MỘT CHUYỆN TÌNH - TRANG 1

MT  CHUYN  TÌNH
{ 

GẶP GỠ :
                       
Tôi về Hà Nội để sang áo cho mẹ tôi. Hôm nay tôi về lại thành phố Hồ Chí Minh. Bây giờ tôi là kẻ một chốn đôi quê. Hà Nội là cái nôi tôi lớn lên thành người với bao kỷ niệm đầm ấm ngọt ngào của tuổi ấu thơ và niên thiếu. Thành phố Hồ Chí Minh với những dấu ấn buồn vui sâu sắc một thời chiến tranh khốc liệt rồi một cuộc sống hối hả đầy khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường.
Cả chục năm xa quê, nay về thấy ông bà, cha mẹ mồ yên mả đẹp, bà con họ mạc, bạn bè có cuộc sống dễ chịu, có định hướng cho một tương lai tốt hơn, mọi người mở lòng chia sẻ cho nhau những niềm vui và cả những băn khoăn. Ngồi trên chuyến tàu nhanh chạy suốt Bắc–Nam, lòng tôi bâng khuâng xao xuyến. Ngả lưng trên chiếc ghế tựa, mắt tôi lim dim hướng lên trần toa, chiếc quạt bé xíu quay lè xè, ánh đèn vàng vàng mờ nhạt, tôi bồn chồn vừa lưu luyến vừa chờ mong. Con  đường xe lửa như hai sợi chỉ mảnh mai rung rinh chạy song hành xa tít mù khơi, ở nơi cuối kia vợ con tôi đang nhớ đợi và nơi đầu này là sự bịn rịn của những người thân thiết tiễn đưa, lòng tôi rưng rưng như sống trong nửa hư, nửa thực. Tôi bỗng  nhẩm mấy câu hát một thời chợt tới: Ở hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn 
Ôi, thời đã qua ấy sao đẹp mà buồn?       
Ông khách già ngồi bên tôi giáp nơi cửa sổ không biết thức hay ngủ, đầu ngả trên thành ghế lúc la lúc lắc, tay ôm khư khư vào lòng cái túi da đen, đôi lúc lại buông một tiếng thở dài não nuột. Quanh tôi, người ta nhỏ to đủ thứ chuyện. Có những lời ta thán tàu chạy còn ì ạch, về bữa cơm trên tàu đuểnh đoảng, về lòng tàu quá hẹp để khách ngồi chật chội. Riêng tôi thấy thỏa mãn lắm rồi.
Mấy mươi năm trước cũng trên những chuyến tàu này, lúc còn chiến tranh cũng như lúc đã hòa bình, không biết bao nhiêu lần tôi đã xuôi ngược vào ra. Chuyến tàu nào cũng đầy những người nhảy tàu, lậu vé. Riêng tôi chưa bao giờ thiếu tiền vé một xu dù là với đồng lương bao cấp thời ấy còn eo hẹp vậy mà chưa lần nào tôi có được một chỗ ngồi yên ả, đàng hoàng, thường là phải bám thành tàu hoặc đứng ém mình giữa đám đông hỗn độn già, trẻ, gái, trai. Đôi lần may mắn được ghé trên một tấm gỗ để được gọi là ngồi thì cũng phải ép mình như nêm cối! Ấy là chưa kể đến một vài lần tôi bị giật, rạch ba lô, túi xách. Bây giờ ung dung ngồi trên ghế nệm mềm, cả thân mình được lúc lắc đung đưa theo nhịp con tàu. Tôi cho là mãn nguyện! Phải chăng tôi đã nhuốm màu an phận của những người luống tuổi?
Tôi đã qua một đêm với lòng lâng lâng thanh thản trong cái đung đưa lúc lắc đều đều của một chuyến tàu xa êm ả, gợi nhớ cảm giác dìu dịu như được nằm lọt trong lòng với cánh tay mềm mại nâng niu và ngọt ngào lời mẹ ru êm. Cho đến lúc trời sáng bạch, mọi người trên toa đều thức tỉnh, nhộn nhạo cho một ngày mới thì tôi và ông khách đồng hành ngồi bên định thần và nhận ra nhau.
Chúng tôi từng là bạn cùng chung học một lớp ở trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội thời nửa sau những năm 1950. Sau những phút đầu ngỡ ngàng, bây giờ tôi mới ngắm kỹ bạn mình: hồi trước anh to khoẻ, cái miệng rất có duyên lại hay cười mà khi cười thì đôi mắt tít lại trông rất đa tình vậy mà bây giờ anh gầy guộc, vẻ trầm mặc, hố mắt hơi sâu nên đôi mắt có vẻ to ra sau tròng kính lão, nói chuyện với bạn mà anh như đang tư lự đâu đâu, đôi mắt nhìn vào khoảng không xa vắng như đang đeo đuổi một cái gì, mái tóc anh chỉ còn ít sợi nâu hung lưa thưa trên nền bạc trắng.
Thời ấy lớp trẻ học sinh chúng tôi sống sôi nổi và say mê lý tưởng trong cái không khí dạt dào hân hoan của toàn miền Bắc và lòng người phơi phới ánh vàng sao. Anh là con nhà cách mạng nòi mà sống rất giản dị và khiêm tốn, không hề khoe mẽ về gia thế để tôn lên cá nhân mình vì thế anh nhập cuộc với đám trai Hà Nội chúng tôi một cách tự nhiên. Ông thân anh hoạt động từ thời bí mật, đã từng tù đày gian khổ, nếm mật nằm gai. Chúng tôi coi ông như mẫu người lý tưởng. Ông giữ một chức vụ gì  đó ở một cơ quan lớn của Trung ương. Ông bận công việc tối ngày, chúng tôi đến nhà bạn chơi thường xuyên mà ít được gặp ông. Đôi lần được ngồi tiếp diện với ông trong phòng khách đơn sơ là một vinh dự của chúng tôi lúc đó. Ông thường khuyên chúng tôi phải thẳng thắn đấu tranh, giữ gìn đoàn kết, xác định mục đích của sự học là vì tổ quốc, vì nhân dân phục vụ, luôn phấn đấu quên mình vì sự nghiệp chung. Chúng tôi muối lời ông như nuốt chất men say.
Khi học hết Cấp ba, phần lớn chúng tôi tứ tán gian truân. Tôi còn may mắn được ngồi thêm sáu năm ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Anh bạn tôi được đi nước ngoài học một mạch bảy năm. Khi tôi khoác ba lô đi “B” thì anh vẫn còn ở mãi tận Mascơva – nơi có ngôi sao đỏ trên tháp điện Kremly chói lọi đêm ngày. Chúng tôi nghĩ về anh rất thực lòng: cha làm con hưởng là lẽ thường tình.
Sau này cuộc sống mỗi người một khác, chúng tôi không có dịp gặp nhau. Nghe nói anh bạn lấy vợ cùng đi học ở Nga, con nhà môn đăng hộ đối, đường công danh của anh rộng mở. Trong những bon chen của cuộc đời thường, nghĩ về anh đôi lúc chúng tôi cũng mềm lòng tin vào số phận.
Bây giờ không ngờ sau hơn ba mươi năm, coi như gần hết đời người, chúng tôi lại là bạn đồng hành của nhau trên một chuyến tàu xa.
Anh tuy ít nói nhưng vẫn giữ được vẻ chân thành, khiêm tốn nên tình cảm bạn bè của thời học sinh trong sáng hồn nhiên ngày nào khơi dậy trong tôi và bây giờ là sự đồng cảm với cuộc sống hôm nay khiến chúng tôi thấy quí mến, tin tưởng nhau như những ngày nào.
Những mẩu chuyện rời rạc anh kể tôi nghe hơn một ngày qua trên chuyến tàu suốt Bắc–Nam gợi cho tôi cảm nghĩ như khúc dạo đầu của một bản sonate về một đời người. Và khi con tàu dừng bánh ở ga chót Hòa Hưng, trong cảnh ríu rít đầm ấm của sự đoàn tụ gia đình, với lòng chân thành chia sẻ cùng anh sự lẻ loi đơn độc, vợ chồng tôi tha thiết mời anh cùng lên một chuyến taxi về nghỉ ở nhà tôi.
Thật là một cuộc kỳ ngộ. Anh đã ở nhà tôi cả tháng trời. Chúng tôi đã sống với nhau chân thành, cởi mở và đã vượt qua tình bạn hồn nhiên thông thường của thời niên thiếu bởi qua thăng trầm của cuộc đời và gió bụi thời gian, chúng tôi đã thật sự là người có ích cho nhau trong lúc một người đã tưởng như đời mình đi vào bế tắc.
Không biết giờ này bạn tôi đang làm gì, nghĩ gì? Những dự định cho phần đời còn lại bạn đã làm được đến đâu? Riêng tôi vẫn nhớ về bạn với tình cảm thân thiết, mến thương và tôi xin ghi lại nơi đây những điều bạn đã kể cho tôi nghe và tôi được biết về cuộc đời của bạn – của một con người tưởng như là may mắn.

MỘT THỜI NIÊN THIẾU :    

Thời ấy tuy còn nhiều khó khăn thiếu thốn mà sao mọi người hoặc ít ra thì lớp trẻ chúng mình sống cứ phơi phới nhìn về tương lại với bao kỳ vọng và cả một niềm tin gần như tuyệt đối. Tôi lại may mắn sinh ra trong một gia đình mà các anh vẫn gọi là cách mạng nòi. Nếu hiểu nòi theo nghĩa khoa học là sự di truyền của gène mà đời thường người ta thay bằng mỹ từ truyền thống thỉ ở đất nước mình cả mấy trăm năm nay lịch sử luôn biến động, thăng trầm, có mấy ai giữ được cái gène nguyên truyền thống dòng tộc nhà mình? Tôi không được biết ông bà cố kỵ thế nào vì cũng không  bao giờ thấy cha mẹ tôi nhắc tới. Chỉ biết cha tôi là một thầy giáo làng, cũng như nhiều người, ông rất ghét Tây và tham gia chống đối chính quyền đô hộ, thường phải sống cuộc đời hiểm nguy, phiêu bạt, có lúc hị bắt bớ, tra tấn, tù đày. Rồi ông hoạt động ở vùng kháng chiến trong thời chống Pháp. Người ta gọi những người như ông là nhà cách mạng, chắc họ nghĩ các vị sinh ra để làm những việc rung trời chuyển đất, thay đổi cuộc đời này! Ông là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, đến lúc hòa bình ông được gọi về Trung ương. Cả nhà tôi được rời xứ miền Trung sỏi đá!
Về Hà Nội, chúng tôi là nòng cốt tin cậy của Nhà nước nhân dân non trẻ, được hưởng sự ưu ái của chế độ. Vậy là tôi sinh ra đời như một ngôi sao tốt số!
Anh biết hồi đó tôi tích cực hoạt động trong Đoàn thanh niên. Thực sự, lúc đó ở tuổi 15-17, lại được cha mẹ nuôi cho ăn học thì mình đã hiểu gì về đấu tranh giai cấp nhưng cả thế hệ trẻ bị lôi cuốn vào cái trào lưu ấy! Sự hiểu của mình thật đơn giản: những cái gì trái với chủ trương chính sách của Nhà nước ta là làm hại tới mục tiêu xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất đất nước, là chống lại lợi ích của dân tộc và giai cấp! Là cán bộ Đoàn cốt cán, tôi được đi tham dự các buổi đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất ở vùng nông thôn ngoại ô Hà Nội, được dự các buổi đấu tranh cải tạo tư sản ở các xí nghiệp tư doanh. Cùng lúc ấy, trong giới học đường chúng mình kết hợp với xã hội, rộn ràng lên việc phê phán Nhân văn–Giai phẩm. Ai cũng nghĩ rằng làm tốt được những việc đó là góp phần dẹp bỏ những chông gai, trở ngại trên con đường đi tới tương lai. Anh em học sinh chúng mình lúc ấy cả tin và hăng hái thật. Với sự hăng say bồng bột của tuổi đôi mươi, tôi thành tâm nghĩ rằng mình đang được hòa trong cuộc đấu tranh giai cấp lớn lao và những người thoát thai từ nô lệ như dân tộc mình chỉ mất xiềng gông, còn được tất cả : giang sơn gấm vóc rộng dài, thế giới bao la ngập tràn tự do với tình hữu nghị. Và mối tình của tôi bắt đầu từ đấy, đeo đẳng cho mãi tới hôm nay, nó như một món nợ đời nặng vay, nhẹ trả.
Trong lớp mình hồi ấy, phần lớn gia đình anh em sinh sống ở Hà Nội đã lâu nên ít nhiều đều có dây dưa đến chính quyền cũ đã di tản vào Nam. Số học sinh cốt cán như tôi chẳng mấy. Tôi tự nhiên thành người vừa phát động vừa phát hiện những bất thường về mối quan hệ xã hội trong trường lớp chúng mình.
- Anh có nhớ anh Tân? Gia đình anh ấy nay ở đâu? Và Minh Tâm – em gái anh Tân ?!
Tôi hăng hái ngắt lời anh:
- Vâng, tôi nhớ chứ! Tân là một đứa nổi trội trong đám bạn mình hồi ấy, y đen nhẻm mà hàm răng trắng muốt, bọn mình vẫn gọi là Othello đó. Tân học giỏi lại lắm tài: kịch, vẽ, đàn, hát đều hay. Cả trường biết hắn. Ông bà cụ rất nghiêm. Có cô em gái tên Tâm học trường Trưng Vương rất ngoan và đẹp. Tân là tay hoạt động hăng hái lắm. Gia đình anh là tư sản nên anh còn điêu đứng hơn mình nhiều.
- Đã hơn ba mươi năm, bây giờ tôi đi tìm Tân, tôi đi tìm Tâm – mối tình của tôi!
           
Thời gian anh ở nhà tôi khá lâu, những lúc rảnh rang anh lại kể tôi nghe một khúc hồi ức của mình. Chỗ nào xúc động, tôi lảng qua chuyện khác. Giờ tôi chắp nhặt lại những mẩu chuyện đứt quãng của anh:
“Gia đình Tân là tư sản, thật sự không biết giàu có tới mức nào nhưng ở Hà Nội mình thời ấy có hơn nhau bề ngoài cũng chỉ là chiếc xe đạp Peugeot với cái xác nhà! Gia đình Tân có một xưởng dệt nhỏ thì đã gia nhập công tư hợp doanh, cả hai ông bà đều thành người sản xuất. Các cụ cải tạo lao động giỏi thật vì suy cho cùng khởi đầu họ là những người lao động cần cù, biết làm ăn và có chí mà nên. Lúc ấy, Đoàn thanh niên phát động học sinh toàn trường hãy giúp đỡ các gia đình tư sản cải tạo tốt. Qua tâm sự của Tân, tôi được biết ngoài ngôi nhà đang ở tại đầu phố Phùng Hưng, gia đình anh còn có một ngôi nhà ở phố Hàng Đậu cho chú anh đến ở. Chúng tôi đã động viên cụ khai thật ra điều đó để khỏi bị coi là phân tán tài sản. Tôi còn nhớ lời ông cụ tâm sự trong khi cụ bà thì rầu rĩ :
- Của cải mình làm ra thì tiếc thật. Nhưng chớ vì của mà để thiệt đến người. Còn người là còn của. Của cải nó biến hoá như gió như mây, khi đen khi bạc, lúc này là gia tư điền sản, lúc nọ lại chính là người. Để mất người vì của chỉ là kẻ hám lợi, tiểu nhân!
Và ngôi nhà ấy đã thêm với phần tài sản cụ góp chung vào vốn hợp doanh. Tôi như người hùng trong trường lúc đó và Tân như một học sinh tiêu biểu về sự giác ngộ giai cấp đã được phát triển Đoàn.
Cha tôi rất hài lòng về tôi và cụ luôn theo dõi, khuyến khích, động viên tôi.
Nhà Tân ở là ngôi biệt thự hai tầng, thời đó ở vậy là rộng lắm. Đoàn thể địa phương vận động vì tình nghĩa đồng bào hãy nhường sẻ cho nhau những lúc khó khăn, mai sau con cháu lớn lên, Nhà nước sẽ lo cho chu đáo. Gia đình anh gom lại chỉ ở ba căn trên gác, còn lại giao cho chính quyền địa phương sắp xếp. Và gia đình chú tôi đã được đến ở phần dưới của nhà anh.
Cho đến nay tôi vẫn chưa hiểu được tại sao gia đình anh Tân vẫn tỏ ra quí mến tôi? Tôi đến nhà anh thường xuyên và được gia đình coi như người bạn thân thiết của anh. Phải chăng bởi sự chân thành say mê lý tưởng của tôi đã được gia đình cảm mến? Tôi thường tâm sự nói lên ước vọng của mình được trở thành kỹ sư công chánh, tôi sẽ đi ngược xuôi khắp nước, tới tận những vùng hoang vu hẻo lánh mở mang những con đường và xây những chiếc cầu. Chao ôi! Nghĩ tới một mạng lưới giao thông hiện đại, tôi nói như say. Tâm thích thú quá, trêu tôi:
- Liệu anh có dám từ bỏ địa vị nhà quí tộc tân thời?
Tôi nóng tai vì coi đó là sự xúc phạm tới mình. Tôi không sao giải thích để Tâm hiểu được rằng chúng tôi theo những nhà cách mạng kiểu mới, sẽ không bao giờ lặp lại lịch sử bằng sự thay thế tập đoàn thống trị này sang tay một tập đoàn thống trị khác để rồi đâu lại vào đấy như bấy lâu nay. Tôi tự nhủ chỉ có hành động và hành động, rồi Tâm sẽ hiểu.
Tâm lúc đó tuổi chừng 15-16, còn tôi ở tuổi mười tám-đôi mươi. Ở tuổi ấy dễ say mê những điều táo bạo và lãng mạn. Chúng tôi mến thân nhau cũng chẳng có tình chi, nhưng dù sao một chàng trai mới lớn nuôi nhiều hoài vọng, lại có một em gái xinh đẹp dễ thương tin cậy và cảm phục thì lẽ nào không có những cảm giác vương vấn, ngọt ngào. Đôi lúc nhớ về em, tôi chợt nhớ mấy  câu thơ: Em là gái bên song cửa /  Anh là trai bốn phương trời. Tôi tưởng như mình là cánh chim vỗ nhịp cao tít mù khơi và em đứng đó. Đó là sự khởi đầu của mối tình ngây thơ trong sáng mà sao tôi đã để mất đi, cho một đời day dứt!
Sau khi học hết bậc phổ thông, tôi được qua Liên Xô học. Anh Tân thi vào khoa Lý Trường Đại Học Sư Phạm nhưng không đậu mặc dù trong giới học sinh mình thời đó đã có bài ve: Nhất Y–Nhì Dược–Tạm được Bách khoa–Sư phạm qua loa–Nông lâm bỏ xó! Thật tình tôi cũng tiếc cho anh ấy lắm. Cho đến nay tôi vẫn rất khâm phục thái độ của Tân. Trong buổi chia tay tôi. Tân nói:
- Cậu được bay cao, bay xa, mình chia sẻ niềm vui với cậu! Còn mình phải rèn luyện và phấn đấu nhiều.
Trước ngày lên đường, tôi và Tâm đi chơi trên đường Thanh Niên. Anh còn nhớ chứ, con đường ấy cả thế hệ học sinh Hà Nội thời đó đều từng sôi nổi đổ mồ hôi vào những ngày thứ bảy cộng sản chủ nghĩa. Những xe đất đầy ắp từ phía sông Hồng vượt qua đê Yên Phụ vào lao xuống dốc Cổ Ngư. Tụi mình thay nhau làm bò mà lòng vẫn phơi phới nghĩ về tấm gương của lớp thanh niên Xô Viết đầu tiên trên tuyến đường sắt Maxcơva–Cadan. Trời thu hồ Tây loang loãng và nhè nhẹ, ngọn gió hiu hiu gợn sóng lăn tăn vỗ rung rinh những bông sen rã cánh bên những lá sen tơi tả. Tôi nắm tay em run rẩy. Đấy là lần đầu tiên trong đời thằng con trai 18 tuổi là tôi được nắm tay người bạn gái bé nhỏ thương thương của mình và qua bàn tay ấy muốn nói lên rằng lòng mình đang bối rối! Bàn tay nhỏ mịn của em mềm nhũn trong tay tôi! Cả hai đều im lặng, cùng với sự im lặng của thinh không, dường như chúng tôi nghe được tiếng tim của nhau đang đập rộn ràng. Em bỗng như sợ sệt, rút tay ra, chạy vượt trước tôi. Khi tôi đến được bên em, em nhìn tôi phảng phất nét buồn và hỏi tôi trong hơi thở hổn hển:
- Liệu anh có sợ ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của mình không?!
Bây giờ nói lên những câu ấy lớp trẻ cười riễu bọn mình! Nhưng đấy là sự thật của một thời xa vắng! Thời ấy sự giàu nghèo chẳng mấy cách xa mà sự phân biệt giai cấp lại cực đoan! Bây giờ sự giàu nghèo chênh lệch rất nhiều nhưng người ta đã quen gọi nhau là đồng chí! Coi đó là lẽ đương nhiên của giai đoạn kinh tế thị trường! Tôi nói với em thật thà, nghiêm chỉnh và có pha chút tự hào:
- Nếu em đã tin và yêu anh có nghĩa là anh đã cảm hóa được em rồi!
Em cười:
- Vậy ra anh là Petxôrin (*) đấy!
Thật tình lúc đó tôi cũng muốn học đòi người anh hùng thời đại ấy.
Chúng tôi đi bên nhau lặng lẽ sánh đôi suốt đoạn đường dài về đến nhà em. Chú tôi đứng hóng gió dưới sân, không kịp chào tôi, em chạy một mạch lên gác nhà em. Tôi đứng ngẩn ngơ ngoài cổng, mùi hoa sữa phủ khắp quanh tôi ngàn ngạt, nồng nồng. Tôi thấy nằng nặng nơi ngực của mình.

BÀI HỌC ĐẦU ĐỜI :
           
Tôi qua Liên Xô được vào học ở trường Đại học xây dựng Kíev – thủ đô nước Cộng hòa Xô viết Ucraina. Thời ấy mình chọn người đi học chủ yếu là dựa vào lý lịch, thành phần. Đất nước lại mới hòa bình chưa có thời gian cho anh em học hành đến nơi đến chốn cho nên mười người qua học chỉ có dăm người học được. Nhiều anh em học đuối, nhưng vì tình hữu nghị nước bạn họ cũng cố kèm cặp rồi cho tốt nghiệp. Thậm chí có người nhận học vị hẳn hoi mà tiếng Nga nói còn ú ớ! Một số quá đuối, họ đành giao lại cho Sứ quán mình để đưa về nước! Tôi may mắn được học đều đặn ở một trường trung học lớn có tiếng ở Thủ đô, tôi biết rõ mình được hưởng sự ưu đãi đặc biệt trong khi nhiều bạn bè mình học hành rất khá nhưng lại không có điều kiện để được vươn lên, thế là tôi lao vào học. Năm nào tôi cũng được các thầy khen và được Đại sứ của mình khích lệ. Bố tôi mỗi lần qua nước bạn công tác hoặc nghỉ mát lại tới thăm tôi. Cụ rất hài lòng và khuyên tôi cố gắng học tập và phấn đấu nhiều hơn nữa để xứng đáng là lớp người trụ cột của đất nước sau này. Tôi vùi đầu vào việc luyện ngôn ngữ Nga và cả đống sách vở chuyên môn nên thư từ với Tâm không nhiều lắm nhưng vẫn giữ đều tin đi tin lại. Chúng tôi động viên nhau thi đua học hành để thành người có ích cho Tổ quốc mai sau.
Lúc đó Liên Xô được coi như thiên đường của chúng ta. Mà quả thật một đất nước Nga bao la với nguồn tài nguyên phong phú còn tiềm ẩn, một nền văn hoá lớn thăm thẳm như rừng Taiga đại ngàn với những thành tựu khoa học cả nhân loại phải nghiêng mình, một xã hội hòa bình, ổn định với tình hữu nghị đầy tính vị tha. Chúng tôi – những người trưởng thành nhờ sự bảo trợ của tình hữu nghị cao cả ấy, vẫn cảm thấy xót xa, luyến tiếc trước sự tan vỡ của một Liên bang vĩ đại!
Ai từng cắp sách tới trường đều có mơ ước vươn tới đỉnh cao tri thức. Điều may mắn đến với chúng tôi thật suôn sẻ, dễ dàng trong khi với bao bạn bè trang lứa thì đó là một mơ ước xa vời! Một lần biên thư, Tâm kể rằng đôi lần Tâm đến nhà tôi “nhưng em cảm thấy bố mẹ anh dè dặt! Thật ra tình cảm của chúng ta mới chỉ là tình bạn, muốn sâu hơn phải có sự chân thành, bình đẳng cả hai bên, kể cả trong quan hệ gia đình”.
Dù sao thì lớp thanh niên chúng mình thời ấy tuy háo hức vươn tới tự do nhưng vẫn quan tâm tới việc điều hòa sự thăng bằng trong các mối quan hệ cá nhân, gia đình và xã hội. Một lần đến thăm tôi, bố tôi hỏi về mối quan hệ với Tâm. Tôi trả lời cụ rất thản nhiên:
- Hiện nay thì chỉ là tình bạn, nhưng con nghĩ khi học xong, về nước, tình cảm của chúng con có thể sâu hơn!
Ông cụ lắng nghe, sau khuyên tôi hãy tập trung vào chuyện học hành, rồi cụ nhắc nhở thêm:
- Chuyện riêng tư cần thận trọng. Chớ để tình cảm lấn át lý trí. Con hãy nhớ rằng con sẽ là lớp người rường cột của đất nước sau này!
Tôi thật thà nói với bố tôi:
- Tất cả các bạn con đã kết thân đều chung một lý tưởng với con. Con tin rằng trong số các lá phiếu bầu bố là đại biểu Quốc hội của nước Việt nam dân chủ cộng hòa có cả những lá phiếu của gia đình Tâm nữa!
Cha tôi lắc đầu:
- Con còn non nớt lắm! Đó chỉ là sách lược!
Tôi cự lại:
- Sách lược! Là chúng ta hay là họ? Chúng ta vẫn chẳng tự hào rằng ta có đủ khả năng cải tạo cả thế giới này vậy mà khi thành người cầm quyền chúng ta lại tỏ ra nghi kỵ xa lánh hắt hủi người ta. Rồi ra ai sẽ tin mình nữa?
Bố tôi đứng dậy, nghiêm nghị nói:
- Bố không muốn con là “người thứ 41” đâu!
Lớp chúng mình không thể nào quên chuyện tình giai cấp ấy. Anh sỹ quan bạch vệ Nga hoàng và cô du kích bị bỏ rơi trên hoang đảo? Lúc ấy họ là hai con người cô đơn, cần dựa vào nhau. Và họ yêu nhau. Nhưng khi nhập với đời, họ lại thành kẻ thù của nhau. Và anh chàng sỹ quan đẹp trai kia thành nạn nhân thứ 41 dưới nòng súng lạnh lùng của cô du kích! Tôi tỏ thái độ bất bình và nói thẳng chính kiến của mình:
- Con không sợ mình bị tiêu diệt. Con chỉ sợ sự nghiệp của mình tiêu tan khi mình vẫn còn sống sờ sờ bởi những sự giáo điều, thiển cận!
Cha tôi giận, cụ bỏ ra về!
Cha tôi là người tôi rất tôn kính xưa nay. Với tôi, cụ vừa là hiện thân của lẽ phải, của ước mơ, vừa là người trực tiếp dìu dắt tôi từng bước tới tương lai tôi hằng mong ước. Đây là lần đầu tiên tôi khác ý với  cha tôi! Anh nhớ đó là vào thời điểm gay cấn nhất của hai quan điểm đối nghịch nhau: một bên là “Thi đua hòa bình giữa hai chế độ” và một bên là “Bạo lực cách mạng với vai trò của chuyên chính vô sản”. Người ta gọi nhau là xét lại với giáo điều, ra sức công kích nhau bằng những lời cay độc và không từ cả những hành động đố kỵ tầm thường!
            Giới du học sinh tụi tôi ở Liên Xô và Đông Âu lúc đó căng thẳng lắm. Suy cho cùng thì mình vẫn chỉ là người quen ngồi trên ghế nhà trường, những chuyện phức tạp như vậy phải là người từng trải, lăn lóc chính trường mới hiểu. Hiện tượng hội họp, truy chụp cho nhau nhiều lúc tôi thấy hoang mang. Muốn quên mình vào chuyện học hành cũng chẳng được yên. Thực tế có một số người tăm 

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment