CHƯƠNG KẾT
Hợp – Tan – Tan – Hợp
Hợp – Tan – Tan – Hợp
a{b
Nhân Tín được ban phụ trách trại gọi lên. Mấy ông cán bộ nét mặt tươi
tỉnh trang nghiêm lắm:
- Có lệnh… trả quyền công dân cho anh kể từ
hôm nay!
Nhân Tín gật nhẹ cái đầu, kìm mình ráng không
biểu cảm ra ngoài.
- Anh có nhớ thời gian đã qua là bao nhiêu lâu
không?
- Thật ra lúc đầu tôi trông từng giờ, từng
ngày, từng tháng, từng năm. Nhưng dần tôi không có khái niệm về thời gian nữa.
- Chúng tôi theo dõi thấy anh như cam chịu nên
chẳng cần ý tứ giữ gìn gì. Những biểu lộ bướng bỉnh tưởng như là chống đối
nhưng thực ra chỉ là sự trực tính của người có tự ái cao. Liệu chúng tôi có lầm
không ?
- Cảm ơn các ông đã không có hành vi bạo lực
với tôi.
- Anh có điều gì oán trách chúng tôi không?
- Lịch sử các cuộc chiến tranh, quyền của kẻ
thắng là có thể làm cả những điều bại hoại nhân luân. Kể cả đội quân thánh
chiến trong cuộc Thập tự chinh thời trung cổ đến quân đội của Napoléon, của
Hitler, của Nhật hoàng đã làm gì trên những đất nước bị thất trận, người dân
Trung Đông và Châu Âu cũng như Châu Á mãi không quên. Ở nước ta, quân
Nguyên-Mông, quân Minh, quân Thanh, đã làm những gì, các thế hệ người Việt Nam
dù chính kiến khác nhau nhưng đời đời đều oán hận. Huống chi một cuộc chiến
tranh khốc liệt kéo dài mấy mươi năm, biết bao nhiêu oán thù chồng chất. Một
bên thắng, một bên thua trong keo quần nhau chí tử ắt phải có sự trừng phạt.
Giả như bên chúng tôi thắng, tôi cũng không thể đảm bảo với các ông một sự tốt
lành. Trong gia đình tôi cũng có người theo các ông và bị bên chúng tôi bắt tù
đày. Nói thật tôi cũng thấy căm giận và xấu hổ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói
trước Quốc hội rằng nếu Việt cộng chiến thắng, ít nhất sẽ có hai trăm ngàn
người bị giết trong khi dư luận vống lên tới hai triệu người! Không có
một cuộc tắm
máu đã là một điều không thể oán hận
các ông. Đúng ra là phải oán hận những kẻ lừa dối
phản bội mình. Có điều là các ông đánh giá qúa cao các tổ chức và vai trò cá
nhân của đối phương, cảnh giác qúa mức, không đặt mình trong hoàn cảnh của
người sống ở một xã hội hoàn toàn khác, dễ ngộ nhận để quy kết và đã không ít
người mắc vạ. Nó làm mất đi mối thiện cảm bấy lâu vẫn âm thầm trong lòng họ.
Ông trưởng trại già vẻ mặt khắc khổ chăm chú
nghe, gật gật cái đầu, giọng rủ rỉ của người từng trải:
- Quân đội cách mạng chiến đấu để giải phóng
quê hương và đồng bào mình khác hẳn về bản chất cuộc chiến tranh của quân xâm
lược. Nhưng dù sao người đứng ở hai bên chiến tuyến có cái nhìn khác nhau về
nhiều mặt là điều tất nhiên thôi. Bây giờ đất nước hòa bình thống nhất rồi,
chúng ta có thừa thời gian để hiểu nhau, điều chỉnh cho nhau để cùng hòa hợp
với những ai thành tâm hướng về nguồn cội và tương lai của quốc gia dân tộc
mình… Trở về nhà, anh có ý định làm gì không?
- Các ông không sợ chúng tôi làm nguy hiểm cho
xã hội?
- Vì đề phòng như thế nên chúng tôi mới phải
gom lại và từ từ lần lượt đưa các anh nhập vào xã hội. Anh chưa phải là người
cuối cùng mặc dù tính ra cũng đã 8 năm 4 tháng 16 ngày. Tuy nhiên chúng tôi có
xem xét về nhiều mặt. Xã hội càng ổn định vững vàng chúng tôi càng mau chóng
trả các anh về cho tới hết. Chúng tôi trút đi được gánh nặng này.
- Trước đây chúng tôi cảm phục các ông về tinh
thần hy sinh chiến đấu. Ở đây, chúng tôi cảm phục các ông về tinh thần chịu
đựng. Đời sống của các ông như thế thì người tù làm sao đòi no đủ được?
Mấy ông cán bộ cười khà khà:
- Thiếu đói thế mà sao trông anh cứ phây phây?
Chúng tôi nghĩ gia đình anh ở Sài Gòn thì giàu có, ở Hà Nội thì đầy đủ, ngoài
sự viện trợ về vật chất cụ thể chắc còn có lắm đồ bổ dưỡng kín đáo để cho anh
dành bồi dưỡng?
Cán bộ cởi mở, Nhân Tín tỏ ra thân thiện:
- Viện trợ thì cũng có nhưng chung quanh bao
nhiêu người khổ thế làm sao nuốt trôi qua cổ được? Mỗi lần chia sẻ chỉ được ít
ngày.
- Trong đó có phần cho số anh em quản giáo
chúng tôi? – Ông trưởng trại nét mặt nghiêm lại, có vẻ hơi buồn:… Việc đó là
nghiêm cấm nhưng chúng tôi không thể theo sát từng người. Thực lòng, nhiều thứ
anh em chưa từng được biết. Khổ thế đấy! Dù sao cũng là việc chẳng hay ho gì.
Nói ngược nói xuôi đều đúng cả. Các anh tù. Chúng tôi tu nhưng là tu không tự
nguyện nên dễ phá giới. Chỉ mong mau thoát của nợ này.
- Không! Chính các anh nhường cho tôi đấy! Tôi
phải cảm ơn nhiều lắm.
Mọi người nhìn Nhân Tín ngạc nhiên lắm. Anh
tủm tỉm:
- Lên đây hai năm, các anh giao cho tôi đàn bò
mấy chục con. Tôi chăn bò, con nào cũng béo tốt, lại đẻ sòn sòn, bò số tăng,
các anh tín nhiệm lắm và tôi tha hồ được… bú bò!
Mọi người ồ lên kinh ngạc:
- Thảo nào tớ để ý thấy cậu ít ăn sáng lắm, cứ
tưởng cậu có ý đồ gì. Bú thế nào? Con bò cũng chịu cho người bú à? Có ghê
không?
- Các anh để phí nhiều của qúi lắm! Đói dài mà
trước mắt hàng chục thiếu phụ bò vú cứ nây nẩy lắc lư để đấy. Sữa bò tươi
nguyên thủy lúc này hấp dẫn hơn bơ sữa thượng thặng trong các nhà hàng, còn ghê
nỗi gì nữa chứ? Tôi bú trực tiếp! Lúc đầu thấy hoi hoi nhưng dần quen đi. Cũng
giống như ngủ với người đẹp hôi nách, mới thì ngột ngạt nhức đầu, dần dần lại
thấy nồng nồng say say. Như các anh quen với mùi sầu riêng và người Sài Gòn dần quen với mùi hoa sữa
Hà Nội đấy. Lúc đầu còn nhăn mũi như khỉ gặp mắm tôm,
sau thấy khoái mũi, khoái khẩu tươi tỉnh lắm. Vừa bú vừa bóp... Chị bò đứng đờ
ra. Mình vừa no vừa sướng!
- Thằng quỉ sứ! – Ông trưởng trại phì cười,
đập vào vai Nhân Tín.
Họ nói chuyện chan hòa vì đã là công dân bình
đẳng. Một cán bộ hỏi chân tình:
- Hoa Kỳ đang cho nhận đoàn tụ gia đình. Cậu
thuộc diện HO ưu tiên đấy!
- Tôi chưa thể nói trước điều gì. Tôi nhận ra
từ ngữ cải tạo các anh dùng ở đây cũng
có phần đúng đấy. Bây giờ tôi nhìn đất nước, nhìn đời, nhìn con người khác
trước nhiều. Vì lý do gì phải đi xuất cảnh, tôi nhìn nước Mỹ cũng khác, nhìn
đồng đội cũ của tôi cũng khác.
- Được sự tiếp tay của CIA, ngay trên đất Mỹ
và mấy nước quanh ta, một số người lập ra đội quân chuyển lửa về quê
hương mong dựng dậy một cái thây ma
thối rữa. Theo anh liệu chúng có làm nổi không?
- Thời gian ở đây, các anh cho học tập, tôi vỡ
ra một số điều về nội lực và ngoại viện. Cách mạng thắng vì phát huy tối đa nội
lực. Điều ấy phải có dân ủng hộ. Chúng tôi thua vì dân chúng thờ ơ nên chỉ biết
trông chờ ngoại viện. Ăn của người phải làm được việc cho họ chứ không ai nuôi
báo cô mình. Không được việc, tất nhiên phải dẹp. Cá nhân thì cho chết. Quốc
gia thì vạn sự vô can! Đấy là văn hóa Mỹ, đúng nghĩa ra là thứ văn hóa nô dịch!
Không rã rời ra mới là sự lạ! Tôi nghĩ các nhà lãnh đạo quốc gia dư biết còn có
những mưu toan lớn và nguy hiểm hơn nhiều. Chỉ cách mạng mới đánh giá được hết
nội lực của mình. Còn một dúm người lưu vong vô công rồi nghề mới bày đủ trò
kiếm ăn, chỉ giỏi đánh võ mồm thôi. Những năm Sài Gòn đang phồn hoa và quân lực Sài Gòn đang khí thế mà người Sài Gòn đã có câu ví
độc: “Bạn nhà binh. Tình nhà thổ!”... Các anh đừng cười, đấy là tôi nói
thật! Những đêm dài vô hạn nằm ở đây, mỗi khi nhớ lại mà trên da thịt tôi như
có đầy những mũi kim châm! Cái tình chiến hữu lẽ ra phải thiêng liêng lắm chớ?
Dù đội quân ấy không còn nhưng nó vẫn như một lời nguyền mà cái hồn ma ấy bước
không qua! Tất nhiên vẫn có một số người dại dột cả tin sẽ như vật thí thân vô
ích.
Ông trưởng trại vui vẻ tâm tình:
- Thực tình mà nói với anh, được giao làm cái
nghề này nhiều lúc chúng tôi đau đầu tức muốn vỡ gan. Nhưng nhớ lời dạy của Bác
Hồ: “Ai bỏ cách mạng tùy họ. Nhưng cách mạng không bỏ một ai!” là chúng
tôi lại nén xuống, kiên trì chờ đợi. Tôi hy vọng những điều anh nói ở đây là
thật bụng và giữ được mãi trong lòng. Trước kia, trong hoàn cảnh đặc biệt của
đất nước, chúng ta từng coi nhau như kẻ thù. Bây giờ chúng ta là đồng bào, cùng
chung một bọc thai sinh. Dù ở đâu chúng ta cùng hướng về một tổ quốc Việt Nam
đã rũ bùn đứng dậy ngẩng cao đầu tuy rằng còn đói bụng. Sáng mai có chuyến xe
đưa anh về Hà Nội. Đang vào dịp cuối năm, liệu anh ăn tết với ông cụ hay với vợ
con?
- Xin các anh cho tôi thư lại mấy ngày để đi
chào hỏi bà con quanh đây. Bao lâu nay bà con đối xử tử tế với mình.
- Này! Cậu có gửi đứa con nào trong dân không
đấy?
- Tôi nói, tin hay không tùy ở các anh. Dù vợ
tôi bên kia đã lấy chồng. Người góa phụ bao lâu nay chăm nuôi tôi như người vợ
tự nguyện. Chúng tôi đã có một đứa con trai ba tuổi. Cảm ơn các anh không khe
khắt với tôi.
Ông Thanh ôm chặt con vào lòng và tấm thân gày của ông cũng nằm gọn
trong vòng tay Nhân Tín con ông. Nước mắt ông nhòa nhạt.
Dạ Lan đem con nhỏ ra đón chồng. Nhân Tín
quyết định cùng ở lại ăn tết với cha và chị. Ông Thanh đem con đi chào họ hàng
và những nơi thân quen cũ. Nhân Tín nói với Cẩm Nhung:
- Em thật không ngờ miền Bắc khổ đến thế và
người dân ngoài này giỏi chịu qúa. Liệu
đã tận khổ hay chưa?
- Khó khăn làm sao hết được. Địch họa, thiên
tai cứ xoay vòng. Có điều là không phải ai cũng khổ đâu. Như mấy đứa cháu ngoại
bác Tham, toàn đi du học nước ngoài, về nước là có chỗ làm ngon lành, vậy mà có
đứa còn không chịu về đấy. Trong khi cô Hoa nhà mình chết mất xác dưới sông,
con gái lớn chết vùi trong hang núi, thằng Báu thương binh, về học y khoa, bây
giờ đang ở bên Campuchia ấy. Mấy đứa em nó còn vất vả. Vậy mà cậu ấy còn viết
văn nữa đấy !
- Hôm nào đưa em tới thăm chị Hương Giang đi.
Bây giờ em mới thấm. Bác Tham đã làm hết sức để em đừng dấn sâu vào phía bên
kia, cha con thành đối lập. Bác làm là vì cậu. Bác đã hết sức bao bọc ba mẹ con
em. Lúc ấy không ai nghĩ sẽ lại có ngày này. Cả cậu, mợ và bác đều hết sức đáng
trọng và rất đáng thương. Em ân hận vì đã có lúc thờ ơ trước tình cảm của cậu
với mình. Không hiểu sao lúc đó cơn tự ái trong mình trào lên, em cảm thấy đố
kỵ, bất cần những người ở phía bên kia dù họ là ai.
- Em biết không, hai vợ chồng Nhân Trí vượt
biên thoát được tới Hồng Kông, nhắn tin qua Paris. Mợ bay ngay sang đón các em
qua Pháp. Bây giờ cô cậu ở với bác Tham và mợ. Bố mẹ Yên Thịnh cũng được các
con định cư ở Thụy sỹ từ lâu rồi bảo lãnh qua bên đó. Bích Liên và Văn Khoa đã
cưới nhau.
- Cậu có phiền gì chuyện mợ và bác Tham không?
- Cậu còn thương mợ và vẫn qúi nể bác Tham.
Trong hoàn cảnh ấy, chuyện gì đến thì phải đến. Chị cũng làm cậu khổ lắm. Bây
giờ chị càng thương cô Thảo Tâm. Bao lâu, hai người như hình với bóng âm thầm
mà không ai dám tắt phụt đi cái đèn sáng lắt lay làm cho họ khổ. Người đàn bà
không có con thì cô đơn buồn tẻ lắm. Thằng Anh Minh làm cho chị thấy những khổ
đau đang được bù đắp lại.
- Sao hai mẹ con không vào thành phố Hồ Chí
Minh với bên nội cháu?
- Ông bà nội cháu hoạt động bí mật trong giới
trí thức nội thành đều bị chúng nó bắt và thủ tiêu. Anh em tứ tán bên này, bên
nọ. Hòa bình rồi mới tìm lại nhau nhưng hòa hợp với nhau cũng khó. Chị vào
trong đó một thời gian thấy lộn xộn quá. Tình cảm gia đình chẳng bù đắp được
gì. Xã hội lộn xộn như ngoài chợ trời. Trong cơ quan dòm ngó, tị nạnh, phe
phái, ngấm ngầm kèn cựa lẫn nhau. Người ta bảo nhất trụ – nhì tù – tam khu – tứ kết, mấy người
Bắc kỳ thừa cơ vào hôi của. Cái tốt ít người thấy. Cái xấu cứ lồ lộ ra làm mình
ngượng lây. Không loại trừ cả những ông to bà lớn bao lâu lên mặt giảng thuyết
người ta, chẳng những vơ vét lại còn cậy thế đi buôn cả hàng quốc cấm. Chị nghĩ
càng thương anh và ông bà các cháu. Những người ấy không tiếc thân mình cho một xã hội không phải thế
này.
- Trong tư thế bất bình đẳng, em gặp nhiều
người cách mạng, thấy họ không đến nỗi nào. Họ hành động vì mục tiêu cao cả.
Chỉ có điều họ qúa cường điệu và như là mê mỵ về một chủ thuyết nên cứ ép người
khác ngay một lúc phải nghĩ như họ, nói như họ và cả tin như họ. Còn họ làm
những gì thì lúc nổi, lúc chìm mình không thể đặt điều ra được. Chế độ nào mà
chẳng tuyên truyền cái hay cho mình cái dở cho người. Nhưng nặng tuyên truyền
quá thì sa vào nói nhiều làm ít, dễ thành nói dối và ưa hình thức. Hôm rồi em
đưa vợ con vào viếng lăng Bác Hồ. Em nghĩ thời kỳ lịch sử vừa qua, cả nước mình
chỉ có Bác là nhà lãnh đạo quốc gia vĩ đại nhất. Chính thể Sài Gòn ngày trước
và người Pháp, người Mỹ cũng phải tôn trọng và ca ngợi Cụ là nhà yêu nước lớn.
Mấy tờ báo lá cải có vài lời bôi bác lăng nhăng đều bị tẩy chay. Ngay trong số
sỹ quan binh lính cộng hòa cũng không mấy ai ưa
đứa nào nói hỗn về Cụ. Nhưng khi thấy trước lăng, người ta kéo nhau đến xếp
hàng nghiêm hơn đi lễ nhà thờ, đọc diễn văn báo công với người… đã chết! Em
thấy kỳ kỳ không sao hiểu nổi. Ngay như các tín đồ đi lễ ở chùa hay ở nhà thờ,
họ chỉ lầm rầm cầu xin điều gì, phải quấy chỉ một đệ tử với đấng bề trên được
biết. Nhưng ở đây người ta công khai giữa thanh thiên bạch nhật để thiên hạ
cùng nghe! Bản báo công giống như bản báo cáo thành tích thi đua chứ gì? Ông Cụ
nằm đó có biết người ta nói trời đất chi đâu! Hồi Mặt trận giải phóng mới
nổi lên, Sài Gòn đã thấy nguy rồi. Trước kia nghe nói cách mạng, cứ tưởng là
chuyện của người. Bấy giờ em mới hỏi bác giáo cách mạng là gì? tốt hay xấu? do
ai nghĩ ra? ai làm cách mạng? mang lợi cho ai? Bác trả lời: Cách mạng là một sự đổi thay, khởi nguồn từ những mâu
thuẫn xã hội sâu xa. Mục tiêu của cách mạng do những người trí thức nghĩ ra, thực thì ít,
viễn tưởng thì nhiều. Những người cuồng tín hăng hái tiên phong được những
người cả tin hưởng ứng, những kẻ hoạt đầu hùa theo. Cuộc cách mạng nào cũng
nhân danh sự công bằng bác ái nhưng bị kích động cực đoan hoặc vì tư thù hay vụ
lợi đã xảy ra không ít điều bất nhẫn, làm mờ đi cái thiện căn của nó và hằn sâu
những hận thù. Cái được chẳng của riêng ai nhưng cái lợi dành cho ít người
thôi. Qua phút hoan hỷ lúc đầu, xã hội lại vào khuôn với những ông chủ mới cầm
cương, bền yểu là do họ! Em lại hỏi cách mạng đến khi nào hết? và có nhất thiết
phải đổ máu không? Bác bảo cái mới nào rồi cũng thành xưa cũ, hủ lậu, phải thay
đi. Nhân tình thế sự cứ lòng vòng như thế. Sách vở gọi nó là vòng xoắn ốc! Tuy
nhiên không người cầm quyền nào tự rời bỏ cái ngai quyền lực và bằng mọi giá
giữ lấy mới nên bi thảm. Chỉ khi nào họ hủ hóa suy đồi đến mục ruỗng ra và nhân
dân không cam sống như vậy nữa thì sẽ chẳng còn gì! Thế giới tưởng rằng có
những cuộc cách mạng ngọt ngào nhưng vẫn là những sự đổ vỡ đớn đau!
- Em có biết chồng chị Hương Giang là ai
không? Hồi ấy em còn bé, không biết đâu. Anh ấy là anh Nhỏ với chị Nhài ở nhà
mình đấy. Chị Hương Giang ngày xưa là người yêu của anh Nghĩa nhà mình. Chị em
mình chẳng nên đến đấy làm gì vì thực bụng anh ấy chẳng thích ai biết tông tích
của mình đâu.
- Thế chị Hương Giang có biết điều ấy không?
- Hai người quen nhau trên chiến khu Việt Bắc
trong khi anh Nghĩa đi Nam tiến rồi bị vết thương cột sống. Suy cho cùng vợ
chồng là duyên số em ạ. Như chị tình cờ gặp lại bố cháu Anh Minh mà trước đó
tuy cùng học nhưng cũng chỉ quen nhau sơ sơ thôi. Cậu cấm không cho chị và Nhân
Trí hở răng ra. Mãi vừa rồi, trước khi bác giáo đi xuất cảnh cậu mới đành phải
nói thật ra vì anh ấy là người có quyền quản lý nhóm người như anh Nghĩa, em
không hiểu được đâu. Có lẽ bác nói lại với chị Hương Giang nên anh Nghĩa mới
được vào thành phố Hồ Chí Minh. Cậu và chị có vào tổ chức đám cưới cho anh
Nghĩa với chị Nhài. Hai người có ân tình sâu nặng với nhau lắm. Cũng là cái
duyên ông trời se em ạ!
- Cuộc sống đầy bí ẩn, chẳng biết sao mà đoán
được!
Chiều tất niên, ông Thanh mặc bộ đồ lễ chỉnh
tề, đứng trước bàn thờ, vẻ mặt thành kính trang nghiêm, ông lầm rầm khấn những
gì lâu lắm, đến Cẩm Nhung cũng sốt ruột vì bao nhiêu năm cô chưa thấy cha mình
khấn lâu như thế bao giờ. Khi mọi người ngồi quanh mâm cơm cúng hạ xuống, mắt
ông Thanh rơm rớm, giọng ông xúc động lắm:
- Kể từ năm 1946 đến nay, gần bốn chục năm
đằng đẵng, lúc này, hai cuộc chiến tranh mà cậu đã tham dự vào mới coi như chấm
dứt. Mọi nỗi buồn phiền quên dần vì cậu đang đi vào qúa khứ. Hôm nay và tương
lai là của các con cháu. Cậu cầu ông bà, tổ tiên phù hộ cho con cháu được sống
an lành trong cảnh thanh bình.
ô
Chị Nhài đẩy chiếc xe lăn cho chồng dừng lại trước cửa phòng bác sỹ chủ
nhiệm khoa. Người trai trẻ cùng đi gõ cửa, với cử chỉ quen thuộc anh chủ động
mở rộng cánh cửa ra. Chiếc xe dừng lại giữa phòng, vị bác sỹ tóc hoa râm đứng
bật dậy chạy tới vồn vã nắm tay người ngồi trên xe:
- Trời ơi… qúi nhân!
- Tôi tới đây chúc mừng hạnh phúc của anh!
Bác sỹ nhìn qua cô y tá giúp việc đứng phía
sau:
- Em nhận lời chúc mừng của người bạn đặc biệt
này đi!
Cô y tá trẻ tươi cười cúi đầu nói lời cảm ơn
thật ngọt ngào.
- Tại sao anh biết tôi ở đây ?
Anh Hà Giang chỉ vào người trai trẻ:
- Nó là em tôi!
Cùng lúc anh kéo chị Nhài đứng bên thành xe
cạnh mình:
- Tôi đến để chia sẻ với anh hạnh phúc của tôi
đây!
Bác sỹ Đức Phúc thật vui nhìn bác sỹ nhà văn
trẻ Ngọc Thạch:
- Đất nước mênh mông vậy mà vẫn trong tầm
những bước chân. Quanh quẩn lại gặp nhau! Tôi biết cậu này từ dạo ở Trường Sơn.
Anh còn nhớ cặp Bắc Hà–Hồng Hà chứ? Cô ấy bây giờ cũng là bác sỹ. Bốn đứa con
thì hai đứa đi học nước ngoài vì lý lịch sạch. Không có đứa nào mang áo lính
một ngày. Mẹ làm bác sỹ tuyển quân thì con thoát lính nhưng đi nước ngoài dễ
ợt. Anh ta đại tá về hưu, được cấp một căn hộ tập thể nhưng nhà của tôi con anh
ta vẫn ở.
Bác sỹ Ngọc Thạch trong một lần về thành phố
bổ túc chuyên môn, hai thầy trò lại gặp nhau. Vốn có cảm tình với người học trò
từ khi còn là người lính trẻ, với uy tín của mình, ông đã nhận Ngọc Thạch về
phụ việc, chỉ bảo và truyền kinh nghiệm cùng kiến thức cho anh.
Không biết ông thầy với anh mình có mối quan
hệ đặc biệt với nhau từ lâu, trong một lúc tình cờ nói chuyện với anh:
- Ông thầy đỡ đầu cho em có uy tín về chuyên
môn nhưng về chuyện riêng thì qúa nhiều trục trặc. Lẽ ra được phong giáo sư
nhưng vì ông bỏ vợ.
Anh Hà Giang dò hỏi, nhận ra bạn mình. Anh biết
chuyện tình éo le của bạn:
- Những cuộc hôn nhân bất chợt hậu quả chưa
biết thế nào. Nếu chấp nhận cũng có thể tạo ra hạnh phúc. Nếu cam chịu thì một
lúc nào đó cũng rã ra thôi. Ít ra cũng giải thoát được một người. Dù sao cũng
là tai họa cho những sản phẩm nó tạo ra!
Gần nửa thế kỷ, bao nhiêu biến động, thăng
trầm với một đời người. Hai người bạn gặp bao chìm nổi có dịp chia sẻ với nhau
những vui buồn của một thời lịch sử. Từ đây họ có nhiều dịp chia sẻ và đồng cảm
về những biến cố một đời người. Họ là cặp bạn tri âm.
Bác sỹ chưa hết ngạc nhiên về hạnh phúc đầu
đời đã đến với mình:
- Cuộc gặp gỡ như là định mệnh hoặc như một
trò đùa để lại những oán hận mà mình không biết thanh minh được là sao?!
Trong khi anh Hà Giang không sao quên được mối
tình hồn nhiên đằm thắm của người con gái Bến Tre:
- Trong hoàn cảnh ly tán mà cô ấy vẫn một lòng
tin và mang niềm tin ấy vào cõi vĩnh hằng. Tôi đã tìm về chốn cũ nhưng không
gặp người xưa. Lớp trẻ mới lớn lên không biết họ. Dò ngược lại tôi chỉ biết tới
một ni cô Diệu Hương, biệt động thành. Không ai biết gì về Út Nước! Nhiều chiến
sỹ hoạt động nội tuyến hy sinh đến nay vẫn chưa dò ra được tung tích, nguồn gốc
ở đâu. Họ là đồng đội thân thiết của ta nhưng khi nằm xuống, mộ chí là tấm bia
trắng lặng im muôn thuở! Nhiều điều bí ẩn chưa được phân minh. Có người còn
hứng chịu những điều tai tiếng thị phi mà những người thân yêu của họ vẫn phải
gồng mình ra chịu! Vợ chồng tôi giỗ cô ấy hàng năm.
Chuyện tình đã qua vẫn để lại trong bác sỹ một
kỷ niệm nặng nề dai dẳng:
- Tôi không giận, không chê trách gì cô ấy.
Lịch sử đã gắn chúng tôi lại với nhau nhưng chỉ dính được ở phần da thôi. Bấy
lâu hai con người giáp mặt nhau nhưng chỉ quen hơi mà mỗi trái tim vẫn đập theo
nhịp của riêng mình. Bây giờ cũng là lịch sử cho hai con người ấy được tách ra
dù có muộn màng. Mỗi người đều được và mỗi người đều mất. Không thể nói ai
thiệt hơn ai. Suy cho cùng là cái nền văn hóa. Khi hai nền văn hóa khác biệt
nhau hợp lại vì một lý do gì thì sẽ giống như hồn ông Trương Ba trong da anh
hàng thịt… Nó giằng xé tim gan và đau đớn ê chề!
Anh Hà Giang tư lự như một triết nhân:
- Con đường đời nhìn tới thật dài mà quay lại
thì thật ngắn. Trên con đường ấy, hạnh phúc là lúc ta gặp một bóng mát, một
trái ngọt, một dòng nước trong. Không thể nói hạnh phúc nào lớn hay nhỏ nhưng
tất cả đều chỉ là những niềm vui chốc lát. Nỗi bất hạnh như một vết gai đâm,
một hòn đá vấp, một hố sập giữa đường, một vết thương… có khi để lại những nỗi
đau âm ỉ hoặc dị tật suốt đời.
Biết bạn đang vận vào mình. Bác sỹ nhận ra nỗi
đau của mình chưa là gì so với nỗi đau của người bạn ngồi đây.
- Cũng may cho tôi nhờ có một nghề hữu dụng
cứu cánh cho mình. Lâu dần rồi chuyện cũ sẽ quên đi.
- Một người bạn để lại trong tôi những tình
cảm trái ngược vừa giận vừa thương bởi mỗi người ở một hoàn cảnh phải làm tròn
phận sự của mình. Cũng nhờ anh âý mà việc xử trí với tôi có sự nương nhẹ hơn
người. Khi Liên Xô dấy lên sự kiện pêrestrôika (đổi mới) và glasnôt (công khai hóa), thổi lên làn gió mới dân chủ, anh gửi thư đi nhiều
nơi minh oan cho một số người chịu án qúa nặng nề. Nhưng chính anh ta lại hứng
lưỡi tầm sét từ trên trời giáng xuống!
Anh Hà Giang bùi ngùi cảm cái ân tình của anh
Lê Quốc Trung:
- Ngày trước, giặc Pháp đã treo giải hàng trăm
lạng vàng đổi lấy đầu anh! Trên đời này vẫn còn những con người nhân hậu, sẵn
lòng vì người, không lo điều họa cho mình như thế. Người ta trong khốn khó
thường thương nhau nhưng chung lợi lộc lại dễ hại nhau. Cái tình đời trớ trêu
ấy như luật nhân sinh mà sao không biết giữ mình?
Bác sỹ dường như không mấy quan tâm tới sự
đời:
- Tôi nghe nói đã có những động thái làm lành,
tưởng mấy anh xuôi rồi? Nếu không chịu thì các anh đưa tay ra hứng lấy cái lộc
hậu ấy làm gì để rồi lại khuấy động lên? Coi chừng giận qúa mất khôn. Kẻ thương
người giận chưa hẳn đều là tử tế. Không tỉnh thức thì dễ lộn xòng với phường mạt cưa mướp
đắng. Nhiều anh lúc còn chức quyền thì
ngậm tăm sống chết mặc bay, lúc về làm phó thường dân mới tỏ ra là nghĩa hiệp.
Phải chăng còn ham một chỗ trên cái chiếu giữa đình làng? Lòng yêu nước vô tư
một thời bị nhuốm màu chính trị để bây giờ cứ bới móc mãi ra những điều ân oán!
Con người ở đâu cũng ước ao được sống trong một xã hội yên ổn, ấm no, công
bằng, dân chủ, văn minh. Tôi không muốn ai lợi dụng mình.
Anh Hà Giang thở dài:
- Tự do dân chủ
và trách nhiệm công dân phải là những khái niệm bình đẳng với nhau. Tự do dân
chủ là khát vọng của con người không bao giờ thỏa mãn. Xã hội càng dân chủ càng
nhiều tự do. Đồng thời trách nhiệm càng ràng buộc cá thể với cộng đồng. Một sự
ngoại lệ là không thể có trong một xã hội kỷ cương. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh
chiến tranh, nhiều quyền tự do chính đáng bị hạn chế, thậm chí cấm đoán vì sự
tồn tại của cộng đồng. Khi chiến tranh kéo dài quá lâu, mọi sinh hoạt xã hội đã
thành nếp, khó đổi thay! Người cầm quyền nhìn xã hội với con mắt mãn nguyện của
người chiến thắng trong khi người dân thì mệt mỏi với bao nhiêu mất mát và
những điều u uất trong lòng. Cụ Hồ nói: “Có độc lập mà không có tự do thì
đấu tranh giành độc lập để làm gì”? Trong các quyền tự do thì tự do ngôn
luận là quyền quan trọng nhất. Nhà cầm quyền có trách nhiệm để người dân được
công khai phát biểu chính kiến, tư tưởng và quyết định vận mạng của mình. Văn
chương nghệ thuật và báo chí là người phát ngôn, người hướng dẫn, người bảo vệ
cho những yêu cầu chính đáng của công dân. Nhìn vào nội dung các sáng tác và
báo chí, người ta đánh giá được bản chất của một thể chế. Khi tự do bị kiềm toả
tới mức người ta cam sống quen như vậy thì xã hội không còn người quân tử mà
chỉ có lũ tiểu nhân, dù ở thang bậc nào cũng thế. Đó là tiền đề để một dân tộc
chìm dần vào cuộc đời nô lệ.
- Tôi vẫn nhớ
và đồng cảm với suy nghĩ của anh từng chia sẻ: Người ta chỉ thật sự có tự do
dân chủ trong một xã hội tiến bộ, văn minh. Lúc đó mỗi người vừa ý thức được
trách nhiệm của mình vừa biết mình được có những quyền gì.
ô
- Chào ông tướng đến nhà!
Vợ chồng anh Hà Giang vui mừng đón khách.
Thiếu tướng Hoàng Tuấn chưa ngồi đã nói:
- Tướng gì nữa! Bây giờ mới được rũ bỏ bộ áo
lính, mang tấm thân bã này về trao cho vợ.
- Hôm trước, trên TiVi, tôi thấy ông dẫn đầu
đoàn quân rút qua biên giới trở về.
- Chỉ cần một tháng, ta đánh cuốn chiếu giải
phóng liền 18 tỉnh từ biên giới phía đông sang biên giới phía tây, cứu nhân dân
Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Nhưng rồi bị cầm chân ở đó tới mười năm! Thực
ra, từ năm ngoái, các cơ quan chỉ đạo quân tình nguyện đều đã bàn giao cho bạn
trực tiếp chỉ huy. Đây là những đơn vị chiến đấu cuối cùng.
- Liệu đã thật sự yên chưa?
- Trước kia ta tưởng đánh xong giặc Mỹ, dù nhử
kẹo kẻ nào to gan lớn mật cũng không dám động đến con cháu Lạc Hồng mình nữa,
ít ra phải mấy đời sau khi tấm gương trước mắt chưa mờ. Thế mà quân Mỹ chưa rút
đi hết, người hàng xóm đã thọc lưỡi lê vào sườn. Chuyện đời tới đâu biết tới đó
thôi.
- Đau thật, hàng chục ngàn sinh mạng và hàng
trăm ngàn người thương tật, gộp vào một triệu rưỡi liệt sỹ và hơn nửa triệu
thương phế binh thời đánh Mỹ.
- Phải đặt con số hơn 50 ngàn sinh mạng quân
và dân mình kể cả trẻ con, phụ nữ, người già vùng ven biên giới bị sát hại thảm
thương do ta mất cảnh giác, nuôi ong tay áo, không nhìn ra bọn phản bội, do dự
suốt mấy năm trời mới thấy càng thấm thía.
- Có người nói ta bị sa lầy ?
- Hãy để lịch sử xem xét. Lúc đầu định đánh
xong rồi rút về ngay. Nhưng khi ta chớp nhoáng đánh tan tác hơn 20 sư đoàn quân
Pôn-pốt vừa rã ngũ vừa bỏ chạy mà làm như vậy có khác chi ném đá ao bèo mà lực lượng bạn đã có gì đâu? Trong khi
không thiếu gì kẻ giấu mặt giật dây, nuôi ăn, dúi súng cho lũ thổ phỉ phục thù. Bỏ bạn giữa đường ta cũng
chẳng yên, đành phải làm thay bạn giữ đất, giữ dân đồng thời vừa giúp bạn xây
dựng chính quyền, lực lượng vũ trang, đưa những người dân tha phương trong các
trại tập trung trở về quê quán và phục hồi kinh tế, xây dựng 800 kilômét phòng
tuyến biên giới phía tây. Thời gian một, hai, ba năm là không thể. Nhưng năm,
bảy năm hoặc lâu hơn nữa, phải có sự tổng kết toàn diện và nghiêm chỉnh để rút
ra bài học. Mỹ là một quốc
gia công nghệ và khoa học hàng đầu, trình độ tổ chức kế hoạch hoá rất cao. Khi
đưa quân vào Việt Nam, họ dự tính chỉ 18 tháng hoặc hơn chút thôi. Nhưng thực
tế không cho họ làm theo ý muốn, lại còn chuốc họa vào mình. Huống
chi ta, phát động chiến tranh trong hoàn cảnh vạn bất đắc dĩ thế nào thì ai
cũng biết. Khởi cuộc dù sao cũng chủ động nhưng kết thúc thì bị động! Một
gánh quốc phòng nặng cũng chỉ 100 người dân lo cho một người lính thôi, trong
khi ở ta 40 người dân phải lo cho một người cầm súng! Cáng đáng mãi sao nổi? Rõ
ràng là ta rút sớm được một năm theo hạn hợp đồng với bạn.
- Có chuyện gì để người ta bức bách không?
- Ta bị ăn quả lừa bởi một đòn phản gián thành
ra nhìn gà hóa quốc! Ta đã chính thức có lời xin lỗi bạn. Đánh đám tàn quân thổ
phỉ này không ác liệt nhưng dây dưa dai dẳng và không đơn giản chút nào. Tướng
ta có ông chết nằm, có ông chết đứng! Ngay trên đất mình, sống trong lòng nhân
dân mình mà nhận diện kẻ thù có lúc còn sai huống chi ở nơi xứ người xa lạ, thổ
ngơi, phong tục, ngôn ngữ bất đồng. Ngày bọn chúng mới giở mặt phản bội, nhiều
người tốt bỏ chạy sang ta, mình lại nghĩ là âm mưu khiêu khích, đưa trả lại để
họ bị chúng giết hại thẳng tay. Đã mất bạn đồng minh lại còn bị mang tiếng oán
là đem con bỏ chợ!
- Về mặt ngoại giao ta có bị thiệt thòi nhiều?
- Ta đuổi được quân xâm lược Mỹ, giải phóng
miền Nam, thống nhất tổ quốc. Về mặt dân tộc là một thắng lợi lịch sử vĩ đại
nhưng ngay trong nội bộ quốc gia không phải đều vui mừng phấn khởi. Sự hòa hợp
dân tộc cần có thời gian. Thiên hạ có người mừng, có người dửng dưng, có người
không thích thậm chí còn chống phá. Chính quyền Pôn-pốt diệt chủng nhân dân của
chúng, xâm phạm lãnh thổ và tàn sát dã man nhân dân của một nước láng giềng độc
lập có chủ quyền, từng kề vai sát cánh chống giặc ngoại xâm, mọi người đều rõ
cả. Tại sao khi ta chiến đấu tự vệ và giải thoát cho nhân dân nước họ thì người
ta không ủng hộ, lại còn kéo bè tẩy chay cô lập ta trong khi vẫn để cho bọn
diệt chủng ngồi trên cái ghế đại diện quốc gia tại Liên Hiệp Quốc? Nhưng để rồi
xem, anh trò nhẹ dạ cả tin sẽ chết bởi chính bàn tay ông thầy đầy mưu ma chước
qủy. Trên đời này chưa biết khi nào mới hết luật rừng, cá lớn nuốt cá bé. Lẽ
phải trước tiên thuộc về kẻ mạnh! Hãy lấy sinh mạng hàng chục ngàn đồng bào,
chiến sỹ của ta và hàng triệu người Campuchia chết trong các cuộc tàn sát tập
thể và các trại tập trung để trả lời cho họ. Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng.
Tôi tin rằng lịch sử sẽ hiểu việc ta làm. Chẳng những đã cứu được một dân tộc
thoát họa diệt chủng mà cũng bẻ gãy được mũi giáo sau lưng để lo những đòn nguy
hiểm hơn rập rình phía trước.
- Tôi hỏi anh với suy nghĩ của người viết sử.
Tôi ngồi đây, nghe được các thông tin chính luận và nghe cả những tạp âm. Cảm
ơn anh về những thông tin của người lính chiến thực thụ cũng như tôi từng được
nghe những người lính chiến đấu trên các đường phố hồi tết Mậu Thân kể lại. Có
điều đáng buồn là những người lính bây giờ chiến đấu xa quê hương tuy không khó
khăn ác liệt như thời chúng ta đánh Pháp và đánh Mỹ nhưng họ phải chấp nhận
những khó khăn không đáng có và âm ỷ một nỗi đau.
- Cảm ơn anh chia sẻ một phần nỗi lòng của
người lính chúng tôi. Tuy nhiên ác liệt bởi bom đạn thì không bằng nhưng khó
khăn thì mỗi thời một khác. Một vị thượng cấp lên thị sát trận địa, tận mắt
thấy những vất vả thiếu thốn của người lính, ông về làm một bài thơ tỏ lòng
thương xót lâm ly lắm. Nhiều anh thêm vào những lời tán tụng lòng thương ấy bao
la. Thật tình tôi chỉ xem qua. Nhưng tôi được nghe lính ta nhận xét: Ngày xưa
Bác Hồ thương đoàn dân công đói rét ngủ ngoài rừng làm người ta càng thương Bác
vì thời đó Bác cháu đều mất nước, đói rét đành phải chịu. Bây giờ nước nhà độc
lập, chính quyền về tay nhân dân rồi thì Nhà nước phải có trách nhiệm điều hòa
phân phối. Cớ sao để người lính nơi chiến trận chịu cảnh trải lá cây làm chiếu,
áo quần lấy làm chăn, bữa ăn với nước mắm đại dương bát canh toàn quốc, là người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm
chớ sao còn thương vay khóc mướn nỗi gì? Đấy là nỗi đau của những người đang
ngày đêm đối đầu với cái chết.
- Thời gian luôn thử thách chúng ta !
- Lúc ngoài mặt trận, chỉ lo đánh giặc. Khi về
hậu phương, nhập vào cuộc sống đời thường, người lính chợt thấy mình lạc lõng
mới nhận ra cái qúi nhất là thời gian… Không gì bù lại được! Nếu không có điểm
tựa khó mà vượt lên. Tôi bước vào tuổi già rồi, bây giờ mới thấy đời người ngắn
quá. Thời gian còn lại chỉ là sự nghỉ ngơi đỡ đần cho vợ phần nào và vui cùng
con cháu. Nhưng phải có một cơ sở kinh tế gọi là ổn định. Tôi thật sự không
hiểu số lương hàng tháng gửi về giúp vợ con lo được đến đâu nên trong lòng mung
lung lắm.
- Các ông chưa được yên đâu! Người anh em “lý
tưởng tương đồng” đã thò cái vòi bạch tuộc tới khơi xa của ta rồi đấy! Thêm vào
cái chuyện nhân quyền đang làm nhiều nước rối tung lên – Anh Hà Giang chia sẻ
nỗi lo với bạn.
Vị tướng một đời xông pha trận mạc ngồi trầm
ngâm… Ông nói chậm rãi nhỏ nhẹ trong vẻ ưu tư :
- Thật ra chuyên chính và nhân quyền đều là vũ
khí lợi hại của hai bên đối phương. Chỉ khác nhau như thanh gươm và cái bẫy.
Khi gươm vung lên ai chẳng hãi? Còn lúc sập bẫy rồi mới biết! Tuy nhiên nhân
quyền luôn là yêu cầu bức bách của mọi xã hội trong mọi điều kiện lịch sử nên
nghe dễ lọt tai. Còn nói tới chuyên chính thì người ta nghĩ ngay tới một tai
ương vì nó lộ diện dễ nhìn! Vấn đề là phải có phương kế mới thuyết phục lòng
người. Lời thơ Tố Hữu: “Tình bạn thời nay có khác xưa / Nghĩa tình e sớm
nắng chiều mưa / Chợ trời thật giả đâu chân lý / Hàng hóa lương tâm cũng thiếu
thừa” ngẫm càng thấy đúng. Đã sinh ra ở trên đời, mỗi người kể cả vĩ nhân
chỉ có thể làm tròn vai trò lịch sử của mình thôi. Chuyện lâu dài thuộc về mai
hậu!
Một thanh niên mặc đồ bộ đội, khập khiễng một
bên chân gỗ đi thẳng vào nhà, vội khựng lại khi nhận ra vị thiếu tướng ngồi đó,
lúng túng cúi chào:
- Chào thủ trưởng ạ!
Khách ngạc nhiên nhìn người lính trẻ gày gò
đen nhẻm như người Miên. Chủ nhà chưa kịp nói thì anh lính đã nhanh nhảu đỡ:
- Lúc thủ trưởng xuống kiểm tra đơn vị em sau
trận tập kích quân Pôn-pốt ở gần căn cứ Pailin. Sau đó em bị thương lúc đi
trinh sát. Em tên là Danh.
Anh Hà Giang giới thiệu:
- Mẹ nó là bà Gái chị tôi, anh biết đấy!
Danh hấp tấp nói luôn chẳng giấu giếm gì :
- Cậu ơi! Hai bố con cháu bị bắt trên biên
giới. Thấy cháu là thương binh nên họ thả cho về. Còn bố cháu bị giữ lại.
- Đi đâu qua biên giới mà bị bắt? – Vị tướng
hỏi.
- Đi… buôn! – Danh đáp ngập ngừng.
- Buôn lậu hả? – Thiếu tướng trợn mắt lên.
Danh bị chạm nọc, không còn giữ ý nữa:
- Mình không may thì bị bắt chứ người ta đi
buôn lớn gấp mấy chục lần mình, lại đi về xoành xoạch công khai bằng phương
tiện công vụ mà có hề hấn gì đâu vì họ được bảo vệ!
Thiếu tướng đỏ mặt lên, ông cáo từ gia chủ:
- Tôi có hẹn xuống thăm chú em Tô từ một dàn
khoan dầu khí về đợi ở Vũng Tàu.
Anh Hà Giang sượng, thanh minh với bạn :
- Về tuyến sau anh sẽ thấy nhiều chuyện phức
tạp, buồn lắm!
Khách ra về rồi, anh Hà Giang trách cháu:
- Mày vô ý qúa!
- Cháu sốt ruột lo cho bố cháu. Mà tướng tá
quan quyền bây giờ đi buôn bán đỏ đen bạo hơn đám sỹ tốt nhiều. Vợ con các ông
ấy đi về tứ phương như đi chợ, buôn toàn hàng quốc cấm như vàng, bạc, đá quí,
kim cương, ngoại tệ chứ không thèm chạy chợ mấy thứ lạc xoong như mình đâu. Hoặc là ông ấy giả nai. Hoặc
là ông ta lạc hậu thì rồi sẽ hối. Chú làm sao cứu ba cháu ra đi!
Anh Hà Giang hỏi vợ:
- Mình làm gì được bây giờ?
Chị Nhài góp ý:
- Hàng hóa thì đành chịu mất thôi. May lắm là
xin được người. Anh Ba Phát – anh Tuấn này cũng biết đấy, đại tá chuyển ngành
về làm Phó chủ tịch tỉnh ấy.
Anh Hà Giang khuyên cháu:
- Mày làm tờ đơn trình bày rõ là thương binh,
chót dại một lần. Bảo bố mày làm bản tường trình nói rõ là cán bộ mất sức, về
hưu, hoàn cảnh khó khăn. Mợ cùng mày lên gặp lãnh đạo, nói thật là anh ấy cũng
đi làm nghĩa vụ quốc tế mấy năm, gia đình khó khăn quá, may ra người ta thông
cảm.
Anh Bình được thả về, trắng tay nhưng anh cay cú, than thở với ông chú
vợ:
- Lúc mới về hưu, có ít tiền, sẵn nghề cơ khí,
mấy thằng thợ ngứa nghề rủ nhau mày mò sản xuất xe thô sơ với chu trình khép
kín từ bộ khung, vành, trục, ổ bi tới săm, lốp. Sắt thép phế thải, bi, nhông,
díp để rỉ hoen thiếu gì. Cao su tái sinh và cao su sống đầy rẫy khắp nơi. Mất
bao mồ hôi công sức, cơ ngơi mới dựng lên, công việc vừa vào nền nếp, cứu đói
cho hàng chục người thì chiến dịch X30 – kiểm tra hành chính, cho quân đi gom sạch. Bao nhiêu anh điêu đứng. Đến cú giá–lương–tiền làm mình không đứng lên được nữa. Vợ con
gom góp đồng nào cứ tin Nhà nước gửi vào tiết kiệm. Gửi mười còn lại một. Gặp
vố này nữa, sạch sành sanh!
Ông Thanh thở dài nhìn người đàn ông luống
tuổi, khắc khổ mà ông biết từ thời còn là anh thợ hoạt động phong trào trước
khi là cháu rể của ông. Anh ta rất hăng hái, sôi nổi và cũng từng bị lên thác
xuống gềnh. Ông dịu giọng, nói vừa đủ nghe thôi:
- Bây giờ cha con anh tính chuyện gì nữa đây?
Làm chuyện phạm pháp là không ai dám dính vào đâu!
- Sản xuất trì trệ, thương nghiệp đình đốn. Bù
vào lỗ hổng ngân khố chỉ còn cách lạm phát và bổ thuế tăng thu. Mà địa chủ, tư
sản bị dọn sạch rồi! Không còn cách nào khác là nhắm vào những người sống nhờ
vào buôn bán, không tha cả những người buôn gánh bán bưng. Xã hội muôn vạn
người, muôn vạn nghề. Phải tạo điều kiện cho người ta tự nuôi thân được là
mừng. Có nhà nước nào gánh nổi mọi sự trên đời? Nhưng khoa tay múa chân làm
chuyện gì cũng đụng vào những điều cấm kỵ. Mà bó tay thì không chết đói ngay
cũng chết dần mòn vì suy dinh dưỡng. Không làm ra của, người ta xoay ra hà lạm
của công. Không được thì trấn lột của nhau. Thằng nào ma mãnh thì sống được!
Thằng Danh lầu bầu:
- Từ đời lính con nghiệm ra rằng: Thoát khỏi
nguy nan bế tắc người ta dễ chủ quan ảo tưởng. Ảo tưởng mãi không thành thì
phải dối! Hết dối nổi rồi đành liều! Đã liều phải lừa! Lừa với lưu manh cùng
một duộc!
Nó vùng vằng bỏ đi.
Nghe tiếng cái chân giả lộc cộc xa dần, ông
Thanh ái ngại nói với người cháu rể:
- Tôi lo cho thằng bé quá!
Anh Bình lặng lẽ lắc đầu:
- Bây giờ mỗi người phải tìm cho mình một cách
sống riêng. Nó trẻ nhưng không dại nữa. Nó gian truân mất mát quá nhiều. Vượt
ra từ cõi chết nên nó biết tìm con đường sống. Chỉ cầu trời cho nó có sức khỏe
thôi.
ô
Hà Nội như bị điện giật khi nghe tin Gorbachôp giải tán Đảng cộng sản
Liên Xô kéo theo sự sụp đổ của một Liên bang vĩ đại. Từ những năm giữa thế kỷ
đã bộc lộ sự bất bình của các nước Ba Lan, Hung ga ri, Tiệp khắc. Lẽ ra nên coi
là tiếng chuông cảnh tỉnh, người ta phải nhìn lại sửa mình. Nhưng dựa vào sức
mạnh áp chế được rồi người ta càng tự mãn chủ quan để cho những khuyết tật có
hệ thống của tổ chức chính trị – kinh tế phát triển tới mức trở thành hiểm họa
mới hoảng hốt xoay ra cải tổ – cải lương lố bịch, càng lộ ra những điểm yếu chết
người, đưa tới sự rã rời của từng nước không kiềm chế nổi. Cuộc thảm sát khủng
khiếp ở Thiên An Môn gây chấn động dư luận toàn cầu không thể tái diễn ở Đông
Âu để giữ cho bức tường Berlin – biểu tượng điển hình của thời kỳ chiến
tranh lạnh, dài 155 kilômét, bất ngờ
dựng lên chỉ trong một đêm vào năm 1961 cũng bị đạp đổ chỉ trong một đêm sau 28
năm tồn tại, báo hiệu một cộng động xã hội tưởng chừng bất khả xâm phạm đã đến
lúc tan rã không phép lạ nào cứu nổi. Mọi ranh giới do con người dựng nên cũng
sẽ do con người phá bỏ. Bạo lực có thể giết người nhưng không tiêu diệt được ý
chí hợp quần.
Ông Thanh và người cháu rể ngồi bần thần như
vừa mất đi một vật qúi vẫn trưng trong tủ. Tưởng rằng hai chú cháu đã cắt mọi
liên hệ với một ý thức rồi thì họ sẽ dửng dưng nhưng thực ra mối gắn bó tinh
thần bao lâu qua những tháng năm đặc biệt còn sâu nặng lắm. Họ thẫn thờ trong
yên lặng. Ông Thanh buồn bã:
- Tôi cứ nghĩ do ta đi lên từ một mặt bằng qúa
thấp về nhiều mặt mới sinh ra những cố tật trầm kha như thế và tin vào một Đảng
cộng sản Liên Xô vững mạnh. Sự đổ vỡ ngày hôm nay không thể từ những tác động
ngẫu nhiên. Những năm đen tối, gian khổ, mình hướng tới một nguồn sáng để có
lòng tin và định hướng mà đi. Khi đến nơi mới rõ nó chỉ là một ngọn nến lung
linh chứ không phải là ngọn đèn thần mà sao không ai dám nói thật ra?! Có thể dối
một người lâu dài, dối nhiều người trong một thời gian nhưng không thể dối mọi
người mãi được. Người phương tây có câu chuyện ngụ ngôn về bộ áo hoàng đế được
dệt bằng thứ tơ thần chỉ dành riêng cho bậc minh quân tài ba lỗi lạc và cũng
chỉ những người quyền quý thông thái mới nhìn ra được nó. Trong khi hoàng
thượng cứ tảng lờ đi cao đầu kiêu hãnh diễu hành khoe ra với thần dân bộ hoàng
bào đặc biệt thì đám triều thần theo sau bấm bụng khúm núm tán dương bệ hạ mang
bộ áo đế vương rực rỡ cao sang cả thế gian này không đâu có được. Còn dân chúng
thì nghĩ rằng mình là người trần mắt thịt hèn kém không thể nhìn ra nên cứ khấu
đầu tung hô Vạn tuế! Chỉ khi một đứa bé con thấy chuyện lạ đời mới nhảy tâng
tâng vỗ tay reo toáng lên Nhà vua ở truồng thì mọi người mới chợt tỉnh ra! Cái
thói háo danh hoang tưởng dễ làm người ta hoáng mắt và tự dối mình đáng thương
như thế.
- Sẽ đến lúc lịch sử trả lời vì sao những con
người chân chính, tài năng, trí tuệ, hiến dâng mà số phận họ lại bi thảm gieo
neo đến thế giữa lúc những yêu cầu Tự do–Dân chủ–Nhân quyền thôi thúc nhân loại
thoát ra khỏi cái vòng kim cô ác nghiệt bấy lâu nay? Vì sao đến nỗi chỉ một
người thôi mà cũng phá tan được cả một nhà nước khổng lồ? Ai phóng tay cho bọn
người cơ hội được quyền tạo án hãm hại hàng loạt những nhà khoa học, chính trị,
quân sự và những người chân chính trung kiên? Ai đã bật đèn xanh để cho đám lâu
la cuồng tín giết hại thảm thương các vị khai quốc công thần, các tướng lĩnh
lừng danh, các nhà trí thức là nguyên khí quốc gia? Điều kỳ quái ấy hiển nhiên
mà sao vẫn tồn tại được?! Vì sao chúng ta biết quá ít về những người bị oan
khiên thiệt mạng hoặc bị tước bỏ khả năng phát huy trí tuệ? Ông tướng cầm quân
đánh bại liền hai tên xâm lược khổng lồ hung hãn bỗng bị tước tay súng giao cho
việc đi đặt vòng tránh thai, không chỉ là hạ
bệ một tượng đài, còn là sự xúc phạm danh dự cả một đội quân lừng danh bách
chiến bách thắng trước giặc ngoại xâm. Đành rằng không có sự lãnh đạo sáng suốt
với đường lối đúng hợp lòng dân thì không thể có một đội quân trung thành anh
hùng dũng cảm hy sinh như thế nhưng nếu như không có những người chỉ huy tài ba
mưu lược thì đội quân nào cũng bị thiêu rụi trong cái lò lửa chiến tranh khốc
liệt mà thôi!
- Bánh mì cho người đói – Ruộng đất cho dân cày – Tự do cho người nô
lệ – Hòa bình cho các dân tộc là những nhu cầu chính đáng vừa bức thiết vừa muôn thuở của loài
người. Có điều là cách làm thế nào để thực hiện nó thôi. Những hành vi quá
khích chỉ nuôi dưỡng hận thù. Tuy nhiên giữa người đi đòi và kẻ bị đòi không ai
dễ chịu ai đâu – Đấy là bản năng hoang dã của con người. Lịch sử nhìn nhận nó
vừa nghiêm khắc vừa độ lượng nhưng không thể để cho kẻ nào độc quyền nhân danh
công lý làm điều nghĩa hiệp sẽ dễ thành bạo chúa.
Hai con người từng suốt đời tin vào một lẽ
phải thánh thiện và thành tâm dâng hiến, giờ chợt tỉnh nhìn những đổi thay,
trầm mặc như hai tượng đá. Ông Thanh cất giọng buồn :
- Ảo tưởng về cuộc cách mạng thế giới đã đem
lại một xã hội bị cào bằng về mọi mặt. Người ta căm thù tư hữu và lên án thứ tự
do dân chủ giả danh trong khi áp đặt ý chí của một người sau khi mê hoặc nhiều
người bằng sự sùng bái cá nhân! Còn con người
là còn thiện ác. Người ta vẫn nhân danh điều thiện để làm điều ác đấy… Một nước
không như một nhà. Một quốc gia không là thế giới. Một người có thể sống vị tha
nhưng một cộng đồng không thể chết cho cộng đồng khác sống. Thế giới đại đồng
như người ta mơ về cõi trời vậy... Quyền lợi là cái lõi trong mọi mối quan hệ
của con người, kể cả với quốc gia. Nó lúc hay lúc dở là sự thường tình. Anh có
nghĩ ở ta rồi sẽ có sự đổi thay nào không?
- Dư luận đang rộ lên
chuyện đa nguyên đa đảng. Thực ra nước
mình đã từng có cả rồi nhưng chẳng mang lại thực chất gì. Đó là chuyện của
những người làm chính trị, mưu sự bá vương. Người lương thiện đang cần đời sống
có sự đổi thay thiết thực, được ăn no, mặc ấm, có chỗ ở cho ra hồn, ốm đau được
chữa trị tử tế, con cái bé được học hành, lớn lên có việc làm ổn định, việc xã
hội mọi người gánh vác công bằng, luật pháp không trừ một ai.
- Tôi chưa hiểu đổi mới tư duy ý định nói gì?
Nhiều điều ấp ủ trong lòng bây giờ anh Bình có
dịp nói ra:
- Tư duy nào là mới? Tư duy nào là cũ? Chỉ có
trước đây ta nghĩ sai, làm sai, bây giờ sửa lại. Không nói thẳng ra điều ấy
nghĩa là vẫn sĩ diện với cái hư danh vĩ đại thiên tài. Hồi cháu đi làm sửa sai,
người ta trưng lên khẩu hiệu: “Cải cách ruộng đất thắng lợi – Sửa sai và tiến lên”! Đã thắng lợi việc gì phải sửa sai cấp thời
rầm rộ đến thế? Thắng lợi của cải cách ruộng đất là gì? Là mang lại ruộng đất
cho nông dân chứ gì? Trong khi ai cũng thừa hiểu không thiếu gì cách ôn hòa,
nhân đạo mang lại một khoảnh ruộng chó nằm ló đuôi cho dân cày, cần gì phải làm cuộc đấu tố
giết người tới mức vô luân thường đạo lý như thế, để lại hậu quả xấu về con
người và lòng tin dai dẳng mãi đến hôm nay? Thế rồi lại khiên cưỡng người ta
hợp tác, hợp doanh – thực chất là lấy lại ruộng đất, công cụ sản xuất của người
lao động giao cho ông tập thể vô hình, cha chung không ai khóc để đến nỗi nông dân chán nản, bỏ hoang phí
đất đai, công nhân ngồi chờ việc, nhìn nhau chịu đói. Đến lúc ngửa nón ra xin
ăn, không ai cho nữa, dân thì đói mà cái ghế ngồi thì lung lay mới phóng
tay khoán sản, lại cười ha hả bảo họ
vỗ tay hoan hô ngày hội mới như ban ơn cho họ được sống lại thêm lần
nữa! Ngày hòa bình thống nhất mới vỡ ra
cái lòng tin ngây thơ gửi vào ông bạn láng giềng! Rồi Hiệp ước hợp tác
toàn diện Việt-Xô chỉ còn là mảnh giấy
khi Liên Xô đang ở cuối trào! Hãy xem sự cố mấy đảo ở Trường Sa bị lấn chiếm
trong khi tàu nổi tàu chìm của họ đậu đầy ở cảng Cam Ranh vẫn án binh bất động!
Hội đồng tương trợ kinh tế
(Khối CEB) lúc ấy đang chới với cũng phải ôm thêm một đồng chí sài mòn chưa
biết sẽ giao cho nó làm gì ngoài cái việc đánh nhau ra! Ta vẫn hỉ hả xoa tay tự
hào “đi dép lốp cao su lên tàu vũ trụ”! Không thấy giặc trong ta, chỉ
thấy giặc quanh ta. Nếu không thiên tai thì là địch họa kể cả những đứa trẻ sinh
ra vô kế hoạch! Cách mạng là khoa học.
Khoa học tối kỵ sự áp chế, vũ đoán và dối trá. Phải sai đúng rạch ròi, dám phủ
định điều mình từng khẳng định. Khoa học thừa nhận công lao của những nhà phát
minh sáng chế nhưng không chấp nhận một thiên tài vĩ đại nào bao trùm lên tất
cả. Hai mươi năm rồi vẫn quẩn quanh trong mớ bùng nhùng của một sai lầm duy ý
chí thì sao gọi là cầu thị? Để đến lúc cùng đành phải nói ra: Đổi mới hay là
chết, có nghĩa là không ít người đã chết thật rồi mới dò dẫm đi
lại từ bước khởi đầu! Phải thoát khỏi sức hút của lòng mê hoặc đã thành thói
quen của những kẻ trung thành với Chúa để được là Thánh tông đồ, tụng kinh thờ
Phật để được thành Bồ tát.
- Người ta truyền khẩu lời thở than của không
ít vị chức sắc đương quyền: Tôi là chính nhưng không có quyền! Mà sao các vị vẫn ngồi lỳ trên cái ghế hư
danh ấy? Cái gì gắn chặt đến thế ngay cả với những người được gọi là hiền? Phải
chăng cái chế độ bao cấp độc địa khiến người ta không dám rời ra? Từ đó sinh ra
lớp thuộc hạ vừa gian tham vơ vét vừa chỉ biết tấu chung chung hiểu sao cũng
được!
- Cái chế độ bao cấp dai dẳng làm hư hỏng bao
nhiêu con người, băng hoại xã hội, phải coi như là tội ác! Nhưng người ta đổ
lỗi hết cả cho điều kiện khách quan chứ không do sự vô cảm chủ quan của người
nào. Suốt thời gian bao cấp ai là người điêu đứng nhất? Chế độ bao cấp mất đi
mới là do tác động khách quan. Nó còn, vẫn khối kẻ ung dung sung sướng đề huề,
ai khổ mặc ai.
- Hôm rồi địa phương nghe trên báo về thế nào,
mấy vị tới thăm, cho gói trà, hộp bánh là tiêu chuẩn cán bộ tiền khởi nghĩa và
bảo tôi làm đơn xin phục hồi sinh hoạt Đảng, trên sẽ xét cho xóa đi thời gian
gián đoạn. Đảng bỏ tôi chứ tôi đâu bỏ Đảng thì sao tôi lại phải làm đơn? Ông bà
cha mẹ xưa nay cũng dạy bảo con làm việc thiện. Tôi vào Đảng để làm việc thiện
chứ không cầu sự tiến thân. Muốn tiến thì mình phải tự rèn, tự học chứ cần gì
phải dựa vào ai mới tiến lên được? Không có Đảng tôi vẫn là người lương thiện.
Hai vị cán bộ tận tâm tận tụy một thời quá lứa
ngao ngán nhìn thế sự đổi thay. Thằng Danh nằm dài trên ghế, gác tay lên trán,
không biết nó ngủ hay suy nghĩ gì nhưng chắc rằng nó chẳng quan tâm gì tới nỗi
buồn lo của các bậc bề trên. Nó uể oải ngồi dậy, loay hoay lắp khúc chân gỗ vào
mỏm chân cụt lủn. Thấy ông và cha mặt mày ủ ê, nó hiểu ngay lòng các cụ:
- Các vị già đa cảm quá. Con thấy chuyện đến
muộn rồi! Bao lâu nay mình được dạy phải biết tự lực tự cường thì cần gì phải
sống dựa vào ai? Các vị có nghe khắp nơi người ta rủ rỉ câu này: Ta ưu việt vì
cho ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc! Không ai làm việc nhưng ai
cũng có lương! Không ai sống nổi bằng đồng lương mà người ta vẫn sống dù không
ai vừa lòng! Không ai vừa lòng mà ai cũng hoan hô! Sự đời trái khoáy ấy đã động
tới thiên đình nên mới cho tự cứu lấy mình. Sao các vị còn ngẩn ngơ lưu luyến?!
Trong cái dở có cái hay. Mình thoát khỏi sự lệ thuộc vào ngươi mà sao cứ lúng
túng như gà mắc tóc?!
ô
Bích Liên từ Paris báo về tin khẩn:
Mẹ bệnh nặng, khó qua khỏi được!
Cẩm Nhung và Nhân Tín chuẩn bị cùng nhau sang
với mẹ. Chuyện tình cảm tế nhị, hai chị em không dám dạm ý cha.
Ông Thanh bồn chồn, bứt rứt, phút cuối cùng,
ông nói với Thảo Tâm:
- Em cho tôi cùng đi với các con được không? –
Ông không dám tự quyết vì cái tình của cô với ông nặng quá. Ông không muốn để
cô buồn. Nhưng nghĩa tao khang kiếp này không trọn có lỗi của ông.
Cô Thảo Tâm không cản nhưng sâu tự đáy lòng,
cô dấm dứt buồn: Một đời cô dành tất cả tình thương yêu cho anh ấy mà nó đến
với cô muộn quá. Giá như có được một đứa con. Cô càng không muốn tình yêu bị sẻ
chia… Nhưng anh ấy nặng tình, nặng nghĩa lắm. Đã yêu thì phải thương thôi.
Nhân Trí đón ba cha con từ sân bay về thẳng
bệnh viện vì sự sống của mẹ đang ở những giờ phút cuối. Dường như bà ráng sức
chờ con.
Cẩm Nhung không kìm nổi mình, cô gục đầu vào
lòng mẹ khóc nức nở như ngày còn bé. Bà Lê Thị Hợi đang lơ mơ như bay trong đám
mây mờ nhòa tối-sáng. Làm sao mà bà nhận ra ngay tiếng khóc của con bé ngày
nào? Sắc mặt bà tươi lại, đôi mắt sáng ra, đưa đẩy, tay bà run rẩy giơ lên đòi
ngồi dậy. Các con đỡ đầu bà cao lên. Dường như toàn bộ sức lực còn lại bà dồn
cho con bé:
- Tội nghiệp con tôi… Mới tý tuổi đầu đã góa
bụa! – Những giọt nước mắt to nặng lăn xuống gò má già nua. Hai tay bà ghì chặt
con vào lòng như muốn che chở nó.
Cẩm Nhung càng khóc to hơn.
Nhân Tín ngả đầu bên vai mẹ, anh hôn lên đôi
gò má hoen nước mắt.
Một tay bà ép má con vào đôi môi khô héo, thì
thầm:
- Con tôi bướng bỉnh… vào tù có bị làm tội làm
tình nhiều lắm không con?
Dường như bà không gánh nổi những nỗi đau con
mình phải chịu, bà thở hổn hển, rã rời tay chân. Mọi người hốt hoảng đặt đầu bà
thấp xuống. Ông Thanh lay hai vai, ghé sát tai bà:
- Mợ nó ơi! Mình ơi!
Bà nhận ra tiếng ông nhưng bà không đủ sức
quay lại hay bà muốn tránh ông, giọng bà thều thào:
- Ông có khổ lắm kh… ô… ng?
Đó cũng là hơi thở ra cuối cùng và không hít
vào được nữa. Người bà mềm thõng ra. Ông Thanh khóc rống lên:
- Không! Tôi không khổ đâu bà ơi! Bà mới khổ vì
tôi!
Văn Khoa và mấy người y tá đỡ ông dậy, kéo ông
lùi xa ra trong khi bốn đứa con bà gục trên lòng mẹ khóc lên tức tưởi.
Ông Tham Phú mất hồi năm ngoái, an táng bên mộ
bà Nguyễn Nữ Đạm Tâm. Sau đó sức khỏe bà Lê Thị Hợi sa sút nhanh lắm. Bà dặn
lại, tạm thời an táng nhờ một nghĩa trang xứ đạo, khi nào có điều kiện thì hỏa
táng, tro cốt đưa về quê nhà, rắc xuống dòng Nhị Hà cho lẫn với phù sa dạt vào
bến bãi nào cũng là quê hương xứ sở của mình.
Một ngôi mộ mới nằm giữa những ngôi mộ lạ nơi
xứ người, dưới hàng hàng cây thập ác như những cánh tay người giơ ra im lìm,
lặng lẽ suốt ngày đêm.
Trong số người đưa tang ít ỏi có cả chị Hương
Giang. Chị sang Paris ở với con. Dường như chị sống không hạnh phúc.
Thằng
cháu đích tôn của ông Thanh bà Hợi tức là con của Nhân Trí và Yên Thịnh, có cái
tên gợi cảm đầy ấn tượng: Nguyễn Đại Dương, đã vào tuổi thiếu niên. Với nó, đại
dương cũng như cuộc đời này thật thái bình và thơ mộng. Nhưng với cha mẹ nó là
gợi lại nỗi kinh hoàng!
Đứa con trai của Nhân Tín tên là Thomp Nguyen,
đã trưởng thành, qua chịu tang bà nội. Mẹ nó đã là người dưng. Ông nội và cha
nói tiếng Mỹ thì nó lắc đầu lia lịa mà nó nói tiếng Việt thì ông và cha nó đều
ngao ngán. Nó chỉ từng người hỏi:
- Người này là dad? Người này sinh ra dad… – nó nói theo
người lớn nhắc:… Yes… là on noi?
Người lớn hỏi nó:
- Có muốn đón cha và ông nội qua Mỹ ở không?
- Nguoi nay đuoc nuoi!
Nó chỉ vào ông gật đầu, rồi lắc đầu chỉ vào
cha:
- Nguoi nay con lam viec!
Cha nó sôi máu lên, nói như quát :
- Tao không cần ăn bám đứa nào!
Nhìn thái độ giận dữ của cha, nó xua tay :
- Oh! Oh! Cong san đoc tai… gay chien… Khong
tot đau!
Ông nội tái mặt đi trong khi cha nó đỏ mặt
lên.
Lúc đầu, Nhân Tín cũng có ý định tiện dịp này
qua Mỹ thăm bạn bè và thăm dò tình thế xem sao nhưng trước tình cảnh ấy anh
chán ngán nản lòng. Một số bạn bè tìm tới gặp, rủ anh ở lại:
- Ông thuộc diện ưu tiên số dzách, gật là được
ngay. Muốn xin cư trú ở đâu, kiểu nào
cũng được.
Anh chối từ ngay :
- Qua đây thì vợ mình đã là vợ người ta, con
nói chuyện với cha như ông tây thuộc địa nói với người bản xứ, ngửa tay ăn xin
thì nhục, chẳng lẽ đi làm cu ly kiếm sống giữa những người xa lạ coi mình như mọi? Trong khi về nước tôi có vợ, có con, làm
ông chủ trại chăn nuôi, không giàu có nhưng sống cũng đề huề.
- Nhưng mất tự do, áp đặt!
- Cái tự do tôi cần bây
giờ là được sống thanh nhàn với vợ con, được làm việc theo sức của mình. Chuyện
chính trị tôi không quan tâm. Nhưng có một điều tôi nhận ra là mình không nên
cực đoan, chê qúa lời hoặc khen qúa đáng. Ngày tôi đang ở tù thì Tàu đánh qua,
tôi hiểu ra người ta không phải là tay sai Trung cộng. Ngày tôi ra tù ít lâu
thì Liên Xô sụp đổ mà người ta vẫn đứng được, tôi nhận ra họ không phải là tay
sai của Nga Xô. Thực ra lúc tôi coi họ là kẻ thù, đối kháng quyết liệt mà sâu
xa trong lòng tôi vẫn có chút gì trọng nể không thể nói ra vì lòng tự ái. Bây
giờ sống chung, tôi thấy họ cũng là những con người. Còn xã hội gì, tôi nghĩ
như cái tên một câu lạc bộ nào đó trên chiếc áo cầu thủ thôi. Cốt lõi vẫn là
tài cầu thủ xứng ở loại nào… Hạng hai? Hạng một? Ngoại hạng hay Tuyển quốc gia?
Bây giờ, tôi chấp nhận làm fan cho đội
Việt Nam. Dù mặc áo vàng, áo xanh hay áo đỏ đã có FIFA xếp hạng. Nhưng tôi vẫn
vui buồn với nó vì nó là những người Việt Nam thật sự.
Có người chỉ trích vỗ mặt anh phản bội đồng
đội, phản bội lý tưởng quốc gia, anh không tự ái, trả lời thủng thẳng:
- Ông tướng bốn sao Westmoreland từng là người
hùng trong cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, sang Việt Nam lãnh cương vị Tổng tư
lệnh liên quân Việt-Mỹ nắm trong tay hơn một triệu binh hùng tướng mạnh với vũ
khí tối tân dùng mặc sức mà cũng chịu phận bẽ bàng thay ngựa giữa dòng, về nhà
nói ra nỗi lòng cay đắng: “Trong cuộc chiến tranh này chúng ta không có anh
hùng, chỉ có những kẻ ngu xuẩn. Tôi là một trong số những kẻ ngu xuẩn đó!”.
Vậy sao tôi và các bạn không biết quên đi cái quá khứ nặng nề u ám đó để được
sống thanh thản trong quãng đời còn lại chẳng còn dài? Nếu nói đến lý tưởng
quốc gia thì bây giờ nhìn vào tấm bản đồ thế giới, mảnh đất hình chữ S bên bờ
biển Đông rành rành hai chữ Việt Nam! Đành rằng cái nước Việt Nam ấy sướng khổ
thế nào? Đó là việc của chín mươi triệu quốc dân hiện hữu. Dù sao tôi không hề
muốn cưa đôi hay chia năm sẻ bảy cái mảnh đất khốn khổ này ra chỉ để chuốc vào
những bất hạnh ê chề!
Vợ chồng Bích Liên hướng
dẫn mấy cha con đi xem một số nơi tiêu biểu của Paris: tháp Eiffel, bảo tàng
Louvres, Khải hoàn môn, Nhà thờ Đức Bà, hẻm Compoint, vườn Luxembourg, và đi tàu thủy trên sông
Seine vào buổi tối. Văn Khoa làm hướng dẫn viên tích cực.
Tháp Eiffel cao mà thanh tú, sừng sững như con
hươu cao cổ khổng lồ, đứng xoạc bốn chân bên bờ sông Seine, đầu đụng mây bay
cúi nhìn thiên hạ. Nó ra đời vào dịp kỷ niệm tròn 100 năm Cách mạng Pháp (1889
– 1789). Vượt qua những lời chê bai, phỉ báng – kể cả của những bộ óc lớn đương
thời, lúc khai sinh, nó nghiễm nhiên trở thành niềm kiêu hãnh và biểu tượng của
Paris. Tháp cao 320 mét, được ghép bởi 15 ngàn thanh sắt dính chặt với nhau bởi
2 triệu rưởi con ốc bù loong. Có ba tầng ở độ cao khác nhau để người ta lên
thưởng ngoạn – đi bằng thang máy hoặc dò theo 1710 bậc tới tầng cao nhất. Mỗi
sân tầng chứa được hơn năm ngàn người và đều có cửa hàng bách hoá, quán ăn.
Người Paris tự hào vì nó: Cả thế giới ngưỡng mộ và thèm có ngươi. Trong tất cả
các tượng đài, ngươi được phiên bản nhiều nhất, bằng vàng, bằng đồng, bằng đá,
bằng mỡ lợn, bằng kem… Paris không có ngươi khác gì con chim cụt cánh !
Trên tầm cao 50 mét của Khải Hoàn Môn, ngắm
nhìn toàn cảnh Paris. Dưới chân nó là Quảng trường Ngôi Sao với 13 con đường
lớn nhỏ toả ra bốn phương tám hướng, ngày đêm xe chạy tít mù và kia là dòng
sông Seine uốn lượn miệt mài với những con tàu như những cánh hải âu ngược xuôi
không mệt mỏi. Thi hài một người lính vô danh được mai táng ngay bên tường vòm
cổng chính. Theo con đường lớn qua đây, nước Pháp tiễn đưa cha đẻ của Những người khốn khổ (Les misersbles) về yên giấc ngàn thu trong
điện Panthéon với hàng chữ vàng chói lọi: Vinh quang đời đời thuộc về
các vĩ nhân.
Nhân Trí rùng mình nhớ tới người em, người
đồng đội năm xưa, tự nói với mình:
- Những chiến sỹ ấy đều có tên nhưng sẽ không
ai biết nữa vì họ âm thầm ngã xuống ở khắp mọi nơi. Không ai biết chiến công
của họ, thậm chí sự xả thân của họ còn bị hiểu khác đi! Không sự tôn vinh nào
xứng với sự hy sinh ấy. Biểu tượng này chỉ có ý nhắc người đời đừng bao giờ
quên họ!
Từ quảng trường Ngôi sao đi theo đại lộ Champs
Elisées – con đường đẹp nhất Paris, thênh thang thẳng tắp đến quảng trường
Concorde. Vỉa hè rộng, hàng cây cao thẳng vút lên, có nhiều ghế gỗ cho khách bộ
hành nghỉ chân. Người Paris có thói quen ngồi nhâm nhi ly cà phê bên hè phố,
thích thú ngắm thiên hạ qua lại như những dòng nước ngược chiều nhau.
Quảng trường Concorde thoáng rộng mênh mông,
chung quanh nhiều lâu đài, dinh thự nguy nga tráng lệ. Bùng binh hoa ở giữa nổi
lên rực rỡ, lúc nào cũng có người đi dạo đông vui. Đứng trên cầu Concorde, phía
bên kia là tòa nhà quốc hội, anh Văn Khoa giải thích :
- Ai đến Paris mà không tới đây là sự khiếm
nhã với lịch sử của thủ đô ánh sáng. Trong hơn ba
mươi cây cầu bắc ngang con sông Seine – như giải lụa vắt ngang thành phố, thì
cây cầu này là biểu tượng thiêng liêng vì nó được xây một phần bằng đá của nhà
ngục Bastille bị phá trong cuộc cách mạng năm 1789, ngày quatorze
Juillet (14/7), nội hàm ý nghĩa nhân
văn: Nhân dân Pháp vĩnh viễn đạp dưới chân mọi nỗi ô nhục của sự áp bức đọa
đày!
Anh chỉ tay về phía quảng trường:
- Chính nơi đây, người ta đặt cỗ máy chém. Vua
Louis XVI, hoàng hậu Marie Antoinette và rất nhiều phần tử bảo hoàng bị cách
mạng đem ra xử trảm trước sự phẫn nộ của nhân dân. Cả pho tượng Louis XV hiên
ngang trên mình ngựa cũng bị đạp đổ xuống. Khi kẻ cai trị cho mình cái quyền
được chà đạp lên giá trị của con người là tự chúng châm ngòi pháo cho một sự
đổi thay gọi là cách mạng. Đó là hậu quả của sự bất bình chồng chất có thể biến
thành cơn nộ khí xung thiên! Sau đó người ta đặt tên là quảng trường Concorde
có nghĩa là kết đoàn, hòa hợp để xóa đi ấn tượng về những năm khủng khiếp (một tác phẩm thơ của Victor Hugo).
Nhân Tín nhìn lên đỉnh Kim tự tháp từ Ai Cập
chuyển về đây, nói bâng quơ:
- Phải chăng cách mạng trước là ai nộ sau mới là ái lạc?
Ông Thanh từ tốn nói:
- Có bị đè nén mới thấy cần phải đổi
thay. Tùy vào sức nén, sự nộ khác nhau: phẫn nộ, thịnh nộ hay cuồng nộ! Đó là
một cuộc cải cách, đảo chính hay nổi loạn. Thân phận con người vào thời điểm ấy
thật điêu linh: Cái đúng, cái sai chưa biết dựa vào đâu mà phán xét. Luật pháp
nằm trên họng súng, mũi gươm, đầy rẫy những sự nhiễu nhương, bi thảm!
Với những người Việt Nam kháng chiến, đến Paris
không thể không đến hẻm Compoint. Chung cư số 9 xưa đã bị phá bỏ để xây dựng
toà nhà mới nhưng ở ngay lối ra vào đúng nơi cổng cũ, ngang tầm nhìn có gắn một
tấm biển đồng với hàng chữ Pháp: Ici de 1921 à 1923 a vécu et milite pour
indépendance et la liberté du peuple du Vietnamien et des autres opprimes
Nguyễn Ái Quốc connu sous le nom Hồ Chí Minh – Janvier 1983 (Nơi đây từ
1921 đến 1923, Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh nổi tiếng đã sống và chiến
đấu vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức – Tháng
1/1983).
Ông Thanh tần ngần đứng bên bồn hoa trước tấm
bảng… Một ông Pháp già từ chung cư đi ra vui vẻ bắt tay mấy người xứ lạ phương
đông :
- Các vị đến từ Việt Nam?
Không đợi khách trả lời, ông tự tin giải thích
ngay:
- Tại Bảo tàng Lịch sử sống (Le musée de
L’Histoire vivant) ở thành phố Montreuil cách đây không xa có dành riêng
một “Không gian Hồ Chí Minh” lưu giữ những kỷ vật như cái cánh
cửa cũ kỹ còn nguyên ổ khoá và chốt cài, cái bàn rửa mặt, cái mắc áo… đặt trong
một căn phòng hẹp dưới chân cầu thang tượng trưng nơi ông Nguyễn Le patriote
trước kia từng ở.
Và ông tự giới thiệu về mình :
- Tôi từng bị tù vì Việt Nam vì tôi là lính
phản chiến không chịu sang Đông Dương. Ra tù, tôi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp
và tích cực tham gia phong trào phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy. Chiến
thắng Điện Biên Phủ của các ông là nhát búa chí mạng giáng vào những cái đầu
thực dân ngoan cố. Chúng tôi khâm phục sức chịu đựng của các ông bền bỉ tiến
hành cuộc chiến tranh giải phóng trước một tên đế quốc khổng lồ tới thắng lợi
hoàn toàn. Hồ Chí Minh là nhà yêu nước lớn, thông minh, khả ái. Dù ông đã cho
nước Pháp một đòn đau nhưng chúng tôi chưa từng coi ông là kẻ thù và vẫn trân
trọng với những dấu ấn của ông ở đây.
Ông Thanh nắm chặt tay người bạn già lần đầu
mới biết:
- Chúng tôi hiểu rằng thắng lợi của chúng tôi
có sự cổ vũ to lớn về tinh thần của những người bạn Pháp và cả người Mỹ dân
chủ, yêu chuộng tự do và công lý như ông!
Có người để cởi mở nỗi lòng, ông bạn Pháp nói
một hơi:
- Trước đây, Đảng Cộng sản Pháp rất mạnh và có
uy tín vì đã tích cực tham gia kháng chiến chống phát xít Đức, ủng hộ cuộc
kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, Algérie. Tuy nhiên sau khi những
việc làm độc tài chuyên chế tàn bạo của Stalin bị phanh phui, nhiều đảng viên
đã ra khỏi Đảng và tôi cũng thế. Tự do–Bình đẳng–Bác ái vừa là
mục tiêu xã hội vừa là danh dự con người. Không thể vì bất kỳ lý do nào để trà
đạp lên chân lý đó. Sau này thấy tình hình ở Trung Hoa, Triều Tiên, Cu ba rồi
đến sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa càng làm cho tôi thất vọng. Có chủ
nghĩa cộng sản thật không? Chủ nghĩa xã hội là gì? Những lãnh tụ cộng sản là
người thế nào? Bài học cho chúng tôi là không cuồng tín với bất kỳ chủ thuyết
nào và không cả tin vào một ai… Điều tối thiêng như tôn giáo, đấng tối kính như
giáo chủ mà bị lợi dụng cũng thành thảm họa… Riêng với Việt Nam thì tôi khó
hiểu qúa… Có người bảo là người Việt Nam kín chuyện?
- Mỗi dân tộc có cách ứng xử theo truyền thống
văn hóa riêng của mình!
Ông Thanh lịch sự cảm ơn và chia tay một người
xa lạ mà tốt bụng.
ô
Ông bà dược sỹ Bảo Toàn trước khi chết đều day dứt về một đứa con trai
không biết đang nằm lại ở đâu. Đôi lúc Nhân Trí cũng chợt nhớ đến những kỷ niệm
khốc liệt, đau buồn và đứa em vợ cũng là người bạn chiến đấu thân thiết đã hơn
một lần cứu mạng cho mình. Nhưng cuộc sống qúa bộn bề và anh nghĩ cũng vô
phương. Từ ngày đứng bên mồ người chiến sỹ vô danh trên nóc vòm Khải hoàn môn,
bóng hình Quốc Anh thường chợp chờn trong giấc ngủ và từ đó lòng dạ anh cứ bồn
chồn. Việc chung ai người lo hết đặng. Lòng riêng không thể vô tình với người
đã khuất. Như có điều gì thôi thúc phải đi tìm dấu tích đứa em, dù việc không
thành anh cũng thỏa lòng vì đã làm hết phận mình. Anh liên hệ với chị Cẩm Nhung
và hy vọng sẽ có sự chỉ dẫn hữu ích.
Trong bốn anh chị em, chị cả Cẩm Nhung chịu
nhiều vất vả thiệt thòi nên toàn bộ gia sản mẹ để lại, các em đều dành cho chị.
Nhờ đó chị đã chuộc lại được phần ngôi nhà mà trước kia cậu đã cưu mang cho
người đồng đội tá túc tạm thời trong lúc xảy chân. Ông Lý Qúy Dân trước khi về
chết ở quê, sượng sùng nói với người bạn một thời kháng chiến gian khổ có nhau
và đã giúp đỡ mình:
- Xin anh tha cho vì tôi bất lực không bảo
được vợ con.
Nhưng thằng Lý Qúy Quốc nói át cha:
- Bố dở hơi! Thời nay người ta sống có theo
đạo lý nào đâu mà bố cứ tự hành mình như thế? Hỏi như mấy đồng tiền mồ hôi
xương máu của bố gửi tiết kiệm dành cho con từ dạo con ở truồng không biết xấu
hổ đã bị người ta hô biến công khai mà có ai mắc tội tình gì?
Ông nắm tay người bạn già, mếu máo:
- Khi bà lão nhà tôi mất, tôi bảo thằng con để
đại tang như là cái nghĩa cho mát lòng người quá cố mà cũng đẹp đời. Nhưng mẹ
nó bảo bà ấy đi theo đoàn thể thì đoàn thể để tang cho bà ấy chứ lúc sinh tiền
bà coi nó có là cái gì đâu! Nhưng rồi chúng nó lại xí phần, bảo bán nhà cửa đất
đai đi, lên mua nhà thành phố. Tôi làm sao dám làm điều phụ bạc? Nhưng tôi nằm
xuống là chúng nó chẳng cần biết đất nhà thờ, đất nghĩa trang gia tộc gì đâu.
Chúng nó chỉ cần tiền! Tôi thật đắc tội với tiền nhân! Ngày mình theo Đảng đi
đánh thực dân đế quốc có nghĩ tới ra cơ sự thế này đâu?!
So với cha con ông Thanh thì mẹ con cô Ngọt
không phải là nghèo. Suốt thời bao cấp, mọi người cứ tự hào yên phận với tiêu
chuẩn khẩu phần đủ thứ của mình thì ba mẹ con cô bất chấp những điều tai tiếng
thị phi, vẫn nhởn nhơ lưu thông hàng hóa tuồn từ luồng hàng chính thống ra thị
trường dân chúng đang khát khao, tiêu thụ với bất cứ giá nào nên được ăn ngon,
mặc ấm và còn dư của để chạy cho thằng con thoát khỏi mọi đợt tuyển quân và
tăng tích lũy. Đến thời đổi mới tư duy, mọi người được cởi
trói – tự cứu lấy mình, có bột mới gột nên hồ, mẹ con cô phất lên
nhanh chóng. Cô Ngọt vênh vác, chẳng cần dè dặt, nói toang toác:
- Tao đi lên từ cái chỗ con phe xó chợ đầu
đường suy ra còn lương thiện hơn nhiều ông cán bộ quen ăn vụng dân lại nhờ có
chức quyền đi ngang về tắt, cũng phe đủ thứ, kể cả cái ghế họ đang ngồi, cái mề đay đeo trên ngực!
Cô để cho con Thảo Nguyên nói bắn tin với cha
con người đã cứu giúp mình:
- Nếu nhà tôi không đến ở cũng có người khác
xông vào. Cách mạng nào chịu để cho dân nghèo nằm chết rét ngoài đường trong
khi người khác ở rộng thênh thang? Đây là nhà mẹ tôi thuê, trả tiền hàng tháng
hẳn hoi chứ có ở nhờ ở đậu gì đâu? Bố mẹ tôi cũng kháng chiến, cũng mất mát đủ
điều, cũng chịu nhiều oan khuất, gia đình lại không có ai theo giặc mà đã được
nhà nước ưu ái cái gì đâu? Đuổi chúng tôi ra ở ngoài đường thì chế độ còn gì là
ưu việt nữa? Chẳng ai ngu mà bước ra không. Xã hội này đều như thế cả!
Cẩm Nhung phải ngọt nhạt thương lượng với cô,
chịu bồi thường một phần ba ngôi nhà
theo giá thị trường, mẹ con cô nhận cho còn là biết giữ tình hữu nghị. Cô tậu luôn căn nhà to gấp rưỡi ở ngay đầu phố. Cẩm Nhung than thở
với cha:
- Giúp người, hại mình! Người ta khi nghèo khổ
thì hiền lương tử tế nhưng khi có chút tiền chút quyền thì lòng tham và tính
háo danh nổi dậy, dễ thành phản trắc thậm chí là độc ác. Hiểu ra thì đã muộn
rồi. Khốn nỗi chẳng cái dại nào giống cái dại nào, cũng như chẳng điều xấu nào
giống nhau để biết mà ngừa. Sống giữ cho yên mình thật khó!
Cha cô tặc lưỡi :
- Mỗi thời cái dại, cái khôn một khác, làm sao
biết được. Sống đừng hại ai cũng thiệt nhưng là để phúc về sau con à!
Người vợ liệt sỹ ấy đã chuẩn bị chu đáo cho
em.
Nhà nữ ngoại cảm không còn trẻ nhưng chưa thể
gọi là già, dáng hiền hậu nhưng nét mặt không biểu cảm ngay cả khi cười. Mọi
người gọi là cô với vẻ thành kính như người ở cõi trên.
Cô chắp tay hướng lên bàn thờ gia chủ lầm rầm
lời khấn không ai nghe rõ. Rồi lại khấn vái sáu phương
đông-tây-nam-bắc-thượng-hạ. Cô qùy gối trước chiếc bàn đặt ở giữa nhà có ba nén
hương đang tỏa khói cắm trong cái ly đầy gạo, một ngọn nến lung lay mỗi khi có
làn gió nhẹ lọt vào, tấm ảnh của liệt sỹ Quốc Anh đặt trên cuốn nhật ký chiến
trường để mở mà Nhân Trí còn lưu giữ được và hai tấm ảnh ông bà dược sỹ. Sau
mấy phút nhìn đăm đắm vào những tấm hình, nhà ngoại cảm mở to mắt ra tỏ vẻ ngạc
nhiên:
- Em chào anh ạ! Em là… được gia chủ mời tới
đây để tìm hài cốt người thân là liệt sỹ Nguyễn Quốc Anh, hy sinh tại mặt trận
Quảng Trị mùa hè năm 1972.
Sau đó cô là người chuyển dịch cuộc nói chuyện
giữa cô với những người đang có mặt ở đây hiện hữu và vô hình:
- Bác nào đậm người, trông khỏe lắm, có bộ
răng trắng đều, miệng rất tươi, lúc nào cũng như cười. Bác ấy nói: Tôi đưa chú ấy về nhà
của tôi để gặp mọi người!
- Anh Dũng! – Cẩm Nhung bật lên, suýt khóc òa
nhưng cô kịp chụp hai tay lên miệng, giữ chặt lại vì nhà ngoại cảm đã dặn trước
tránh mọi sự xúc động quá mức có thể làm gián đoạn cuộc gặp gỡ âm-dương.
- A! Cháu chào các bác! Em chào anh Quốc Anh!
Chị Yên Thịnh và anh Nhân Trí mời anh về đây để hỏi hài cốt của anh hiện nằm ở
đâu ạ? để đưa anh về nằm ở một nơi nào anh muốn ạ!
- Hai anh em lãnh chung một trái pháo lớn từ
ngoài biển bắn vào. Anh ở gần mà chỉ bị hất tung lên. Tôi ở xa hơn nhưng chịu
nhiều mảnh đạn, xương thịt tơi bời.
- Thế hài cốt anh có được ai mai táng ở đâu ạ?
- Đơn vị hy sinh gần hết. Người ta vùi chung
vội vã trong một nấm mồ tập thể. Mấy năm trước địa phương đã cải táng dời vào
khu vực chiến sỹ vô danh ở nghĩa trang liệt sỹ Trường sơn.
- Trong đó có cả anh chứ ạ?
- Không, khẩu súng có khắc tên tôi và người
bạn gái tuy cũng bị gãy nát nhưng còn đeo bên mình. Một người quen nhận ra và
đưa tôi tới một nơi cách ngôi mộ chung đó không xa, chôn riêng trên một nền nhà
bỏ hoang.
- Đúng rồi! Khẩu B41 có khắc tên Quốc Anh – Minh Hà, lúc nào cậu ấy cũng đeo kè kè bên mình, kể
cả lúc ăn, lúc ngủ! – Nhân Trí nghẹn ngào.
- Bây giờ anh có còn nằm ở đấy nữa không ạ?
- Vẫn nằm nguyên đấy ở giữa nhà, buồn lắm.
Người ta lại xây lên nhà tầng, khi đào móng chút nữa chạm vào tôi!
- Anh giúp em tìm được hài cốt đưa anh về nghỉ nơi vĩnh hằng yên tĩnh có
được không ạ?
- Dễ tìm thôi. Con đường dọc làng đi qua ấp
đấy. Ngôi nhà quay ra mặt đường, có con chó ngồi trước cửa nhìn ra, thấy người
lạ bước tới thì nó đi vào, ngồi ở góc nhà.
- Anh phù hộ cuộc đi tìm mộ của chúng em thành
công ạ! Hai bác bảo cứ đi đi, các bác xót con nằm không yên nơi ngày đêm người
ta qua lại vô tình giẫm đạp lên. Tay cầm ba nén hương, khi đi qua dãy nhà tự
nhiên cả ba nén hương cùng tắt, cứ chiếu thẳng ngôi nhà đối diện mà vào. Cháu
cảm ơn hai bác ạ! Em không thấy bác đậm người, khoẻ mạnh, lúc nào cũng cười
tươi nữa.
Chị Cẩm Nhung không nén nổi lòng, gào lên như
phút vĩnh biệt anh trong bệnh viện ngày nào:
- Anh Dũng ơi… Đừng bỏ em!
Cơn khóc bị dồn nén bao lâu òa ra.
Nhà ngoại cảm như trong cơn mơ bừng tỉnh, nét
mặt mệt mỏi, ngơ ngác nhìn mọi người.
Nhân Trí tổ chức chuyến đi chu đáo. Những
người ruột thịt và nhiều bạn bè thân thiết cùng đi.
Địa hình thay đổi hết, không nhận ra được nữa
nhưng địa danh thì anh không quên nên dò dẫm hỏi cũng tới nơi. Người lớn xưa
không còn ai, hoặc tứ tán đi đâu, hoặc đã về cõi thiên thu. Người trẻ mới lớn
lơ mơ về những gì đã xảy ra ngay chính trên mảnh đất mình đang ở. Trước kia chỉ
là một vết đi mờ trên dải cát trắng xuyên suốt mấy ấp, bây giờ là con đường cái
chính xuyên làng trải nhựa, xe ô tô tải đi lại bụi bốc mù lên. Ai cũng hồi hộp
nhưng không thể hiện sự ngại khó hoặc nôn nóng vì mất mát thời gian. Con đường
dài, đi chậm để xem xét địa hình, cảnh vật chung quanh. Chiều ngày thứ ba, có
người tỏ ra mệt mỏi, lung lay ý chí, giảm niềm tin. Nhà ngoại cảm coi đó là
chuyện bình thường:
- Người trần chỉ đường cũng đã khó tìm huống
chi là người âm chỉ.
Góc ruộng bên đường còn xác một chiếc xe tăng.
Mọi người dừng lại, vừa đứng xem vừa nghỉ. Bỗng nhà ngoại cảm xăm xăm lội xuống
giữa ruộng lõng bõng nước, cô vục tay gom đất thành một ụ nhỏ, vẫy người cùng
xuống châm một nén hương. Cô lầm rầm nhỏ to khấn vái rồi quay lên bờ :
- Nơi ấy vùi xác một người lính Sài Gòn. Anh
ta bảo nằm dưới ruộng này lạnh lẽo lắm và chỉ sang dãy nhà phía xóm đàng kia có
một người lính giải phóng bắn cháy xe của anh ta vẫn đang nằm ở đó…
Cô nói với vợ chồng Yên Thịnh:
- Đừng cố chấp chuyện đã qua. Anh chị ra thắp
hương và hứa sẽ bốc cốt cho người ta, rồi người ta sẽ giúp mình. Bây giờ ai
cũng là những linh hồn, không thể hại nhau.
Nhân Trí và Yên Thịnh nghe theo lời khuyên,
lội ra giữa ruộng, gom đất thành cái ụ to hơn, thắp hương và khấn:
- Chúng tôi đi tìm mộ người thân. Tình cờ gặp
anh ở đây. Lúc sống chúng ta bắn nhau mà cũng chẳng có thù hận riêng gì. Bây
giờ là lòng xót thương con người với nhau. Chúng tôi sẽ cải táng anh về nơi cao
ráo và sạch sẽ hơn.
Bỗng nhiên một luồng gió mạnh thổi mấy nén
hương bùng cháy lên…
Đoàn người quẹo qua con đường nhánh vào xóm
nhỏ. Trong khi mọi người đang quẩn quanh nhận xét địa hình thì một cơn gió xoáy
làm cả ba nén hương trên tay nhà ngoại cảm cùng tắt lịm đi. Nét mặt nhà ngoại
cảm hớn hở, mắt sáng ra, loanh quanh nhìn mấy ngôi nhà tầng quanh đó thì Yên
Thịnh chỉ:
- Nhà bên kia có con chó !
Mọi người xô qua đường hướng tới ngôi nhà
tầng. Con chó đứng trước sân lùi lũi đi vào, ngồi chống chân trước cửa đề
phòng. Thấy người ta đông qúa, dường như sợ, nó cụp đuôi, lùi dần vào rồi ngồi
chồm chỗm góc nhà trong tư thế nhe răng cảnh cáo. Thấy nhiều người xôn xao kéo
tới, chủ nhà ra hỏi sự tình. Anh xã đội giới thiệu chủ khách. Nhân Trí trình
giấy tờ hợp lệ. Ông bà chủ không phản đối nhưng còn dè dặt :
- Nếu đúng có chuyện ấy thì chúng tôi hoàn
toàn ủng hộ vì đây là việc làm đền ơn đáp nghĩa và mình đi lại trên chỗ người thiêng nằm là có tội. Nhưng nếu không
đúng thì các vị tính sao?
- Dù đúng hay không, chúng tôi cũng phải có
trách nhiệm hoàn nguyên trạng. Chỉ xin gia chủ cho phép chúng tôi tiến hành
công việc thuận lợi thôi.
Nhà ngoại cảm chỉ vị trí khai quật đúng ngay
nơi con chó đã ngồi. Sự thật đúng là như thế. Hộp sọ bị vỡ toang. Xương chân bị
gãy. Khẩu B41 gãy gập và rỉ sét nhưng dòng chữ Quốc Anh – Minh Hà khắc trên báng súng vẫn còn. Minh Hà không
ngờ người bạn trai ngày ấy đã in hình mình trong trái tim anh nặng sâu như thế.
Những giọt nước mắt của cô rơi trên dòng chữ hẳn làm cho chàng họa sỹ vui lòng.
Ông chủ nhà chắp tay vái cái tiểu xương:
- Xin liệt sỹ xá tội vì lâu nay chúng tôi
không biết!
Ông quay qua nói với mọi người:
- Từ ngày về ở đây, thỉnh thoảng tôi thoáng
thấy bóng người đeo súng đi vào nhà rồi biến mất! Các vị làm việc này vì tình
riêng và cả nghĩa chung, cũng là giải thoát cho gia đình tôi. Xin các vị cứ lo
việc hậu táng cho liệt sỹ. Chuyện sửa sang nhà cửa chúng tôi lo được.
Bỗng nhà ngoại cảm nhìn Yên Thịnh hỏi:
- Chiếc xuồng máy đang chạy giữa biển vào ban
đêm thì bánh lái bỗng nhiên bị rong biển quấn vào. Mọi người cuống cuồng lên?!
Yên Thịnh run lên. Chuyến ấy hai chiếc cùng
khởi hành, mở hết tốc lực chạy thục mạng. Xuồng của vợ chồng cô đột nhiên gặp
sự cố, tưởng sẽ bị bắt lại trong khi chiếc kia vẫn ngon trớn chạy. Nhưng vào
tới lãnh hải Hồng Kông thì không thấy chiếc xuồng ấy đâu nữa. Những người trên
đó cũng bặt tăm tích luôn. Không chừng họ gặp nạn gì?
Nhà ngoại cảm quay qua Nhân Trí:
- Linh bảo muốn về nằm ở nghĩa trang liệt sỹ
Trường Sơn, nơi ấy có nhiều đồng đội. Tìm được linh là nhờ vào một người quen
cũ đấy. Người ta bây giờ còn sống nhưng khổ lắm, ở mãi trên rừng có con đường
mang tên số. Phải tìm mà giúp người ta.
Lòng anh xao xuyến về một sự ứng nghiệm không
thể nào giải thích.
Lễ cải táng liệt sỹ được địa phương phối hợp
với gia đình tổ chức theo đúng ý của người đã hy sinh trong không khí trang
nghiêm và đầy tình thương xót.
Nhân Trí giữ đúng lời hứa đưa người lính Sài
Gòn khỏi nơi ruộng nước. Nhưng việc tìm người còn sống để trả ơn thì dịp này
anh chưa làm được. Vả lại người quen cũ đấy là ai? Biết bao nhiêu người tốt
bụng cưu mang chiến sỹ thật sự vô tư. Anh muốn có thời giờ nghỉ ngơi và suy
nghĩ.
ô
Thủy Tiên nghỉ làm cô giáo:
- Ngày xưa, dạy học là nghề yên tâm thanh thản
nhất dù không giàu có. Bây giờ thầy cô chịu nhiều sức ép, của học trò, của phụ
huynh học sinh, của cả đồng nghiệp và còn cấp cao hơn nữa. Phụ huynh nào cũng
muốn con em mình thành một nhân tài. Nhà trường mỵ dân ép giáo viên xuề xòa tạo
nên thành tích ảo vừa được việc mình vừa hợp ý trên. Học sinh ngộ nhận về thực
lực của mình, càng sinh ra lười nhác. Thi cử chạy theo thành tích, trên dưới
đều hỷ hả… Suy cho cùng, cả xã hội cùng thỏa mãn về sự tắc trách của mình.
Người thầy không tìm thấy niềm vui trong nghề nghiệp nên khó lòng yên với phận
mình thì làm sao sống gương mẫu được!
Cô vốn khéo tay, thời đi học ham thích nữ
công. Gặp lúc xã hội mở rộng giao lưu, hàng hóa phong phú. Cô giao tiếp rộng,
hiểu được nhu cầu thị hiếu mới, có óc tổ chức nên rủ chị Nhài và Dạ Lan cùng
hợp tác mở tiệm thời trang. Chị em cô là những người đi đầu của một nghề mới,
đi lên từ cơ sở của chị Nhài. Với tính cẩn thận chắc chắn và kinh nghiệm thương
trường của chị, kết hợp với óc sáng tạo của Dạ Lan và sự sắc sảo nhạy bén của
Thủy Tiên nên cơ đồ phát triển, nhiều người biết tiếng.
Dạ Lan hài lòng với hạnh phúc của mình, nói
với chị Nhài:
- Ngày học trường Đồng Khánh Huế, thày tử vi
bảo em có số tiền hung hậu cát, hai đời chồng
nhưng không làm bé. Suốt đời em không quên ơn chị.
Sau ngày giải phóng, cha anh Bảo Phúc trở về.
Hồi tết Mậu Thân, ông bị bắt, may gặp con người bạn học theo bên Cách mạng nên
ông được đem vào chiến khu rồi đưa ra Bắc, lao động ở nông trường. Lúc nước nhà
thống nhất, ông được trả tự do về với gia đình. Dạ Lan cho thằng Bảo Thân về
sống với nội và chu cấp đều cho con ăn học. Nó ngoan, có hiếu, học giỏi, đậu
vào trường Y khoa Huế. Cô vẹn tình vẹn nghĩa với người tình xưa và bây giờ,
được vui trong duyên mới. Thằng Ái Nhân như là đứa con chung của ba người đàn
bà có thân phận không may khác nhau cùng sống dưới mái nhà này. Nó ra đời lúc
cô long đong vất vả. Thủy Tiên đặt tên cho nó:
- Ở đâu mà con người biết yêu thương nhau sẽ
không còn bất hạnh!
Nhân Tín tỏ ra chín chắn. Dạ Lan chuẩn bị cho
chồng một trang trại nhỏ chăn nuôi gia súc, mục đích để giữ chân anh. Nào ngờ
anh tìm được thú vui trong công việc mới. Các loại sách vở chăn nuôi chất đầy
bàn, đầy tủ. Trang trại của anh mở rộng dần ra và vật nuôi đa dạng hơn, nhiều
người biết tiếng. Anh quan tâm đến những việc gì liên quan thiết thực tới công
việc của mình. Xã hội mở cửa, nhiều bạn cũ của anh tứ phương đi về gặp nhau. Dạ
Lan lo trong bụng mà không dám nói. Anh biết ý vợ, bảo:
- Em cứ yên tâm với công
việc của em đi. Đời người ngắn lắm, được làm việc trong sự yên bình đó là hạnh
phúc. Người Việt mình bây giờ dù còn khác chính kiến nhưng không ai dại ham
chuyện khuấy lộn, hỗn loạn, giết hại nhau đâu.
Vợ chồng cô Thêm di tản qua Pháp cũng trở về.
Ông Dương Trọng Đức bây giờ hành nghề Luật, mở Công ty tư vấn đầu tư, có đông khách hàng từ Nam ra Bắc. Ông bà
đi về thường xuyên, ở trọ khách sạn. Ngôi nhà cũ ở Đakao trước khi xuất cảnh cô
đã sang chủ quyền cho bà chị, các cháu đang làm cơ sở kinh doanh. Biết lòng vợ
còn vẩn vơ luyến tiếc, ông khuyên giải bà:
- Của giả là thứ phù du, lúc nó làm mình thăng
hoa, lúc nó làm mình chìm đắm. Ngày ấy xác xơ nhớn nhác, nháo nhào theo nhau bỏ
của chạy lấy người chứ có ai đuổi mình đi đâu? Giá như là cục kim cương mình
còn mang đi được. Cứ bo bo giữ lấy của, cả người nữa chắc chi còn? Coi như trên
đường đời mình thoát cơn sóng gió đắm đò. Mạng người là qúy nhất. Còn khối óc,
bàn tay lại làm ra của.
Giới có của mới ngày một đông. Dù lắm đất,
nhiều nhà, của nổi, của chìm cơ man đều được Nhà nước chấp nhận và cổ võ dưới
cái tên là doanh nhân mới. Đại hội biểu
dương giới doanh nghiệp thành đạt thật đông vui. Yên Thịnh, Thủy Tiên, vợ chồng
Dạ Lan, ông Đức bà Thêm có trong số đó. Ai cũng mặc đẹp, lại có bông hoa lóng
lánh cài trước ngực, nét mặt tươi tắn và rạng rỡ. Ông nhà nước khen đáo để. Cả
xã hội hăng hái làm giàu! Một ông nhà văn già tay giơ cao ly rượu hồng lớn
tiếng chúc mừng:
- Tôi chúc cho các nhà doanh nghiệp trẻ chúng
ta thành công, đại thành công. Thương trường là chiến trường. Chúng tôi mong
các bạn cũng có nhiều anh hùng, dũng sỹ như những người lính chúng tôi chiến
đấu trước kia!
Người ta cùng nâng cốc, cụng ly hoan hô ông
nhà văn quảng bá một nền văn hóa doanh nhân kiểu mới. Chủ
xí nghiệp tư nhân trẻ Bùi Công Danh đến bàn có lẫn lộn mấy ông nhà văn, anh ta
tự kéo ghế ngồi, chạm cốc và ngửa cổ uống cái ực, hướng về ông nhà văn già:
- Em không nói lại được mấy vị văn chương chữ
nghĩa bề bề. Em chỉ xin nói thực lòng. Các vị chúc thành công, đại thành công
thì em xin nhận. Nhưng để trở thành anh hùng, dũng sỹ thì em không dám!
Anh lấy cái chân gỗ đá mạnh vào chân ông nhà
văn dưới gầm bàn làm ông đau điếng:
- Ngày xưa em mất cái này mà vẫn chưa được
thành dũng sỹ, anh hùng. Bây giờ em chẳng dại. Tuy nhiên danh hiệu ấy em vẫn để
thờ chứ không dám xúc phạm tới đâu!
Ngước lên, anh nhận ra ông cậu bác sỹ nhà văn
Ngọc Thạch mặt mày nhăn nhó cùng ngồi trong số đó. Cậu, cháu tuổi tác không
chênh nhau mấy. Anh đứng lên kéo ông cậu đi:
- Cháu vì xã giao phải tới đây để trưng cái
mặt ra cho Vua biết mặt, Chúa biết tên và đóng góp vào từ thiện. Dù sao cậu
cháu mình từng mang áo lính, đánh nhau với giặc bằng súng bằng lê chứ không
bằng miệng, đã đổ máu ra chứ không phải là nước bọt và thấm thía một điều là
mình còn sống sót tới hôm nay đã quá là hạnh phúc. Nhưng thời thế đổi rồi. Bây
giờ không ai ham những chuyện lạc lõng viển vông. Ngày xưa người nghèo là chí
cốt, là chỗ dựa của người cách mạng. Bây giờ nghèo là hèn! Giàu mới sang và
đáng trọng! Doanh nhân giàu đã đành nhưng không ít người cách mạng cũng giàu lên rất nhanh! Khoảng
cách giàu nghèo ngày càng mở rộng có là điều lạ trong mô hình xã hội có định
hướng công bằng, dân chủ, văn minh và không còn giai cấp? Mọi người đều là đồng
chí cả! Vậy thì cổ phần hóa xí nghiệp rồi để nó lọt vào tay ai? Và tích tụ
ruộng đất cho ai được lợi? Nhà doanh nghiệp với nhà tư bản khác gì nhau? Điền
chủ, địa chủ khác gì nhau? Người lao động có phải đi làm thuê cho ai không? Ai
vận hành xã hội nếu không là người nắm của cải vật chất trong tay! Xóa đói giảm
nghèo nhưng cái đói cái nghèo mỗi thời một khác, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
con người, xã hội và thiên nhiên. Người hiền lương không ước mơ được làm ông
chủ mà chỉ muốn điều thiết thực là được có việc làm ổn định, được đảm bảo an
sinh, rũ bỏ đi nỗi lo triền miên day dứt
của cái phận nghèo thì mới mong có được quyền bình đẳng! Cháu không là
người lữ hành trên sa mạc để tin vào ảo ảnh nào. Cháu biết rõ mình đang sống
giữa cuộc đời này trên đất nước Việt Nam vào những năm đầu của thiên niên kỷ
thứ ba và đang ngồi trên lưng cọp nhưng vẫn tỉnh táo để nói với cậu rằng: Thời
nào cũng thế, người anh hùng dũng sỹ tự nguyện hy sinh vô tư vì việc nghĩa.
Thằng đi buôn phải tính lợi cho mình, không dụ được đâu. Doanh nhân với chính
khách giống nhau – Không đa trá không được việc. Nguyễn Du thánh thật! Cụ cho
Họan cô chiêu với Thúc cậu ấm kết duyên Châu-Trần là sự gá nghĩa giữa quan với
lái. Có quyền, có tiền việc gì chẳng xong. Hèn chi người như Kiều chỉ làm thân
lươn trạch! Mấy ông nhà văn chen vào chốn đó làm chi? Hơi đồng tanh thật nhưng
mấy ai chê? Rồi là một dây một buộc đố dằng cho ra thì có là xạo hết chỗ nói
không nào?!
Hai cậu cháu trọn một đêm say thật với nhau.
Tàn canh, lúc trời hửng sáng, nó bật dậy, vươn vai ngáp xả hơi, giọng tỉnh như
sáo:
- Mọi sự rồi sẽ đổi thay dù không biết hay dở
thế nào. Con bài chưa lật ngửa nhưng đang lộ diện! Ai cũng nghĩ phải tự lo cho mình
và thế là chẳng ai lo cho ai cả! Chúng ta đang ngồi trên con tầu tăng tốc mà nhiều người cùng cầm lái.
Thân phận mình không biết gửi vào ai!
Hai người trẻ tuổi trải lòng cho nhau để rồi
mỗi người lại đi một ngả theo con đường mình chọn.
Cha con anh Bình có lúc sa cơ lỡ vận tưởng như
sạt nghiệp nhưng thằng Danh đã xúi bố mẹ bán đất đai đi cho nó làm vốn phục
hồi. Nó nên sự nghiệp nhưng cái tình trong họ chẳng còn. Quê cha nó ở mãi xa.
Chốn này là quê mẹ. Các cụ ngoại lập nghiệp ở đây từ mấy đời, cơ ngơi khá giả,
ruộng vườn vào loại không nhất cũng nhì làng. Gặp thời chiến tranh nhà tan cửa
nát. Sau đó là những biến động, họ mạc chẳng ai thiết đến ruộng vườn. Con cháu
làm không xuể thì giao cho hợp tác. Cha nó miệt mài đi đó đi đây để mặc cho mẹ
nó một đàn con. Nhờ ruộng đất của ông bà, mẹ con nó bám lấy, xoay xỏa, sống đắp
đổi qua ngày. Đến lúc khoán sản, các Hợp tác xã rã ra. Ruộng đất mạnh ai nấy
chiếm. Công điền công thổ làng xã ngày xưa mất sạch huống chi là ruộng đất tư
đã để cho người khác canh tác bấy nay. Đến khi đất đai đã biến thành vàng thì
sự tranh giành trở nên quyết liệt. Cái lý đã chẳng rõ ràng thì cái tình khó
giải. Thằng Danh lý sự:
- Đành rằng là đất của các cụ ngày xưa nhưng
con cháu không làm thì cũng giao cho người khác, liệu có đòi lại được không?
Như ông trưởng tộc nhà mình đấy, phần đất của cha đã hưởng, còn mảnh đất để mồ
mả ông bà gia tộc cũng khoanh lại, bán đi, lên nhà lầu, tậu xe máy. Có ai phân
biệt là đất ruộng hay đất nghĩa trang đâu?
Ông Thanh chồng chất thêm những ưu phiền: Mình
còn đây mà con cháu coi như không có. Mối quan hệ gia tộc rã rời rồi. Chẳng còn
ai biết sợ, biết nghe ai nữa! Nghĩ tới ông bà cha mẹ thuở xưa chắt chiu nín
nhịn, có chút của tậu ruộng vườn lo cho con cháu lại bị coi là của chiếm đoạt,
phi nghĩa! Bây giờ người ta của cải cơ man nào, lấy ở đâu ra mà nhanh như thế?
Điều gì làm nên những sự đảo điên trái luân thường vậy? Thuở xưa, làm giàu là
sự tích lũy từ đời ông, đời cha cho tới đời con, đời cháu. Mỗi đời gom tích lại
một chút mới nên. Các cụ bảo làm giàu nhanh chỉ có đi ăn cướp! Người ta coi khinh những anh giàu
sổi. Nhưng bây giờ toàn người giàu
sổi. Nói rằng do máy móc hiện đại tinh
vi, của cải làm ra nhanh, nhiều thật đấy. Nhưng công điền công thổ chỉ teo tóp
lại chứ đâu có nở ra? Nhà phố, đất ruộng, đất rừng lọt vào tay kẻ này ắt phải
tuột khỏi tay người khác. Xã hội lại sinh ra lớp kẻ giàu người nghèo mới! Những
anh giàu mới ngoi lên ắt bao che bênh vực cho nhau nên mới sinh ra cái gọi là
“lợi ích nhóm”. Người nghèo vẫn nai lưng ra làm phu, đi lính… Cứ như thế loanh
quanh luẩn quẩn! Cái kỷ cương luân thường chẳng còn thì cái tình muôn năm cũ
cũng nhạt phai đi. Chúng nó nghĩ sao chứ “Hiếu giả bách hạnh chi tiên”,
chớ có coi thường.
Ngọc Thạch ước làm một nhà văn. Là thày thuốc
trẻ có chỗ làm, chỗ đứng như anh là niềm ao ước của khối người. Nhưng ít ai
hiểu lòng anh. Anh thường hỏi ý kiến thầy Đức Phúc:
- Bây giờ ai cũng điên lên làm giàu. Đến lúc
nào đó, người ta sẽ cảm thấy cuộc sống ấy nhàm chán và vô vị, muốn trở về với
cuộc sống giản dị hơn, thật người hơn. Nhưng lúc này người ta trưng ra bao
nhiêu mẫu người và bảo đây là mới.
- Con người có lịch sử hàng triệu năm rồi, quá
đủ thời gian để ngành khoa học nhân văn phác họa chân dung của từng giới người
trong xã hội. Là vua phải minh. Là quan phải liêm. Kẻ sỹ phải hiền. Là thầy
phải chính. Là tướng phải mưu. Thầy tu phải xả. Thầy thuốc phải nhân. Đi buôn
phải thật. Người trên khoan hậu. Kẻ dưới trung thành… Chẳng qua là bình cũ rượu
mới thôi.
- Thế nhà văn?
- Viết văn là chơi với chữ. Con chữ vậy mà có
hồn, nó gây ra đủ điều ân oán! Khen chê đời đều khó cả. Nhìn ra cái thiện, nhận
ra điều ác không dễ đâu. Nói là tự cái tâm nhưng phải là cái tâm từng trải với
lòng nhân ái vị tha. Khi những điều viết ra không thuận lòng mình mà được khen
nghĩa là ta đang mài cùn đi ngòi bút. Khi viết thật ra lòng mình để chia sẻ
những nỗi khổ đau bất hạnh, vạch ra cái sự bất nghĩa vô nhân, có thể lụy tới
thân! Sự ghét thương đều từ đó mà ra.
- Em muốn chuyên tâm cho việc viết văn.
- Phải chuẩn bị chu đáo. Cần có một nghề sống
độc lập, để cây bút trong tay không lệ thuộc vào ai. Đừng làm quan chữ. Đừng đi
buôn chữ. Đừng để cho mình hóa dại hóa rồ vì chữ đến nỗi dùng chữ hại người,
mắc bả hư danh mà mang họa, tai tiếng để đời!
- Thầy cho em kinh nghiệm của chính mình?
- Thật ra tôi chưa bao giờ có một mơ ước lớn.
Tuổi trẻ tôi không biết làm gì. Đi học như chuyện tất nhiên của thời niên
thiếu. Dù có đậu bằng bác sỹ chưa chắc tôi đã hành nghề. Tôi theo kháng chiến
như một sự tình cờ đẩy đưa. Tôi viết văn từ một xúc cảm bất thần và tôi đã khổ
vì nó rồi tôi xa lánh nó mặc dù lòng riêng tôi vẫn vấn vương. Nhưng tôi không
ân hận. Trước kia, Tổ quốc, Nhân dân với tôi là một khái niệm mơ hồ. Bây giờ là
máu thịt. Tôi cảm thấy mọi vui buồn của mình có nơi chia sẻ. Người ta không thể
được cả hay là mất cả. Bước vào cuộc đời mới chập chững ngây thơ. Ông Nguyễn
Khắc Viện là bậc đàn anh, cũng là tấm gương lớn về sự học và sự dấn thân nói
câu chí lý: “Hãy bỏ đi phần ngây và giữ lại phần thơ”!
Trong sự ngây thơ có cái dở là dại khờ, có cái hay là vô tư trong sáng. Đó là
đôi cánh thiên thần cho con người có thể níu vào đó để bay lên. Con người mà
chỉ có tinh khôn sẽ thành con cáo! Tôi mượn ý thơ của Exênhin để nói với mình
và bây giờ chia sẻ với em :
Nếu một ngày thiên thần lên tiếng
gọi
Bỏ quê hương lên sống ở thiên đường
Quê hương ơi… Thiên đường xin để đấy
Giận ngàn lần nhưng thương vẫn cứ
thương.
ô
Nhân Trí không quên lời dặn của Quốc Anh qua nhà ngoại cảm. Anh rà lại
bao nhiêu người quen cũ lâu nay tưởng đã nhòa trong trí nhớ. Người quen cũ ấy
của ai? Tình cờ anh đọc lại nhật ký của em. Đúng rồi, Hiền là người quen của
anh mà Quốc Anh cũng biết. Cô Hiền vẫn trêu em mà là thủ trưởng của anh đó
thôi? Anh phân vân, một người con gái đẹp và đảm đang tháo vát như thế có thể
lâm vào cảnh khổ tới mức nào? Nhưng anh cũng muốn gặp lại người xưa. Anh kể
thật tình với vợ. Vì gợi ý của em, Yên Thịnh cũng tán thành nhưng cô muốn cùng
đi với chồng.
Con
đường mang tên số thì nhiều nhưng đường Chín là chiến trường cũ của anh với
những địa danh Gio Linh, Cam Lộ… mà nay
nghe nhắc tới người anh như nổi da gà. Nhưng bây giờ cảnh lạ, người lạ biết tìm
ở đâu. Anh sắm chiếc xe máy thật khỏe, đi tới cụm dân cư nào cũng lần mò vào
hỏi thăm dò. Mùa nắng, những cơn gió lào gợi nhớ một thời, có lúc anh không hiểu nổi tại sao mình đã qua được
những ngày như thế? Ngày xưa chỉ có bộ đội và du kích mới ở nơi cùng kiệt núi
rừng. Bây giờ người đông đất chật, người ta lần vào mãi những vùng đồi núi
hoang vắng sâu xa khai phá. Yên Thịnh đã nản. Anh động viên:
- Làm việc gì cũng vậy, đến lúc mệt nhất là
sắp thành công đấy.
- Anh không thấy mệt vì có nguồn động viên đặc
biệt gặp người tình xưa.
- Người ta có chồng con rồi còn làm gì được
nữa?
- Có người mòn mỏi đợi chờ mới có được bản
tình ca nàng Solveig chứ?
Vợ chồng anh nghỉ chân trong một quán sâu mãi
cuối đường mòn. Mấy người uể oải ngồi than thời tiết. Nét mặt ai cũng chai sạn
và như già trước tuổi. Nhân Trí hỏi lần dò. Một ông già ở đây đã lâu, mách:
- Anh hỏi tầm phơ như thế có mà tìm cả năm. Ở
đây là dân tứ xứ và có nghèo thì mới phải ở mãi nơi sơn cùng thủy tận này. Ít
ai biết tên tuổi của nhau. Có một gia đình từ dưới Quảng Trị lên đây lâu rồi
nhưng gia cảnh thảm thương lắm. Lúc đầu ở gần lộ lớn, sau túng thiếu qúa, sang
lại bán đi, cứ thế lùi sâu thăm thẳm vào mãi cuối xóm kiệt cùng trong kia.
Không ai biết tên cả vợ chồng con cái. Người ta gọi là cái nhà trời đày. Anh cứ đi
theo con đường này chừng vài cây số, ở cuối ngọn đồi thứ hai, giáp cái núi lớn
chắn ngang, chỉ có một cái chòi lá độc nhất thôi là đó.
- Tại sao lại gọi là nhà trời đày hả bác? – Yên Thịnh ngại ngùng.
- Tưởng ác miệng mà thật ra đúng là như thế.
Cứ tới khắc biết. Ông ta là thương binh, dù có thương bao nhiêu cũng không binh
nổi!
Nhân Trí không tin rằng người xưa ra nông nỗi
ấy nhưng anh muốn đến tận nơi vì tính tò mò mặc dù vợ anh lộ ý muốn lui.
Hai người ngập ngừng đứng ở đầu ngõ. Ngôi nhà
như chiếc áo tơi rách nát. Ngoài sân cỏ rác ngổn ngang. Trong cái yên lặng đến
rợn người bật lên âm thanh chói tai như
tiếng hú của con thú hoang. Yên Thịnh bấu chặt vai chồng. Một người phụ
nữ quần áo lôi thôi từ phía sau nhà chạy ra. Thấy người lạ, cô ta hốt hoảng, đi
thụt lùi như muốn bỏ chạy. Nhân Trí vẫy tay cười thân thiện. Cô dừng lại, lắc
đầu quầy quậy, cái mặt như người ngớ ngẩn. May sao từ trong nhà thấp thoáng
bóng ai. Một ông già hốc hác hom hem, tóc bạc trắng, dáng lòng khòng đứng trong
cửa hỏi ra:
- Ông bà đi tìm nhà ai?
Nhân Trí chưa kịp trả lời đã nhận ra sau lưng
ông còn có một người như bộ xương khô, hai tay vịn vào vai người phía trước,
đôi chân dặt dẹo run rẩy, cái cổ ngửa ra, đôi mắt đờ dại, từ cái miệng méo xẹo
phát ra những âm thanh nghe như tiếng mèo. Yên Thịnh bám chặt vào chồng. Ông
chủ nhà nói cho khách yên lòng:
- Nhà tôi đây ở sâu nhất xóm rồi. Ông bà quay
ra đi lối bên phải mau tới lộ lớn hơn.
- Tôi muốn tìm nhà bà… Hiền ở dưới Quảng Trị
lên đây?
- Hiền là tên của bà nhà tôi, người gần thành
cổ. Nhưng có lẽ trùng tên.
Một thằng bé chừng 3-4 tuổi trần truồng chạy
tới nắm tay người phụ nữ hét lên:
- Nóng! Nóng!
Người nó đỏ lựng, dày cộp, sần sùi trông thật
gớm ghiếc. Người đàn bà kéo nó ra cái lu, xối vào người nó mấy gáo nước. Thằng
bé nhảy tưng tưng, chạy tới bên ông già hếch mặt lên nhìn khách. Nhân Trí lúng
túng:
- Tôi là lính trung đoàn Ba, tiểu đoàn Mười
chủ lực.
- Thì đúng là các anh chốt ở địa bàn quê chúng
tôi rồi. Tôi là lính tỉnh đội vẫn phối thuộc với các anh.
Tuy nhiên chủ không dám mời khách vào nhà.
- Bà nhà tôi ra rẫy nhổ mấy bụi mì.
Ông đang nói thì một người đàn bà ôm mấy gốc
mì che kín cả mặt đi vào giữa sân. Thấy có người lạ, bà bỏ vội xuống:
- Ông bà vô lộn nhà rồi phải không?
Nhân Trí nhìn đăm đăm. Không ngờ người con gái
một thời đẹp đến thế mà bây giờ quắt queo tàn tạ mức này. Mái tóc bạc gần hết,
lơ thơ, như những sợi cỏ khô. Bộ răng dù đã rụng đi vài chiếc nhưng mấy chiếc
còn lại vẫn sáng trắng và đều. Anh tiến đến gần người quen cũ:
- Cô… à chị Hiền còn nhận ra tôi không?
Bà già lắc đầu, nhìn cả hai người khách:
- Chúng tôi quê mùa… không dám quen người
thành phố!
- Tôi là Nhân Trí, lính đại đội Hai, trung đội
Một, đóng quân ở xóm nhà… chị. Chị còn nhớ trung đội trưởng Quốc Anh hay hát
không?
- Cái anh trắng trẻo, vẽ đẹp, hay hát bài Bình Trị Thiên ấy… chết rồi mà!
- Và cô đã chôn cậu ấy?
- Các anh chết hết cả. Tôi nhận ra khẩu súng
có khắc tên hai người. Tưởng anh cũng chết rồi mà? Lúc ấy tôi khóc mãi vì không
tìm thấy xác anh. Mấy năm tôi vẫn cúng hai anh một ngày. Sau rồi nghèo khổ quá
nên quên. Giỗ bố mẹ tôi cũng quên. Quên luôn cả chỗ tôi đã chôn anh ấy ở đâu!
Bây giờ tôi không còn nhớ gì nữa đâu!
Nhân Trí và Yên Thịnh không nén nổi xúc động.
Sự ghê sợ ban đầu thay cho một tình thương cứ trào lên. Hai người chủ động bước
vào nhà. Chủ nhà càng lúng túng khi khách nhận ra trên cái chõng ọp ẹp ở góc
nhà là một thân hình teo tóp, không có tóc, chân tay co quắp giật liên hồi, mắt
trợn trừng, trắng dã, miệng đầy rớt rãi. Giọng thật thà không chút ngại ngùng,
bà chủ phân trần:
- Nhà tôi khốn khổ thế này ông bà đến đây làm
gì thêm khổ?
Từ sau nhà lại vang lên tiếng thét chói tai
dồn dập hơn cùng với những tiếng va đập rầm rầm như có ai đập phá. Bà chủ vừa
nói vừa tất tả bỏ chạy ra sau:
- Khổ qúa! Con Người Rừng nó đang lên cơn.
Nhân Trí dắt tay vợ bước theo bà chủ. Trong
cái chuồng tre như là cái cũi, một đứa bé gái chừng 8-9 tuổi trần truồng, đầu
tóc rũ rượi, tay chân khẳng khiu như cành củi mà rãy đạp lung tung, nhảy, bò
lồng lộn dữ hơn con vượn nhốt trong sở thú, cái đầu dài ngoẵng lúc lắc lia lịa,
miệng la hét ầm ỹ. Nó vớ bất kỳ vật gì có dưới sàn đưa lên miệng nhai như đang trong
cơn đói. Bà chủ lấy từ trong cái rổ ra một củ mì sống đã bóc vỏ, vừa mới đưa
ra, con bé vồ ngay lấy, quay mặt vào tường nhai ngấu nghiến. Bà nắm tay vợ
chồng khách kéo lên nhà:
- Nó 16 tuổi rồi đấy mà như con vượn điên!
Cả khách và chủ không thể nói lên một lời nào.
Nhân Trí càng cảm thấy lòng mình thắt lại khi nhìn mặt vợ tái đi, môi cô run
rẩy. Anh chủ động nói:
- Bây giờ chiều muộn rồi. Đã biết nhà đây.
Chúng tôi quay ra phố, sáng mai sẽ lại thăm anh chị.
Chủ nhà chào khách, cũng không mong gì họ quay
trở lại:
- Cảm ơn các bác nhớ đến chúng tôi thế là tốt
quá rồi!
Nhân Trí bàn với vợ:
- Em vừa xúc động vừa sợ lắm phải không? Anh
không thể bỏ đây mà về ngay được. Em về thành phố trước để kịp cuộc họp của
người ta đã hẹn. Em đến ở với chị Nhài. Anh ở lại, phải làm một việc gì thiết
thực giúp đỡ anh chị em mình. Mọi khoản chi tiêu hoãn lại để anh tập trung lo
việc này. Chắc chắn là di chứng của chất độc dioxin trong thuốc diệt cỏ màu da cam mà quân đội Mỹ rải khắp miền Nam trong thời ta kháng chiến.
- Thế tại sao anh không bị?
- Có thể đơn vị anh luôn cơ động, chỉ ở mỗi
nơi trong thời gian ngắn. Còn anh em bộ đội địa phương bám trụ suốt bao lâu.
Vợ chồng cô Hiền vẫn không tin Nhân Trí sẽ trở
lại. Cô ôm lấy anh bộ đội thân yêu năm xưa, khóc nức nở, vừa mừng cho anh còn
sống, vừa mừng cho mình còn có người nhớ tới. Cô dốc hết nỗi lòng:
- Hòa bình rồi, người cũ mấy ai còn đâu. Ông
nhà tôi thương binh, giải ngũ. Trong đầu, trong phổi còn đầy mảnh đạn, lâu lâu
lại ho ra máu và lên cơn đau đầu dữ dội. Sanh hai đứa con đầu, làm ăn khó quá,
nghe người ta, bán cơ ngơi đi lên xây kinh tế mới. Lại sanh thêm hai đứa nữa.
Đứa nào lúc mới sanh thấy cũng dễ thương lắm. Chỉ có điều là đứa nào cũng lì
lợm, cô đỡ đét đỏ mông chỉ ọ ẹ ò è chứ không chịu cất lên tiếng khóc. Nhưng cứ
đến 5-7 tuổi là theo nhau đổ bệnh. Con đầu có khá hơn, nó chỉ bị chứng đau đầu,
mất trí nhớ, không học được, tính tình dở dở ương ương. Năm nó 16-17 tuổi, có
thằng vợ chết sớm, tôi cho không. Nhưng lại đẻ ra thằng bé con, da cứ đỏ lựng
lên như con rồng lửa. Nhà chồng nó bảo người ma, không chứa cả con lẫn mẹ. Nó
lại ôm con về đây. Sau này người ta bảo là bệnh vẩy nến, do ông ngoại nhiễm
thuốc độc diệt cỏ truyền đến mấy đời. Thằng thứ hai học hết cấp Một cũng đau
đầu, bỏ học. Đau phát điên phát rồ lên. Nó sống được đến giờ là may lắm vì bao
nhiêu lần nó lao đầu vào tường, vào đá, muốn đập cho bể cái đầu ra. Có lúc nó
lên cơn điên, đè cha nó ra đánh ông gần chết. Có lúc nó cưa cột nhà để làm củi.
Vợ chồng tôi ra rãy, nó ở nhà đập chết gà, chó, heo đem cho người ta. Mấy năm
nay chân tay nó teo tóp đi và mất trí nhớ hoàn toàn. Thằng út thì nằm liệt từ
nhỏ tới giờ, 13-14 tuổi đầu rồi, chân tay co quắp lại, chỉ biết ăn thôi. Khổ
nhất là đứa con gái thứ ba, càng lớn nó càng như con thú rừng, chỉ biết gào với
nhảy cuồng lên, cào cấu, cắn xé, bạ cái gì cũng vơ vào mồm. Mỗi đứa đều có tên
nhưng lại gọi theo cái tật: con Khờ, thằng Điên, con Người Rừng, thằng Liệt,
thằng Rồng lửa. Mà đứa nào cũng ăn khỏe lắm anh ạ. Chạy lo cho con củ sắn, củ
khoai, hũ gạo là mệt lắm rồi. Lúc đầu còn chạy thầy chạy thuốc, sau chỉ lo ăn
mà vẫn trầy trật lắm. Mấy đồng lương hưu và trợ cấp thương tật của cha nó ăn
nhằm gì. Cơ nghiệp lụn bại dần. Bây giờ còn hai bàn tay tong teo run rảy thế
này. Muốn chết lắm nhưng nghĩ lại mình chết thì để chồng con khốn khổ cho ai?
Ước gì được chết chung cùng với nhau một lúc như cái ngày chúng nó bắn giết các
anh. Hoặc như mình phải là người chết sau cùng. Lúc ấy trời không bắt chết tôi
cũng nhảy xuống sông xuống chân núi mà chết chứ sống tàn tạ thế này để làm gì?!
Người đại đội trưởng dũng sỹ năm nào ngậm ngùi
nhìn vợ:
- Tại tôi bị nhiễm chất độc da cam mới đổ bệnh cho con, cho cháu làm bà khổ lây.
Giá như ngày ấy bà đừng lấy tôi thì đâu đến nỗi này. Bây giờ sáu miệng ăn chỉ
trông vào một tay bà ấy. Bà nhớ mặt tôi, kiếp sau có gặp thì tránh xa ra.
- Vợ chồng là cái duyên trời. Con gái quê lúc
ấy mà vớ được anh bộ đội chiến thắng trở về là vinh dự lắm. Cái số tôi với ông
kiếp này bị trời đày như thế, chẳng lẽ kiếp
sau ông trời không có mắt hay sao? Ông không việc gì phải ân hận cả!
Nhân Trí chỉ biết ngồi nghe mà không cần giấu
đi những giọt nước mắt chảy ra trước mặt mọi người.
Yên Thịnh rất vui với chồng. Người thân chia
sẻ với việc làm của anh. Một thời gian ngắn anh đã dựa vào Hội Cựu chiến binh, nhờ bà con địa phương góp công xây dựng
cho người bạn kháng chiến năm xưa một nơi ở đàng hoàng. Ngôi nhà nhìn ra lộ
lớn, phía trước làm một cửa hàng buôn bán nhỏ để anh chị làm phương tiện sinh
sống hàng ngày, phía sau phân chia chỗ ở tạm hợp với bệnh cảnh của mỗi người và
một triền đồi rộng làm kinh tế lâu dài. Vợ chồng cô Hiền cứ xuýt xoa:
- Thật là trời giúp cho vợ chồng tôi.
Yên Thịnh cảm động lắm:
- Suy cho cùng việc gì cũng có tay trời ở
trong!
Dạ Lan nắm tay thằng bé Rồng lửa xót xa:
- Để mạ nhờ một tổ chức từ thiện bảo trợ cho
con.
Nhân Trí thở dài buồn bã:
- Con số thống kê sơ bộ cả nước có bốn tới năm
triệu người phơi nhiễm dưới các phi vụ rải thuốc diệt cỏ màu da cam có chứa
chất độc dioxine. Không thống kê nổi bao nhiêu người đã chết vì nó? Và nó còn
tiềm ẩn trong bao nhiêu nạn nhân để gây ra những căn bệnh quái ác hành hạ dần
mòn giết chết người ta? Con số hơn hai trăm ngàn trẻ dị tật bẩm sinh mà căn
nguyên đa phần do di chứng nhiễm độc chất dioxine từ cha mẹ. Không ai biết nó làm biến đổi gène di truyền tới bao nhiêu thế hệ?
Chị Nhài mủi lòng, lo thiết thực :
- Bước đầu tôi sẽ cung cấp đều hàng đủ để mở
một tiệm chạp phô (tạp hóa) nhỏ. Nhưng nên đặt một cái tên như là thương hiệu,
biết đâu mình có thể phát triển dần lên.
Cô Hiền bật lên:
- Quốc Anh! Ơn này nhờ có những người như anh
ấy.
Yên Thịnh nói với chồng :
- Sân trước này rộng, ta xây một cái am thờ
chung Quốc Anh, tiểu đội trưởng Thành và nhà thơ Tầm Xuân. Ai có lòng thành qua
đây cũng có thể thắp nén nhang bày tỏ lòng mình – Quay qua cô Hiền:… Hàng năm
vào dịp 30 tháng Tư, nhờ anh chị hương hoa giỗ chung cả ba người. Chúng em ở xa
cũng hướng về đây.
Vợ chồng Văn Khoa–Bích Liên về nước dịp này,
cùng theo các anh chị lên đây. Thấy chồng lặng lẽ trầm ngâm khác với tính sôi
nổi vui vẻ của anh, Bích Liên lo lắng:
- Anh mệt hay anh xúc động?
Văn Khoa dốc ra những suy tư:
- Không biết nữa. Tại Công viên quốc gia Hoa
Kỳ có bức tường hoành tráng ghi danh những lính Mỹ chết trận ở Việt Nam. Nhiều
lắm… mấy chục ngàn người! Rất lưu tâm du khách. Tôi thấy có người đến đặt dưới
chân tường hoa hoặc vật gì đó – có lẽ là kỷ vật liên quan đến người đã khuất,
đứng lặng hồi lâu, bóng nhòa trên những dòng tên lẫn trong mây trời cây cối,
như người ở hai thế giới tâm sự với nhau, nghĩa là với họ chiến tranh đã thuộc
về qúa khứ. Bây giờ tới đây, tôi thấy như chiến tranh vẫn đang hiện hữu chưa
biết đến bao giờ! Tôi suy nghĩ về những người lính ở hai bên. Người ta gọi họ
bằng nhiều danh xưng rất đối lập nhau: là lính viễn chinh xâm lược! là chiến sỹ
vệ quốc quân! là cộng quân chà đạp nhân quyền! là chiến sỹ bảo vệ tự do công
lý! là lính đánh thuê tay sai phản quốc! là chiến sỹ giải phóng quân! là du
kích VC phiến loạn! là chiến sỹ quân đội quốc gia!... Dù chết vì lý do gì nhưng
đa phần họ còn rất trẻ, vẫn cần được sống! Tại nơi dựng tấm bia khổng lồ ấy,
năm xưa tôi từng thấy hàng đoàn người Mỹ biểu tình ngày đêm, có người bức xúc
tự thiêu, đòi rút quân về nước? Tại xứ sở này trước sau vẫn là nơi tôi chôn
nhau cắt rốn, nơi gửi thân mãi mãi ông bà cha mẹ của tôi? Thực lòng có lúc tôi
muốn tìm cho ra lẽ về cái chết của cha tôi? Nhưng lúc này tôi nghĩ phải thành
tâm nhìn vào lịch sử. Mỗi người là một nạn nhân với nỗi đau riêng. Người ta có
thể chia sẻ với nhau niềm vui nhưng không ai muốn chuốc thêm nỗi đau cho mình. Sao
ta cứ gồng mãi trên vai gánh nặng?! Lịch sử tạo ra nó thì ta viết trang sử mới
được không?
Gợi đúng suy tư của mình, nhà-văn-bác-sỹ Ngọc
Thạch bật lên:
- Đúng! Cảnh đạn bom máu lửa không còn nhưng
hậu họa của chiến tranh vẫn còn dai dẳng và chúng ta đang phải đương đầu với
cuộc chiến mới mà kẻ thù lẫn lộn bên ta, chúng dùng những loại vũ khí tinh xảo
giảm thanh, không ầm ào náo động nhưng sức tàn phá của nó không thua giặc ngoại
xâm. Nó hủy hoại niềm tin yêu giữa con người từ gia đình ra xã hội. Hôm nay nó
làm tan hoang đất nước để ngày mai con cháu ta còng lưng gánh nợ, không khác
chi những kẻ cõng rắn cắn gà nhà!
Văn Khoa nói ra những trăn trở của mình:
- Tôi có công việc thường xuyên qua lại nhiều
nước bên Âu Mỹ. Điều đáng mừng là số
người Việt Nam qua đó và số người Việt mình bên đó về thăm quê ngày một nhiều
hơn. Đó là cơ hội để bầy con Lạc cháu Hồng xóa dần đi những hiềm khích và xích
lại ngày một gần nhau dù kẻ ở chân trời người nơi góc biển. Tuy nhiên vẫn còn
không ít kẻ phá ngang mà nhiều người không muốn dây vào coi như tránh voi
chẳng xấu mặt nào! Dù số đó ngày ít dần đi nhưng đừng mong nó sẽ tuyệt hẳn
vì giữa hai quốc gia không bao giờ hết những điều khác biệt, lại kẻ Á người Âu
mà con người ta thì sống ở đâu quen đó, trong khi hiến pháp Hoa Kỳ chấp nhận
mọi công dân được công khai biểu lộ chính kiến của mình ngay cả với ông Tổng
Thống… Con sông Bến Hải cũng giống như con sông Gianh chỉ gợi lại một thời kỳ
lịch sử ly tán đau thương mà không người Việt nào muốn nó tái diễn ở một địa
danh nào nữa. Người Việt Nam ngày càng được coi trọng dù là mới nhập cư ở những
xứ sở văn minh xa lạ. Họ không bị coi rẻ như những kẻ cù bất cù bơ tha phương
cầu thực. Họ cần mẫn làm ăn phát đạt, được tin cậy và đảm đương nhiều việc quan
trọng. Không ít người đạt được những danh vị mà người bản địa hằng mong ước.
Tuy nhiên trong những người mới xuất dương du học, số đạt được học vị cao chưa
nhiều và đa phần họ không về nước dù là nhà nước cấp học bổng cho họ học thành
tài? Trái lại số quan chức qua chơi lĩnh bằng của các trường gọi là đào tạo tại
chức từ xa thì lại rất nhiều! Với những tấm bằng bán rao ở chợ trời Âu Mỹ ấy,
mang về nước sẽ là vật chứng đảm bảo cho họ thăng tiến nhanh trên đường hoạn
lộ. Đấy là lý do vì sao nền giáo dục và công cuộc cải cách xã hội của ta thua
kém người ngay cả so với những nước láng giềng không xa!
Anh thở dài lắc đầu:
- Một lần ở New York, tình cờ tôi làm quen với
một vị quan chức chưa phải là già. Nhân tiện sang lĩnh bằng, ông ta nhờ tôi dẫn
vào một siêu thị mua bán xe hơi và chẳng ngần ngại đắn đo gì đặt mua ngay một
chiếc xe đời mới nhất. Trong khi chờ nhận bill, ông ta điện về nhà riêng cô con
gái đang học ở một trường Đại học tư gần đó đến đổi xe! Tôi cứ bị ngạc nhiên vì
với người bản địa có công việc làm ổn định cũng chưa dám sài sang như thế thì
trong bữa ăn nhẹ đãi tôi ở quầy, ông ta cụng ly vẻ rất tự hào hãnh diện nói bô
bô vì chung quanh không có bóng dân mít khô mít ướt nào: Nói thật với cậu, ở
bên nhà tớ không cần nhớ những đứa nào mang quà cáp đến biếu trong những dịp này
dịp nọ nhưng mà tớ không quên một thằng nào không đến! – Anh Văn Khoa méo miệng
cười:… Thật tình đến lúc này tôi mới hiểu ra ý nghĩa câu nói của vị quan chức
ấy!
Nhìn mọi người chung quanh, lại nhìn ra cảnh
đồi hoang nắng rát, giọng anh ràu ràu:
- Làm giảm nỗi đau của vài người không khó.
Nhưng để giảm nỗi đau của bao nhiêu con người từng trải qua những tình cảnh
lịch sử phức tạp khác nhau, phải có tấm lòng chân-thiện không chỉ ở mỗi người,
cần cả cộng đồng lớn nhỏ gần xa. Làm cho mọi người thức tỉnh dám gạt sang bên
mọi hận thù ân oán để sống với nhau hòa ái vẫn là chưa đủ. Cần phải làm gì nữa
để những điều ngang trái không thể diễn ra mới khó hơn nhiều vì kẻ chủ mưu giấu
mặt, có khi lại nắm trong tay quyền lực! Tôi không bi quan và cũng chẳng lạc quan
vì tôi nghĩ đó là cuộc chiến trường kỳ dai dẳng thắng thua chưa biết về ai mà
cái mầm tai họa cứ lơ lửng treo trên đầu một dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ
rủi ro! Tôi không mang hoa đến đây nhưng tôi để lại nơi này nếu không là tất cả
thì cũng là phần lớn trách nhiệm của tôi trong những ngày còn lại…
Nhà văn Ngọc Thạch kịp có ngay bài báo: Lòng nhân ái nên đặt ở
đâu? Giữa trang là hình ảnh khốn khổ
của những nạn nhân chất độc màu da cam trong một gia đình và hai biệt thự nguy
nga – là cơ ngơi của một viên chức cấp cao tại thành phố và nơi ở của cậu ấm
đang du học ở nước ngoài, kẹp giữa căn nhà tả tơi rách nát của gia đình cựu
chiến binh đáng thương tâm ấy. Bài viết ngắn, nêu ra câu hỏi: Nguyên nhân của
nỗi đau thương ấy không thể chỉ đổ lên đầu giặc Mỹ. Còn thứ giặc gây nên tai
họa đau thương không kém, không khác gì quân phản bội nối giáo cho giặc ngoại
xâm – đó là tham nhũng. Ai cũng nói tham nhũng là quốc nạn, đe doạ sự mất còn
của thể chế xã hội và thề nói Không(!) với nó. Vậy mà lần nào tổng kết đều tái
đi tái lại câu nói như là chơi chữ: Tham nhũng có hạn chế nhưng chưa bị đẩy
lùi(?) và diễn biến có chiều phức tạp! Ai làm cho nó phức tạp? Người dễ có khả
năng tham nhũng lại cầm còi bắt thằng tham nhũng! Lỡ cái mặt chuột lòi ra thì
khi đưa ra xét xử lại được mở lòng khoan dung xét công giảm tội! Công của lũ
người đó đáng gì so với những người này? Hỏi những ai là đồng phạm? Bài báo gây
xúc động mạnh trong lòng công chúng.
Gia đình chị Hiền nhận được nhiều sự giúp đỡ
của những tấm lòng ưu ái nhưng anh chị giao lại khoản tài trợ ấy cho các tổ
chức từ thiện san sẻ cho những người đồng cảnh không may.
Nhân Tín nói với người anh em viết báo:
- Thời trước có người nói đánh tham nhũng thì
hết người làm việc. Rồi thể chế ấy không còn! Bây giờ cũng có người nói vậy!
Thế thì hai thể chế ấy khác gì nhau? Có phải vì nó tham nhũng? vì nó không dân
chủ? hay vì sự vô trách nhiệm của những người cầm trịch dẫn đến sự vô cảm, vô
can của mọi người?
Người thầy-thuốc-nhà-văn-thương-binh ấy đã là
con rể của ông
bác sỹ thầy già. Ông thầy duyên tình thì lỡ dở mà duyên văn thì oan trái. Cũng
may còn cái duyên nghiệp với một nghề nhân ái an ủi đời ông. Khi nhận ra tín
hiệu con gái ông thầy lưu ý tới mình, anh trò nghi ngại hỏi thầy :
- Người con
trai tật nguyền còn gì hấp dẫn một người con gái?
Ông thầy bảo:
- Gái tham
tài, trai tham sắc!
- Con có tài
gỉ?
- Phô tài ra
là tự chuốc họa vào mình. Để người nhận ra tài mình dở-hay chưa biết ?
- Có ai giấu
tài không ?
- Tài do mình
tạo nên và có Trời phù trợ. Kẻ ác dùng tài hại người. Người khôn dùng tài kiếm
lời. Người hiền dùng tài giúp đời. Càng tài hoa lắm càng oan trái nhiều !
Cô gái chỉ
yêu cầu chàng trai có một điều: Hãy đừng dính dấp tới nghiệp văn chương. Mình
không bạc với nó rồi nó cũng bạc với mình. Chắc là cô nhận ra từ tấm gương của
người cha.
Anh ừ ào nghĩ
sẽ chiều ý vợ nhưng cái nghiệp văn vừa là tình yêu vừa là món nợ. Anh tâm sự
với thầy:
- Goeth nói: Người
ta có thể ăn nửa bữa, ngủ nửa đêm nhưng không thể đi nửa đường chân lý, yêu
bằng nửa trái tim… Con chót yêu nó quá rồi!
Nỗi giận hờn nhân tình thế sự dù nén lại mà cứ
bật lên:
- Nhà cửa, ruộng vườn hàng bao đời người nông
dân sinh cơ lập nghiệp nay bị di dời để làm sân golf và con cháu họ sẽ thành
một lũ Xuân tóc đỏ tân thời! Ruộng đất là của trời cho, giống như miếng da lừa
thần ban cho anh chàng Raphael của Balzac ấy: Nếu mi có ta, sẽ có tất cả. Để
mất dần đi, đời mi sẽ co lại theo ta! Khốn khổ là người dân quê chân chất có
muốn bỏ nó mà đi đâu. Người ta vẽ ra viễn cảnh huy hoàng để thừa cơ đục nước béo
cò, gieo cảnh khốn cùng cho ai?! Không ít kẻ tham nhũng vẫn được coi là trong
sạch để vững mạnh đua nhau đục khoét! Chờ khi lịch sử phán xét phân minh thì
biết bao thân phận đáng thương ấy đâu còn nữa !
Những nỗi đau đời cứ làm anh nhức nhói không
kềm lại được, bộc phát ra:
Ta
muốn làm mưa nguồn thác đổ
Thành những trận lũ quét, lũ
truồi
Để vùi sâu dưới đất
Hay cuốn phăng ra biển
Mọi sự dối trá
Cùng lũ hôi tanh
Để những người tử tế
Được sống trong niềm tin và
yên ổn
Đấy là mối lo mà người vợ trẻ luôn thấp thỏm
trong lòng. Cô chỉ biết than thở với cha họa chăng có thể… Bác sỹ Đức Phúc chia
sẻ với con:
- Hình ảnh Don Quihôtê đã thành bất tử vì ông
giống như một văn nhân hiệp sỹ giữa thời buổi nhiễu nhương. Ngọn giáo kia là
ngòi bút diệt trừ mọi oan trái bất công. Tấm mộc đồng là lòng nhân ái chở che
cho những con người khốn khổ trên cõi đời này. Cái cối xay là con qủy trêu
ngươi. Còn gió nó còn quay mãi! Thực ra những người như ông chẳng giết được ai
và cũng chẳng cứu được ai nhưng nhờ đó mà cuộc đời này còn mang điều nghĩa. Một
gia đình không có tình thương khác gì ngôi nhà hoang cho mấy kẻ lạc loài tạm
trú? Một xã hội không có tình thương khác gì một ổ lưu manh khổng lồ đủ loại?
Kẻ bị chạm nọc bảo họ ngông cuồng. Người được bênh lại bảo họ mang nghiệp
chướng mà thương họ. Dù sao họ vẫn khổ suốt đời và nỗi khổ ấy như là bệnh dịch
mang họa cho những người thân!
ô
Chuyến bay đầu ngày của hãng Hàng không Việt Nam cất cánh rời sân bay
Thủ đô vào một ngày cuối năm. Chiếc BOEING khổng lồ nhấc mình khỏi đường băng
vút lên không trung. Vào thời điểm ấy, mọi người ngồi trong khoang máy bay đều
tập trung cho sự thích nghi khi từ mặt đất mới thoát lên bầu trời và theo dõi
sự ổn định của đường bay. Bỗng dưng chiếc máy bay nghiêng mình và dường như
vòng lại. Những người quen với đường bay tỏ ra ngạc nhiên và lo lắng. Từ dãy
ghế VIP có ba người đứng dậy quay về phía hành khách. Đứng giữa là một bà lớn
tuổi, tóc hoa râm, mặc toàn đồ đen, nét mặt phúc hậu man mác buồn. Cô nữ tiếp
viên trẻ đẹp, bộ áo dài màu cánh sen đồng phục của ngành hàng không. Anh phi
công to lớn, lễ phục trắng muốt, ngực đỏ những tấm huân chương, nét mặt trang
nghiêm, giọng chậm rãi, rõ ràng:
- Thưa đồng bào và qúi vị! Vào khoảng giờ này,
tại khoảng trời này, cách đây đúng 30 năm, một phi công anh hùng đã hy sinh để
bảo về bầu trời thủ đô thiêng liêng của tổ quốc chúng ta. Kẻ thù ỷ vào sức mạnh
của các phương tiện và vũ khí tối tân hòng làm tê liệt tinh thần chiến đấu của
người Việt Nam bảo vệ tổ quốc của mình. Một biên đội MIG–19 bất ngờ xuất kích từ
một sân bay dã chiến bí mật ở miền Trung. Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng bay
trước, tự lộ mình ra lừa địch, làm mục tiêu cho lũ máy bay tiêm kích truy đuổi,
để cho đồng đội thừa cơ địch sơ hở, bay vọt lên, lao thẳng vào tiêu diệt chiếc
máy bay chiến lược B52 trên bầu trời Yên Bái. Khi nhiệm vụ hoàn thành, máy bay
bị trúng đạn, đồng chí Huỳnh Anh Dũng được phép nhảy dù ra. Nhưng chiếc máy bay
mất đà đang lao thẳng vào một trường học. Đồng chí kịp nhận ra, kéo ghì cần lái
cho chiếc máy bay chếch lên, vượt tầm lướt xa ra. Phi công không còn thời gian
nhảy khỏi buồng lái nữa! Một lúc, đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ hợp đồng
chiến đấu tiêu diệt giặc và bảo vệ tính mạng của đồng bào. Sự hy sinh cao cả
của các đồng chí là tiếp nối truyền thống vẻ vang của anh bộ đội Cụ Hồ, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ
tiếp theo…
Nét mặt trang nghiêm, anh trân trọng nâng tay
bà mẹ:
- Đây là nhà giáo Nguyễn thị Cẩm Nhung, người
bạn đời của phi công liệt sỹ anh hùng…
Vẻ mặt tươi lên, tay hướng về buồng lái:
- Và người đang điều khiển chiếc máy bay của
chúng ta lúc này là phi công Huỳnh Anh Minh, chính là con trai duy nhất của phi
công Huỳnh Anh Dũng và mẹ đây.
Chiếc máy bay chao cánh như muốn gửi lời chào
cả mọi người trên trời, dưới đất. Cô tiếp viên nâng bó hồng lớn tặng mẹ. Anh
phi công giúp bà gieo ra khoảng không những cánh hoa hồng tươi đỏ chói trong
tiếng nhạc tưởng vong hồn nghĩa sỹ. Bà quả phụ cứ để cho những hàng nước mắt
tuôn rơi, nói trong nghẹn ngào:
- Xin cảm ơn những ai còn nhớ đến những người
như chồng tôi. Tôi đau khổ nhưng không ân hận. Anh ấy đã hy sinh cho tổ quốc
Việt Nam thống nhất, hòa bình, cho tương lai hạnh phúc của trẻ thơ và cho sự no
ấm yên vui của những người lương thiện.
Ngồi ở khoang giữa máy bay có hai ông già nét
mặt trầm tư. Ông hồng hào tươi tốt ngồi không yên như có điều gì day dứt. Ông
lớn tuổi tàn tật, thu mình trong chiếc xe đẩy, vẻ khắc khổ đăm chiêu như tượng.
Mấy du khách tây ngồi bên, một ông dè dặt bập bẹ mấy câu tiếng Việt:
- Thưa… Ông là một nạn nhân chiến cuộc?
Ông già tàn tật sực tỉnh, trả lời lưu loát
bằng tiếng Anh:
- Tôi là lính Cụ Hồ, bị thương thời chống
Pháp…
Ông chỉ Cẩm Nhung :
- Cô ấy là em tôi…
Và chỉ
ông già ngồi bên :
- Đây là người anh em của tôi định cư ở Canađa
đang muốn về quê.
Ông khách tây vồn vã nắm tay ông :
- Rất hân hạnh! Cho chúng tôi được nói lời
kính trọng với ông và chia sẻ nỗi đau thương với bà – tay chỉ người góa phụ.
Năm nào tôi cũng qua du lịch Việt Nam vì tôi thấy ở đất nước này, những con
người ở đây còn nhiều bí ẩn. Nhìn bề ngoài đất nước này thật xinh đẹp thanh
bình tuy còn nghèo khó nhưng sau những bộ quần áo đẹp và những nụ cười thân
thiện của mỗi người dân là những vết thương chiến tranh thật khó lành. Chiến sự
xảy ra ngay trên đất nước các ông mà có tới mấy trăm ngàn người mất tích trong
khi phía binh sỹ Mỹ có chừng ba ngàn mà hơn phân nửa đã được các ông giúp tìm
thấy hài cốt, là điều chúng tôi suy nghĩ. Tôi đã đến thăm tỉnh Thái Bình vì nơi
ấy còn để lại nhiều di hại của cuộc chiến tranh màu da cam. Thật là khủng khiếp. Sưu tra bản đồ chiến
sự nơi đó không nằm trong địa bàn các phi vụ rải thuốc diệt cỏ thì tại sao theo
thống kê của các ông, Thái Bình có số người dị tật nhiều nhất ở Việt Nam?
- Đúng là quân đội Mỹ chỉ rải thuốc diệt cỏ có
chất dioxin xuống các vùng căn cứ
kháng chiến từ phía nam vĩ tuyến 17, chủ yếu dọc theo giải Trường Sơn và vùng
duyên hải Trung và Nam Bộ. Thực ra, chiến sự ở đấy rất ác liệt, những nơi không
kiểm soát được thì họ hủy diệt bằng mọi cách. Dân thường không thể sống nổi,
phải cụm về gần các căn cứ quân sự Mỹ. Ít ra các ông cũng đạt được mục tiêu cô
lập Quân giải phóng và kiểm soát chặt chẽ đồng bào chúng tôi để bổ sung vào số
lính Sài Gòn. Miền Bắc thực sự là hậu phương lớn vô tận của miền Nam cả về sức
của, sức người. Thái Bình là tỉnh đông dân nhất miền Bắc lúc đó, lại có phong
trào chi viện cho tiền tuyến rất mạnh. Thanh niên nam, nữ đi chiến đấu hoặc
phục vụ chiến đấu có mặt ở hầu khắp các nơi chiến sự ác liệt và gian khổ nhất.
Tất nhiên số liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và hậu quả chiến tranh là rất nặng
nề.
Hiểu ra, ông ta rối rít cảm ơn và nói:
- Sức chịu đựng của người Việt Nam lớn qúa.
Bao nhiêu sự tích có thể dựng lên những tượng đài. Nhiều người Mỹ chúng tôi rất
mừng khi chính phủ của chúng tôi gỡ bỏ lệnh cấm vận với các ông và hơn nữa Tổng Thống Bill Clinton đã có một việc làm sáng
suốt là bình thường hóa quan hệ với Việt Nam dù bên ông còn nhiều lực cản. Đó
là bước đi quyết định tạo điều kiện cho Việt Nam sớm hòa đồng với các quốc gia
trên hành tinh này và sẽ mau phát triển. Hy vọng rằng lúc đó nước Mỹ sẽ có
những đóng góp thiết thực ít ra cũng trong lĩnh vực nhân đạo để làm giảm đi nỗi
đau mà nhân dân Việt Nam đang chịu đựng.
- Không
có gì quý hơn độc lập tự do! Đó là ước
vọng muôn đời của dân tộc chúng tôi. Trong lịch sử, sau mỗi cuộc chiến đấu chống
ngoại xâm, chúng tôi đều muốn cầu hòa. Tiếc rằng nước lớn nào cũng khó chấp
nhận một nước nhỏ không chịu khuất phục mình. Đó là bi kịch trước hết cho những
người dân lương thiện chúng tôi. Với người tàn tật, sự trợ giúp bên ngoài là
điều qúy giá. Nhưng chủ yếu phải dựa vào nội lực mới vượt qua được sự mặc cảm
cùng những khó khăn của chính mình. Dù có mối quan hệ bình thường với mọi quốc
gia, chúng tôi vẫn hiểu rằng muốn tồn tại thì phải biết sống trong một thế giới mà tình hữu nghị và sự
bình đẳng mới chỉ là câu nói ngoài cửa miệng.
- Ông vẫn là người lính chiến và là một nhà
nghiên cứu sử!
Ông Hà Giang dướn người lên, chỉ mấy người anh
em ngồi quanh đấy:
- Nếu không biết vượt qua mọi bất trắc thì tôi
không còn tới hôm nay để gặp các ông trong cảnh yên bình thế này. Những sự thật
lịch sử ấy, các thế hệ người Việt Nam chúng tôi đều biết cả.
Ông khách tây nhìn ông Việt kiều già:
- Ở Ottawa, người ta đặt một bức tượng Thuyền nhân (Boat people) về người di tản ấn tượng lắm!
Ông Hà Giang tế nhị đỡ lời:
- Thói thường, kẻ mạnh vẫn nhớ dai và thù lâu
những điều người khác gây ra cho họ nhưng lại chóng quên những điều họ gây ra
cho người khác.
- Có người từ phía các ông nói: Ngày 30 tháng
Tư, có hàng triệu người vui mừng thì cũng có hàng triệu người đau khổ! Vậy các
ông giải phóng cho ai? Sự mất mát quá lớn của người Việt Nam liệu có cần không?
- Điều đó thật trớ trêu! Tôi không nghĩ thế.
Nỗi sung sướng không trừ một ai vì hòa bình đến với mọi nhà. Thống nhất non
sông là niềm vui mừng của mọi người Việt Nam chân chính. Còn nỗi khổ đau là của
cả dân tộc dù người ở bên này hay người ở bên kia. Tuy nhiên không nỗi đau nào
giống nỗi đau nào, không thể đem ra so sánh được. Lời nói mị chỉ làm cho những nỗi đau càng thêm nhức nhói.
Tốt nhất là cái gì đã qua hãy để nó qua đi! Người Việt Nam chúng tôi sống chết
bấy lâu nay chỉ mong Tổ quốc thật sự là của mình. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
từ xa xưa vẫn lưu truyền lời dạy: Người trong một nước phải thương nhau cùng!
Người là hiện thân của Nước. Bằng cách sống bao dung, hòa ái, thù hận sẽ phai
dần đi, anh em hòa mục. Dĩ ân báo oán – Làm điều ân nghĩa để xóa bỏ oán
hờn. Điều đó đã thành nếp sống của chúng tôi.
Lời nói của người thương binh già khiến ông
khách lạ mạnh dạn lên :
- Các ông đã làm cho chúng tôi hiểu ra nhiều
điều… Nếu được là người Việt Nam, tôi sẽ xây dựng một nghĩa trang các nạn
nhân chất độc màu da cam ngay tại nơi
có nhiều di họa, lưu giữ muôn đời những hình ảnh và di cốt của những con người
khốn khổ và bất hạnh. Ở nước chúng tôi cũng dựng đài tưởng niệm những binh sỹ
Mỹ chết vì ảnh hưởng chất độc hóa học khi họ tham gia những chiến dịch rải
thuốc diệt cỏ màu da cam xuống rừng núi ruộng đồng Việt Nam suốt trong thập kỷ
1960. Không lời nói nào mạnh mẽ hơn sự im lặng của nỗi đau tận cùng như thế.
- Tôi thật cảm động và ghi nhận ý tưởng đầy
thiện chí của ông. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị trước hết ở sự biểu cảm
của nó. Nhưng đồng cảm về một giá trị nhân văn đích thực không dễ đâu. Chúng ta
sống vào thời điểm tranh giành đa chính kiến. Cần phải có thời gian để mỗi
người bình tâm lại may ra mới có sự đồng nhất nào đó. Điều sung sướng nhất là
chúng tôi được sống trong hòa bình, yên ổn.
Trước vẻ hiền hòa cùng những lời chân tình sâu
xa của người cựu chiến binh già tàn tật, ông khách bộc bạch lòng mình:
- Tôi đến từ nước Mỹ, trước đây trong số lính
GI (chính phủ liên bang) sớm có mặt ở Việt Nam. Lúc ấy chúng tôi nghĩ qua đây với sứ mạng bảo vệ nền dân chủ của
thế giới tự do và chỉ cầu Chúa ban ân cho được an toàn hết thời hạn một năm làm
nghĩa vụ công dân ở xứ sở nhiệt đới mưa nắng thất thường này. Thoát nạn trở về,
không có được sự vẻ vang hoan hỉ như hồi cha tôi trong quân đội Đồng minh chiến
thắng phát xít trở về. Tôi luôn tự hỏi về bản chất của cuộc chiến tranh này và
như nhiều đồng đội, chúng tôi cảm thấy bị dính líu tới nó là điều hổ thẹn. Trở
lại Việt Nam nhiều lần, tôi càng thấy thiện cảm với dân tộc này và càng thấy ân
hận về một quá khứ tệ hại của đất nước tôi, của cá nhân tôi! Tìm hiểu lịch sử
của các ông, tôi thật sự cảm phục đến kinh hoàng. Thời đại nào các ông cũng có
chiến tranh chống lại cường quốc lớn! Nhưng đã có ai so sánh giữa cái được và
cái mất ấy chưa?
Ông thương binh già ngồi ngay lại, nói rõ từng
câu:
- Xưa nay, ở đâu cũng vậy, cuộc chiến tranh
nào cũng chỉ nhằm hai mục đích, hoặc để tồn tại, hoặc để tranh hùng. Khi buộc
phải cầm súng là chúng tôi đã chọn lựa giữa sự mất còn của một dân tộc, một
quốc gia. Vì thế chúng tôi thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất
nước, không chịu làm nô lệ! Thuần túy là lòng yêu nước và tự trọng Việt Nam chứ
tuyệt nhiên không bởi sự mê muội cuồng tín vào một giáo lý nào. Tuy nhiên có sự
khác thường là chiến tranh kết thúc kẻ thua không phải đầu hàng và người thắng
chẳng lợi lộc gì ngoài sự bảo vệ được Tổ quốc và chủ quyền dân tộc mình – Điều
mà với người là lẽ đương nhiên nhưng như ông đã biết với chúng tôi nó diễn ra
không chỉ một lần!
- Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của
Hoa Kỳ diễn ra một cuộc rút quân về nước không kèn, không trống, không hoa,
không có người ra đón, không có anh hùng, không có chiến công! Người Mỹ chúng
tôi gọi thế hệ những người lính đã chiến thắng trong Thế chiến thứ hai là “thế
hệ vĩ đại nhất” khi họ chiến đấu cho sự sống còn của nước Mỹ. Thật là điều rất
không may cho thế hệ những người lính như tôi phải đối đầu với “thế hệ vĩ đại
nhất” của những người lính Việt Nam “có ý chí sắt đá để
có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi”. Thực tình là
người Mỹ chúng tôi đã lẫn lộn giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản ở
Việt Nam!
Nỗi đau trong lòng mỗi chúng tôi được nhẹ đi
bằng những việc làm thiết thực hàn gắn vết thương cho những nạn nhân chiến cuộc
và chỉ thực sự hết đi khi kết thúc một đời người theo luật tử sinh. Nhưng nỗi
đau lịch sử trong lòng nước Mỹ thì còn mãi. Nó hiển hiện trên Bức tường đá đen
như một tượng đài vĩnh cửu ở Wasshington D.C ghi danh 58.315 người con gái con
trai của nước Mỹ ngã xuống trên mảnh đất Viễn Đông xa xôi này mà không đem lại
điều lợi gì cho tổ quốc mình. Đó là chưa kể tới hàng triệu người của mấy thế hệ
đeo đẳng mãi nỗi đau dấm dứt của “hội chứng Việt Nam” dai đẳng chưa biết
bao giờ mới hết!
- Trong Thế chiến thứ hai, quân đội Mỹ đã vượt
đại dương cùng với quân đội các nước đồng minh cứu loài người khỏi thảm họa
phát xít, đã tạo điều kiện cho người Việt Nam chúng tôi thời cơ đứng lên tự
giải phóng mình. Tôi được biết trong cuộc chiến khủng khiếp ấy, tại mặt trận
Châu Âu, quân đội Mỹ mất hơn 300 ngàn người và ở mặt trận Châu Á số tổn thất
cũng gần bằng như thế. Đó là một việc làm nghĩa hiệp, loài người không thể nào
quên! Vậy mà sao họ không được vinh danh trên những tượng đồng bia đá? Trái lại
với cuộc chiến tranh vô nghĩa ở đây, trong số hơn hai trăm ngàn binh sỹ không
may bị tổn thương lại chỉ có bấy nhiêu người được vinh danh trên Bức tường đá đen
lịch sử ấy sao?!
Ông cựu binh Mỹ lắc đầu, buồn rầu nói:
- Xin ông đừng nghĩ đó là tấm bằng Tổ quốc ghi
công như ở khắp nơi trên đất nước của ông. Thực ra đó là lời nhắn nhủ cay đắng
tới các thế hệ mai sau của nước Mỹ cần phải tỉnh táo và sáng suốt, đừng coi
thường sinh mạng của con em mình bởi sự tính toán điên rồ ngu ngốc của những
ai!
- Ông sẽ được an ủi nếu biết rằng trên đất
nước của chúng tôi từng không chỉ có một đội hùng binh lui quân như thế, thậm
chí còn thảm hại hơn! Vả chăng ngay cả trong mỗi bi kịch người ta cũng có thể
nhìn ra được những điều sai mà tránh thì chưa hẳn đã hoàn toàn là vô ích. Tuy
nhiên những điều kiện xã hội và lịch sử chẳng bao giờ giống nhau. Cái chính là
mỗi con người, mỗi quốc gia phải biết kiềm chế cái tôi của mình
sao cho đúng mức. Dù sao thì niềm vui của chúng tôi ngoài một cuộc sống yên
bình, vẫn chịu sự đối xử bất công!
Ông khách cảm động nắm chặt tay người cựu
chiến binh già thương tật :
- Nếu cuộc chiến đấu của các ông nhằm giành
độc lập và thống nhất tổ quốc thì chúng tôi khâm phục và đồng cảm vì thời lập
quốc chúng tôi cũng có một cuộc chiến tranh chống sự phân ly Nam–Bắc. Bốn năm,
mất hơn nửa triệu mạng sống nghĩa là gấp hơn mười lần ở Việt Nam trong khi thời
gian chỉ bằng phân nửa! Tuy nhiên Liên bang Hoa Kỳ đã giành được sự thống nhất
lãnh thổ và hưng triển như ngày nay… Với chúng tôi, cuộc chiến tranh giành độc
lập trước đó là thắng lợi của công lý và cuộc chiến tranh chống ly khai là
thắng lợi của văn minh. Cuộc chiến tranh của các ông là thắng lợi của tinh thần
Không có gì qúy hơn độc lập tự do?
- Đúng thế !
- Tuy nhiên tôi thật sự không hiểu nổi một dân
tộc có nghị lực mạnh mẽ với một lịch sử gian truân như vậy mà sao chưa được
hưởng một cuộc sống sung sướng, công bằng và tự do mà vì nó họ đã hy sinh kể cả
máu của mình ?
- Các ông nên hỏi lại mình và chúng tôi cũng
thế. Dù sao thì tổ quốc Việt Nam của chúng tôi đã giành lại chỗ đứng của mình
trên thế giới này, và dân tộc tôi đã có quyền bình đẳng với các dân tộc trên
hành tinh này. Niềm tin mãnh liệt vào một xã hội tương lai với chúng tôi đã
không chỉ là quá khứ mà vẫn hiển hiện trước mắt dù đó là con đường thiên lý thử
thách quyết liệt về năng lực và quyết tâm của một dân tộc bị hy sinh quá nhiều
để có được độc lập, chủ quyền và tự do thật sự.
- Con người sống trên trái đất chỉ tin và làm
theo những điều gì thiết thực mang lại cho mình quyền sống bình đẳng tự do và
hạnh phúc. Đến khi phải từ bỏ thế giới này họ mới mơ một cuộc sống trên nước
Thiên đàng của Chúa hay là cõi Niết bàn của Phật.
Ông Hà Giang định nói điều gì đó thì người
khách cứ tự nhiên bộc bạch dòng suy nghĩ của mình:
- Người Mỹ đã nói là làm vì có làm mới rõ đúng
sai và chúng tôi đạt được những thành công nhanh chóng bất ngờ vượt lên trước
bao đối thủ nhưng cũng chuốc lấy không ít thất bại đắng cay. Tuy nhiên thấy sai
là sửa. Người Mỹ không chịu thua kém bất kỳ ai và tin rằng luôn có bàn tay của
Chúa chở che, nâng dắt những đứa con phiêu bạt không khuất phục trước mọi trở
ngại hiểm nguy để rao truyền đức tin về một sự công bằng, tình yêu thương trên
cõi nhân gian này.
- Chẳng lẽ nhân danh một đức tin cao cả mà
người ta thủ ác cũng dễ dàng như khi hành thiện?! Trên giải đất này diện tích
chỉ bằng ba phần tư bang California mà dân số đông gấp hai lần, người Mỹ đã dội
xuống hơn bảy triệu tấn bom, tương đương 640 quả bom nguyên tử
ném xuống Hirosima, nghĩa là gấp ba lần số bom trong Thế chiến
II. Cộng với hàng triệu tấn thuốc nổ nhồi trong các loại đạn, chia bình quân
mỗi người Việt Nam chúng tôi bất kể già, trẻ, gái, trai chịu mấy trăm kilôgram
chất nổ. Đó là chưa kể tới hơn bốn trăm ngàn tấn napalm gây cháy, hơn 70 triệu
lít chất độc da cam…. Ông tưởng tượng xem sức hủy diệt của nó tới mức độ nào?
và di họa sẽ tới đâu? Bây giờ các ông tới đây làm nhân đạo! Đành rằng có vẫn
hơn không. Nhưng phải chăng người Mỹ đã quen với những bi kịch cùng những vinh
quang?
- Chính phủ Mỹ từng có những hành xử kiểu ganster
với nhiều dân tộc. Trên thế giới này, chưa có dân tộc nào bằng tinh thần bất
khuất và sức chịu đựng bền bỉ đã khuất phục được người Mỹ như người Việt Nam.
Nhà cầm quyền nào cũng muốn thể hiện uy lực của quốc gia mà họ đại diện nhưng
thực ra là của một nhóm người, thường có những việc làm trái với ý nguyện của
dân chúng. Chỉ có một nền dân chủ thật sự mới điều chỉnh được. Chúng tôi ưa
thích sự đổi thay tiến bộ, không câu nệ về những chuyện đã qua, không bị ràng
buộc bởi những giáo tín hay tình cảm để hướng tới một cuộc sống sung sướng
hơn.
Hai người cựu chiến binh già nhìn thẳng vào
nhau. Ông khách giọng thân thiện :
- Thưa ông… Hãy tin những lời tôi nói ra đây
là chân thành, xuất phát từ lương tâm người lính được thức tỉnh và kính trọng
dân tộc các ông. Nó hoàn toàn xa lạ với lòng đố kỵ tầm thường của những người
không dám nhìn thẳng vào sự thật… Nhà báo James
G. Zumwalt cũng là chiến hữu thân thiết của tôi mà cả gia đình ông ta có ân oán
sâu nặng với cuộc chiến tranh tồi tệ này, cuối cùng đã nói ra sự thật tàn nhẫn
là: “Thật không may cho người Việt Nam, đất nước họ đã bị nước Mỹ chọn để
dựng chiến tuyến chống cộng sản”
vì không nhà lãnh đạo Mỹ nào muốn để thua một cuộc chiến tranh vào tay
những người cộng sản bất cứ tại đâu mặc dù: “Việt Nam chưa bao giờ là mối đe
dọa với nước Mỹ. Họ đơn giản chỉ muốn chúng ta trở về nhà”!
Ông ta nhắm mắt, cúi đầu, tay làm dấu thánh,
miệng lầm rầm lời cầu nguyện như những con chiên hằng làm trên thế gian này:
- Cầu mong sự phước cho nước Chúa trên trời và
sự bằng an cho mọi người dưới thế!
Ông Hà Giang nhìn qua ô kính, thầm nghĩ đời
mình gặp biết bao sự lạ… Người lính đối phương năm xưa bây giờ đang là người khách
ngồi bên trong một chuyến bay. Ông ta chân thành bày tỏ lòng mình với người
lính đã từng là đối địch…
Ngoài khoảng không kia đầy những giải mây đủ
màu sắc trôi nổi bồng bềnh…
Suốt chuyến bay, khách tôn trọng sự im lặng
của người đồng hành từng là kẻ thù của nhau. Họ không biết ông bạn già ngồi đây
chất chứa bao nhiêu nỗi đau thể xác lẫn tinh thần, lại vừa chịu thêm một nỗi
đau lớn nữa: Người máu mủ ruột già thân thương như người cha yêu qúy của ông
không còn nữa! Ông Nguyễn Văn Thanh qua đời đúng vào đêm Rằm tháng Tám.
Ông Thanh vẫy các con chụm lại gần bên, ánh
mắt yêu thương hiền từ, giọng nói đoản hơi:
- Cậu thấy sâu xa một điều rằng nỗi đau lớn
nhất với một người là gia đình ly tán, với một quốc gia là đất nước chia cắt,
dân tộc phân ly. Trải một đời người chịu đựng cậu còn gặp may, được an ủi thỏa
mãn phần nào dù không trọn vẹn. Mất cũng nhiều mà được cũng lớn. Cuộc đời tưởng
dài mà thật ngắn. Mình chưa chết mà đời mình đã như cổ tích rồi. Xem hay dở thế
nào là tùy ở các con. Riêng cậu không ân hận điều gì. Chỉ cầu mong thời thế của
các con được làm việc hết mình và hãy sống đàng hoàng tử tế!
Không còn sức nói hơn nhưng trên môi ông giữ
lại nụ cười héo hắt.
Cô Thảo Tâm tận tụy với chồng tới những giờ
phút chót. Ông nhìn cô ngậm ngùi:
- Với em tôi thật là vô tích sự!
Cô Thảo Tâm chụm lên bàn tay ấy như giữ lại
những kỷ niệm yêu thương:
- Không có anh đời em không biết thế nào?
Ông Thanh nắm tay cô không muốn rời ra:
- Cả đời tôi như một đứa trẻ con. Được những
báu vật Trời cho mà tôi không biết!
Cô Thảo Tâm nâng bàn tay chồng lên. Hạt lệ già
nặng đục nhòa đọng giữa lòng bàn tay ông khô héo nhăn nheo.
Ông tổng luận đời mình với đứa cháu có cuộc
đời bất trắc:
- Mỗi người không chủ động được cuộc sống
nhưng chủ động được cách sống của mình. Suốt đời chú ghi nhớ lời ông dạy: Cần nhớ lấy chữ NGỘ
và chữ NHẪN. Có Ngộ mới biết Nhẫn. Không Nhẫn thì khó Ngộ. Nhẫn mà không
Ngộ là ngu. Ngộ mà không Nhẫn bất thành sự. Đời nay đang quay lại bước khởi đầu. Chú đã đi hết một vòng quay.
Ngày đưa ông đi mưa gió sụt sùi như trời và
người cùng xót thương ông. Con cháu ông về chịu tang, anh em có dịp đoàn tụ và
dự lễ tưởng niệm người anh em liệt sỹ anh hùng hôm nay.
Ông già khoẻ mạnh chính là Đại tá Chu, hướng
qua người anh tàn tật mến thương, thì thầm:
- Em như vật phù du trôi nổi giữa dòng đời.
Tuổi thiếu niên, muốn được như ao ước của mình lại thành trái ngược! Phải sống
bất đắc chí mà lòng vẫn hướng nơi đâu, rồi lại leo lên con thuyền viễn xứ phiêu
du! Bây giờ châu đã về Hợp phố mà lòng chưa yên! Trước đây cách mạng chỉ là một
ý thức mơ hồ nhưng vẫn có lực hấp dẫn để mình hướng tới một tương lai sáng sủa.
Tại sao khi cách mạng thành công mà sức thuyết phục lòng người không như trước
nữa?
Ông anh trầm ngâm, giọng vương buồn:
- Trên thế gian này chưa có cuộc cách mạng nào
thành công trọn vẹn. Họa chăng nó đạt được ý muốn giải thoát trong chừng mực
nào đó rồi người ta lại làm hỏng nó đi! Cụ Hồ từng nói: “Một người tốt chưa
hẳn tốt mãi nếu không luôn biết sửa mình. Một tổ chức mạnh chưa hẳn mạnh mãi
nếu không còn được lòng dân!”. Hiểu ra điều ấy không khó nhưng theo được
không dễ đâu. Trong đời sống cộng đồng, lòng ham muốn như chất xúc tác cho
những hậu quả trái chiều nhau. Lúc kích hoạt nó tạo nên năng lực mới. Lúc phân
hủy nó phá hoại năng lực của con người. Khi hội tụ, khi phân rã người ta. Nhờ
nanh vuốt, sư tử được làm chúa tể rừng xanh. Không còn nanh vuốt sư tử là gì?
Chuyện ngụ ngôn La Fontaine chú còn nhớ chứ? Lòng ham muốn có lúc làm con người
ta mê muội tới mù quáng và tự hủy hoại mình như vậy đấy!
- Đất nước là cái vừa thực vừa hư mà thiêng
liêng lắm với con người anh ạ… Cái tình quê mới kỳ lạ làm sao! Ngày ở Sài Gòn,
em coi tập bút ký “Thương nhớ mười hai” của ông Vũ Bằng như bạn tâm giao. Em
thường đọc để nhớ về miền Bắc. Nhớ thế nào là trăng non, rét ngọt, là rét nàng
Bân, là gió nồm nam, gió heo may, là nắng hanh, là oi bức, là mưa phùn gió bấc,
là giá rét căm căm… Nhớ những quả nhót, quả mơ, quả mận, quả nhãn lồng, quả vải
thiều… Nhớ cánh hoa đào, mùi lúa mới, hạt gạo tám thơm, hạt nếp cái hoa vàng…
Nhớ sự pha hòa màu sắc tuyệt vời của những hạt cốm dẻo xanh màu lá mạ, sắc vàng
rơm với những chấm đen đều của trái chuối tiêu chín trứng quốc bên trái hồng đỏ
sậm. Đặc biệt là cái đòn gánh một đầu cong vòng lên của những bà những cô hàng
cốm làng Vòng. Càng nhớ Hà Nội cồn cào. Qua bên ấy em vẫn mang theo nó, lại nhớ
nhiều đến cái bánh dầy ngày cưới, cái bánh chưng ngày Tết. Nhớ tiết Rằm tháng
Bảy mưa dầm, mưa ngâu sùi sụt, cảnh chùa chiền tấp nập người ta đi lễ nhớ công
ơn sinh thành của mẹ cha, xin xá tội và an ủi những vong linh lưu lạc, lại nhớ
những mẹt cháo, chè, nắm bỏng bộp, phẩm oản cúng cô hồn và những người nghèo
lớn bé được dịp giành giật nhau của bố thí thập loại chúng sinh… Dịp lễ vu lan
lại nhớ về nguồn cội. Ông bà cha mẹ không còn nhưng mảnh đất nơi các người yên
nghỉ liệu có được yên không? Và nhớ nhất là mùa thu Hà Nộị… lúc trời trở gió,
lá vàng bay lả tả quấn quýt quanh người trước khi rơi phủ mặt đường, sương thu bàng bạc, mây thu giăng
mờ như khói, hơi thu se lạnh, đầm sen tàn tạ, ao hồ nước trong veo lạnh lẽo lăn
tăn con sóng, ánh chiều vàng bảng lảng… mà lòng nao nao thương nhớ mơ hồ... Mới
cảm thấy thế nào là đẹp não nùng, là buồn se sắt… Em càng thấm thía câu nói của
nhà văn: Con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục!
Ông Hà Giang trầm lắng trong dòng suy tư: Đây là lần thứ hai
trong lịch sử, cuộc chiến tranh giải phóng quy mô của những người nông dân Việt
Nam thắng lợi trọn vẹn. Tuy nhiên đất nước hòa bình nhưng thanh bình chưa có.
Những người nằm xuống và những người còn sống dù mất cả cuộc đời hay một phần
đời liệu đã được yên chưa? Hận thù và dốt nát cùng với sự nổi dậy của lòng tham
trong nỗi nghèo đói và tàn bạo của chiến tranh sẽ mọc lên bao nhiêu cỏ dại! Một
lớp trọc phú và quan lại nhờ thời sẽ đưa đất nước tới đâu? Điều trăn trở ấy với
dân tộc này đã thành muôn thuở! Anh chợt nhớ tới bác Trịnh Huy, bác Phan An Phú
– nhà nho, nhà trí giả bất đắc chí và những bậc trưởng thượng thường cảm khái
với câu thơ của Tô Đông Pha mà Nguyễn Trãi hay vận vào mình: Cổ lai thức tự
đa ưu hoạn / Pha lão tằng vân ngã diệc vân (Xưa nay biết lắm họa nhiều /
Già Pha cùng nghĩ một điều như ta). Anh thở dài cảm thương số phận của bậc hào
kiệt thi nhân âý sống chết vì một chữ NHÂN
và nghĩ tới phận mình: Chúng ta chẳng là gì trong cõi nhân gian đảo điên này. Đời mình thì bão tố mà đời chú thì đông giá.
Mình còn chống đỡ mà chú thì âm thầm chịu đựng. Trong lòng chất chứa bao điều
đau đớn nặng nề mà chú còn chia sẻ nỗi đau riêng của cháu… Đấy là tình cốt
nhục!
Chưa biết cuộc đời rồi sẽ ra sao, nhưng qua
cơn chấn động xã hội lớn lao này, hai chú cháu anh mỗi người một cảnh mà vẫn
coi trọng điều liêm sỷ, là cốt lõi nhân cách một con NGƯỜI
.
Thành
phố HỒ CHÍ MINH
Viết
từ năm 2005 – 2010
NXB Thanh niên năm 2010
Chỉnh sửa có bổ sung tháng 12/2017
No comments:
Post a Comment