phải hướng cả vào một mục tiêu. Đành rằng có những kẻ lừa lọc và xảo trá! Nhưng
hãy nhìn suốt một chặng đường lịch sử với bao nhiêu thế hệ: Cuộc sống càng gay
gắt càng đòi hỏi mỗi người phải biết chế ngự bản năng! Chính vì có chế ngự được
bản năng người ta mới phát huy được lòng nhân ái và xây dựng được mối quan hệ
tốt đẹp giữa con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội. Chính vì biết chế ngự
bản năng mà người ta mới giữ gìn được nhân cách, bảo toàn được nhân phẩm. Chính
vì biết chế ngự bản năng mà một dân tộc dù nhỏ vẫn trường tồn trước những thử
thách khốc liệt của lịch sử. Vậy biết chế ngự bản năng là cần thiết trong đời
sống cộng đồng. Nó vừa là sự tự giác vừa là sự phục tùng. Bây giờ thế hệ ấy
đang chìm dần vào bóng tối của thời gian! Làm thế nào để miêu tả hết tầm vóc
của những con người ấy trong những trang sử ký? Đã có một số tác phẩm văn học
kể về những người anh hùng của đời thường với những tấm gương sáng để đời.
Nhưng ai dám nói được một người nào đó, ngay cả những nhân vật có tầm cỡ lớn
lao đã góp được mấy phần trăm? Hay mấy phần nghìn vào sự nghiệp vĩ đại mà đầy
những mất mát hy sinh lớn lao như vậy? Thật là tội lỗi khi ta mới chỉ phác thảo
vài nét đơn sơ chân dung của một thế hệ đã vội phóng tay nguệch nét bút làm
biến dạng đi chân dung về lớp người đáng tôn kính ấy! Tôi thật không ngờ
anh phẫn nộ, hăng hái và xúc động như vậy! Như anh đang bảo vệ chính
mình và cho cả mối tình tuyệt đẹp đã tan vỡ của anh! Vẻ mệt mỏi, anh ngả lưng
trên ghế, đôi mắt nhìn xa xăm như hướng tìm về dĩ vãng. Đứa con gái của tôi
mười bốn tuổi tập đàn organ. Tiếng đàn đang thánh thót nhịp nhàng bỗng ngập
ngừng lạc điệu. Tôi nói:
- “Faute” (lỗi) rồi!
Cháu ngượng ngùng nhìn tôi và anh. Anh
nhìn cháu âu yếm và nhẹ nhàng động viên:
- Không sao! “Faute” một vài nốt nhạc có thể chỉnh lại dễ dàng thôi! – và quay
qua tôi: ... Nhưng “faute”
trong cuộc đời thì thật là tệ hại!
Anh dừng lại, mắt nhìn đi đâu như hướng
về nơi xa xăm nào rồi lại ngập ngừng kể tiếp:
“Thời gian gần một năm, thật ngắn mà
cũng thật dài. Nó đã như một túi hành trang nặng suốt đời vẫn mang theo. Tôi đã
làm việc như một người lính trong chiến đấu. Tôi đã hiểu được thế nào là tình
bạn, tình đồng chí và tình yêu thật sự. Tôi đã được hưởng trọn vẹn những tình
cảm ấy và đó cũng là nỗi đau quặn thắt một đời tôi!
Tôi luôn được điện của cha tôi thúc giục
về và vài lần điện của Bộ nhắc nhở mau xong việc thì ra. Việc đến bao giờ xong
được?! Con đường mới sửa, chưa đi đã bị đứt ngang! Một con đường, một cây cầu
mới thông xe đã lại mở thêm tuyến khác táo bạo, bất ngờ! Tuy không cấu trúc tân
kỳ bởi bê tông trụ thép, nhưng là sự liên kết những trụ, khối không chất keo
dính như người ta xây dựng kim tự tháp ngày xưa! Nhưng những nhà kiến trúc cổ xưa ấy, khỏi phải lo tính toán sự chịu
đựng sức rung, sức nén của những khối thuốc nổ khổng lồ! Mọi người vẫn cần đến
sự có mặt của tôi. Tôi lần lữa, mải mê với công việc và tình yêu lẫn lộn. Cuối
cùng, một buổi tối ngày cuối năm, anh cung trạm trưởng đưa cho tôi một công
điện khẩn: Tôi phải ra ngay ngoài Bộ theo chuyến xe đặc biệt sớm mai.
Thời gian gấp gáp, tôi ghi vội một trang
thư :
Minh
Tâm!
Có điện khẩn của Bộ lệnh anh về gấp cùng
chuyến xe ra đặc biệt sớm mai. Anh không thể xuống chia tay em được! Anh rất
cảm phục em và rất yêu em! Chúng mình đã yêu nhau không chỉ bằng sự rung động
đầu đời của người con gái, con trai; Còn hơn nữa, chúng mình đã cố công tìm đến
với nhau, mất bao nhiêu thời gian, sức lực để hôm nay anh và em – mỗi đứa đã
tìm được cho mình một tình yêu đích thực! Vì thế lần xa này không thể là mãi
mãi! Chiến tranh ư? Anh không sợ vì chúng ta sẽ thắng! Chúng ta đã từng “trông
chết cười ngạo nghễ” thật sự bên những con đường, bên những dốc, ngầm, “ta luy”
vách núi chứ không phải là cảm hứng thi ca! Vì thế nhất định chúng ta CÙNG ĐỢI
NHAU VỀ.
Hôn em thắm
thiết…
Tạm biệt em !
Trời chưa rạng sáng, tranh thủ thời gian
êm ả trong ngày, xe tôi chạy ra phía Bắc. Khoảng 6 giờ, sương mù còn dày đặc,
xe tôi chạy khuất sau một dãy ta luy nham nhở vết đạn bom, đằng trước là
một quãng đồi trống ngổn ngang cây đổ và lồi lõm hố bom. Xe phải vượt nhanh
khúc này, phía bên kia chừng km là dãy núi đá và rừng già sừng sững. Xe đang
lao nhanh, bóp còi inh ỏi. Tiếng còi xe đập vào vách núi dội lại khoảng trống
trước mặt đồng sương nghe ong ong đục đục như đang có một chiếc xe đi ngược lại
cũng nổi còi báo hiệu. Bỗng một bóng người lao vọt ra giữa đường xe, tay giơ
cao chiếc cờ hiệu đỏ và phất lia lịa ra dấu cản đường, nghe thét lên một giọng
nữ vang vang:
- Dừng la… a... i… lại!
Cùng lúc với bóng người ấy nằm sấp xuống
đường thì từ phía sau đồi phát lên một tiếng nổ bùng và một đám khói
quánh đặc tung lên. Tiếp ngay đó là tiếng mảnh đạn, tiếng đá văng veo véo, vù
vù. Rồi là một cơn mưa đất, đá, cành cây... giội xuống chúng tôi!
Xe chúng tôi méo mó! Bạt xe rách nát!
Mấy anh em trong xe thương tích đầy mình! Chúng tôi như sống dở chết dở thoát
khỏi thùng xe! Người báo hiệu cản đường đang nằm bất động trước mũi xe chúng
tôi chừng 20 mét! Chúng tôi chạy tới vực người ấy dậy. Đó là một nữ Thanh niên
xung phong! Một tảng đá to nặng cả tạ lăn từ ta luy xuống đè lên
chân phải của cô! Tôi chết điếng người khi nhận ra người đó là… Minh Tâm! Em
đang làm nhiệm vụ cảnh giới tại căn hầm ở đầu đồi. Đây là trái bom nổ chậm cuối
cùng mà đội Thanh niên xung phong của em phá trong buổi sáng nay. Chính
Minh Tâm đã cứu chúng tôi thoát chết!
Tôi không nhớ bằng cách nào người ta đã
đưa được chúng tôi vào trạm quân y. Ở đây tôi ngầy ngật vì chấn thương và tinh
thần tôi choáng váng vì tai nạn của Tâm. Chừng một, hai ngày sau tôi hoàn hồn
lại, mới hay người ta đã cắt mất đoạn chân phải của Tâm tới trên đầu gối. Lúc
này tôi càng không thể rời Tâm!
Ngoài Hà Nội biết tin tôi bị tai nạn đã
yêu cầu bằng mọi cách phải chuyển tôi ra sớm. Nhưng tôi từ chối và nói thẳng lý
do.
Khoảng hơn một tháng sau, khi chúng tôi
đã ổn định, binh trạm được lệnh chuyển cả tôi và Tâm cùng ra một chuyến.
ĐƯỜNG CÔNG DANH :
Về Hà Nội, chúng
tôi nằm viện ít ngày thì bình phục. Tâm được chuyển tới trạm điều dưỡng ở Bắc
Giang.
Trở về cơ quan, tôi đã thành một
người hùng. Ở tuổi tôi lúc đó, được giao chức trưởng Phòng kỹ thuật tổng hợp
một viện đầu ngành của một Bộ lớn. Đúng là một trọng trách và cũng là một vinh
dự lớn lao. Từ thâm tâm, tôi thấy công việc có nặng nề nhưng lòng mình nhẹ nhõm
bởi việc đề bạt này không phải là một đặc ân do sự ưu ái ban ơn mà nó có được
là bằng sự tận tụy và thành tích thật sự của mình. Ai cũng biết rằng, chức vụ
này trước nay vẫn do ông Viện phó chuyên môn trực tiếp điều hành. Vậy là con
đường hoạn lộ của tôi rộng mở. Chỉ ít lâu sau Bộ cho tôi một thời hạn ngắn lo
chuẩn bị một đề tài đặng qua Mascơva hoàn thành luận án Phó Tiến sĩ chuyên
ngành. Tôi hăm hở lao ngay vào công việc bởi đây là những trăn trở, suy tư trên
mồ hôi, xương máu của đồng đội chúng tôi. Tôi trình bày với lãnh đạo đề tài: Tổ
chức thiết kế và thi công hệ thống cầu đường bán kiên cố trong điều kiện địa
chất và hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam , được lãnh đạo han nghênh vì nó
có tính ứng dụng thực tiễn.
Tâm đã là người cộng sự của tôi. Nàng
làm việc cần mẫn, tỉ mỉ, sửa lại bản nháp, kiểm tra và sắp xếp các số liệu, có
khi tôi lúng túng về một số giải pháp cụ thể thì nàng cũng suy tư trăn trở như
tôi, đôi khi có những ý kiến khá độc đáo khiến tôi phải giật mình về sự thông
minh, táo bạo nhưng được việc của nàng. Mấy năm trời lăn lóc trên tuyến đường
này đã rèn luyện nàng dày dạn về nhiều mặt. Có lúc tôi lên tại khu an dưỡng tìm
Tâm. Có lúc Tâm về nhà nghỉ ở nhà cả tháng. Có những ngày cô nữ sinh nổi tiếng
xinh đẹp một thời của trường nữ học Trưng Vương ấy lặng lẽ chống nạng với cái
chân phải lủng lẳng đi tới nhà tôi trên đường phố Hà Nội vắng lặng trong tiếng
còi báo động máy bay inh ỏi.
Cha mẹ tôi hiểu được vai trò của nàng
trong sự nghiệp của tôi. Cha tôi luôn tỏ ra quí mến và nhã nhặn với nàng. Mẹ
tôi thường có mặt để giúp đỡ nàng mỗi khi nàng đến nhà làm việc với tôi. Tôi
được hoàn toàn thanh thản để tập trung lo cho sự nghiệp. Một đôi lần tôi bộc lộ
cử chỉ bồng bột, Tâm sẽ sàng khuyên:
- Hãy bình tĩnh lại anh, phải hoàn thành
sự nghiệp của anh xong đã!
- Những lúc tâm tình, tôi mơ tới ngày
mai của hai đứa chúng tôi, nàng bình thản nói:
- Phải suy nghĩ kỹ anh ạ ! Sự thể giờ đã
khác rồi! Hạnh phúc không thể xa rời thực tế!
Tôi không chấp nhận những suy nghĩ vẩn
vơ ấy của nàng. Tôi kể lại bao kỷ niệm tốt đẹp đã gắn bó chúng tôi. Tôi chân
thành nói lên lòng biết ơn với nàng đã quên mình vì cuộc sống và sự nghiệp của
tôi. Tâm buồn rầu nói:
- Trong tình yêu không thể có sự ban ơn!
Tình yêu phải luôn bình đẳng về mọi mặt!
Tôi tỏ vẻ lo lắng cho tương lai của
nàng, nhưng nàng lại rất tự tin:
- Người ta chỉ có thể thông cảm với nhau
chứ không thể sống thay cho nhau được. Mỗi người có một số phận rủi, may! Nếu
không tự mình vượt qua được số phận thì sống làm sao được?!
Ngày sắp lên đường, tôi hỏi thật về dự
định của em:
- Hồi còn đi học em muốn thành thầy
thuốc để giúp người qua những cơn đau bế tắc! Khi cùng đồng đội vật lộn với
những con đường trên giải Trường Sơn, em muốn thành nhà chuyên môn về kỹ thuật
cầu đường! Bây giờ cả hai đều không thể được! Có lẽ em sẽ làm nghề dạy học. Em
không dạy lớp lớn đâu. Ở tuổi mới vào đời, nhìn thương tật của mình nó hay suy
nghĩ vẩn vơ, không ích gì cho nó cũng chẳng hay cho mình. Em dạy trẻ nhỏ thôi.
Chúng nó vô tư, hồn nhiên, trong sáng, chỉ nghĩ những điều thánh thiện!
Nàng nói trong vẻ suy tư.
Ngày lên đường, tôi bồn chồn chờ Tâm.
Đến giờ phút chót, em gái Tâm mang đến
phong thư ngỏ ghi mấy dòng:
Tâm chúc anh lên đường bình an, sự
nghiệp thành công. Tâm xin được chia sẻ hạnh phúc cùng anh!
Em: Tâm!
Tôi không còn lòng dạ nào để vui vẻ chia
tay với mọi người. Trước phút lên xe ra sân bay, bố tôi nhắc nhủ một câu luân
lý:
- Tình yêu và sự nghiệp phải hổ trợ cho
nhau, con ạ!
Mẹ tôi vuốt ve tôi như con nít, nói một
câu an ủi lửng lơ:
- Con cứ yên tâm tập trung vào việc học
hành, bố mẹ sẽ lo tất cả cho con!
Thằng em trai nhà giáo kiêm “thi sỹ nửa
mùa” nói một câu bâng quơ không hiểu đùa hay thật:
- Tất cả hãy yên lòng. Ở nhà mình đã có
một tấm gương vĩ đại, mọi người cứ nhìn vào đó mà soi!
Cha tôi trừng mắt nhìn nó.
Xe tôi rồ máy vọt đi. Tôi cũng chẳng
quay lại vẫy chào những người đưa tiễn vì mắt tôi mãi rõi trên đường phố vắng
mong thấy bóng nàng...
Suốt trên chuyến máy bay đường
trường, tôi chỉ nghĩ đến Tâm: “Em xin được chia sẻ hạnh phúc cùng anh!”
– Không, hạnh phúc này là của em! Và phải có em nó mới là hạnh phúc!
Liên tưởng đến những lời căn dặn của bố
mẹ, tôi nghĩ cha mẹ tôi đã thấu hiểu lòng con...
No comments:
Post a Comment