CHƯƠNG BẢY
Điện
Biên Phủ trên không
a{b
Cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân–1968 được dư luận truyền thông quốc tế
ví như trận Trân Châu cảng (Pearl Harbor–Hawaii) ở giữa Thái bình dương cuối
năm 1941. Sau cú đòn trời giáng đó của quân đội Nhật hoàng, tuy thiệt hại quân
sự rất lớn nhưng người Mỹ chính thức bắt tay với phe Đồng minh, bước vào tham
gia Thế chiến thứ Hai.
Cú đòn mới
này thiệt hại về người và của không
nhiều nhưng thiệt hại về tinh thần là rất lớn. Nó làm lung lay tận gốc niềm tin
của công chúng Mỹ vào lời hứa sẽ chiến thắng của giới cầm quyền. Lầu Năm Góc
nhận ra sự thật cay đắng rằng cuộc chiến tranh này nếu không thua thì cũng
không thể thắng nhưng lúng túng tìm cách thoát ra trong danh dự. Tổng thống
Johnson ra lệnh cho máy bay, tàu chiến tạm ngừng các cuộc tiến công chống miền
Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc Khu phi quân sự từ vĩ tuyến 17 tới 20 và
tuyên bố sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường của một cuộc xuống thang
chiến sự để tìm kiếm hòa bình.
Ngày 13 tháng
5, hai Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hợp
chúng quốc Hoa Kỳ gặp nhau ở Paris,
mong muốn tìm ra một giải pháp để người Mỹ có thể rút ra khỏi đầm lầy chiến
tranh ở Việt Nam.
Nhân Trí đi nhận công tác ở một tỉnh miền núi
theo sự điều động của Bộ Y tế sau khi tốt nghiệp Đại học Dược khoa.
Mọi khi tàu khách chỉ chạy về đêm thôi nhưng
từ ngày không quân Mỹ ném bom giới hạn, ban ngày ga Hàng Cỏ càng nườm nượp
người ta. Bộ đội chuyển quân. Cán bộ đi công tác. Người đi tiếp tế cho thân
nhân sơ tán về các vùng xa. Ba lô túi xách nặng nề, mặt mày võ vàng mà rạng lên
nét tươi vui hy vọng lắm :
- Mỹ chịu xuống thang, chịu đến Hội nghị bàn
chuyện cùng ngừng chiến sự. Dù còn bàn cãi dông dài nhưng hòa bình sẽ là chuyện
hiển nhiên.
Người ta có lý để củng cố một niềm tin sau mấy
năm trời mệt mỏi, căng thẳng vì chiến tranh và thiếu thốn. Họ tự động viên mình
và động viên nhau : Mỗi người hãy dấn lên một chút để mau trút đi cái gánh nặng
qúa sức này.
Yên
Thịnh mặt buồn thiu, tay xách bị đồ ăn đứng nép bên chồng. Nhân Trí ba lô cồng
kềnh trên vai, mặt khó đăm đăm vơ vẩn nhìn đi đâu. Trong anh những cảm giác
trái ngược cứ trào lên xẹp xuống thật là khó tả.
Khóa học cả trăm người, đang thi tốt nghiệp đã
có danh sách non nửa xung vào quân đội. Đó là điều đương nhiên, nhất là với
ngành Y – Dược lúc này. Làm thằng con trai lúc nước non binh lửa triền miên mà
vắng bóng nơi tuyến đầu thì làm sao lòng không day dứt. Anh chẳng phải chuẩn bị
tinh thần cho mình cũng như cho gia đình. Anh chỉ thương người bạn gái từ thuở
học trò từng qua được bao nỗi dày vò chỉ còn biết dựa vào anh. Học xong phổ
thông, vì là con tư sản, Yên Thịnh không được vào đại học. Ông dược sỹ thành
người yếm thế. Làm cha mà không là chỗ dựa, bảo bọc, nâng đỡ được cho con là
đau lắm nhưng biết làm sao? Mấy năm đầu cô đi làm ở các công trường thanh niên
cải tạo hồ Bảy Mẫu, xây dựng nghĩa trang Mai Dịch. Nhiều lúc gặp bạn bè đang
học ở các trường đại học đi tham gia lao động vào những ngày thứ bảy cộng sản
chủ nghĩa, Yên Thịnh chợt nhận ra nỗi
thua kém của mình, cô lảng đi mau mà lau nước mắt. Một thời gian dài cô cũng
không muốn gặp Nhân Trí nữa. Trong khi người ta hăng hái hô hào: Lao
động là quang vinh nhưng trong không
ít thanh niên vẫn âm ỉ câu vè: Phi đại học bất thành phu phụ! Đời cô làm sao nhoi lên được?! Nhưng Nhân
Trí không bỏ bạn. Ngoài giờ học ở trường, ở nhà, anh thường đến với cô như là
sự động viên an ủi. Đằng đẵng mấy năm, có lần cô nghi ngờ hỏi:
- Anh không sợ bị phê bình và mất tiến bộ sao?
- Anh có phải là Đoàn viên đâu mà sợ bị phê
bình!
- Thế anh không thấy mình lạc hậu à?
- Chẳng lẽ bỏ bạn vì những chuyện không đâu là
lạc hậu?
Đến khi Yên Thịnh bị tai nạn lao động gãy tay,
anh khuyên cô xin làm chân phụ bán thuốc ở cửa hàng ngay tại nhà. Anh chọn học
ngành Dược khoa cũng là muốn gần gụi giúp đỡ người bạn gái. Lúc đầu cô thấy ngượng
ngùng xấu hổ lắm nhưng tập thể góp ý phê bình xây dựng dần rồi cũng quen đi. Cô
được ưu tiên cho đi học lớp Dược tá về làm mậu dịch viên quầy thuốc. Tuy biết
người bạn trai tha thiết với mình nhưng cô vẫn còn tự ái:
- Tuy anh đi giữa đường quang nhưng trên lưng
cũng nặng. Sao lại quàng thêm cái ách nữa lên vai?
- Anh học chính trị nói cách mạng giải phóng
con người chứ không có chuyện tháo gông xiềng cho người này đem choàng sang kẻ
khác đâu!
Đến lớp anh ít giao du, ngoài việc học anh
chăm đọc sách. Đoàn thể muốn phát triển anh thì anh chối khéo, bảo mình cần
thêm nhiều thời gian rèn luyện. Tuy nhiên nhiều lúc anh không thể giấu nổi ý
mình. Thật ra, anh không thích môi trường đại học này. Cùng cắp sách tới trường
đi học mà lại chia ra nhiều đẳng cấp quá: Đảng viên, Đoàn viên, bộ đội, cán bộ,
học sinh miền Nam, miền núi, con cán bộ, công nhân, nông dân, lao động… Loe
ngoe mấy đứa thành phần lem nhem lọt sổ như được học
nhờ. Đứa nào nổi tật là bị đuổi liền! Anh may được ăn theo cái nhãn kháng chiến
của cha nhưng lại thòng cái đuôi gia đình có người theo giặc vào Nam. Anh biết
cậu cũng có tâm trạng u ẩn về một qúa khứ cộng tác với thực dân đế quốc, lấy vợ
công giáo rồi lại mang con chạy đi theo Chúa nhưng không bao giờ cậu hé ra than
thở với các con, dù chỉ một lời. Vào ngồi trong giảng đường đại học, yêu cầu
trước nhất là phải có vốn văn hóa căn bản mới có thể tiếp thu được kiến thức
khoa học thuộc nhiều lĩnh vực. Một mớ chữ nghĩa lộn xộn bập bõm, nhồi nhét vội
vàng, chẳng biết học lực tới đâu, liệu đủ sức tiếp nhận những kiến thức mới tới
mức nào? Thầy vừa giảng vừa dò xem đối tượng hiểu được chừng nào và người thầy
khôn ngoan là biết tự hạ dần yêu cầu bài giảng cho hợp với sức của người nghe!
Cùng là người đi học mà anh nọ có quyền nhận xét đánh giá anh kia về học lực và
tư cách? Thậm chí thầy cũng phải dè chừng để khỏi bị trò quy là sai phạm về
quan điểm, lập trường, sẽ khó yên, làm sao mà tiến bộ! Ở nhà chỉ cha mẹ dạy dỗ
giáo dục con. Đến trường chỉ thầy dạy dỗ giáo dục trò. Tư tưởng nào, ý thức nào
cũng phải qua người thầy truyền bá tới trò. Những điều ấy đã thành qui luật của
nghề sư phạm, mà sao người ta cứ làm trái khoáy. Hệ quả sẽ tới đâu?
Vậy mà anh bị choáng vì việc quân đội trả lại
hồ sơ. Không ai nói ra nhưng ai cũng hiểu lý lịch của anh không trong
sạch, không đạt yêu cầu tuyển chọn sỹ quan!
Khi các bạn lên đường nhập ngũ anh có cảm giác
như mình bị bỏ rơi! Anh nhận tờ công lệnh lên miền rừng núi trong tâm trạng
không ai tin mình. Cuốn học bạ sáu năm trời đại học gọn mấy dòng Chi bộ nhận
xét về anh: “Còn mang nặng tác
phong tiểu tư sản. Cần rèn luyện nhiều để nâng cao ý thức chính trị và lập
trường giai cấp. Tư tưởng chuyên môn thuần túy. Tác phong quần chúng kém. Phát
ngôn tuỳ tiện”! Bên cạnh chữ ký của Bí thư
chi bộ lớp cũng là người cùng học, là dấu mộc đỏ loét, tròn vo của Phòng tổ
chức. Cẩm Nhung trách em:
- Năm năm trời, cậu không chịu phấn đấu vào
Đoàn. Thế là thiếu ý thức chính trị, để người ta nhận xét thế này là đáng lắm!
Bao nhiêu bức xúc, Nhân Trí dồn vào chị:
- Ý thức chính trị là lúc nào cũng phải nói
theo và hoan hô hưởng ứng mấy anh cùng học à? Mỗi người có cái đầu để nghĩ chứ
đừng để ai nghĩ hộ mình. Tôi học nghề gì phải chăm vào nghề ấy để sau này ra
thạo việc mơi hành nghề được chứ. Tôi có làm việc gì vi phạm đạo đức và pháp
luật không? Bây giờ tôi cũng không biết mình đứng ở chỗ nào trong xã hội này!
Ngày sơ tán về nông thôn, một hôm, ông chủ nhà cầm mấy củ sắn chấm muối ăn trừ
bữa, vừa mời tôi vừa bảo: Các anh chị hay dở gì cũng thành người nhà nước, được
là cán bộ, được hưởng lương đến chết! Trong khi chúng tôi vừa làm ruộng mửa mật
ra được mấy hạt thóc, vừa thắt lưng buộc bụng nuôi con để giao nộp cho nhà nước
“thóc không thiếu một cân, quân không
thiếu một người!”. Rời tay cày tay cuốc là vợ
chồng con cái đói rã họng ra, mà vẫn mang tiếng là anh nông dân lạc hậu và bảo
thủ!... Sao tôi thấy ngượng trong lòng quá! Cũng những người đi làm ăn lương
như cậu trước đây, đều bị liệt vào hàng ngũ tiểu tư sản, tư tưởng giao động, kém trung thành! Nhưng
bây giờ cả nước ai cũng muốn được làm người cách mạng ăn lương. Đã có miếng lại
có tiếng nữa!
Anh chuyển ý xin với cậu cho làm lễ cưới trước
ngày đi nhận nhiệm sở mới.
Con tầu chuyển bánh cùng với những tiếng vỡ òa
réo gọi nhau. Nhân Trí nhảy lên đứng chênh vênh trong đám người chen lấn trước
cửa một toa tàu, cố ngoái nhìn người vợ trẻ đứng bất động như tượng đá trông
chồng giữa đám người xô lấn nhấp nhô. Trong lòng anh trào lên niềm thương xót.
Những mái nhà, hàng cây, dãy phố, những dáng người tất bật như những ảo ảnh
thoáng qua. Cơn gió se lạnh thổi ào tới làm anh giật mình nhìn xuống dòng sông
đỏ mênh mang cuồn cuộn chảy. Anh ngước nhìn bầu trời xanh cao trong vắt chợt
nhận ra ánh nắng vàng man mác trải dài trên những bãi mía nương ngô một màu
xanh xanh mờ nhạt.
Anh chợt nhận ra mùa thu đến tự bao giờ.
ô
Washington, ngày 20 tháng 01 năm 1969, ông Nixon –
người của đảng Cộng hòa, nhậm chức Tổng Thống nhiệm kỳ mới. Năm ngày
sau, tại Paris, Hội nghị hai bên mở rộng thành Hội nghị bốn bên, có đại biểu
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam cộng
hòa cùng tham dự. Là Diều hâu nhưng ông Nixon tuyên bố đã có sẵn trong
túi một học thuyết nhằm chấm
dứt chiến tranh, mong được lịch sử ban cho danh hiệu người đưa lại hòa
bình! Thực chất học thuyết của ông không có gì mới cả, vẫn là bài ca
thực dân cũ rích Việt Nam hóa chiến tranh nhưng trong điều kiện mới có những nguyên tắc mới: Kéo các đồng minh
cùng chia sẻ trách nhiệm nhiều hơn để rút dần quân Mỹ về nước, đồng thời phát
huy tối đa sức mạnh quân sự Hoa Kỳ và thương lượng trên thế mạnh – Bắt đối
phương làm theo ý của mình! Với tinh thần ấy, xem ra cường độ chiến tranh vẫn
quyết liệt không kém gì thời chiến tranh cục bộ. Máu của người Việt Nam ở cả hai phía đổ ra nhiều hơn trong khi số
thương vong của binh lính Mỹ giảm dần theo từng đợt rút quân! Là hành động cực
kỳ độc ác vô nhân bởi suy cho cùng đó chỉ là sự thay đổi màu da của
những xác chết! Nham hiểm hơn, họ kết
hợp với chính sách ngoại giao mềm mỏng, hòa hoãn, thậm chí thoả hiệp về một số
quyền lợi với các nước lớn đang là chỗ dựa không thể thiếu cho cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm của người Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn
dặn đoàn đàm phán trước lúc lên đường: “Các chú đi Pháp lần này sướng hơn Bác đi Pháp năm 1946 nhiều. Phải nhớ Mỹ
là nước lớn đứng đầu thế giới tư bản, buộc phải ngồi thương lượng với ta đã là
thất bại rồi. Đàm phán hòa bình là phải tế nhị, khéo léo, lúc cương lúc nhu,
không được làm mất mặt người ta thì mới đạt kết quả. Chiến tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì không được
nóng ruột. Ta vừa đánh vừa mở
cửa cho nó thoát nhưng ngoài cửa nhớ có rèm che!”.
Nhưng dài bao lâu? Cả nước là một bãi chiến
trường ác liệt triền miên! Đàm phán hơn năm rồi mà xem ra vẫn trong thế cù cưa.
Nhân sự kiện tàu con thoi Apollo đưa phi hành gia Amstrong lên mặt trăng rồi
trở về trái đất an toàn, Kissinger phàn nàn: “Con đường lên mặt trăng ít trở
ngại hơn con đường chúng ta đi”! Mỹ khăng khăng đòi hai bên cùng rút quân!
Người Việt Nam không được sống, được chiến đấu bảo vệ tổ quốc của mình? Kẻ xâm
lược và người bị xâm lược như nhau? Chuyện nghe khó lọt tai! Trong khi xóm thôn
cho đến phố phường ngày càng vắng hoe con trai, con gái. Đàn ông cũng thưa thớt
dần. Trẻ con lớn nhanh lại theo bước cha anh ra phía trước. Mẹ già, vợ trẻ ở
nhà dù mong nhớ nhưng thà người đi biệt tăm lòng còn hy vọng hơn là một ngày
chính quyền địa phương mời ra bàn chuyện tổ chức lễ truy điệu đón thư báo tử! Còn là điều may cho ai có chồng con tiều
tụy tàn phế trở về và cũng là điều tủi hổ cho ai có người thân lủi trốn quay
về, cô đơn, trơ trẽn khi làng xóm nhìn mình! Thời gian nặng nề đằng đẵng làm
sao. Nhiều người nghĩ chắc không đủ sức mỗi ngày làm việc bằng hai hoài trong mòn mỏi đợi chờ như thế mãi!
Dường như Cụ Hồ biết mình
không chờ nổi. Người âm thầm viết bản Di chúc cho toàn dân, toàn Đảng một lúc
nào “khỏi thấy rằng đột ngột”! Sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, Cụ ra đi “để lại muôn vàn tình thân yêu cho đồng bào, đồng chí, các
cụ phụ lão, các cháu thiếu niên, nhi đồng và bè bạn khắp năm Châu” sau khi khẳng định một niềm tin: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân
dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi
hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn!”. Di chúc căn dặn mọi điều gần-xa-sau-trước.
Đành rằng luật sinh-lão-bệnh-tử chẳng từ một ai mà mọi người vẫn có cảm giác hụt hẫng không thể nào
tin, mặc dù Cụ đã ở vào lớp người xưa nay hiếm. Cả cuộc đời hoạt động tận tụy của Người là tấm gương yêu nước sáng
ngời. Cuộc sống trí tuệ, nhân ái, thanh cao, giản dị của Cụ chinh phục cả đồng
bào, đồng chí, bè bạn lẫn kẻ thù. Thật hiếm thấy một vị nguyên thủ quốc gia nào
có sức hấp dẫn mạnh với đông đảo nhân dân mình và nhân dân thế giới, cả người
trẻ lẫn người già, giàu và nghèo, trí giả lẫn bình dân, bất kể tôn giáo, sắc
tộc và chính kiến. Cái chết làm mầm cho sự sống của một nhân vật lỗi lạc, được nhân dân tin yêu, bạn bè mến
phục, kẻ thù kính trọng đã gây xúc
động lớn với nhân loại tiến bộ. Dù lúc sinh thời, Người luôn dùng uy tín và ảnh
hưởng to lớn của mình để gây dựng, vun đắp cho một tập thể chiến hữu bên mình.
Nhưng sự ra đi ấy vẫn là một chấn động tinh thần rất lớn với quân và dân cả
nước. Đặc biệt trong lúc cuộc chiến đấu mà Người là linh hồn đang ở giai đoạn
ác liệt nhất với những thử thách cam go.
Trong thời gian ấy, Cẩm Nhung sinh đứa con
trai. Cha nó bận trực chiến không về được. Ông Thanh đặt tên cho cháu ngoại là
Huỳnh Anh Minh có là sự ngẫu nhiên tình cờ hay không, chỉ mình ông biết. Dù
được cô Thảo Tâm giúp đỡ nhiều nhưng ông vẫn loay hoay lúng túng với những công
việc trong nhà của người phụ nữ.
Một ngày chủ nhật, mất cả buổi sáng ở Mậu dịch Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền ông mới thoát ra khỏi dòng người
nối đuôi nhau ở quầy bán vải. Tay xách cái túi nhỏ, ông đi như chạy không biết
vì vui hay muốn tránh xa sự ngột ngạt chỗ đông người. Mấy người chạy đuổi theo
săn đón xin được nhượng lại, ông chỉ lặng thinh lắc đầu. Ông cắm cúi lấy xe ra,
vừa ngồi lên yên, một cậu thanh niên níu xe ông năn nỉ :
- Bố ơi! Con sắp lấy vợ mà không có cái quần
mặc cho ra hồn. Bố thương con trai đi. Bao nhiêu con cũng chịu.
Thực ra nhu cầu quần áo với ông không thiếu.
Ông lưỡng lự nhìn trước nhìn sau, vừa nhấc cái túi lên thì cậu chàng nhanh tay
luồn vào, rút ra mảnh vải gabardine và tốc áo lên nhét vào trước
bụng, vừa liến láu cảm ơn vừa vội vã móc túi dúi mớ tiền vào tay ông và chạy đi
mất hút. Sự việc xảy ra nhanh quaù. Ông Thanh
ngẩn người chưa định thần lại được thì mấy bà mấy cô ở đâu xấn lại, nhao nhao
vừa trách vừa hỏi vặn. Ông lúng túng chưa biết cách gỡ ra. Một cô nàng giật lấy
mấy đồng tiền ông đang cầm trên tay rồi ấn trả vào túi ông, miệng chửi ngoa
lên:
- Tổ sư cha thằng đểu! Bố bị lừa rồi. Nó trả
cho bố nó chỉ bằng nửa giá thôi!
Ông thở dài, chẳng nói gì được nữa, lẳng lặng
phóng xe đi. Ngang qua Bờ Hồ, cảm thấy
vừa mệt, vừa ngượng lòng vì đã bán đi tiêu chuẩn nhà nước cấp cho cán bộ, lại
vừa ngẩn ngơ tiếc của. Ông xuống xe dắt bộ định tìm chỗ ngồi nghỉ tạm, tự tìm
lời an ủi: Dù sao với số tiền này cũng mua được mấy cân đường, hộp sữa làm qùa
cho đứa cháu đầu lòng và bồi dưỡng thêm cho con gái.
Có một người Âu cao lêu đêu đi ngược chiều cứ
chằm chằm nhìn theo ông rồi rảo bước quay sát tới. Ông ta lễ phép cúi đầu chào
tiếng Việt sõi lắm:
- Xin lỗi… ngài có phải là ông Phán Thanh
không?
Ông Thanh khựng lại, nhìn ông tây lạ và nhận
ra người quen cũ:
- A!... Ông Jean Debue!
Hai người vồn vã bắt tay nhau.
- Tôi tới Hà Nội hơn một tuần rồi. Tôi đến địa
chỉ cũ thăm ông nhưng không tìm ra nhà xưa đâu nữa. Rời Hà Nội mà không gặp ông
bà là điều tôi buồn lắm. Thật may cho tôi qúa!
Nhiều người qua lại ngó nghiêng nhìn hai người
tây, ta đứng nói chuyện tự nhiên như là sự lạ. Có người xán lại nghe hóng
chuyện. Ông Thanh hơi sượng chưa biết xử trí làm sao. Ông khách vui vẻ chỉ chiếc ghế đá ven hồ :
- Nếu ông không vội, tôi xin phép được ngồi
với ông ít phút bên bờ hồ Hoàn Kiếm đầy thơ mộng còn để lại trong tôi nhiều kỷ
niệm vui buồn.
Không thể từ chối lời mời ấy được.
Hai người ngồi nói chuyện suông khá lâu:
- Tôi để bà nhà tôi vào Sài Gòn buôn bán,
tưởng chỉ có hai năm như Hiệp định Genève quy định. Ai ngờ chẳng mấy chốc đã
gần hết một đời người!
- Ông không bao giờ thành nhà chính trị bởi
tính thật thà cả tin dù là đáng qúy. Tôi vẫn làm nghề báo. Dạo ông Diệm chết,
tôi có qua Sài Gòn. Cái chết của ông ta là tấn bi kịch của người tham vọng lớn
mà không lượng sức mình. Cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự ra đi thỏa mãn
của một vĩ nhân! Những ngày qua, tôi được chứng kiến lòng yêu mến và tiếc
thương của người Việt Nam với vị lãnh tụ của mình. Đó là lời giải đáp cho tôi
nỗi thắc mắc lâu nay: Cụ Hồ có phép lạ gì để người ta mến mộ, tin tưởng tới mức
sùng kính thế? Người lính chiến xông vào nơi lửa đạn, người chiến sỹ bước ra
pháp trường, thậm chí cả những người đồng chí của Cụ bị xử án oan sai nghiệt
ngã, trước khi ngã xuống đều hô to lên “Hồ Chí Minh muôn năm!”, như lời cầu nguyện cuối cùng hướng tới một
vị thánh minh bất tử!
Trong câu chuyện, hai người đều tránh né chạm
đến lòng tự trọng công dân là điều nhạy cảm và tế nhị.
- Thật khó hiểu Cụ Hồ là người quốc gia hay
cộng sản? Nói thật công bằng, chính người Pháp chúng tôi đẩy anh thanh niên
Nguyễn Tất Thành đến với Quốc tế Ba, trong khi người Việt Nam hướng tới Nguyễn Ái
Quốc với một niềm hy vọng lớn vào một nhà yêu nước mang sinh khí mới cởi mở và
nồng nhiệt. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà người Pháp dính líu vào là hoàn toàn
vô ích, bởi đầu óc ngu xuẩn của mấy viên tướng nghênh ngang háo thắng với chiến
công đi theo quân đội Đồng minh về giải phóng tổ quốc mình từ tay phát xít Đức.
Nó đã xóa bỏ đi tất cả những gì người Pháp làm được ở đây, ngoại trừ cả những
điều tệ hại!
- Không đâu! Còn nhiều dấu tích văn minh Pháp
vẫn có giá trị ở đây… Ông Thanh khoát tay vòng rộng quanh hồ và các phố
phường:… Đấy là những cái thấy được. Có lẽ ở Á châu này, Việt Nam là mảnh đất
thích hợp nhất cho nền văn hóa Pháp thâm nhập và phát triển. Chỉ cần một sự
khai thông với tinh thần Tự do–Bình đẳng–Bác ái rất hợp với giáo lý Phật giáo Từ–Bi–Hỉ–Xả đã thấm sâu
vào tiềm thức người Việt từ nguồn cội.
- Ông nói đúng! Cụ Hồ chống sự chiếm đóng của
chúng tôi nhưng Cụ không mảy may có sự kỳ thị hoặc bài bác truyền thống Pháp và
nhân dân Pháp. Cụ còn để lại mối thiện cảm ở nhiều người, kể cả những nhân vật
có uy tín và ảnh hưởng lớn trong xã hội Pháp đương thời. Song có một điều tôi
chưa lý giải nổi ở con người kỳ lạ này có sự bất nhất hay không?
Ông Thanh nghi ngại nhìn thẳng vào người đang
ngồi trước mình. Ông tây nói chậm rãi, rõ ràng vơí vẻ mặt nghiêm túc:
- Tôi muốn tìm hiểu sự thật với tư cách của
một phóng viên moi tư liệu, cũng là việc làm có ích cho người viết sử sau này.
Nhưng… Xin lỗi… Người Việt Nam bây giờ dường như chuyện gì cũng có thể lôi vào
chính trị. Ít ra cũng là với người ngoại quốc chúng tôi.
- Tôi sẵn sàng nghe lời ông nói! – Ông Thanh
ôn tồn.
- Trong giao tiếp, Cụ Hồ tạo được ấn tượng về
một con người khả ái: học thức, thông minh, nhạy cảm, giản dị, khiêm nhường…
rất hấp dẫn. Nhưng dường như Cụ hài lòng với sự sùng bái cá nhân mình? Hiếm có
nhà lãnh đạo nào trên thế giới dù là sự nghiệp của họ lớn tới đâu nhận được sự
tôn vinh đến thế! Tại sao các ông suy tôn Cụ là “cha già dân tộc”, khác với bao nhiêu bậc tiền bối như các vị vua, các văn nhân, danh
tướng trong lịch sử cũng anh hào hiển hách với những chiến công lẫy lừng vang
dội? Trong khi các ông vẫn nói giữ nước là truyền thống và là trách nhiệm của
mỗi công dân!
Ông Thanh thở phào như trút ra gánh nặng nhưng
ông im lặng nhìn xa xăm trên mặt hồ sóng nước lăn tăn. Ông bạn tây tiếp tục nói
ra điều suy nghĩ của mình:
- Bây giờ, người ta công bố ướp thi hài Cụ để
lưu truyền hậu thế, có là trái với truyền thống văn hóa phương Đông? Tôi được
biết, người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Phật giáo và Nho giáo, rất
kiêng kỵ sự phô bày huyễn thể. Tất cả các bậc vua chúa qua đời, dù có xây lăng
tẩm cầu kỳ nguy nga biết mấy nhưng vẫn dấu biệt tăm nơi đặt di cốt của mình.
Thậm chí họ không từ việc làm dã man hơn cả thực dân (!) là chôn sống theo
những người hầu và đội quân tùy táng, cũng nhằm một việc giữ bí mật muôn đời!
Từ thời cổ đại, thi thể của các pharaon được người Ai Cập dù có kỹ thuật ướp xác rất tinh vi nhưng vẫn dấu kín
trong các kim tự tháp. Hàng ngàn năm sau, người ta mới tình cờ phát hiện ra ở
đâu đó sâu trong lòng đất một cung điện ngầm của các ông hoàng bà chúa hay là
các bậc công-hầu-khanh-tướng. Xem ra việc này có hợp với đạo lý, triết lý và
tâm lý Á Đông không?
- Dù nhiều năm sống ở phương tây nhưng tâm hồn
Cụ vẫn đậm nét Á đông. Khi viết di chúc
lúc trí tụê còn sáng suốt thì tiền hậu soi xét nghiêm cẩn lắm chứ? Đấy là ý của
người sống thôi! Dù sao Cụ Hồ đã đặt một dấu ấn vô cùng sâu đậm trong lòng nhân
dân cả nước chúng tôi.
Ông Debue nhìn người quen cũ vẻ tin cậy :
- Cho phép tôi được coi ông như người bạn thân
tình. Tôi đã từng vào lăng mộ Lénine, Staline, Dimitrov. Phải chăng đó là niềm
tự hào của một nửa thế giới hiện hữu? Con người đã tồn tại hàng vạn, hàng triệu
năm. Từ con tinh tinh biết đi bằng hai chân đến con người bay vào vũ trụ đã có
bao nhiêu biến động lớn lao? Việc biết dùng lửa đã vĩnh viễn tách loài người ra
khỏi loài muông thú, có là cuộc cách mạng cực kỳ vĩ đại được không? Giá như các
bậc tiền nhân từ thời dã sử ấy cũng để lại cho chúng ta một di hình… Làm sao
văn hóa nhân loại có được hình ảnh vị Thần lửa tuyệt vời bi thương mà kiêu
dũng?
Nắm tay người quen cũ, ông Thanh chân thật :
- Cụ Hồ như vị cứu tinh vì có công đầu trong
việc phục hưng tổ quốc chúng tôi thời nay! Từ lòng tôn kính tới sự sùng bái khó
phân biệt được. Trong qúa khứ, chúng tôi từng có Đức Thánh Gióng, Thánh Trần.
Khi mọi sự dần lùi xa vào dĩ vãng, người ta sẽ bình tâm đánh giá vô tư công lao
của các bậc anh hùng hào kiệt trong từng thời kỳ lịch sử. Đó là những vĩ nhân.
Hậu thế đều tự hào và tôn vinh các vị!
Ông Debue tỏ ý thông cảm với cố nhân
- Hình như cuộc đời của bậc vĩ nhân nào cũng
đầy bi kịch? Và Cụ Hồ đã thể hiện rõ tài khôn khéo vượt qua bao mối hiểm nguy
trong suốt cuộc đời hoạt động thăng trầm, lúc đơn thương độc mã bị nghi ngờ, cô
lập cũng như lúc trở thành lãnh tụ tối cao được nhân dân mình tin cậy mà Cụ vẫn
luôn phải giữ mình. Phải chăng nhiều năm cuối đời Cụ chỉ còn là biểu tượng?!
Suốt cuộc đời hoạt động của Người luôn có đối thủ mà không có kẻ thù! Các ông
xứng đáng tự hào có một vị lãnh tụ hiếm hoi như thế! Dù người ta đề cao vai trò
lịch sử của cộng đồng nhưng vinh quang đời đời thuộc về các vĩ nhân!
Trở về thực tại, người phóng viên già từng là
một viên quan thực dân trầm ngâm suy lý:
- Nước
Pháp đã để mất Việt Nam vì óc thiển cận và không thực tế. Người Mỹ nổi tiếng là
thức thời, thực dụng mà vẫn trượt theo vết xe đổ của chúng tôi! Họ không muốn
mất mặt để những người cộng sản làm gai mắt họ, đã thổi bùng lên ngọn lửa chiến
tranh ở đây. Đó là sự coi thường ý thức dân tộc ở một quốc gia có truyền thống
chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự chủ. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt
Nam và những người theo họ có cơ sở lịch sử đặc biệt riêng mà lúc đầu chúng tôi
chưa nhận ra nên phải chuốc lấy những điều cay đắng. Cuộc kháng chiến trường kỳ
của các ông trở thành biểu tượng cho tinh thần đấu tranh vì tự do và công lý. Yankee càng cô lập và không thắng được.
- Không riêng gì người Mỹ đâu. Hình như đó là
bản chất của những kẻ ỷ vào sức mạnh, quen lấy thịt đè người. Phải có bài học đích đáng thì họ mới mở mắt ra. Trong khi chúng tôi không muốn thế!
Hai người cùng im lặng nhìn ra Tháp Rùa, lá cờ
đỏ sao vàng với giải băng tang phơ phất buồn thiu. Nhà báo Pháp chia sẻ:
- Các ông sẽ chiến thắng! Tuy nhiên cuộc chiến
tranh nào cũng kết thúc ở một quyết chiến điểm cuối cùng. Liệu có một Điện Biên
Phủ nữa không và nó sẽ xảy ra ở đâu?
- Năm ngoái ở Sài Gòn là đêm trước. Tại đất
Thăng Long này của chúng tôi từng không
chỉ có một trận Đống Đa!
- Tôi thật sự kính phục những người yêu nước
Việt Nam. Nếu ở hoàn cảnh ấy, tôi cũng đi theo Cụ Hồ dù rằng tôi không tin có
một xã hội cộng sản trên trái đất này. Nó không khác gì cõi trời của các tôn
giáo. Giả như thật sự có kiếp luân hồi thì ai cũng mong lại được trở về trần
thế làm người, dù rằng phải chịu sự bất công. Bất công vừa là đối tượng để loại
trừ vừa là sản phẩm của mọi xã hội !
- Tuy nhiên, trên đời này không điều gì bất
công, nhục nhã hơn là dân vong quốc! Từ trong lịch sử, chúng tôi nhận ra rằng không có sự yên ổn và
bình đẳng cho những kẻ ươn hèn, khiếp nhược và đam mê vị kỷ. Thời
gian hơn thế kỷ kể từ ngày các ông đến đây, chúng tôi chỉ làm một việc đòi lại
những gì vốn là của mình đã mất và đeo đuổi tới cùng! Xong rồi, trao lại cho
lớp hậu sinh. Họ sẽ tự biết làm gì để tồn tại được. Phải chăng bởi định mệnh mà
ôû xöù AÙ ñoâng naøy, giới sỹ phu phöông Baéc,
phöông Nam, dù nền văn hóa có nhiều nét tương đồng
nhưng kẻ sỹ mỗi nơi moät khaùc. Ñaáng trượng phu Hoa Hạ lấy điều nhân–trí–dũng laäp thaân để
đạt chí bình thiên hạ
mưu sự đế vương, trong khi caùc baäc toân
tröôûng cuûa chúng tôi lấy điều liêm sỷ làm trọng –
Sống trong sạch và không ươn hèn, trước giữ được mình, sau là giữ nhà giữ nước!
- Dường như lịch sử có bất công với dân tộc
của ông và xin ông thứ lỗi, hình như cuộc đời cũng thiếu công bằng với những
người như ông bà?! Tôi để nhiều thời gian đọc Phật, thấy rằng người Việt Nam
rất coi trọng chữ Nghiệp trong thuyết
luân hồi nhân-quả. Họ sống thật từ-bi-hỷ-xả!
Cả hai người đều cảm thấy có ánh mắt khác lạ
nhìn mình. Họ chia tay nhau trong lưu luyến. Hai người đứng lên, ông Debus còn
nắm tay người thuộc cấp, người ân nhân cũ, dùng dằng:
- Nước Pháp có mặt ở Việt Nam non thế kỷ. Tôi
cũng để lại một phần đời quan trọng ở đây. Chúng tôi đã gây cho các ông nhiều
điều dở nhưng cũng làm được không ít điều hay…
Ông ta thở dài:
- Lẽ ra phải là nhiều điều hay hơn nữa! Chúng
tôi tự hào là người phương tây hiểu người Việt Nam hơn hết…
Với ánh mắt thân thiện nhìn người đối diện,
giọng ông trầm xuống cảm động:
- Trong bộ sưu tập của tôi vẫn lưu giữ một con
cà cuống ướp bà nhà cho ngày ấy. Bây giờ nhiều người không biết đã từng có ở
đây một loại côn trùng có cánh được coi như sản vật cho thứ hương liệu qúy như
thế nữa đâu. Thật đáng tiếc, cái được, cái mất của các ông đều rất lớn!
Khi ông tây đang bước sang đường, ông Thanh
vừa đặt tay lên chiếc xe đạp của mình thì một người lạ xáp tới, chìa ra tấm thẻ
đỏ, nói như ra lệnh:
- Anh theo tôi về đồn công an!
Tại đồn Hàng Trống, sau khi xem các giấy tờ,
người công an nghiêm giọng hỏi:
- Thằng tây đó là người nước nào?
- Ông ta là người Pháp!
- Anh quen họ từ bao giờ?
- Từ trước Cách mạng tháng Tám, chúng tôi làm
việc với nhau. Nói đúng thì ông ta là chef của tôi. Sau đó ông ta về Pháp, làm nghề viết báo. Năm 1954 chúng tôi
gặp nhau ở Điện Biên Phủ. Bây giờ ông ta qua đây để đưa tin về tang lễ Hồ Chủ
tịch. Tình cờ chúng tôi gặp nhau bên Bờ Hồ!
Thái độ anh công an dịu đi nhưng còn hỏi gặng:
- Đồng chí có biết chỉ thị của tổ chức không
cho ai tự tiện tiếp xúc, quan hệ với bất cứ người nước ngoài nào không?
- Nếu đồng chí ở hoàn cảnh của tôi liệu có thể
lờ tịt đi được không? Trong khi mình là người chủ của một quốc gia văn minh,
lịch sự, đàng hoàng! Chẳng lẽ tôi dắt người ta vào đồn công an?!
Anh ta đuối lý nhưng còn hỏi vuốt:
- Thế nó nói những chuyện gì mà lâu thế?
Ông Thanh cười:
- Ông ta ca ngợi Hồ Chủ tịch là vĩ nhân hiếm
có trên thế giới và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta nhất định thắng
lợi hoàn toàn như lời Bác trong Di chúc!
Anh ta vui vẻ trả lại giấy tờ, bắt tay và
không quên dặn dò:
- Đồng chí cần rút kinh nghiệm lần sau!
Ông Thanh thở dài chua chát:
- Sẽ không có lần sau nào nữa đâu!
Ba ngày sau, ông Bí thư Đảng bộ cơ quan gọi
riêng ông Thanh lên hỏi cặn kẽ về mối quan hệ với người nước ngoài và bảo ông
viết Bản tường trình báo cáo trước
chi bộ rõ.
ô
Trụ sở Quận ủy mấy hôm nay xem ra khác thường. Ngoài các cán bộ chủ chốt
ở cơ sở từ xã tới huyện, còn có nhiều cán bộ quan trọng cấp thành và một số
ban, ngành của Trung ương về dự. Cuộc họp diễn ra căng thẳng, biểu hiện trên
nét mặt khó đăm đăm của từng người. Đây là hội nghị điểm của toàn thành, tập
trung phê phán một quan điểm hữu khuynh trong tổ chức lao động nông nghiệp,
đang có xu hướng phát triển rộng ra trên phạm vi cả nước.
Bí thư huyện ủy Bùi Công Bình là người phải
đứng ra giải đáp và hứng chịu mọi lời công kích, thậm chí gay gắt nặng nề từ
nhiều phía. Đứng trên hàng ghế chủ tọa mà mặt anh tái đi, giọng anh run run vẻ
thiếu tự chủ:
- Thưa các đồng chí! Chúng tôi là một huyện
ngoại thành. Cư dân sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp. Trước đây đa
phần trồng cây lương thực, thực phẩm và rau màu. Mấy năm lại đây, để phục vụ
nhu cầu phát triển của thành phố, diện tích canh tác dần thu hẹp lại, dành đất
cho phát triển công nghiệp. Bình quân đất sản xuất cho một đầu người vốn đã
thấp, giờ còn lại chẳng bao nhiêu, trong khi nhân khẩu ngày cứ đông lên nhanh
chóng. Ruộng càng ít, người ăn càng nhiều mà sản xuất thì trì trệ, năng xuất ậm
ạch không đẩy lên được mà yêu cầu đóng góp sức người, sức của với nông dân ngày
càng nhiều hơn. Cho nên đời sống từng hộ dân sa sút tới mức báo động!
Một cán bộ cấp trên ngắt ngang lời anh:
- Đồng chí nói thế nào? Trên giấy tờ sổ sách,
bình quân số điểm công lao động tính cho mỗi đầu xã viên hàng năm đều tăng!
- Những điểm ấy chỉ có giá trị trên danh
nghĩa. Còn trên thực tế, giá trị hàng hóa của một công lao động giảm sút thảm
hại. Những năm trước tổng số điểm cho một lao động trong một vụ chỉ bằng một
phần ba so với những vụ sau này nhưng thu nhập thực tế lại gấp ba lần. Thành ra
số điểm thấy nhiều thật đấy nhưng thu nhập thực tế thì giảm tới mức nhà nào
cũng thiếu ăn trầm trọng!
- Tại sao?
- Tại vì bất cứ việc gì xã viên đã nhúng tay
vào đều phải tính điểm cho bà con. Một sào ruộng cần năm người gặt, tính công
một ngày mười điểm, sẽ thành năm mươi điểm. Nhưng điều mười người gặt sẽ gấp
đôi lên thành một trăm điểm mà sản phẩm vẫn y nguyên! Hai người đẩy một xe lúa
về kho, hợp tác xã tính bấy nhiêu điểm. Bốn năm người bu lại cũng đẩy xe lúa
ấy, số điểm cứ thế nhân lên. Mà lượng lúa có tăng thêm chút nào đâu!
- Tại sao có sự bất hợp lý như thế?
- Công việc tập thể chỉ có vậy mà số người lao
động dư thừa nhưng vẫn phải bảo đảm cho xã viên có công việc làm mỗi ngày thì
họ mới có ăn!
- Các đồng chí có điều chỉnh lao động cho cân
đối với khu vực khác không?
- Lúc trước bà con xã viên tích cực chăn nuôi
lắm. Nhưng do ta không có vốn hỗ trợ và thiếu chính sách động viên khuyến khích
cụ thể nên dần dần bà con ngãng ra.
- Lý do?
- Hợp tác xã bổ cho mỗi hộ hàng năm phải sản
xuất được bây nhiêu kilôgam thịt lợn, bây nhiêu con gà, con vịt… Nhưng Hợp tác
xã không bỏ vốn cho xã viên mua con giống, không hỗ trợ tiền mua thức ăn, mua
thuốc thú y. Xã viên phải móc hầu bao ra, phải bớt phần ăn dành nuôi con vật.
Nhưng đến khi Nhà nước thu mua thì giá mua đã rẻ như bèo mà anh cán bộ thu mua
còn trổ mẹo vặt cân gian cho giảm trọng con vật xuống! Bà con bị ép ba bốn bề,
bảo “mua như cướp!”. Đã thế cháo
ăn xong mà tiền không trao xòng phẳng!
Lâu lâu thương nghiệp mới có hàng đối lưu thanh toán bằng chiếc khăn, mảnh vải
may quần thì ngắn, may áo thì chật, làm chăn thì ấm trên lạnh dưới, kín dưới hở
trên! Một số hàng nhu yếu phẩm đến tay nông dân đã như hàng chợ chiều mà cũng
không đủ bù cho nhu cầu sinh hoạt. Bà con vẫn phải chạy ra chợ trời mua với giá
cắt cổ trong khi sản phẩm của họ làm ra lại được thương nghiệp phân phối, “bán
như cho” ở khu vực hưởng lương cố định! Bà con bảo thằng còng làm cho
thằng ngay ăn là như thế!
- Vậy là công tác giáo dục chính trị, ý thức
xây dựng chính quyền công–nông liên minh của Đảng bộ còn yếu qúa!
Một chủ nhiệm hợp tác xã phân bua:
- Năm ngoái, gặp dịch lợn đóng dấu và gà rù. Chăn nuôi xơ
xác nhưng Nhà nước chỉ giảm nghĩa vụ cho
các Hợp tác xã phần nào. Con lợn, con gà, con vịt nào sống sót phải giao nộp
sạch. Nhà có giỗ không kiếm đâu ra miếng thịt làm mâm cơm cúng! Chúng tôi hiểu
bà con khổ nhưng ở thế trên đe dưới búa, không biết làm sao, chỉ biết dỏng tai ra nghe chửi! Chiều hôm qua,
trời mưa, một chiếc xe của các vị cấp trên xuống dự họp bị sa lầy, tài xế nổ
máy rầm rầm mà bánh xe cứ quay tít, nước bắn ra tung tóe, còn xe vẫn không nhúc
nhích. Tôi hò khản cả cổ chẳng có ma nào ra phụ đẩy xe đâu. Đến lúc tôi hô ai
ra đẩy xe ghi cho một điểm thì người ta hò nhau xúm vào dù không cần đông người
đến thế. Thế là Hợp tác mất toi gần hai mươi điểm! Bà con biết cả đấy nhưng họ
bảo chả lẽ ông chủ hầu không
công cho đầy tớ à? Họ nói cho
hả, chứ thực ra là móc tiền từ túi quần bỏ lên túi áo thôi, chứ bản thân mình
có được gì đâu!
Anh Bình lấy lại bình tĩnh, trình bày mạch
lạc:
- Thưa các đồng chí! Sản xuất nông nghiệp mà
làm theo giờ hành chính như công nhân nhà máy. Sáu giờ đánh kẻng nhưng xã viên
í ới gọi nhau, người này trông người nọ. Đợi cho đủ mặt mới giao công việc. Cãi
nhau một thôi việc nặng, việc nhẹ và cân đối điểm sao cho hợp lý. Sáng trưng
rồi mới lững thững dắt nhau ra đồng, bước chân xuống ruộng là lúc ông mặt trời
cười khẩy! Làm chưa tới đâu đã nghỉ giải lao. Chén nước, điếu thuốc, chuyện
trên trời dưới đất chán chê, tổ trưởng gào lên còn bị cự, lôi được xã viên
xuống ruộng thì mặt trời đã rọi thẳng xuống lưng rồi! Kẻng nghỉ vừa nổi lên,
chẳng ai bảo ai ù té chạy về lo việc nhà mình. Tối nào cũng họp bình công chấm điểm tới khuya, cãi cọ nhau um xùm không ai chịu
ai. Nhìn mảnh ruộng tập thể với mảnh ruộng phần trăm dành cho từng hộ giống như
bà già sắp xuống lỗ so với cô gái dậy thì! Không thể lấy áp lực chính quyền
cưỡng chế bà con được.
- Thế là các đồng chí bó tay!
- Chúng tôi không chịu bó tay mới tìm giải pháp
thích hợp.
- Là giao khoán Hợp tác xã cho nông dân ?
- Không! Mọi tài sản vẫn là của tập thể. Chúng
tôi chỉ khoán sản phẩm thôi. Mỗi xã viên
có trách nhiệm giao nộp cho tập thể sản lượng qui định trên mảnh ruộng được
giao. Thiếu bù. Dư hưởng. Không mất công điều hành những chuyện lặt vặt. Hợp
tác chỉ lo các khâu chính như giống má, thủy lợi, điều tiết sức kéo sao cho hợp
lý, cân đối thuế khóa và tích luỹ.
- Kết quả là sao?
Anh Bình phấn chấn lên:
- Mọi chuyện trở nên nhẹ nhõm! Ai cũng tranh
được nhận thêm bất cần ruộng xa, đất xấu. Mỗi hộ xã viên tự lo tròn phần việc
của mình. Số lao động dư thừa bà con tự bày việc ra làm.
- Kể cả việc cho xã viên chạy chợ làm rối loạn
thị trường?
- Bà con không chạy chợ thì đã có khối người
lập chợ rồi. Bà con đi bán những sản phẩm làm thêm được. Chẳng lẽ là thị trường
tự do mà không cho xã viên được chen vào?
- Làm như vậy năng xuất có tăng không?
- Dĩ nhiên là có!
- Tại sao sản lượng chung của Hợp tác xã không
tăng?
- Sản lượng chung không giảm so với chất lượng
điền thổ cụ thể nhưng mỗi hộ nông dân tăng tích luỹ, đời sống dễ thở hơn. Tập
thể không phải lo bù đắp bao đồng.
- Với các hộ chính sách thì sao?
- Không phải hộ chính sách nào cũng khó khăn
đâu, tuy nhiên vẫn được ưu tiên ruộng tốt. Chúng tôi quan tâm tất cả những hộ
neo đơn cần giúp đỡ và có kế hoạch hỗ trợ về nhân lực hoặc giảm nhẹ, miễn trừ
đóng góp tuỳ theo gia cảnh.
- Hiệu quả cụ thể?
- Xã viên phấn khởi, âm thầm thi đua nhau sản
xuất tăng gia, làm thêm được nhiều sản phẩm phụ.
- Những sản phẩm phụ ấy Hợp tác xã có quản lý
không?
- Không! Bà con được tự do tiêu thụ để giải
quyết nhu cầu thiết yếu gia đình mà tập thể chưa lo cho họ được. Nhờ thế nhiều
khó khăn trước đây do tự mình gây ra được khắc phục. Nhiều diện tích hoang hóa
được phục hồi, khai thác. Sớm tinh mơ cho đến lúc mặt trời khuất dạng vẫn thấy
bóng người cặm cụi ngoài đồng. Vật nuôi, đấu gạo, nải chuối, trái cây, thúng
khoai, rổ ngô… gom nhặt được mang đi trao đổi. Làng xóm không còn thấy cảnh chỗ
này chỗ nọ túm tụm bàn tán sanh nạnh với nhau trong khi hũ gạo ở nhà trơ đáy.
Lo cho thửa lúa vạt khoai nhà mình chưa xong còn hơi sức đâu đi móc máy nhau
nữa? Số hộ túng thiếu giảm hẳn!
- Các đồng chí dựa vào đâu mà chuyển đổi cơ
chế làm ăn tập thể?
Các vị cán bộ địa phương nhìn nhau và dồn mắt
vào người đứng mũi chịu sào. Anh Bình phải trả lời tất cả:
- Chúng tôi học tập và tổ chức tham quan ở
tỉnh bạn… Thấy hay!
Mấy cái đầu chụm lại thì thào:
- Nói ra làm gì? Ông Kim Ngọc trên Vĩnh Phú
đang bị sờ gáy rồi đấy!
- Ý kiến chung của lãnh đạo Đảng bộ có nhất trí
cả không?
- Lúc đầu ý kiến chưa nhất trí cao. Nhưng qua
làm điểm ở một hai cơ sở thấy chuyển biến tốt. Chưa đúc kết kinh nghiệm để phổ
biến rộng ra thì nhiều nơi đã thi nhau hưởng ứng. Lãnh đạo được bà con tin
tưởng. Phấn khởi bước đầu, chúng tôi dự định sơ kết và báo cáo với trên.
- Nhưng các đồng chí có thấy việc làm ấy là
trái quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa và sai nguyên tắc tổ chức hay không?
Anh Bình cứng cỏi:
- Nguyên tắc nào, quy luật nào cũng xuất phát
từ thực tiễn cuộc sống. Hàng chục năm nay ta cứ loay hoay với cái mô hình xa
lạ, không thích hợp với thực tế ở nông thôn mình, hậu quả là sản xuất đình đốn,
đời sống nông dân ngày càng thắt ngặt nhưng không ai dám nói thật ra. Trái hẳn
với những báo cáo gom nhặt bao nhiêu thành tích khống, được lòng cấp trên mà
nông dân càng khổ.
- Vậy là xưa nay, lúc khó khăn cũng như lúc
thuận lợi, các đồng chí đều báo cáo sai sự thật?
Một đồng sự của anh Bình hăng hái đứng lên:
- Nói toàn đảng bộ nhất trí là không đúng. Có
người không tán thành nhưng là thiểu số!
Hội nghị tranh cãi kịch liệt. Ý kiến phản bác
quan điểm của anh Bình lúc một nhiều hơn, thậm chí gay gắt nặng nề:
- Nông dân ta xa lạ với làm ăn tập thể là đúng
qúa rồi! Họ chỉ quen làm ăn cá thể với cái lợi cỏn con trước mắt. Người lãnh
đạo phải biết giáo dục và tổ chức quần chúng đi đúng đường lối và chủ trương
của Đảng thì mới đưa nông thôn tiến lên được. Mọi người phải biết lo cho nhau
với tinh thần “Mọi người vì mỗi người – mỗi người vì mọi người!”. Không được để xảy ra tình trạng sống chết mặc bay tái
diễn !
Anh Bình cũng gay gắt lại:
- Tôi nghĩ rằng nhân dân giáo dục chúng ta chứ
không phải là chúng ta giáo dục nhân dân. Chính vì suy nghĩ lệch lạc như thế
nên lâu nay chúng ta khiên cưỡng nhân dân. Đường lối chủ trương của lãnh đạo
phải dựa trên cơ sở thực tế và nguyện vọng chính đáng của nhân dân mới có sức
sống và thành công được. Chúng ta đã có qúa đủ thời gian kiểm chứng để đánh giá
đúng hiệu quả sự chỉ đạo của mình. Thái độ quan liêu hoặc duy ý chí đều là
những hòn đá tảng trì kéo bước chân ta lại.
Một đồng sự chỉ thẳng vào anh :
- Anh công khai chỉ trích sự chỉ đạo của cấp
trên. Làm sao xứng đáng với sự tin tưởng của lãnh đạo và của tập thể nữa?
Anh Bình dần bị cô lập và không thể cãi lý nổi
với số đông người ngoài sự lặp đi lặp lại hãy lấy thực tế làm chuẩn để đánh giá
hiệu quả việc mình làm. Cuối cùng một cán bộ Trung ương đứng ra kết luận:
- Tiến lên xã hội chủ nghĩa là con đường không
thể đảo ngược. Chúng ta có những thắng lợi như ngày hôm nay là do Đảng ta đồng
thời giương cao hai ngọn cờ giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đó là thực tế kiểm chứng sự lãnh đạo của Trung ương có đúng đắn hay không. Mọi
hành động và lời nói phản bác lại thực tế ấy mới là cản trở cho bước đi lên của
xã hội ta. Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một khởi điểm rất thấp vơí những
tập quán lạc hậu, điều ấy ai cũng thấy. Cho nên mọi sự khó khăn vất vả là lẽ
đương nhiên. Người lãnh đạo trước hết phải không ngại khó thì mới có quyết tâm
cao, động viên và tổ chức quần chúng vượt mọi trở ngại tiến lên được. Kinh tế tập
thể là bản chất và cũng là sức mạnh vô địch của chủ nghĩa xã hội. Mau chóng đưa
quần chúng vào con đường làm ăn tập thể là điều kỳ diệu chỉ có Đảng ta mới làm
nổi, bởi lòng tin tuyệt đối của nhân dân đã gửi gắm vào một tập thể lãnh đạo
từng vượt qua nhiều thử thách cam go. Để quần chúng quay lại con đường làm ăn
cá thể là bước thụt lùi, phản qui luật, không thể chấp nhận được. Đáng tiếc là
chỉ có ý kiến nông nổi của một vài đồng chí thiển cận, dù là ở đây hoặc ở nơi
nào đó, mà tập thể một Đảng bộ dễ dàng thúc thủ, giảm sút ý chí đấu tranh, có
thái độ hữu khuynh trong chỉ đạo, trái với tinh thần nghị quyết Trung ương. Ý
thức hợp tác là nhà, xã viên là chủ thế nào mà để xảy ra chuyện rong công phóng
điểm là trách nhiệm của ai? Cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc tập trung chỉ
đạo đẩy mạnh toàn diện tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, thật sự làm hậu
phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, làm nòng cốt xây dựng tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thành ủy phải có nhiệm vụ chấn chỉnh kịp thời những
lệch lạc ở đây và củng cố lại tổ chức đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt từ trên
xuống.
Ở góc cuối hội trường, mấy cái đầu cúi thấp
xuống, chụm lại thì thào:
- Miệng nhà quan có gang có thép,
cỡ mình cãi lý sao nổi?
- Thằng đổ mồ hôi thì đói! Kẻ văng nước miếng
thì no!
- Thế mới sinh ra một lũ thầy dùi để người ta
chỉ tay năm ngón!
- Là bài học đích đáng cho những anh thích cầm
đèn chạy trước ô tô. Tha hồ ngồi viết kiểm điểm mỏi tay!
- Coi như mọi sự rõ rồi, thả chúng con về kịp
cho cái gì vào bụng. Ngày xưa Bụt cũng không chịu thuyết pháp khi chúng sinh
đang đói nữa là. Lý luận xuông mãi rồi tới lúc cám cũng không có mà ăn đâu. Chỉ
dân khổ thôi chứ mấy cha có khổ đâu.
Dù bị ém chặt sau mỗi bàn tay che nhưng vẫn
bật lên những lời bực dọc khiến nhiều con mắt đổ dồn về phía mấy ông cán bộ xã
ngồi lọt thỏm ở phía sau.
Từ cuộc họp, anh Bình đi thẳng về nhà chú vợ.
Ông Thanh thấy cháu rể vẻ mệt mỏi và buồn bã hỏi :
- Tôi nghe xì xầm chuyện khoán sản, chưa hiểu thực chất thế nào?
Anh cháu rể thở dài, chán nản :
- Dù sao nước mình chủ yếu vẫn là nông nghiệp,
công cụ lạc hậu thì phương thức sản xuất làm sao tiên tiến được? Mọi gánh nặng
xã hội dồn lên vai người nông dân nhiều nhất. Có chút cải thiện nào dành cho họ
đâu bõ bèn gì! Chẳng lẽ đó là sự bình đẳng của mối liên minh giai cấp công-nông
sao? Phải phơi xương đổ máu, đói rét lầm than vì thằng giặc đành phải chịu.
Nhưng nói rằng người nông dân được làm chủ ruộng đồng, đã vắt kiệt mồ hôi ra mà
vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc thì không đổ lỗi cho ai được. Làm cách này
không xong phải bày cách khác, miễn sao cho họ đỡ khổ, lẽ ra phải mừng. Lại cứ
tay chuông, tay mõ, tụng nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng thì lấy gì ăn để tụng kinh mãi được? Chắc cháu phải chuyển công tác
khác!
Ông Thanh muốn chia sẻ với người cháu rể :
- Anh nói làm tôi nhớ tới một câu trong sách
Phật: “Đại chúng đừng nên tin vào những điều
người ta nói dù nó là kinh sách hay của bất kỳ ai. Hãy tin và làm những điều
mang lại lợi lạc quần sinh”. Tôi cứ
phân vân mãi đâu là duy tâm? đâu là duy vật?
ô
Giáo sư Bửu Quốc nhìn người học trò từng gắn bó với ông bấy nhiêu năm,
trong lòng dâng lên bao cảm xúc. Ông nhớ lại buổi chia tay ngày nào. Mấy năm mà
tưởng như mới đây thôi, hai người bạn tâm đắc của ông đã vĩnh viễn nằm lại trên
giải Trường Sơn! Còn lại con người tài hoa có thân phận đặc biệt này, dù thân
hình tiều tụy thế kia mà thoát được những trận B52 oanh kích dày đặc và những
trận sốt rét rừng dai dẳng trở về là may mắn lắm. Ông đề nghị được nhận bác sỹ
Đức Phúc về bệnh viện của ông để đồng nghiệp và học trò chăm sóc phục hồi sức
khỏe cho anh.
Lúc đầu, bác sỹ Đức Phúc đi cùng vị giáo sư
điều tra nghiên cứu các bệnh côn trùng, đặc biệt là bệnh sốt rét ở giải rừng
già phía tây. Ở mặt trận này, bộ đội kháo nhau là cơm Bắc–giặc Nam vì giáp với hậu phương lớn, sự tiếp tế hậu
cần đều đặn và nhanh, lính ta ít khi bị đói. Tuy nhiên, càng tiếp cận địa bàn
giao tranh mới thấy những khó khăn không kể hết. Cảm giác đầu tiên chung của
đoàn thầy trò là có tới đây mới hiểu được sự chi viện của hậu phương cho tiền
tuyến, lớn biết chừng nào. Những bạn trẻ quê ở nông thôn rơm rớm nước mắt kể
cho các thầy nghe:
- Vào đây mới biết bà con quê nhà vì sao phải
thắt lưng buộc bụng tới mức không còn xiết thêm được nữa! Giá như không có sự
viện trợ quốc tế chắc sức mình không kham nổi.
Đoàn chia ra làm hai bộ phận nghiên cứu dịch
tễ lâm sàng và dịch tễ côn trùng. Thầy trực tiếp dẫn một tổ đi vào những cánh
rừng sâu tìm hiểu những loại côn trùng gây bệnh. Bác sỹ Đức Phúc tới các bệnh
viện dã chiến, cùng các đồng nghiệp theo dõi diễn biến lâm sàng và tác dụng của
thuốc với từng giai đoạn. Thời kháng chiến chống Pháp, ở rừng sâu Việt Bắc, bom
đạn không ác liệt như bây giờ nhưng cơ sở y tế của ta nghèo lắm, thiếu thầy,
thiếu thuốc trầm trọng. Bệnh binh đang lên cơn rét, được uống chung bát nước
hòa mấy viên Quinine vàng rồi dìu ra bãi cỏ
vật nhau cho tới lúc mệt lử người, toát mồ hôi ra, nằm thở. Bây giờ tuy ta chưa
thể gọi là giàu nhưng thầy và thuốc cơ bản không thiếu lắm mà bệnh sốt rét
dường như biến tướng, tai quái hơn nhiều. Có lúc bệnh cảnh lâm sàng không biểu
hiện rõ ra, người lính cảm giác lừ đừ, uể oải, như người ốm vờ, bệnh giả nên để
đảm bảo quân số, cán bộ vẫn ép bám đoàn. Trên đường hành quân, có người mệt rũ,
lăn ra bên đường! Có người cố lê được tới chỗ dừng chân, vừa dựng xong tấm lều
tăng, ngồi bệt xuống không đứng lên
được nữa! Thậm chí có người vào trại bệnh, điều trị tưởng đã cắt cơn, chờ ngày
ra viện thì đột nhiên gục xuống lúc đang ngồi chơi bài tú lơ khơ. Kết thúc một mạng người chỉ được ghi mấy
câu chẩn đoán cuối cùng: Sốt rét ác tính! Thầy trò cùng trăn trở, mầy mò.
Một buổi sớm, trong căn hầm làm phòng thí
nghiệm, với chiếc kính hiển vi điện tử xách tay, thầy chăm chú xem trên tiêu
bản xác những con muỗi mà chiều hôm trước chính tay thầy bắt khi cởi trần ngồi
bên bờ suối làm mồi nhử cả một bầy. Những loạt bom từ máy bay B52 ào ào dội
xuống cánh rừng ấy.
Khi bác sỹ Đức Phúc được tin báo trở về thì
căn cứ tan hoang. Anh len lỏi cùng người dẫn đường ra viếng mộ thầy và đồng
đội. Những nấm mồ đất rừng đỏ lói lẫn với đám lá mục bở tơi, không một nén
hương, không một cành hoa. Ngày thầy được truy phong danh hiệu Anh hùng lao động, ngồi
trong giảng đường trường Đại học Y khoa quen thuộc, nhìn lên tấm ảnh thầy, anh
nhớ mãi đôi mắt sáng, đằm thắm, nhân hậu và trung thực, luôn đăm đăm nhìn về
phía trước. Anh biết không bao giờ thầy nghĩ tới sự vinh danh. Ước mơ của thầy
vừa đơn giản thiết thực vừa như chân trời khoa học vô biên. Thầy lo cho thân
phận từng con người hôm nay, vẫn nghĩ tới cuộc sống con người mai sau. Trên con
đường ấy, thầy âm thầm gạt đi những uẩn khúc trong lòng để hướng tới những điều
Chân–Thiện–Mỹ.
Bác sỹ Đức Phúc bám theo các bệnh viện dã
chiến hướng về phía trước, tới chiến khu miền Đông Nam Bộ. Sau tết Mậu Thân, vị
Bộ trưởng vào thị sát chiến trường cũng tới đây. Ông bước vào tuổi lục tuần
nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn và thể lực còn sung mãn. Vốn gốc tây học, có kiến
thức tổng hợp rộng và sâu nhưng ông mạnh dạn giải quyết mọi vấn đề thiết thực
với hoàn cảnh thực tế của đất nước. Ông năng nổ và làm việc miệt mài như người
tham công tiếc việc, chỉ sợ thiếu thời gian. Bác sỹ Đức Phúc với tư cách chuyên
viên cấp cao của một chuyên ngành, gặp vị lãnh đạo cao nhất của ngành trong
hoàn cảnh thật trớ trêu. Anh đau đớn thất vọng nhìn ống mẫu bệnh phẩm đen đặc.
Căn bệnh sốt rét ác tính thể đái ra huyết sắc tố ít người qua khỏi! Anh nhớ lại lời vị Bộ trưởng căn dặn lúc tiễn anh
đi trước: Căn bệnh sốt rét huỷ hoại sức chiến đấu của bộ đội còn hơn cả
những loại vũ khí tối tân. Thực tế,
anh còn nhận ra một điều tai nghiệt là nó lại dễ đánh qụy những người tráng
niên và khoẻ mạnh! Bộ đội có câu ví von truyền khẩu: Ăn B2–Ở B3–Ra B1. Thực ra chiến trường thì ở đâu cũng khổ! Hai năm, ở hai B, anh vĩnh biệt
hai người thầy lớn với lòng tiếc thương vô hạn. Anh không nỡ viện ra bất cứ lý
do nào để trở lại hậu phương mặc dù anh cảm thấy cơ thể mình cũng đang tàn tạ.
Nhân có đoàn cán bộ cấp cao về hậu phương hội nghị, tổ chức cử anh đi tháp tùng
bảo vệ sức khoẻ cùng với thiện chí tạo điều kiện kết hợp cho anh ra an dưỡng.
Anh nhận thấy ở nhiều bạn bè, đồng nghiệp tới
thăm một cảm giác vừa nể phục, vừa ngán ngại. Anh đã chứng kiến ở tiền tuyến
những ngày hứng khởi xuống đường của tết Mậu Thân và sau đó là những ngày vất
vả đối phó với sự phản kích quyết liệt của đối phương, tưởng như khó lòng gượng
dậy. Bây giờ về hậu phương, anh nhận thấy sự dốc sức cho tiền tuyến đã tới mức
qúa ư mệt mỏi, biểu lộ rõ trên sắc diện từng người.
Một thanh niên trong bộ đồ quân nhân nhàu cũ,
chân thấp chân cao khập khiễng bước vào phòng, nét mặt tươi tắn mà cử chỉ thì
lúng túng:
- Thưa bác sỹ có nhận ra cháu không?
Bác sỹ Đức Phúc tuột khỏi giường bệnh, nắm
chặt tay khách giật giật thân tình:
- Chắc đồng chí là một trong những thương bệnh
binh? Thông cảm cho mình, không sao nhớ hết.
Người thanh niên rụt rè đọc một đoạn thơ:
Mang thư này đến tận
nhà
Gió ơi chớ có la cà Trường Sơn
Mưa về nước ngập lên nương
Đừng cho thư phải gió sương ướt
nhòa
Bởi chưng mắt mẹ đã già
Đâu còn sáng được như là mắt ta…
Bác sỹ tươi lên :
- A! Nhà thơ trẻ Ngọc Thạch phải không? Ra
ngoài này mình bảo con mình chuyển ngay thư của cậu tới nhà!
Nét mặt người thanh niên sầm tối lại :
- Cảm ơn bác sỹ… Nhưng mẹ cháu không còn nữa
để đọc thư con!
Cậu ta là một trong số hiếm hoi chiến sỹ còn
sống sót trở về khi đơn vị mấy trăm chiến sỹ nhận lệnh đánh vào sân bay Tân Sơn
Nhất. Bị thương gãy chân, anh lính giải phóng được đồng bào cất giấu, thuốc men
và chuyển dần về tuyến sau. Vết thương chưa lành, người thương binh trẻ lại bị
đe dọa cướp đi mạng sống bởi những cơn sốt rét rừng ác nghiệt. Hai người biết
nhau trong hoàn cảnh ấy.
Cậu học sinh Hà Nội tốt nghiệp phổ thông, vì
những kỳ thị về lý lịch nên ở tuổi bước vào đời bị sống trong đố kỵ. Khi có
giấy gọi động viên, cậu coi như có dịp thể hiện mình vẫn bấy lâu nay âm ỉ. Là
lính phòng không, lúc nào người dưới đất cũng hiên ngang nhằm thẳng quân thù ở
trên trời mà bắn! Bị thương. Nhập viện
rồi ra viện. Cậu không muốn về đơn vị cũ nữa mà xin được ra tiền tuyến, chiến đấu mặt đối mặt với quân thù, cũng
là có dịp tung hoành đây đó vì cậu còn có mơ ước trở thành nhà văn, trước tiên
viết về người lính, về những thân phận bèo bọt như mình. Cậu được chuyển sang
lính cối và bổ xung ngay vào một đơn vị hành quân ra phía trước. Ở đâu cậu cũng
là hạt nhân văn nghệ, vui nhộn mà sâu săc. Hai tâm hồn nghệ sỹ dù chênh nhau về
tuổi tác và khác nhau về phận sự nhưng cùng quê, cùng cảnh nên dễ đồng cảm với
nhau. Cậu ta thổ lộ:
- Cha cháu cho cái tên Qúy Ngọc nhưng nghe
dung tục qúa nên cháu đổi một từ. Ngọc dễ lẩn mình trong đá.
Lúc chia tay mỗi người một ngả, cậu ta đưa cho
bác sỹ bài Thư gửi mẹ và dặn:
- Cháu coi như hết khả năng ra trận nhưng chưa
hết khả năng chiến đấu. Nếu bác sỹ được trở về hậu phương, xin chuyển giùm thư
này tới mẹ. Nếu như cháu được gặp sự may, cháu cũng sẽ tìm tới nhà bác sỹ, kể
lại cho gia đình nghe những ngày được sống chung với lòng kính trọng!
Có sống trong hoàn cảnh ấy mới cảm nhận được
sự may mắn đến với mỗi người. Một già một trẻ ôm nhau thân thiết. Anh thương
binh ngậm ngùi tâm sự :
- Cháu cạn nghĩ qúa! Tưởng giấu bặt tin cho mẹ
quen dần, bớt lo đi. Nào ngờ mẹ cháu mối lo càng nặng. Buồn! Theo người ta chạy
chợ trên sông. Một chuyến đi, gặp máy bay Mỹ là sát mặt sông. Người ta hoảng
hốt xô nhau. Đò đắm. Mẹ trôi đâu mất!
Bác sỹ im lặng, nhìn người lính trẻ như một sự
an ủi chân tình. Qua cơn xúc động, trở về thực tại, anh thương binh hỏi ý người
đi trước:
- Chị cháu là liệt sỹ. Hiện cháu còn bốn đứa
em. Cháu muốn đi làm, xin chân phụ việc cho một tờ báo chuyên ngành vì cháu đã
có mấy truyện ngắn được đăng. Gia cảnh châm chước được vì chị em cháu đã tự
viết lý lịch cho mình. Tay viết xem ra được bồi dưỡng
sẽ tiến bộ hơn. Đến buổi tổng duyệt cuối cùng, trình diện trước Ban biên tập.
Năm bà bảy chị ngồi quanh chiếc bàn lớn giữa nhà, hỏi cháu vài câu. Cuối cùng
họ bảo cháu đi diễu quanh phòng vài vòng nhanh chậm để kiểm tra sức khoẻ! Cháu
đi thử một vòng cho người ta ngắm, bỗng cảm thấy mình như khỉ làm trò, trong
đầu nóng lên bừng bừng, cháu cứng người, ưỡn ngực, xuôi tay, chân thấp chân cao
thẳng đờ, dập mạnh như đi duyệt binh ngày đại lễ. Chắc hẳn là bi hài lắm khiến
các bà các cô bịt miệng, người đỏ mặt lên, người tái mặt đi, người ngước lên
trần, người nhìn xuống đất, người hướng ra sân. Trong cơn kích động, cháu vung
tay hét toáng lên: “Quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược!”, rồi cứ thế bước qua cửa, đi thẳng ra
đường.
Anh nhìn bác sỹ tin cậy như con hỏi người cha
từng trải:
- Lúc này cháu xin bác sỹ một lời khuyên?
Bác sỹ nhìn anh thương binh đầy tâm trạng,
thấy thấp thoáng bóng hình xưa của mình. Ông nắm tay người bạn trẻ trao đổi
thân tình:
- Muốn làm gì, trước hết cần sống đã. Phải có
một nghề vững chắc để nuôi mình. Lấy nghề văn để kiếm sống, nếu không thành lái
chữ cũng thành thư lại. Văn thơ là sự đam mê, lấy cuộc đời là trường học. Biết rung
cảm và chia sẻ với những người bị ức hiếp, khổ đau và bất hạnh là nghệ thuật vị nhân
sinh. Người nghệ sỹ mạnh mẽ trong tư
duy nhưng yếu đuối khi chống đỡ. Ngòi bút sắc như gươm nhưng tấm thân nghệ sỹ
mong manh như lau sậy. May cho tôi sớm nhìn ra và còn được như hôm nay là nhờ
cái nghề cha mẹ đã hướng cho đi, vừa thiết thực vừa muôn thuở.
- Bác sỹ còn viết không?
- Tôi viết văn cũng như lấy vợ, như mối tơ
duyên tình cờ gặp gỡ giữa đường đời, đều ngang trái, gỡ được ra là thoát nợ.
Tôi không dám đa mang, để phần đời còn lại dấn thân vào công việc hợp với sức
mình. Văn chương chỉ còn là người trong mộng, đôi lúc cũng vấn vương thương nhớ mơ hồ.
Anh thương binh đưa ra tờ tuần báo Văn nghệ.
Bác sỹ chừng đã biết rồi, nhìn lướt qua rồi trao lại, chúm chím cười bình:
- Văn chương tưởng là thanh cao, tao nhã mà
nhiều khi bạc bẽo, phũ phàng. Nghĩ xuôi, nghĩ ngược, khen chê tùy lúc, tùy
người. Giá như ông Lành đây chỉ là một nhà thơ thì cây táo trong sân với những
cành rung rinh quả ngọt là nỗi ham mê thèm muốn níu chân bọn trẻ lại chớ cái tổ
kiến đen to tướng trên cây dù có tưởng như cái “đầu lâu đen” chúng cũng chẳng sợ để hù nhau bỏ chạy đi đâu. Bị nghi ngờ mượn chữ
biếm danh là thế. Phạm húy mấy
lần. Mượn văn phạm thượng, cái
dại mó dái ngựa ngày nào chưa giải đã vội quên đi, sao không mang vạ? Ngày xưa
cụ Nguyễn Du khen Từ Hải “Giang hồ
quen thói vẫy vùng / Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Mấy mươi năm sau vua Tự Đức xem đến còn đe
giữa trước triều: Nọc cổ nghỉ
ra đánh cho trăm trượng! Mấy người văn nghệ sỹ thời nào cũng dễ làm vật tế
thần!
- Vậy thì quan với nghệ sỹ ai sướng hơn ai?
- Làm quan thì được vinh thân phì gia mà gần
điều ác. Ngoài sướng một thời trong khổ một đời. Người nghệ sỹ chỉ biết sống vì
điều thiện là tự chuốc vào mình lắm điều bất hạnh mà được sống trọn một đời
thanh cao.
- Có những quan liêm và cả những nghệ sỹ quân
hầu?
- Đã như luật nhân sinh rồi. Bước chân vào
chốn quan trường là phải biết mình sẽ là thân nô lệ nhất trong những kẻ làm nô
lệ. Nghệ sỹ đích thực là người tự do nhất trong những kẻ tự do. Để thân mình
không bị ràng buộc vào ai cả cũng dễ mang họa. Nó như là cái nghiệp của đời
người. Tôi càng biết ơn cha mẹ đã chỉ cho theo một nghề thiện ác rạch ròi, muốn
làm kẻ nô lệ hay người tự do đều được.
Anh thương binh đứng dậy, cúi đầu cung kính:
- Con xin được làm học trò đúng nghĩa của
thầy!
Trước khi đi dưỡng sức và tu nghiệp chuyên môn
ở nước ngoài, bác sỹ được tổ chức hỏi ý kiến về những ngày đi thực tế ở tiền
phương. Dù là tiền hay hậu, mọi hoạt động đã như một guồng máy khổng
lồ đang vận hành. Những người tạo ra nó cũng không thể điều chỉnh được nữa,
huống chi ông. Mọi sự can thiệp vào đều bị nghiền nát đi thôi. Ông chỉ nói ra
vài nỗi ưu tư:
- Thật không lường hết những khó khăn gian khổ
của đồng nghiệp, lại càng thương và cảm phục sức chịu đựng của chiến sỹ mình.
Khó nói sự khen chê. Còn bám trụ được, vừa cầm súng, vừa phục vụ chiến đấu là
qúa giỏi. Tôi không đủ tầm để biết thắng lợi cuối cùng lúc nào sẽ đến. Dù sao,
từ thực tế tôi đã nhận ra: Sẽ là có tội nếu chỉ biết nghĩ cho riêng mình! Dù ở
đâu, những người chân chính vẫn phải vắt kiệt sức mình ra. Tôi chỉ biết làm
việc theo tấm gương của các thầy: Kẻ sỹ là giường cột quốc gia thì không được
câu nệ việc nào lớn nhỏ lúc vận nước thăng trầm. Tuy nhiên sự học không thể dễ
dãi xem thường. Nâng cao học vấn, đào tạo trí thức không thể làm như việc phong
hàm cho người lính ngoài trận mạc hoặc như một sự trả nghĩa, ban ơn. Phẩm hàm,
phẩm trật mà không tương xứng sẽ là điều lợi bất cập hại .
ô
Nhân Trí chán nản khi anh được phân công về một bệnh viện huyện. Lẽ ra
anh được đưa về xí nghiệp dược của tỉnh nhưng vì là người thành phố, lý lịch
rắc rối, lại không là đoàn viên nên cho về cơ sở để có
điều kiện rèn luyện và tu dưỡng! Anh chán chường, tưởng như món nợ vô hình tiền
kiếp cứ đeo đẳng suốt, lẵng nhẵng bám riết trì kéo lại. Ông Thanh thương con,
đem chuyện phiền than với ni cô Tuệ Tâm là chỗ quen biết gia đình từ lâu, được
nghe lời giải:
- Bởi thọ nghiệp từ kiếp trước. Bây giờ muốn sửa, phải tinh tấn tinh thần, tạo nghiệp lành mới mong cải được!
Vợ anh bên công giáo thì bảo bởi mắc tội tổ tông, phải siêng đi rửa tội mới mong được bề trên cứu rỗi.
Anh
chẳng biết nghe ai, cứ để xem sự thế xoay vần. Ngày anh cưới vợ, Cẩm Nhung bảo
em :
- Sao cậu cứ chui đầu vào rọ?
Nhưng cha anh không câu nệ điều đó, bảo con :
- Giấy rách phải giữ lấy lề là
mình phải giữ chứ đừng trông ai giữ hộ!
Ở đây, công việc cao nhất của một dược sỹ cao
cấp là chưng nước cất pha chế dung dịch mặn, ngọt. Sơ, trung, cao đều làm một
việc! Mang tiếng là bệnh viện nhưng nhân viên lèo tèo hơn chục người, bệnh nhân
cũng không đông hơn thế. Công việc loanh quanh luẩn quẩn chỉ có vậy thôi nên
càng thấy ngày dài đằng đẵng. Nhân viên đa phần người địa phương, thay nhau
tranh thủ về làm việc nhà. Tập thể khai phá đất đồi trồng rau, trồng sắn cải
thiện. Nhiệt tình trong anh lúc bước chân đi muốn làm nhiều việc song cứ xẹp
dần. Đọc sách mãi cũng chán. Anh buồn, nuôi chim. Chỗ làm việc của anh vừa là
nhà kho, vừa là nhà ở. Chung quanh treo mấy lồng chim gáy, sáo, chích chòe…
Nghe tiếng chim hót và nhìn nó nhảy nhót liu ríu cũng đỡ trống trải, bớt nhớ
nhà. Dăm tháng, đi phép về thành phố mấy ngày, trở lên, chim đói khát sù lông,
có con chết cứng. Không biết dồn nỗi buồn bực vào đâu, anh cau có, cấm cẳn lại
càng xa rời tập thể.
Cảnh này chịu mãi không nổi. Anh chờ đợi một
sự đổi thay dù sao cũng được.
Khi có lệnh trưng tập thực binh, gia đình lại chưa có ai mặc áo lính nên ở
cơ quan, tên anh đứng đầu trong danh sách động viên. Anh thở phào, cười tươi
như thoát nợ trước những con mắt dò dẫm của nhiều người. Tưởng anh thuộc loại
thanh niên chậm tiến, nếu không tìm cớ thoái thác thì cũng phải âu sầu ủ ê bi
quan lắm. Người ta kết nạp ngay anh vào Đoàn thanh niên, coi như gửi được một
đoàn viên ưu tú lên đường đi chiến đấu!
Anh về nhà trong lúc cậu em vợ anh cũng nhận
lệnh động viên vào quân đội. Ông bà dược sỹ ruột rối bời lên. Mấy người con lớn
đã gửi qua Paris học từ thời còn chiến tranh. Bởi Yên Thịnh và Quốc Anh còn
nhỏ, ông bà không muốn xa con. Nào ngờ chị em nó lỡ làng sự học. Quốc Anh có
khiếu nghệ thuật, tự tìm thầy học vẽ. Hết phổ thông, không được vào đại học, nó
đi lao động. Vì vẽ đẹp đàn hay, nó được xung vào Ban văn nghệ thanh niên,
chuyên đi phục vụ các phong trào xã hội. Mấy năm làm việc với khoản phụ cấp tùy
theo công việc, túi bụi mà cũng vui. Thằng bé vô tư, làm việc xốc vác và không
thấy chán. Nhờ địa phương có cảm tình, giới thiệu, Quốc Anh thi được vào học
trường Mỹ thuật. Mới tới năm thứ ba thì gặp phong trào thanh niên sinh viên
nhập ngũ.
Một lúc cả con trai, con rể đều lên đường tòng
quân. Ông bà dược sỹ Bảo Toàn chạy tới thông gia. Ông Thanh buồn nhưng không
thể hiện ra. Nhân Tín – em nó ở trong kia, cũng trong lứa tuổi đăng lính đây?
Tuy nhiên, ông lúng túng quẩn quanh trong nếp nghĩ quen: Ở đời không dám nghĩ
tới chuyện làm thân tùng, bách nhưng cũng chẳng hay gì làm thân lau, sậy. Cẩm
Nhung bàn với chồng xin cho em trai về binh chủng Không quân, làm ở một bộ phận
phục vụ chuyên môn nào đó nhưng Nhân Trí không muốn bỏ em vợ bơ vơ. Cuối cùng,
anh xin được điều về cùng một đơn vị bộ binh với em, cũng đã là chuyện khó vì
địa phương không chịu bị giảm số quân dù chỉ một người!
Trước ngày lên đường, Nhân Trí dẫn vợ dạo
quanh bờ hồ Gươm, âm thầm tạm biệt Hà thành mến thương. Tình cờ gặp chị Hương
Giang đang cùng anh Quyết Tâm dẫn mấy đứa con đi dạo. Chị là thành viên trong
phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa dự Hội
nghị bốn bên ở Paris, công việc thường xuyên đi về giữa thủ đô hai nước. Nhân
Trí chào anh chị. Vẫn lưu luyến với mấy đứa em và những kỷ niệm xa xưa, chị
lặng lẽ nắm tay em lâu lắm. Anh Trần Quyết Tâm vỗ vai động viên:
- Đây là dịp để thanh niên được cống hiến
nhiều cho Tổ quốc!
Hai cặp trẻ già ngược theo hai ngả nơi trước
đền thờ vua Lê Thái Tổ.
Nhân Trí kéo vợ ra ngồi trên vệ hồ. Hai người
suy nghĩ miên man. Yên Thịnh dụi vào vai chồng thút thít :
- Cậu cũng là đảng viên mà sao anh long đong
lận đận thế này? Chẳng qua là vì em mà anh liên lụy đấy thôi!
- Sao em cứ ôm hết vào mình những chuyện không
đâu ấy? Cứ sống tự lực, chẳng cần dựa vào ai hết!
Từ giữa hồ, một vòng sóng nước xao động tiến
gần vào bờ. Một vật gì nhô lên trên mặt nước. Nhân Trí làm tan đi nỗi buồn của
vợ:
- Em thấy không kìa? Cụ rùa đang bơi vào đây.
Yên Thịnh tươi hẳn lên. Nhân Trí muốn làm cho
vợ khuây đi, kể chuyện:
- Hồi anh đi thực tế ở Thanh Hóa, có lần tới
đầm Thần hoang vu và rộng mênh mông, cỏ bấc rậm rạp, không cẩn thận dễ sụp bãi
lầy là khó thoát. Dân địa phương kể ở đây có một loại rùa gọi là chạnh, to lắm,
đầu như cái chĩnh, mai như cái thuyền thúng ấy, dùng làm bồn tắm được. Người ta
nghĩ khi vua Lê Lợi lên ngôi, quê hương đã cung tiến giống rùa qúi này ra kinh
đô đấy.
Yên Thịnh ôm lấy cổ chồng :
- Người ta bảo mỗi lần cụ rùa nổi lên là có sự
lành. Nếu anh không về là em đi tìm đấy. Anh không trốn được em đâu.
Để xua tan mối ưu tư của vợ, Nhân Trí đánh
trống lảng đi:
- Có thực mới vực được đạo. No bụng thì dù
đường hành quân xa lắc ta có quản chi!
Anh kéo vợ lững thững đi về phía đường Hàng
Bài. Trước cửa hàng ăn mậu dịch, hai người lặng lẽ nối vào cái đuôi rồng rắn.
Một người trai trẻ phờ phạc trờ xe tới, nhìn tấm bảng tần ngần ngán ngại:
- Lại phở “không người lái!”.
Anh cảnh sát đứng bên lề đường quay lại, trừng
mắt lên. Cu cậu giật mình, phóng vọt xe đi như không nghe tiếng còi rít lên gọi
từ phía sau.
Yên Thịnh lúng túng nhìn chồng nâng tô phở lên
che gần hết mặt và húp xùm xụp. Nhân Trí đặt cái tô xuống, nhận ra vợ không
biết xoay sở thế nào với cái thìa bị đục mấy lỗ đinh lủng đáy, anh cười động
viên:
- Thời chiến phải biết thích nghi mới được!
Yên Thịnh đứng lên còn để lại gần nguyên tô
phở lõng bõng nước. Nhân Trí thương vợ xuýt xoa:
- Mấy sợi bánh chỉ là bột gạo hẩm. Dù không có
miếng thịt nào nhưng trong nước dùng dù sao cũng có chút đạm hòa tan!
Vợ anh kéo tay chồng đi ra thật nhanh không
dám nhìn ai.
Thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ rút
quân càng mau, càng nhiều thì ở hậu phương càng dồn dập, khẩn trương huy động
người nhập ngũ. Lính thực binh
đủ lứa tuổi, đủ thành phần: Có cậu bé vừa hết tuổi thiếu niên đến người ở cuối
tuổi trung niên. Có học sinh, sinh viên, thợ máy, thợ cày, xã viên các hợp tác
xã thủ công, viên chức, thầy giáo, bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư.
Chiến trường đang cần được bổ xung quân như
đại hạn chờ mưa. Tập trung rèn luyện ít ngày, hai anh em trong đội hình tiểu
đoàn hành quân thẳng ra phía trước. Thao trường huấn luyện là những địa hình cơ
động trên đường vừa hành quân vừa tập. Khi phát súng, người ta giao cho Quốc
Anh khẩu tiểu liên AK vì thấy anh chàng dáng thư sinh, trắng trẻo, yêu đời
nhưng cậu nài nỉ ông anh nhường cho mình giữ khẩu B40 hoả lực. Hai anh em dễ
thỏa thuận với nhau nên không gặp khó khăn gì.
Nhân Trí bảo em :
- Mình làm lính tạm thời vô hạn! Cầm súng gì
chẳng được.
Quốc Anh hí hửng :
- Đời người chỉ có một lần cầm súng, phải chơi
cho nó biết tay mình!
Hai anh em trong một tổ chiến đấu suốt bao
ngày gian khổ, ác liệt bên nhau ở chiến trường bờ nam giới tuyến. Tới một ngày…
Nhân Trí tỉnh dậy thấy mình nằm trên võng đang
được cáng đi. Anh hốt hoảng gọi to lên:
- Quốc Anh ơi! Em ở đâu?
Tiếng người con gái nhắc nhở:
- Anh thương binh nằm yên. Đường dốc trơn lắm.
Anh mà ngã lăn xuống vực thì chúng em cũng chết!
Hiểu ra tình thế, anh hớt hải bật ngồi dậy,
gào to hơn:
- Quốc Anh! Quốc Anh ơi! Em tôi đâu?
Mấy cô thanh niên xung phong tải thương đành
phải dừng lại, tay chống cây chạc, gác đòn cáng lên. Anh cứu thương hộ tống
chạy tới, đặt chiếc balô lên võng, nói như ra lệnh:
- Nằm xuống đi để chúng tôi đưa vào viện. Đơn
vị hy sinh gần hết rồi. Đồng chí bị thương thế này là nhẹ và may lắm đấy!
Nhân Trí hiểu ra sự thể, anh nằm xuống, một
tay ôm chiếc balô, một tay lần sờ khắp người
tìm cảm giác xem có đúng là da, thịt, chân, tay, cơ thể của mình không? Nỗi sợ
hãi trùm lên, anh mơ màng cảm thấy thân mình bồng bềnh trên mây, thỉnh thoảng
lại giật nảy mình thét toáng lên:
- Nó bắn đấy. Nằm xuống mau!
Trận đánh lướt qua trong cơn mê sảng.
Trung đội trưởng Quốc Anh là xạ thủ cừ khôi,
lúc nào cũng kè kè hai khẩu súng B41 với khẩu AK, vừa đánh tiêu diệt, vừa phòng
ngự. Tiểu đội trưởng Nhân Trí nhận khẩu trung liên RPD. Hai anh em lúc nào cũng
đi sát yểm trợ cho nhau làm nhiệm vụ hỏa lực chủ công.
Trên trời, chiếc L19 vo ve ở tầm cao và chiếc
OV-10 rền rĩ dai dẳng đến nhức đầu, vòng vo đảo điên như con nhặng trâu đói tìm
mồi.
Từ đụn cát phía bên, nhô lên một chiếc xe tăng
giảm thanh rù rì lẫn trong tiếng đạn. Đám lính trên xe nhảy xuống, dàn thành
hàng ngang, lăm lăm tay súng, nhìn nhau dò dẫm hướng thẳng tới đội hình. Cự ly
gian cách, mỗi tay súng tự xử lý tình huống và tùy nghi phối hợp. Nhân Trí vừa
siết tay trên cò khẩu súng trung liên cũng là lúc tiếng B41 nổ ùng… oàng… Chiếc xe tăng rùng mình bốc lửa và ùn lên
cụm khói đen. Đám lính ngả nghiêng, lăn kềnh ra, tán loạn bò lùi. Nhân Trí vọt
khỏi công sự, vác súng di chuyển địa hình, cũng vừa lúc chiếc OV-10 phát hiện
mục tiêu, lao xuống. Súng phóng lựu, hỏa tiễn trút xuống tới tấp. Chiếc L19
lảng vảng từ xa, nghiêng cánh điểm một trái màu rồi cả hai biến đi mất hút. Lập
tức các cụm pháo thi nhau trút tới như trời đổ mưa. Cả một cụm địa hình chìm
trong lửa khói. Nhân Trí cảm thấy mình bị hất tung lên như bay vào khoảng không
tối đen ngột ngạt.
Quả đạn pháo lớn nổ qúa gần lại là điều may.
Trên người anh chỉ bị bầm giập vì sức ép và quăng quật. Anh không được tin gì
về thằng em cũng là người đồng đội gần gũi thân thiết nhất suốt từ ngày nhập
ngũ. Trong những trường hợp như thế, sự gì đến với từng người đã là điều chắc.
Anh không dám nói ra thành lời nhưng một cảm giác trống trải, chán chường lan
tỏa khắp người anh. Cơn choáng tinh thần còn nặng nề hơn nỗi đau chấn động về
thể xác.
Anh mệt mỏi tới rã rời. Vì người còn lành lặn,
không thương tích nên anh vẫn thuộc quân số chờ hồi phục để bổ xung chiến đấu.
Chiếc balô là gia tài của người lính, hai anh
em dùng chung mà vẫn gọn gàng, nhẹ tếch. Vật đáng qúy nhất còn lại lúc này là
cuốn sổ tay cậu em dùng làm nhật ký, một xấp giấy vẽ với những bức ký họa vội
vàng và mấy cây bút vẽ.
Anh hay viết thư gửi về cho vợ dù rằng chẳng
nhận được hồi âm. Anh biết thư nhà dồn lại ở nơi nào đó vì lính chiến cơ động
thế này, ai biết đâu mà tìm. Em anh bảo :
- Người ở,
người đi ai cũng nhớ thương mà trong thư không ai dám nói thật lòng. Bụng mình
lúc nào chẳng đầy những lời động viên đủ cỡ. Cứ để người ở nhà tin rằng tan giặc bước đường
quê, anh của em lại về là điều hay nhất.
Ròng rã bao
nhiêu ngày mưa bom bão đạn như thế mà hai anh em không hề hấn gì ngoài mấy lần
cận kề cái chết. Quốc Anh càng tỏ ra dày dạn và hóm hỉnh:
- Nghĩ thì
thấy khó sống. Nhưng chết cũng không dễ đâu. Thánh Phaolồ bổn mệnh mình linh
lắm. Bom đạn đều phải giạt ra!
Đến lúc Thánh
bảo mạng không chở che nổi nữa.
Những trang
nhật ký thưa ngày, viết gọn. Nhân Trí đọc nhiều lần vẫn không cầm được nước
mắt, như thằng em thủ thỉ với mình:
Năm 1971:
Ngày 10 tháng 4
:
Tiểu đội xem chừng láo
nháo. Sao có kẻ không biết ngượng? Chú bộ đội khóc vì chưa hết ca cơm đã sạch
thức ăn! Anh lính già ngồi ngẩn ngơ tự dưng chảy nước mắt ra mà không muốn lau
đi ! Tiểu đội trưởng bảo lúc đầu chưa quen, thực tế sẽ tôi luyện thành thép
cứng… Tối nào trung đội cũng tập trung nghe cán bộ tuyên huấn nói chuyện thời
sự: Mỹ thua mới phải rút quân. Thằng thầy đánh còn chẳng ăn ai huống chi thằng
trò là lính đánh thuê, dại gì chết uổng. Chúng ta có chính nghĩa vì chiến đấu
bảo vệ nhân dân, tổ quốc mình. Bộ đội ta từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi
dưỡng, chở che và tiếp sức. Nhân dân thế giới đồng tình, chi viện vô tư cả vật
chất lẫn tinh thần. Đảng ta dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo đấu tranh. Đế quốc Mỹ
ngày càng cô lập và bị động nên nhất định thua. Càng gần thắng lợi càng nhiều
gian nan. Mỗi người hãy cố gắng và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Kết thúc
buổi họp nào, anh quản ca cũng đánh nhịp hát bài “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh. Anh em ơi… Vì nhân dân quên
mình. Đoàn vệ quốc chúng ta, ở nhân dân mà ra, được dân mến, được dân tin muôn
phần. Thề diệt hết đế quốc kia, giành tự do hòa bình. Đoàn vệ quốc quên mình vì
nhân dân!”
Chuyến tàu hoả tốc
hành chạy qua thành phố lúc trời gần sáng. Sân ga vắng tanh ngoài bóng mấy
người cảnh sát và quân cảnh. Từ các toa tàu bay ra những mảnh giấy mỏng rơi lả
tả và những chiếc phong bì thư nặng nằm soài bên những vũng nước. Chiến sỹ ta
tranh thủ nhắn tin về nhà. Những cánh thư như những cánh chim trời mệt mỏi nằm
trên sân ga bất động. Thấp thoáng bóng người lom khom tất tả lượm từng mảnh
giấy, bao thư. Sẽ có bao nhiêu tin về được tới nhà? Sẽ là bao nhiêu lời nhắn
cuối cùng của những đứa con đang đi thẳng ra nơi trận mạc?
Ngày 15 tháng 4
:
Đây là cầu Hàm Rồng?
Trí tưởng tượng của người xưa phong phú thật. Biết đâu nó là long mạch chảy
dưới sâu. Cái cầu lồ lộ, chênh vênh với bộ khung sắt tả tơi cũ kỹ đứng trêu
ngươi giữa trời. Cầu chỉ còn làm đường thông xe lửa. Xe cộ, bộ đội hành quân
qua phà. Hai mỏm núi trơ màu trắng đá vôi, còn lại lơ thơ dăm cây xác xơ cành
gãy mà vẫn nghênh ngang ra vẻ trêu ngươi. Kế hoạch sấm rền của hải quân và
không quân Mỹ phối hợp suốt bốn năm trời vẫn không làm gì được. Trên bầu trời
này, hàng trăm máy bay Mỹ bốc cháy, rơi rụng và không biết bao giặc lái bị tan
xác và bị bắt sống làm tù binh. Trước khi xuất quân, ông tiểu đoàn trưởng nói
cho anh em yên lòng: “Ta đi chưa chắc địch đã biết. Biết chưa chắc đã đánh.
Đánh chưa chắc đã trúng. Trúng chưa chắc đã chết. Lỡ chết là hy sinh vinh quang
vì Tổ quốc – Cái chết vinh quang và đáng tự hào”! Xem ra lời động viên ấy cũng
không ngoa. Một cây cầu này mà Mỹ đã xoay đủ cách. Đặc biệt nó bày ra chiến
dịch “Mặt trăng Carolina” dùng bom từ trường phá hủy cầu. Mỗi quả bom hình tròn
dẹp, có đường kính 2m65, dày 0m75, chứa 5.000 bảng Anh, tương đương 3.000
kilôgam thuốc nổ. Máy bay vận tải quân
sự Hercules C-130E, mỗi chiếc mang năm quả bom từ trường, nghi binh đánh lạc
hướng bộ đội phòng không, bay thật thấp, từ biển ngược lên thượng nguồn, thả
bom xuống lòng sông Mã. Bom trôi xuôi theo dòng nước, tới chân cầu, đầu dò từ
trường thiết kế trong bom tạo lực hút bom áp vào hệ thống kết cấu thép, sẽ
không cầu nào còn đứng được. Vậy mà cầu vẫn trơ trơ đó, chỉ có máy bay với
người tan xác và bom thì vô hiệu!
Ngày 1 tháng 5
:
Dừng chân ở bờ bắc
giới tuyến, chờ đơn vị tới nhận quân.
Vừa đi đường vừa huấn
luyện. Súng bộ binh đơn giản, được hướng dẫn vài lần là biết. Được bắn thử bằng
đạn thật. Hồi hộp quá, lúc siết cò, mắt mình tự nhiên nhắm lại. Tai ù lên.
Người nóng ran. Mở mắt ra thấy khẩu súng văng ra một bên. Mục tiêu vẫn đứng trơ
ra! Đám cỏ phía sau cháy rụi. Cán bộ tác huấn cáu, quát um xùm. Xấu hổ qúa,
muốn chui xuống đất trốn để mọi người đừng nhìn mình, coi như thằng nhát! Chiều
về, tức nghẹn họng, cơm nuốt không trôi. Tối, cán bộ tiểu đội, trung đội, đại
đội, tác huấn xuống kiểm tra. Họ nghi mình không làm nổi việc vì B40 là hỏa lực
quan trọng trong đội hình bộ binh tấn công và phòng ngự. Mình diễn đạt lại các
thao tác để mọi người tin và hứa nhất định mình sẽ làm được việc. Cán bộ tác
huấn bảo:
- Thực ra không ai bắn
phát đầu đạt yêu cầu ngay đâu. Có nhiều yếu tố chi phối lắm. Các thao tác yếu
lĩnh cơ bản của cậu thành thục đấy, chỉ có điều là chú ý cự ly vật cản phía
sau. Vừa rồi cậu xuýt chết vì lỏng tay nắm, lúc siết cò nòng súng chếch lên
cao, đương nhiên mặt đất biến thành vật cản vô cùng nguy hiểm.
Mình xin được bắn thử
lần nữa, cán bộ đại đội bảo:
- Một viên đạn ra tới
chiến trường không biết bao nhiêu công của. Bây giờ chịu khó rút kinh nghiệm
đi. Mai mốt lấy thực tế chiến trường vừa rèn luyện vừa nâng cao hiệu xuất chiến
đấu.
Dứt khoát phải làm
được. Mình tự tin như thế !
Mấy o thanh niên xung
phong gian khổ vậy mà lúc nào cũng ríu ra ríu rít đòi giao lưu văn nghệ. Bài
ruột của mấy cô là:
“Đi giữa trời khuya
sao đêm lấp lánh, tiếng hát ai lay động cây rừng. Phải chăng em cô gái mở đường
không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát. Ôi những cô con gái đang ngày đêm mở
đường. Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường. Em đi lên rừng cây xanh mở
lối. Em đi lên núi, núi phải cúi đầu. Em đi bắc những nhịp cầu, trên những con
đường tổ quốc yêu thương. Cho xe thẳng tới chiến trường”…
Bài tủ của mình là:
“Mặt Hồ Gươm vẫn lung
linh mây trơi, hằng toả ngát hương thơm hoa Thủ đô. Đường lộng gió thênh thang
năm cửa ô, nghe tiếng cười không quên niềm thương đau. Hà Nội đó… niềm tin yêu
hy vọng của núi sông hôm nay và mai sau. Chân ta bước lòng ung dung tự hào. Kìa
nòng pháo đang vươn lên trời cao”…
Lúc gian khổ, vất vả
càng thấy lời ca tiếng hát là không thể thiếu.
Ngày 14
tháng 6 :
Dòng người như nước
chảy ngược lên phía tây lẫn vào dãy Trường sơn trùng điệp. Chợt nhớ lời sấm
Trạng Trình mách cho Nguyễn Chúa: Hoành sơn nhất đái – Vạn đại dung thân. Bây giờ nó là con đường mòn Hồ Chí
Minh bí hiểm, nổi danh thế giới với những con đường chi chít dọc ngang. Đường
mòn người đi, cả đường mòn xe đi nữa. Lúc ẩn dưới những tán rừng già, lúc chênh
vênh bên bờ vực, lúc lõm bõm trên những ngầm qua sông qua suối, lúc chạy bở hơi
tai trên những khoảng đồi trọc trơ một màu đỏ quạch của đất, của lửa! Vượt
những dốc đá tai mèo trèo bám mà lên, tuột bò mà xuống, lỡ vuột tay là coi như
“hy sinh trong chiến đấu”! Cây gậy gây vướng víu phiền hà mà không dám bỏ đi vì
còn có lúc phát huy tác dụng, đặc biệt nó là người bạn chí thiết với những anh
nghiện chế tác thêm một chức năng làm cái ống điếu hút thuốc lào. Những cơn mưa
núi chợt đến, chợt đi, lúc ngắn, lúc dài không sao đoán nổi. Nhưng mưa không
sợ. Dốc cao không sợ. Đường trơn không sợ. Chết cũng không sợ. Chỉ sợ vắt thôi
! Vắt lá trên cây bám vào cổ, chui vào nách. Vắt dưới đất ẩn trong lá mục chui
lên, bám vào kẽ chân, leo lên tận… háng! Nó nhỏ như que tăm nên khó nhìn ra và
khi bám được vào người, nó hút máu êm ru, đến lúc no kềnh, trương lên như ngón
tay cái, tím mọng mới chịu nhả ra. Máu từ vết cắn chảy rỉ rả, thấm đẫm một vệt
áo, quần. Thương nhất là mấy cô gái bị vắt leo vào… Có người sợ qúa xỉu đi. Vết
chảy máu không sao cầm được, chỉ một cách lấy lá nón khô rịt vào là hết chảy.
Độc địa ở chỗ nó bám vào người rồi, rứt cách nào cũng không chịu rời ra. Bên
hông chiến sỹ giao liên nào cũng lủng lẳng một cái ống nứa chứa nước muối (hoặc
nước điếu) hòa với xà bông hoặc trái bồ hòn và thuốc sợi. Dùng cái que dài, đầu
cuốn mớ bông hay nùi giẻ, nhúng sẵn trong ống nứa, tẩm vào miệng con quái vật
là nó co dúm lại, rụng rời ra, lăn lóc…
Ngày 10
tháng 7 :
Trung đoàn bộ gọi xạ
thủ hỏa lực lên rút kinh nghiệm chiến đấu. Được cán bộ tác huấn khen có nhiều
tiến bộ mà mình vẫn chưa quên cảm giác ngượng mới hôm nào. Mình được trao cho
khẩu B41, tính năng tác dụng mạnh hơn. Dù là trách nhiệm nặng hơn nhưng vẫn
thấy vui vì mình không phải là kẻ hứa suông. Tình cờ biết chuyện hay hay về
“cậu cả”. Anh chàng sinh viên bách khoa ấy, ngày đầu về chung tiểu đội mình.
Anh chàng có vẻ khôn ngoan, tự tin, biết nói theo ý cấp trên và làm quen thủ
trưởng các cấp rất nhanh. Việc gì cũng lăng xăng nhưng đều bỏ dở. Ai chê, cu
cậu lý sự việc gì cũng cần phải biết. Ai đó đặt cho cái tên “cậu cả”, lại nhe răng cười đắc chí. Đến chỗ
nhận quân, bỗng được tiểu đoàn giữ lại. Khi đơn vị xuống địa bàn tác chiến, có
lệnh điều “cậu cả” lên Ban chính trị trung đoàn, làm trợ lý thanh niên. Nghe
thì thào cậu ta là con một cán bộ cấp cao, có sự gửi gắm từ trên. Vừa rồi được
kết nạp Đảng và điều ngay ra hậu phương, gửi về trường học tiếp. Thế là anh ta
được dán nhãn Chiến trường B – Có thành tích chiến đấu – Đảng viên, được rèn
luyện qua thử thách. Rồi anh ta sẽ được đi tu nghiệp ở nước ngoài, về nước với
tấm bằng hữu nghị đỏ chói. Những sản phẩm đánh bóng mạ kền kiểu ấy không hiếm
đâu. Còn nhiều sản phẩm độc chiêu hơn nữa! Đấy là nguồn cán bộ vừa hồng vừa
chuyên kế tục sự nghiệp lớp người đi trước. Giá như chỉ là sự nghiệp của riêng
ai thì sao cũng được. Nhưng đây là sự nghiệp quốc gia! Một lớp người bước lên
nhờ thế, nhờ quyền, họ sẽ coi ông chủ nhân dân chẳng là gì! Một lớp người học
giả mà có bằng thật, họ sẽ coi những người học thật, kiến thức thật là đồ dở
hơi! Một lớp người làm nên không bằng tài, bằng mồ hôi công sức thật của mình,
chỉ bằng những công lao giả tạo hoặc vơ vào của người khác cho mình, lại được
giao vào tay trọng trách quốc gia, họ sẽ coi việc nước như việc nhà mình! Sẽ…
tập thể là sếp, sau sếp là ta! Hỏi rằng lỗi ấy tại ai?
Trên đường về, nghỉ
tạm ở trạm thu dung, thấy mấy ông bạn lính nằm co ro trên võng, buồn thiu. Hỏi
ra mới biết đó là mấy cậu “bê quay” hoặc cáo ốm nằm lỳ. Nghĩ cho cùng, người ta
vì sợ chết mà lộ ra cái sự hèn, đáng thương chứ không nên khinh. Mấy anh chàng
như “cậu cả” kia, trốn cái chết mà vẫn khoác áo anh hùng, dũng sỹ… đáng sợ hơn
nhiều. Ngữ ấy không thể làm thủ lĩnh nhưng dễ làm quan. Phải sống dưới trướng
loại quan ấy mới là điều họa!
Ngày 7 tháng 9
:
Được bổ sung cho mặt
trận Trị-Thiên. Đơn vị giao từng đại đội xuống phối thuộc với các địa phương. Ở
vùng quê xa, đồng bào dùng thổ ngữ nhiều khó nghe quá. Nói bằng miệng thì ít,
bằng mắt bằng tay thì nhiều, có lúc vừa buồn cười, vừa bực mình nhưng rồi cũng
hiểu nhau. Ấy vậy mà người lớn bé già trẻ đều thích nghe hát, chả biết người
nghe có hiểu người hát gì không?
Rất nhiều lần, bà con,
đồng đội bảo mình hát bài Bình- Trị- Thiên khói lửa của nhạc sỹ Nguyễn Văn
Thương. Nghe mãi không chán. Cả người hát và người nghe đều rưng rưng xúc động:
“Hướng về Nam / Ai đã
vô Đông Hà, đã qua Ngô xá, đã đi Bích La, Thủy Ba, Triệu Phong / Hướng về Nam /Ai
đã qua Đèo Ngang, đã sang Ba Rền, mến dòng sông Gianh, biết danh Lũy Thầy / Giờ
đây lửa cháy ngút trời, máu nhuộm đồng xanh / Ôi đau thương điêu tàn / Hải Lăng
mồ chen thôn xóm, cát trắng ven làng máu hoen, dân làng yên vui… giặc lên tàn
sát / Chí Long đồng quê tan tác. Trung Nẫm đường vắng lối không, xót thương đàn
em xác chìm dòng song / Làng cháy cây héo khô, đồng nương nồng hơi súng, xa tắp
còn đâu bóng lúa xanh / Nhà thiêu nền trơ đất / Người đi lòng u uất / Sôi cháy
máu căm thù trào dâng / Đồng bào ơi, cùng Bình-Trị-Thiên đứng lên / Giết quân
tham tàn xéo giày thôn xóm / Không ngừng tay quyết chiến đấu / Dù gian khổ
quyết xốc tới / Tay chúng ta giữ vững quê nhà / Cho đàn em cất tiếng hát / Cho cánh đồng lúa bát ngát / Cho nơi nơi yên
vui chan hòa”…
Mấy mươi năm cảnh xưa
vẫn thế! Từng địa danh bây giờ không còn xa lạ và cùng chia sẻ những mất mát
đau thương. Mình tiếp tục hành quân theo lớp cha anh chiến đấu quên mình vì
nhân dân, đất nước. Rất cảm phục người nghệ sỹ ấy, tưởng như ông không chịu nổi
nỗi cô đơn và cái rét mướt đêm đông trên đất Hà thành mà lại vượt qua được mọi
sự khắc nghiệt của chiến tranh trên giải đất miền Trung vốn khó nghèo và nghiệt
ngã này.
Ngày 20 tháng 10
:
Khuya rồi! Mới đi kiểm
tra đội hình về. Pháo hạm ngoài khơi, Cửa Việt, Dốc Miếu, Cồn Tiên… lúc điểm,
lúc dồn. Mấy đứa ngủ trong hầm ngáy như kéo bễ.
Tháng cuối năm đây.
Trăng kia gọi là trăng non, như con mắt ngủ lim dim. Mới là đầu tháng. Chẳng ai
thèm ngó ngàng tới lịch. Ngày nào cũng bom đạn. Ngày nào cũng nghĩ tới chuyện
đánh nhau. Mình không đánh nó thì nó đánh mình. Pháo sáng lơ lửng đung đưa lẫn
với vành trăng khuyết lững lờ trong mây gió. Ánh sáng vàng vàng nhờ nhờ này là
của trăng hay của hỏa châu? Sóng biển vỗ ầm ầm ngoài kia, từng nhịp đẩy cơn gió
đông vun vút phà hơi lạnh, người run lên.
Chợt nhớ Hà Nội qúa.
Nhớ những cơn gió hanh thổi những chiếc lá vàng đỏ quạch, khô cong lăn lóc, kéo
lê rên rỉ trên mặt đường, hè phố. Những chiếc lá vàng buồn bã sắp lìa ra để lại
những cành trơ trọi khẳng khiu. Lúc này, các nhà đào đang ép nụ. Nhưng còn ai
có lòng nào chơi hoa nữa không? Cả miền Bắc cứ mười người có một người tòng
quân ra trận . Trong mười gia đình, tới bảy gia đình có người thân đang ở rải
rác các chiến trường.
Đời chiến binh, mấy
người đi trở lại. Có những người cũng đi xa, rất xa, nhưng không phải là đi
lính. Đi đợi một ngày về xây mộng tương lai! Thời nào cũng có những người may
như thế. Do trời thương hay do người ta biết lựa chèo khéo chống?
Thấy thương ba, me
qúa. Me buồn khóc đã đành. Nhưng ba ơi… Đêm trước ngày con đi, lúc các bạn đến
tiễn con ra về, ba nói ra điều day dứt:
- Đời ba có hai lần
quyết định sai lầm. Một là ngày mọi người bỏ Thủ đô ra đi kháng chiến thì ba ở
lại vì không muốn các con bơ vơ, lỡ dở sự học hành. Hai là khi hòa bình, ba
mừng ở lại, mong được bù công, góp sức với đời. Nào ngờ tự choàng vào mình cái
ách: Trí thức–Tư sản–Hàng thần… khiến đời cha cũng hỏng, đời con lỡ bước! Tuổi
ba, không làm lại được điều gì nữa. Chỉ mong bề trên phò trợ cho các con chân
cứng đá mềm, vượt mọi chông gai sóng gió.
Ba khóc? Mỗi ngày một
lớn khôn hơn, càng hiểu nỗi lòng cha, con càng thương ba. Người đàn ông chí khí
nào cũng có mơ ước lớn. Ba đừng buồn nỗi trắng tay không có gì trao lại cho
con. Vào đời, con đã nhận ra mình được thừa hưởng từ cha lòng tự trọng và nhân
ái, bao dung! Thế là đủ cho con tự tin, dù đường đời có lắm trắc trở chông gai.
Như lúc này, đang là người lính thì không được sống hèn !
Ngày 15
tháng 12 :
Theo tiểu đội vào ấp
điều nghiên. Cái bót nghênh nghênh phất phơ lá cờ ba sọc đáng ghét quá. Mới
chiều mà bọn lính đã chui vào ổ, không đứa nào dám lảng vảng ra ngoài. Coi
chừng đừng có chủ quan, nó gác trên kia nhìn thấy là được ăn kẹo đồng ngay. Ông
anh thông thạo địa hình đến từng nhà, từng ngóc ngách. Gặp bà con vui quá.
Chuyện thì thào. Cười rúc rích. Lăng xăng tíu tít nấu cơm cho bộ đội ăn. Một em
gái chừng 14–15 tuổi, má lúm đồng tiền cứ níu mình lại bảo anh bộ đội hát cho
em nghe đi. Cô chị chụm đầu với ông anh rù rì bên bếp. Mải mê chuyện để tắt
lửa, chổng mông lên thổi phù phù. Mấy chú lính tròn mắt ra. Bà mẹ đập vào mông
con gái phát lên tiếng đét:
- Đồ con gái mất nết.
Chẳng ý tứ gì !
Lính ta cười ồ lên:
- Khẩu B41 của tiểu
đội trưởng đó! Đạn phóng đi là cả nhà này…
cháy rụi!
Ả giơ tay đập ông anh
:
- Cho anh ni đói trước
hi!
Rồi ngoay ngoảy đứng
lên nhưng lại tong tả tìm mâm, bát dọn cơm ra cho bộ đội.
Trời đất này mà có
người con gái đẹp thế sao? Thân hình thon thả, nước da trắng mịn, nét cười, ánh
mắt, cái ngoảy, dáng đi… toát lên vẻ trinh trắng, hồn nhiên, tươi trẻ vĩnh hằng
của tuổi đôi mươi. Mình vừa ăn vừa tranh thủ ngắm ả, càng thấy đẹp như một bức
tranh. Không hiểu vì mắc cỡ hay vì giận dỗi mà cô em cứ đứng nửa khuất, nửa lộ
sau tấm cót che. Ông anh giảng hòa:
- Quốc Anh hát đền cho
ả với bà con nghe đi!
Em bé nhảy vội tới
ngồi sát bên. Mình được dịp cứ tự nhiên nhìn thẳng cười với ả, hát liền mấy
bài. Lúc quay lại thấy bà con ngồi chật nhà.
Trên đường về mình trầm trồ khen:
- Người đẹp vì lụa.
Nhưng người này nếu không có lụa còn đẹp hơn biết mấy mươi lần!
Anh em cười rúc rích.
Ông anh ghé tai mình thì thào:
- Ả tên Hiền! Chỉ có
chút yếu điểm ở giọng nói thôi!
- Giọng nói dễ sửa.
Chỉ có người thì không sửa được. Dù có chỉnh trang càng mất đi vẻ tự nhiên
huyền bí. Sinh ra muôn loài là trò chơi của tạo hóa. Tất cả đều huyền diệu.
Nhưng dù xấu, đẹp đều sẽ bị xóa sạch hết đi! Đất đá hoàn đất đá. Tạo hóa lại
bày trò. Đủ các loài… thánh thần… ma quỷ… toàn bích… dở dang!
Ông anh thở dài rồi cứ
lầm lũi đi.
Mình chợt nhận ra tiểu
đội anh lâu nay bám trụ ở mấy xóm này. Tự dưng mình nhớ tới Minh Hà. Giờ này em
đang làm gì? Hà hát hay lắm và ước mơ thi vào trường nhạc. Hai đứa chơi với
nhau từ lúc ở đội văn nghệ thanh niên. Nhưng chưa đứa nào bộc lộ ra tình cảm
của mình. Có xa nhau mới hiểu hết lòng mình. Giá như bây giờ gặp em, mình sẽ có
đủ can đảm nói ra nỗi nhớ này. Trời tối đen. Ánh sao khuya nhấp nháy âm thầm
soi từng bước đi. Mình buột lên mấy câu thơ của Nguyễn Đình Thi:
Ngôi
sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sỹ dưới
ngàn mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sỹ dưới rừng
cây
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương sớm tối vô
ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh
bước
Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh
ăn
Năm
1972 :
Ngày 12 tháng 2
:
Tưởng như đây là vùng
đất chết mà cuộc sống vẫn nảy sinh, vẫn có tiếng cười xen tiếng khóc. Vẫn có
những mạng sống nảy mầm và được sinh ra với tiếng khóc ngằn ngặt chào đời bên
nét mặt rạng ngời của người mẹ trẻ. Có những điều kỳ ngộ như một bài ca bi
tráng: Tổ du kích không may lọt vào ổ phục kích của giặc. Hai bên tao-ngộ chiến
và cùng tháo lui. Hôm sau bà con tìm được xác hai chiến sỹ, đem về. Buổi lễ tống tiễn chiến sỹ trận vong âm thầm
lặng lẽ. Đêm tối không đèn đuốc, chỉ có ánh sao xa le lói, thấp thoáng bóng
người. Bên hố huyệt đen ngòm và lờ mờ hai xác người bó cứng trong bọc nilon. Cô
xã đội phó nói mấy lời ngắn ngủi, ngậm ngùi trong tiếng nấc:
- Vô cùng tiếc thương
đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trong chiến đấu bảo vệ quê hương yêu dấu của
chúng ta. Dù kẻ thù tàn ác thâm độc đến đâu, dù chiến tranh ác liệt gian khổ
gấp mấy mươi lần, các đồng chí ta quyết tâm bám trụ, một tấc không đi, một ly
không rời xa mảnh đất chôn nhau cắt rún của mình. Quê hương mãi mãi là của
chúng ta. Kẻ nào tới đây gây tội ác nhất định sẽ bị trừng phạt. Nợ máu phải trả
bằng máu. Quyết trả thù cho đồng bào đồng chí thân yêu. Sẽ đến ngày kẻ thù phải
đền tội ác. Quê hương ta lại sáng tươi lên!
Trong tiếng nấc nghẹn
ngào sùi sụt bỗng nổi lên những tiếng vỗ tay lẹt đẹt rồi như chợt nhận ra sự
cố, vội dừng ngay lại. Một trong hai chiến sỹ hy sinh là anh xã đội trưởng –
chồng sắp cưới của cô!
Ở đây hạnh phúc chợt
đến chợt đi, tưởng không cái gì được làm của riêng mãi cho một người !
Ngày 17 tháng 3
:
Cái chết đến với mỗi
người là sự thường tình và đơn giản qúa. Chỉ một thoáng thôi đã ra người thiên
cổ. Cái chết đến trong mọi tình huống. Tưởng trốn ra trận là thoát mà ở trong
hầm lại chết! Tưởng chạy lên núi là sống mà cái chết vẫn không tha! Khôn-
dại-may-rủi đều ngoài qui luật. Còn sống được mới là sự lạ. Ai nhát gan không
thể có mặt ở đây. Như A. Tolstoi đã nói: Chiến tranh là sự thanh lọc tự nhiên,
trơ ra cái lõi nhân phẩm của mỗi người. Cái lõi ấy ra sao không dấu nổi ai!
Chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc – Mẹ hiền yêu dấu của chúng ta? Nhưng Mẹ ơi! Con
hoang, con đẻ đều từ mẹ sinh ra? Chúng vô tội vì có quyền được chọn bố đâu! Sao
Mẹ chối bỏ đứa này, nâng niu đứa khác? Bây giờ Mẹ có đòi hỏi sự hy sinh của mỗi
đứa khác nhau không? Ở đây, nỗi bất hạnh sẽ đến với bất kỳ ai – cả thằng có
hiếu lẫn thằng bất hiếu! Nếu có ai cân đong, tính toán thì hãy mau mau tìm cách
chuồn đi. Cái chết không chừa ai cả !
Ngày 26
tháng 5 :
Chiến dịch lớn đã mở.
Bộ đội vượt qua sông Thạch Hãn ào ào tiến quân. Có xe tăng yểm trợ hành tiến
khí thế lắm. Đuổi địch tới cầu Mỹ Chánh thì khựng lại. Cầu đã bị đánh sập! Toàn
bộ tỉnh Quảng Trị đã được giải phóng. Đơn vị tiểu đoàn tập trung, phối hợp với
địa phương củng cố xây dựng lực lượng và chuẩn bị địa bàn chiến đấu phòng khi
địch phản kích.
Ta đánh đây là để hỗ
trợ cho hội nghị ở Paris .
Chiến trường mới là
tiếng nói quyết định!
Người đánh cứ đánh.
Người đàm cứ đàm.
Không có khoảng lặng
để mà viết nữa!
Ngày 28
tháng 6 :
Địch củng cố lại lực
lượng tăng cường viện binh tổ chức phản kích, phối hợp phi pháo Mỹ hỗ trợ tối
đa. Xe tăng xung kích là mục tiêu bị hỏa lực địch tập trung hủy diệt trước
tiên. Hổ sống thì sợ chớ hổ chết còn nghĩa lý gì. Thương vong trong chiến đấu
tao ngộ thì ít nhưng bởi phi pháo gấp ba bốn lần. Chiến sỹ đột biến thành liệt
sỹ bất kỳ ở đâu, lúc nào: ngày, đêm, sớm, tối, khi di chuyển, lúc ăn, lúc chơi bài, lúc đang đọc
thư nhà hay nghêu ngao hát, cả lúc ngủ trong hầm…
Địch đang đánh vào thị
xã!
Các đơn vị tản khai,
chiếm lĩnh các vị trí xung yếu, bảo vệ cho đơn vị bạn giữ thành Quảng Trị. Ở đó
đêm ngày ngùn ngụt lửa như Hỏa Diệm sơn, vừa như cái cối xay thịt khổng lồ…
Lệnh trên phải giữ
bằng được tỉnh lỵ tuyến đầu này dù phải biến thị xã nhỏ bé ấy thành một
Stalingrate cũng phải làm để có một chỗ đứng công khai cho chính quyền của Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam sau khi hiệp định được các bên đồng ký kết.
Ngày 20 tháng 7
:
Hàng tháng trời quần
nhau với địch, giành giật từng điểm cao, từng thôn xóm hoang tàn. Quân số
thương vong bổ xung không kịp. Nhiều chiến sỹ mới tăng cường, chưa kịp bắn phát
súng nào đã hy sinh. Trung đội còn loe ngoe mấy cán bộ, vừa là chỉ huy vừa là
chiến sỹ. Chiến trường đêm ngày không lúc nào ngơi tiếng súng, tiếng bom. Tai
điếc đặc. Từng cơn ngủ thoáng qua trong khi mắt vẫn mở căng ra tưởng như đang
quan sát địch. Trời miền Trung nắng trưa như đổ lửa phả lên đất cát nóng như
trong cái chảo rang. Địa hình chỉ là mảnh đất trắng xác bị cày xới vụn nát và
nám khói, những căn nhà xen những khóm cây đổ sụp, cháy đen, tả tơi héo úa. Chỉ
cần thẳng người lên sẽ bị phát hiện ngay và khó thoát khỏi những loạt đạn các
cỡ nhắm vào.
Chừng nào qua cái mùa
hè đỏ lửa chết tiệt này?
Ngày 5 tháng 8
:
Đã nổ súng phải đồng
loạt, không phối hợp đồng bộ dễ bị phát hiện, địch tập trung hỏa lực hủy diệt
ngay. Trước cái chết, người lính thường có hai trạng thái tinh thần: Một là
hoảng sợ, hoặc là nhắm mắt bỏ chạy, hoặc là nằm úp sấp trong đáy hầm phó mặc
cho định mệnh. Hai là bình tĩnh, tỉnh táo đến lạ kỳ.
Mấy ngày nay, di
chuyển qua bao nhiêu ngọn đồi không tên, ngay cả những xóm thôn cũng bị bom đạn
xóa bằng, không sao nhận ra được nữa. Chúng mình đặt cho những địa danh mới:
Đồi Dũng Cảng, ngã ba Hùng Hàng Gai, xóm Minh Nhà Thương Chó, cồn Giản Sông
Thao. Các bạn nằm ở đấy chỉ mang theo một nỗi nhớ quê.
Mẹ cha nó hết bom lại
pháo! Khói bụi mịt mờ. Mắt cay xè. Tai ong ong. Đầu váng vất…
Ngày 21
tháng 8 :
Đơn vị phòng ngự trên
một điểm cao hoang tàn, dựa vào những công sự còn sót lại của trận chiến đấu
trước. Không nắm chắc còn được bao nhiêu người vì cứ mỗi đợt bom pháo, quân số
sẽ khác, không sao kiểm soát nổi. Bốn bề xe lính bủa vây. Trên trời máy bay
giăng lưới lửa, mấy thằng tâm lý chiến nheo nhéo kêu gọi chiêu hồi. Một đồng
đội bị thương nằm trong đáy hầm thều thào dặn:
- Lúc nào xe tăng vào
gần, cậu gọi tớ… trợ chiến cho!
Khẩu B41 hết đạn rồi.
Dẫu còn mà bắn trong hầm, coi như tự sát! Mình động viên lại:
- Cầm cự được đến tối
sẽ mở đường thoát ra.
Nổ súng một hồi, quay
lại, bạn đã tắt thở lúc nào?!
Ngày 2
tháng 9 :
Tiên sư bố mày! Thằng
OV-10 như con nhặng vo ve bắng nhắng dai dẳng mãi, nhức đầu quá. Ngày độc lập
của chúng tao mà mày không để cho yên. Mẹ mày! Ụ bên kia, loạt trung liên khạc
lên trời, nó vọt lên dáo dác biến nhanh như chó cụp đuôi. Đám Thủy quân lục
chiến dăm thằng chạy lúp xúp lăng xăng quanh mấy cái xe bọc thép thi nhau nã
pháo vào cụm địa hình nhỏ nhoi nát như tương bần… Mình gỡ khẩu AK và gom mấy
trái thủ pháo, để gần miệng hầm. Chơi hết số này… mệt nghỉ luôn!
Vậy mà chúng nó cũng
nhát. Hết pháo xe là pháo cụm, rốc két và bom. Lỡ có trái nào cả cái vào đây?
Chết là nhẹ nợ! Giải thoát khỏi mọi căng thẳng dai dẳng triền miên. Ngày xưa
mình chơi đáo giỏi lắm. Đồng xu cái thả vào cái lỗ đáo toen hoẻn ấy, nhiều khi
vừa khít trước sự tấm tức của mấy đứa bạn chơi. A… qua một đợt. Vẫn y nguyên !
Đến lượt tớ đây. Nhấn điểm xạ này. Chơi dai, dè xẻn, bất ngờ. Tụi mình chẳng
từng biết nhau. Chẳng làm điều gì hận thù ân oán. Ít ra trong kiếp này là thế.
Không dưng dẫn xác tới đây thì chơi hết cuộc! Hãy coi khinh cái chết như mấy
chàng hiệp sỹ đấu súng thời xưa. Này… Đoàng… Xin lỗi nhé! Sao cậu nằm trơ ra
thế? Vờ hay thật đấy? Tớ ở đây mà. “To be or not to be?” (Còn hay là mất?).
Chẳng qua là sống dai hơn nhau chút đỉnh. Chàng hoàng tử đẹp trai Hamlet đang
đợi mình kìa. Sẽ hết mọi mưu mô, giành giật, lo toan, đau khổ, dày vò.
Bỗng tiếng ai thét lên
và một bàn tay kéo bật mình ra khỏi hầm, vụt chạy đi. Mình lao theo cái bóng
như là ảo ảnh trong những tiếng thét, tiếng nổ ầm ầm ma quái.
Ông anh đã lôi mình
thoát khỏi một cơn xuất thần nửa tỉnh nửa mê như thế.
Ngày ra viện về đơn vị, Nhân Trí tự biết cách kết bạn, tìm đường, không
phụ thuộc vào các trạm giao liên. Lính
thổ công chiến trường, chẳng đi đâu mà vội. Tới một khu rừng già âm u lắm, nghe
mấy thằng bạn thì thào:
- Các cậu
thấy T54 bao giờ chưa?
Lính bộ binh mê nhưng cũng ngán xe tăng lắm.
Gặp tăng mà không có công sự phòng ngự chỉ có chết. Mà phòng ngự phải có đội
hình, có tuyến yểm trợ cho nhau, kẻo với hỏa lực áp đảo, lơ mơ bị nó chôn sống
không biết đâu mà tìm. Mỗi lần đánh vận động, theo tăng xuất kích, quân ta xông
lên chỉ để thu dọn chiến trường. Mấy chú lính tăng mắc võng toòng teng quanh xe
nghêu ngao chuyện phiếm. Anh em lính lữ hành tự do rủ nhau đến làm quen. Tìm
đồng hương bao giờ cũng là bước mở đầu mọi chuyện. Miền núi, trung du, khu Ba,
khu Bốn đến đất Cảng, Hà thành… tứ xứ đi đâu chẳng gặp.
Đang tíu tít chuyện nở như ngô rang, bỗng đám
lính tăng im bặt, đứng nghiêm. Mấy cán bộ chỉ huy xuống kiểm tra. Nhân Trí nhận
ra người quen. Chờ cán bộ kiểm tra xong, vừa quay đi, Nhân Trí bước tới trước
vị chỉ huy :
- Báo cáo
anh! À… thủ trưởng! Có nhận ra em không ạ?
Vị chỉ huy
dừng lại, nhìn người đứng trước mình, thân tình vỗ vai:
- Đồng chí ở
đơn vị nào?
- Dạ! Anh
Miều quên em? Cậu em là ông Thanh ở cửa ô Đống Mác.
Vị chỉ huy
nhíu mày rồi nhớ ra, nắm hai vai thằng bé ngày xưa lay lay:
- Bác Phán
Thanh! Nhớ ra rồi. Thế mày là thằng nào nhỉ?
- Trí… Nhân
Trí! Anh quên rồi sao?
- Trí! Đúng
rồi! Con chị là Nhung phải không?
Anh ôm thằng
bé hàng xóm vào lòng, quay ra giới thiệu với những người đang đứng vây quanh:
- Đây là
người hàng phố mấy mươi năm trước. Hai gia đình biết nhau từ khi nó còn mặc
quần thủng đít!
Anh kéo Nhân
Trí về lán của mình.
Ngày về Hà
Nội, mấy lần anh tới thăm nhà. Nhân Trí biết anh đã đổi tên là Hoàng Tuấn,
nhưng lúc bột phát mừng qúa mới buột ra tục danh ấn tượng từ tuổi ấu thơ. Bốn
người con của ông phó cạo đặt tên theo nghề, nghe vần khó quên: Mỹ, Miều, Tô,
Điểm. Anh ở bộ đội, đi biền biệt suốt. Dạo đi học sỹ quan ở Liên Xô về, anh em
cũng gặp nhau. Nhưng rồi cuộc sống tất tưởi dồn dập qúa, bẵng quên đi.
Nhân Trí kể
chuyện mình và báo cho anh biết:
- Chị Mỹ lâu lâu có đến nhà em. Giờ chị là ni
sư Tuệ Tâm, trụ trì một chùa gần thành phố.
Người lính già phong sương lặng đi. Hơn nửa
đời người, hành quân chưa một lúc dừng chân. Chuyện nhà anh chẳng lo được cho
ai ngay cả vợ con. Nghe chuyện của thằng em, anh bảo:
- Chuyện
riêng tư gác lại một bên em à! Ta đã rút khỏi thành cổ Quảng Trị từ ngày 16
tháng 9 rồi. Đây là trận đánh khốc liệt nhất kể từ khi Mỹ đưa quân vào Việt
Nam. Chúng sẽ giở cả những trò quỷ quyệt nhất trước khi buộc phải rút khỏi bãi
lầy chiến tranh ở đây. Hiện bộ đội ta đang bổ sung quân số, củng cố tăng cường
sức chiến đấu cho các đơn vị và lập phòng tuyến giữ bờ bắc sông Thạch Hãn không
cho nó nống lấn ra. Càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan. Mỗi người phải cứng
cỏi hơn. Bây giờ em tìm về đơn vị cũ không dễ đâu. Có thể được gom vào một trạm
thu dung rồi đưa về đơn vị mới. Đi lang thang lẫn vào số người tụt tạt cũng
không hay… Em có muốn làm lính tăng không?
- Em có biết
tăng giáp là gì đâu!
- Em là xạ thủ trung liên. Chuyển sang sử dụng
đại liên cũng dễ.
Nhân Trí nhận
lời. Vị chỉ huy trung đoàn xe tăng chuyển cho bộ phận chức năng kiểm tra và làm
thủ tục bổ sung quân.
Nhân Trí viết
tiếp vào cuốn nhật ký của em :
“Quốc
Anh ơi!
Một sự tình cờ, anh
chuyển sang vị trí chiến đấu mới. Không biết sẽ là may hay rủi. Nhưng sẽ quyết
liệt hơn. Dù hoàn cảnh nào anh cũng giữ gìn vật lưu niệm cuối cùng này của em,
trừ khi anh chết. Đây là những bức thư không gửi, viết ra lúc không bị lệ thuộc
vào ai, nó mang nhiều sự thật. Nỗi đau thương nào cũng qua đi. Đất nước sẽ hồi
sinh. Điều mong mỏi thiết tha của người lính chúng tôi là mọi người sẽ được
sống trong tự do, bình đẳng và phẩm giá. Máu của chúng tôi đổ xuống sẽ không
phải là vô ích”!
ô
Dù có hội nghị Paris, hai bên vẫn vừa đánh vừa đàm.
Mỹ vừa đẩy
mạnh việc rút quân, vừa tăng cường độ Việt Nam hóa chiến tranh, nghĩa là nâng nhanh lên khả năng chiến đấu
của quân lực Việt Nam cộng hòa
cả về quân số và trang bị phương tiện chiến tranh. Quân đội Sài Gòn từ tuyến
sau bị đẩy dần ra tuyến trước, trực diện đối đầu với Quân giải phóng. Người Mỹ
vốn ham môn đấu quyền Anh đầy bạo lực. Trước hai đối thủ đồng cân, đồng sức, họ
làm fan cuồng nhiệt và hào
phóng cho một bên. Nếu được, họ cũng là người thắng! Nếu thua, kẻ bại trận còn
mặt mũi nào nhìn họ? Người Việt Nam huynh đệ tương tàn !
Năm 1972,
người Mỹ muốn phủi tay thoát ra ngoài cuộc chiến, ký tắt một Hiệp định khung với Việt Nam dân chủ cộng hòa, coi như hòa bình đã trong tầm tay. Nhưng mối tình giữa Mỹ với Việt Nam cộng
hòa gỡ ra không dễ! Bà già tinh khôn như cáo gặp kẻ cắp đáo để chứ không dại
như gà. Biết sức mình èo uột không đương nổi với sức mạnh của lòng yêu nước
Việt Nam thì mấy lời hứa lèo của lão ganster quen thói bốc trời làm sao dễ dụ?!
Vào những tháng đầu năm 1972, khi Quân giải phóng đồng loạt tiến công từ bờ Nam
vĩ tuyến 17 đến đồng bằng Nam Bộ, lầu Năm Góc lại cho máy bay, tàu chiến tái
đánh phá ra toàn miền Bắc cùng với việc thả thủy lôi trên các cửa sông, cửa
biển để cùng một lúc vừa ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam và cắt đứt mọi sự
viện trợ của bạn bè quốc tế cho miền Bắc. Để không muốn bị mang tiếng là kẻ bội
bạc, đành chiều lòng người bạn tình đanh đá – đòi sửa đổi tới 69 điểm trong văn
bản Hiệp định hai bên vừa đồng thuận chờ ngày ký kết, Nhà Trắng quyết chơi canh
bạc cuối cùng hòng buộc nhà cầm quyền Hà Nội không còn sự lựa chọn nào
khác ngoài việc chấp nhận các yêu sách của Mỹ. Kissinger được gọi về nước và trước khi rời hội nghị, ông ta công khai
hăm dọa: “Nếu các ngài không biết điều, Tổng thống của chúng tôi sẽ ra lệnh
ngừng đàm phán để tiếp tục các hành động quân sự và hậu quả sẽ thật khó lường”!
Ông Lê Đức Thọ cứng cỏi đáp: “Các ông cố tình gieo gió sẽ phải gặt bão!”.
Từ năm 1962,
khi đội quân đánh giặc trời mới hình
thành, Bác Hồ đã lưu ý vị tư lệnh bộ đội Phòng không: “Chú đã biết gì về B52 chưa? Nó bay trên cao
mười cây số mà lúc này trong tay chú chỉ mới có cao xạ thôi thì cũng chưa làm
gì được. Nhưng từ nay chú phải theo dõi
chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến thằng B52 này!”. Sau ngày 5 tháng 8 năm 1964, khi không
quân Mỹ lần đầu tiên bay ra đánh phá miền Bắc, Bác Hồ lại hỏi: “Các chú đã chuẩn bị đánh B52 như thế nào
rồi?”. Sau gần một năm cho B52
đánh phá các căn cứ kháng chiến ở miền Nam và dọc theo tuyến đường mòn Hồ Chí
Minh, ngày 12 tháng 4 năm 1966 lầu Năm Góc cho B52 đánh phá lần ra miền Bắc ở
đèo Mụ Giạ, Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An… Bác nhắc lại: “Các chú thấy đánh B52 có khó không?” và Người chỉ thị: “Dù trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu
cũng phải tìm mọi cách đánh thắng bằng được B52. Phải học Quân giải phóng miền
Nam, phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà đánh!”.
Đúng ngày 19
tháng 5 năm 1967, trên bầu trời Hà Nội, 13 máy bay Mỹ bị bắn hạ, Bác vui vẻ
nói: “Bác mừng và hoan nghênh các chú đánh
giỏi. Nhưng chớ có chủ quan mà khinh địch, nó thua keo này, nó bày keo khác. Nó
còn đánh và nhất thiết ta phải chuẩn bị đánh B52”. Đầu xuân Mậu Thân, Bác chỉ rõ ra: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới
chịu thua” và Người khẳng định: “Ở Việt Nam,
Mỹ nhất định sẽ thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà
Nội!”.
Siêu pháo đài
bay khổng lồ B52 có chiều cao 12mét, dài 50mét, hai sải cánh 56mét, nặng 220
tấn, gắn tám động cơ phản lực cực khoẻ, hoạt động trong mọi điều kiện thời
tiết, ném bom thẳng đứng từ độ cao mắt thường không nhìn thấy được (mười đến
hai mươi ngàn mét). Không bao giờ đánh đơn lẻ, thường bay thành tốp ba chiếc.
Mỗi trận đánh ít nhất ba lượt tốp, có khi sáu lượt tốp hoặc nhiều hơn, sức hủy
diệt cứ 2 kilômét vuông một tốp nhân lên. Đồng hành với nó còn có những tốp máy
bay tiêm kích, cường kích F4 (Con ma), F105 (Thần sấm) và F111 (Cánh cụp xòe)
đi theo bảo vệ.
Lần lượt các
năm 1967, 1971, 1972, bốn lần B52 bị tên lửa của ta bắn hạ ở Vĩnh Linh, Đường 9
Nam Lào, Quảng Trị và Nghệ An. Nhưng vì nó rơi ở mãi đâu nên không có thông tin
chính xác. Ngày 20 tháng 11 năm 1971, lần đầu tiên phi công ta bắn trọng thương
một chiếc B52, buộc phải hạ cánh xuống sân bay Nakhon Phanom trên đất Thái Lan
rồi bỏ đấy.
Tuy nhiên
thực lực của ta lúc đó so với đối phương qúa nhiều chênh lệch. Máy bay chiến đấu,
ta có ba trung đoàn MIG-19 và 21, không thể so với các loại máy bay chiến đấu
hiện đại của Mỹ, hơn hẳn về tốc độ và chức năng cường tập. Phi công của ta còn
non trẻ, huấn nhiều, luyện ít, và kinh nghiệm chiến đấu chưa bao nhiêu, đặc
biệt là đánh ban đêm. Sân bay nào cũng bị đánh phá, sửa chữa vội vàng, chất
lượng kém, thậm chí có sân bay dã chiến được xây dựng vội vã, nền chỉ là đất
nện. Máy bay lên xuống không có đèn hiệu, chỉ dựa vào mấy giải băng vải trắng
lờ mờ trong đêm tối, giải ra vội vã rồi lại thu hồi ngay sau đó. Đánh B52 chủ
yếu dựa vào tên lửa đất đối không SAM II do Liên Xô viện trợ từ mấy năm trước
đó, số tồn kho không nhiều, đa phần cận và qúa date. Dù các nhà khoa học của ta thông minh sáng tạo, chỉnh sửa cho nó gia
tăng tuổi thọ nhưng vẫn phập phù. Điều quyết định cho tên lửa bắn trúng mục
tiêu là hệ thống rada dẫn đường. Qua thực tiễn chiến đấu, bộ đội rada đã đúc
kết thành bài học hữu hiệu, nhận ra nét đặc thù của B52 tàng hình trong màn
sóng nhiễu. Dù trong khó khăn, ta đã sẵn sàng phương án chống kẻ địch dùng B52
không tập.
Trước sự tráo
trở lật lọng bất ngờ của giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ, các nhà lãnh đạo ở Hà
Nội tiên đoán một trận đánh phá tàn khốc bằng máy bay nhất định sẽ xảy ra ngay
tại các thành phố lớn nhạy cảm như Hải Phòng và đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Một
mặt ra lệnh cho người già, phụ nữ, trẻ em, những người không có công việc cần ở
lại, phải sơ tán triệt để ra khỏi thành phố. Một mặt chỉ thị cho bộ đội Phòng
không–Không quân sẵn sàng chiến đấu, quyết không để kẻ thù ngang nhiên tàn phá
Thủ đô. Nhiều cán bộ dày dạn kinh nghiệm đánh máy bay được điều về từ các chiến
trường và bằng những phương tiện sẵn có, với tinh thần xả thân vì nước và ý chí
quyết tâm đánh gục B52 tại chỗ ngay từ trận đầu khi chúng liều lĩnh xâm phạm vào
bầu trời Hà Nội thiêng liêng.
Để tập trung
vào trận đòn cuối cùng biến Hà Nội thành tử địa, lầu Năm Góc huy động hai trăm chiếc B52 – bằng một nửa tổng số máy bay
chiến lược, toàn bộ máy bay chiến đấu ở Đông Nam Á hơn một ngàn chiếc – bằng
một phần ba tổng số máy bay chiến thuật, tương đương tổng không lực của hai
nước Anh và Tây Đức cộng lại và sáu trong số hai bốn tàu sân bay của Mỹ thả neo
ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.
20 giờ ngày
18 tháng 12 năm 1972, cuộc hành quân Linebecker II do Tổng Thống Mỹ hoạch định,
bắt đầu. Hơn một trăm máy bay B52 cùng với ba trăm máy bay chiến đấu tối tân
các loại, đồng loạt tấn công hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Thủ đô rung
chuyển trong những tiếng nổ khủng khiếp. Bầu trời đầy những tia chớp giật lóe
sáng rực lên. Nhà cửa chao đảo ngả nghiêng như trong trận động đất lớn. Cả
thành phố sáng bừng, đỏ ối, rần rật lửa như hỏa thiêu địa ngục. Cùng lúc, những
làn lửa đỏ nhằng nhịt của súng phòng không các cỡ đan kín bầu trời, những hỏa
tiễn SAM II chói sáng rực lên như những con rồng lửa vun vút bay lên, nổ tung
thành những cụm pháo hoa. Những đám lửa đỏ ngùn ngụt bung ra thành nhiều đám
cháy lớn, nhỏ lả tả rơi xuống khắp bốn phương, tám hướng. Người Hà Nội không hề
run sợ, hân hoan vui sướng reo ầm lên, chứng kiến kẻ thù bị trừng trị đích đáng
ngay giữa bầu trời Thăng Long văn vật. Hai chiếc B52 bị hạ gục. Một chiếc rơi
ngay xuống cánh đồng phía bắc Thủ đô. Chiến sỹ ta kiểm tra tại chỗ xác chiếc
máy bay rách nát tả tơi, phát hiện một mảnh có tấm phù hiệu sặc sỡ vẽ biểu
tượng một quả đấm thép, ba tia chớp, một cành nguyệt quế, cùng dòng chữ Stratagic Air Command (Bộ chỉ huy không quân chiến lược) và cạy
ra một tấm nhãn kim loại nhỏ còn rõ chữ Aircraft Model B52G được
mang về làm vật chứng trình lãnh đạo cấp cao.
Đêm 19 tháng
12, đài phát sóng Mễ Trì bị đánh trúng. Tiếng nói Việt Nam ngừng trong chín
phút sau đó lại bình tĩnh vang lên, vạch trần tội ác của quân xâm lược và hân
hoan thông báo tới đồng bào cả nước và nhân dân toàn thế giới: Thêm ba chiếc
B52 nữa bị tan xác trên bầu trời Thủ đô, phi công B52 bị bắt sống.
Liên tiếp đến
ngày 23, đêm nào cũng xảy ra những trận chiến ác liệt không kém. Đặc biệt đêm
22 chúng bỏ bom đánh sập một phần bệnh viện Bạch Mai, làm chết nhiều người bệnh
và thầy thuốc đang hành nghề nhân đạo. Tuy nhiên, trận nào quân và dân ta cũng
hạ được nhiều máy bay các loại trong đó có B52 và bắt sống phi công.
Ngày 24, Hoa
Kỳ tuyên bố ngừng tiến công 36 tiếng đồng hồ để đón Chúa giáng sinh và kêu gọi
nhà cầm quyền Bắc Việt nên biết điều, hãy quay trở lại hội nghị Paris, làm theo
ý Mỹ. Tổng hành dinh ở Hà Nội nhận định đây chỉ là hành động cuối cùng của kẻ
vũ dũng ỷ vào sức mạnh hung tàn đòi thoả lòng tham. Nhất định chúng còn nỗ lực
một lần nữa, sẽ quyết liệt hơn. Ta dồn sức chuẩn bị đối phó một trận quyết chiến
tuy khốc liệt mà thắng lợi nắm chắc trong tay.
Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng được cử tới trại giam Hoả Lò khai thác
những tên giặc lái vừa bị bắt. Ngồi trước mặt anh là một tên trung tá lái máy
bay B52 vẻ phờ phạc, mặt chưa hết kinh hoàng. Chân trái y cứng đờ trong ống bột
đăng cố định vì một cẳng chân bị gãy khi dù của y mắc vào một cành cây, rơi
xuống đất. Phi công ta chỉ vào cái chân đau của y hỏi:
- Chân anh
đau, liệu có đủ tỉnh táo nói chuyện với tôi không?
Nó làm dấu
thánh, mắt nhìn xuống đất:
- Lạy Chúa
lòng lành vô cùng. Tôi đã tưởng không chết vì cái chân này mà chết cháy vì
những cơn giận nảy lửa tóe ra từ những đôi mắt của bao nhiêu người già, trẻ,
gái, trai khi họ biết tôi là tù binh phi công Mỹ!
- Tôi cũng là
phi công, nếu lái máy bay qua nước anh gây nên những tội ác như vậy liệu người
Mỹ có tha thứ cho tôi không?
Y lại nhìn
xuống, tay làm dấu thánh, miệng lầm bầm điều chi không rõ.
- Tôi chỉ hỏi
anh mấy điều để cho anh có thời gian dưỡng sức. Máy bay của anh xuất phát từ
đâu?
- Thưa ngài
Trung tá! Từ căn cứ Anderson ở đảo Guam. Nhưng khi thi hành xong quân vụ có thể
được lệnh hạ cánh ở Okinaoa hoặc Utapao.
- Người ta có
nói cho anh biết vì sao phải dùng B52 đem bom dội xuống các thành phố và Thủ đô
của chúng tôi không?
- Chúng tôi
được chỉ thị rằng phải hỗ trợ cho việc làm của Tổng Thống Nixon. Cấp chỉ huy
trực tiếp của chúng tôi nói đây là những phi vụ cực kỳ quan trọng.
- Anh đã thực
hiện bao nhiêu phi vụ như thế này trên lãnh thổ Việt Nam?
- Gần mười
phi vụ, kể từ phía nam ra tới Hải Phòng và lần đầu bay ra Hà Nội.
- Trên một
máy bay B52, biên chế bao nhiêu nhân sự?
- Như máy bay
B52–G hiện nay, có tất cả sáu người… Một phi công lái chính còn gọi là cơ
trưởng, một lái phụ kiểm tra động cơ bay, một hoa tiêu chính theo dõi bản đồ
dẫn đường bay, một hoa tiêu phụ điều khiển hệ thống radar và bấm nút cắt bom
khi có hiệu lệnh, một sỹ quan điện tử điều khiển hệ thống điện toán tự động, lo
an toàn cho cả chuyến bay – Người này quan trọng nhất, cấp bậc có khi cao hơn
cơ trưởng và một hạ sỹ quan giữ khẩu đại liên đề phòng cận chiến khi có máy bay
đối phương tập kích.
- Anh đã có
bao nhiêu giờ lái máy bay rồi?
- Cho tới lúc
bị bắn rơi là hơn ba ngàn giờ lái. Ngoài ra tôi còn lái hơn mười loại máy bay
khác nữa.
- Mỗi lần
nhấn nút có bao nhiêu trái bom rơi?
- Hai mươi
bảy trái loại 750 bảng Anh, tương đương 340 kilôgam .
- Một phi cơ
B52 mang được bao nhiêu trái bom như thế?
- Khoảng một
trăm trái và có thể hơn!
- Có nghĩa là
mỗi phi vụ anh bốn lần nhấn nút, dọc theo tuyến bay. Anh có nghĩ điều gì sẽ xảy
ra sau đó?
Y lúng túng, trả lời ấp úng:
- Thật sự, tôi không biết nói sao. Tôi chỉ là
người lính! Trong quân đội, chúng tôi được mang danh là sỹ quan quí tộc và tự
hào mình làm chiến tranh sạch sẽ. Chúng tôi
ngồi trong buồng lái đầy đủ tiện nghi, mãi trên cao hàng chục kilômét, không
nhìn thấy gì hết ngoài khoảng không đầy mây trước mặt. Là người lái, tôi chỉ
nhìn vào bảng điều hành độ cao, tốc độ theo sự dẫn đường của hoa tiêu nhìn trên
bản đồ và sự điều khiển từ sở chỉ huy. Mỗi người một phận sự, làm việc như một
cái máy theo các ký hiệu đèn xanh, vàng, đỏ và những sóng tần trên bảng chỉ
dẫn. Mọi việc sau đó tuần tự thực hiện theo một hệ thống dây truyền. Khi trở về
căn cứ, chúng tôi coi như trả xong món nợ. Ngày mai, khi giao ban, người ta
chiếu lại trên màn hình, đánh giá công việc chúng tôi làm đã đạt yêu cầu hay
chưa. Mọi sự đúng sai là do hệ thống máy móc tự động có chính xác hay không?
- Nghĩa là anh cũng không hề nghĩ tới có bao
nhiêu nhà cửa, nhà thờ, nhà thương, trường học và bao nhiêu mạng người chết bởi
việc mình làm?
Y tái mặt đi,
lắp bắp :
- Chiến
tranh… Chúng tôi phải làm theo lệnh của cấp trên!
- Anh đã thấy
người Việt Nam nào mang vũ khí sang nước Mỹ giết hại chỉ một con vật chưa?
Trong khi các anh tự hào nước Mỹ là tổ quốc của tự do và nhân quyền ?
Y run rẩy vì
thấy người hỏi cung mình sẵng giọng và mặt đỏ lên. Trung tá phi công Huỳnh Anh
Dũng nén lòng lại, cố giữ sự bình tĩnh:
- Ở khách sạn
Hilton đặc biệt này, anh có gặp
nhiều sỹ quan bè bạn của anh không?
- Tôi nghe
người nào lúc mới tới đây cũng gọi là khách sạn Vỡ tim! Thật là khủng khiếp. Lúc đầu, chúng tôi nghĩ như một cuộc dạo chơi.
Vì xét về tương quan lực lượng, các ông không thể nào chạm tới đuôi máy bay chứ
đừng nói tới chuyện uy hiếp được chúng tôi. Máy bay của các ông cổ lỗ, làm sao
qua nổi nhiều tầng bảo vệ bởi các loại máy bay hiện đại nhất của chúng tôi để
tiếp cận B52 được. Tên lửa đất đối không SAM-II, có thể với tới tầm xa 32
kilômét, nhưng theo tin tình báo của chúng tôi, mấy năm nay đồng minh của các
ông giảm nhiều mức viện trợ loại vũ khí chiến lược tối tân. Các quả tên lửa cũ
kỹ lấy ra từ trong kho liệu có còn phát huy tác dụng? Đặc biệt tên lửa như một
thằng mù hung hãn. Con mắt của nó là hệ thống rada dẫn đường đã bị chúng tôi
bịt kín rồi!
- Tên lửa đất
đối không của Liên Xô, người Mỹ gọi là SAM2, thực ra nó mang tên một dòng sông
Nga thơ mộng Đờvina với ký hiệu CA–75–M. Khi đến Việt Nam nó thành con Rồng
Lửa! Chúng tôi biết, các anh có nhiều máy móc gây nhiễu xạ rất tinh vi, chẳng
những đặt trên các máy bay EB-66 luôn đi kèm với B52, mà còn có hệ thống máy
nhiễu xạ rất lớn phát ra từ những hạm tàu thường xuyên di chuyển ở ngoài khơi
vùng biển của chúng tôi. Có lẽ vì thế mà các anh chỉ đánh về đêm để bịt nốt
những con mắt này…
Anh đưa tay
chỉ vào đôi mắt của mình:
- Và tin rằng
hỏa tiễn của chúng tôi chẳng mấy nỗi sẽ không còn một trái?
- Hồi tháng Tư, chúng tôi đánh Hải Phòng, Hà
Nội. Các ông bắn lên hàng trăm quả SAM2, cứ như đạn tiểu liên bắn lên trời mà
có chạm vào đuôi hay cánh một chiếc B52 nào của chúng tôi đâu. Ở Câu lạc bộ sỹ
quan căn cứ không quân, trong khi các phi công lái máy bay chiến đấu tỏ ra lo
lắng, luôn miệng cầu Chúa ban phúc lành thì cánh phi công chiến lược chúng tôi
vui vẻ bảo nhau: B52 có thể đánh bất kỳ đâu ở Việt Nam mà không hề sợ
tróc sơn!
Trung tá phi
công Huỳnh Anh Dũng cười mai mỉa:
- Chỉ một
tuần nay đã có gần hai mươi B52 của các anh bị tên lửa của chúng tôi bắn hạ…
Nhìn thấy các bạn của anh đang ở đây là có thể tin những điều tôi nói không
sai. Trong khi lầu Năm Góc đã tính chúng tôi không đủ sức chịu được qúa ba
ngày!
- Xin lỗi! Hay là người Nga bí mật sang đây,
mang theo những loại vũ khí mới tối tân hơn?
- Chúng tôi
rất cần sự giúp đỡ của tất cả bạn bè, những người yêu chuộng hòa bình và công
lý trên toàn thế giới, ngay cả những người Mỹ chính trực và lương thiện. Nhưng
chúng tôi tự bảo vệ tổ quốc của mình. Các anh không thắng được chúng tôi vì đi
gây chiến mà không hiểu đối phương thì làm sao thắng được!
- Các ông
thật đáng kính phục. Trước đây, chúng tôi nghĩ các ông giỏi lắm cũng chỉ tới
mức sử dụng được các loại súng bộ binh, tới mấy khẩu cao xạ thông thường. Không
ngờ các ông nhanh chóng làm chủ các phương tiện chiến tranh hiện đại, đấu trí,
đấu sức làm cho các tướng lĩnh nổi danh của chúng tôi thất vọng.
- Về các
phương tiện chiến tranh, còn lâu chúng tôi mới theo kịp các anh. Nhưng chúng
tôi chiến đấu trên bầu trời tổ quốc chúng tôi. Dân tộc chúng tôi có đủ thông
minh, dũng cảm, quyết bảo vệ tổ quốc của mình. Anh nghĩ sau nghỉ lễ giáng sinh,
bộ chỉ huy hành quân Linebecker II có giở thêm trò gì mới nữa không?
Y cúi đầu
buồn bã :
- Thường thì
người Mỹ chúng tôi chỉ khi nào thất bại rồi mới bắt đầu suy nghĩ về việc mình
làm đúng hay sai, nên hay không nên. Họ vẫn còn tin vào sức mạnh Mỹ. Họ từng ra
lệnh cho chúng tôi ném bom tới mức bão hòa. Tuy nhiên họ sẽ tập trung đánh mạnh
hơn và có thể cùng lúc đánh ra diện rộng để phân tán hỏa lực của các ông. Ông
Nixon đã nghĩ tới việc dùng bom nguyên tử ở Việt Nam nhưng tôi nghĩ cái thời
người Mỹ có thể làm được việc ấy là lúc họ muốn cứu nguy người Pháp ở Điện Biên
Phủ. Mà thời đó qua rồi! Trong một điều kiện nào đó thì với cấp bậc như tôi không thể nghĩ tới. Nhưng tôi
tin lúc này là không thể. Dù sao ông Diều hâu ấy cũng đã nói thẳng ra rằng: “Chúng ta sẽ không chịu vừa rút
quân vừa khóc thầm. Phải cho nổ tan tành quân khốn kiếp!” – Tôi xin lỗi, đấy là nguyên lời của ông
ta! Điều họ có thể làm được là cải tiến kỹ thuật để vô hiệu hóa hệ thống rada.
Nhưng thưa ngài trung tá… Như thế có nghĩa là chiến tranh chưa thể kết thúc? Và
chúng tôi phải ở đây mãi cho đến ngày về chầu Chúa!
Trung tá Dũng
gay gắt:
- Các anh
không phải là tù binh vì các anh vô cớ mang bom dội lên đầu tàn sát nhân dân
tôi. Người Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh diệt chủng, hủy diệt cả môi
trường, môi sinh… Các anh là tội phạm chiến tranh và đã bị toà án Bectrand
Russel tuyên án trước toàn thế giới! Tuy nhiên, ở đây, các anh vẫn được đối xử
theo truyền thống hòa hiếu của dân tộc chúng tôi. Còn việc phải ngồi tù bao lâu
nữa là tùy thuộc hoàn toàn vào chính phủ của các anh có muốn hòa bình, tôn
trọng quyền độc lập tự quyết của người Việt Nam chúng tôi không.
Anh đứng dậy,
đưa cho y một điếu thuốc, y sung sướng, cảm ơn rối rít. Anh thương hại, thấy
phải giải thích cho y rõ :
- Chiến tranh
liên miên làm cho đất nước chúng tôi nghèo lắm. Trong khi nhân dân chúng tôi
còn thiếu ăn, những người lính chúng tôi cũng chỉ được những khẩu phần hạn chế
mà mỗi tù binh các anh được nhà nước chúng tôi chi cho tiền ăn một ngày gấp đôi
lương bình quân một ngày của sỹ quan cấp như tôi. Tiêu chuẩn đặc biệt bồi dưỡng
sức chiến đấu của tôi cũng như của vợ tôi dạy học, phần lớn dành cho thằng con
trai bốn tuổi của chúng tôi!
Y ngước nhìn
người sỹ quan đối phương bằng đôi mắt thật buồn và biết ơn:
- Cám ơn ngài
Trung tá! Tôi cho rằng lịch sử đứng về phía các ông, đạo lý thuộc về các ông.
Trong số sỹ quan của chúng tôi cũng có người nhận ra điều đó và họ đã phản
chiến. Trong lòng tôi cảm phục và hoan nghênh nhưng không đủ can đảm làm như
thế. Các ông sẽ thắng và thực tế các ông đã thắng.
Anh vừa quay
đi, nhìn quanh không thấy có ai, y bước sát tới anh hỏi nhỏ:
- Thưa ngài
Trung tá! Địa điểm trại giam này có được giữ bí mật không?
Anh trừng mắt
nhìn y, nghiêm nghị :
- Chúng tôi
nhất định bảo vệ được trái tim của tổ quốc mình. Từ đây, đã nhiều lần chúng tôi
cho hàng đoàn tù binh phi công Mỹ đi diễu trên các đường phố Thủ đô hoặc làm
một số việc lao động công ích để cho họ thấy nhân dân chúng tôi phải kìm nén sự
căm phẫn và giữ lòng nhân đạo đến mức độ nào. Nhiều nhà báo, kể cả người nước
ngoài cũng được vào đây gặp gỡ và phỏng vấn tù binh phi công Mỹ. Chúng tôi đã
dự liệu khả năng hoặc là người Mỹ sẽ hủy diệt để phi tang như đã từng làm trên
chiến trường, hoặc là họ sẽ tái diễn một trận không tập với bí danh “chiến dịch
Bờ biển Ngà” hai năm trước cách đây 20kilômét về phía tây bắc để giải cứu tù
binh nhưng thất bại! Tình huống nào chúng tôi cũng có phương án đối phó chủ
động cả rồi.
Anh giận dữ
bước đi thật nhanh trong khi viên phi công tù binh mặt tái xanh, run rẩy làm
dấu thánh và đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.
Trên đường về đơn vị, phi công Huỳnh Anh Dũng bảo anh lái xe vòng qua
nơi sơ tán thăm vợ và con. Nghe có anh phi công chồng cô giáo Cẩm Nhung về đây,
các thầy, cô giáo, học trò và bà con làng xóm kéo đến chật nhà, đầy sân ra đến
ngõ để tận mắt được nhìn người nhà trời, có bộ răng trắng đều, miệng rất tươi,
lúc nào cũng như cười mà lại là người anh hùng có nhiều kỳ tích bắn rơi mấy máy
bay Mỹ. Thằng cu con nhìn cha như người
lạ, cứ nép vào lòng mẹ. Cha nó thỉnh thoảng liếc nhìn con vì phải vui vẻ trả
lời đủ loại câu hỏi của các cô gái, chàng trai, em nhỏ, vừa tò mò vừa thán
phục. Một cụ già lo lắng hỏi:
- Nó đánh Hà
Nội, Hải Phòng rồi có đánh rộng ra nữa hay không?
- Bác Hồ biết
trước rồi và đã căn dặn chúng tôi: “Nhớ là trước khi thua ở
Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua.
Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Với đà B52 rơi rụng thế này thì nó lấy ở đâu ra nữa để đánh rộng ra
cả nước mình?
Lời nói quả
quyết tự tin của người phi công lại được xác minh bằng lời tiên đoán của Bác
Hồ, mang đến niềm tin và phấn khởi cho mọi người.
Bà chủ nhà te
te bưng lên cái mâm gỗ bày lù lù hai đĩa xôi lạc to tướng và hai quả trứng
ngan, vừa đặt lên cái phản giữa nhà vừa nói bâng quơ:
- Chẳng ai có
ý tứ gì. Người ta đi đường xa về thì đói, lại chẳng có bao lâu thì giờ tâm tình
với con, với vợ mà ai cũng tíu ta tíu tít thì chẳng còn có tí gì gọi là tâm lý
cả. Tôi đề nghị mọi người giải tán để có chút cây nhà lá vườn bồi dưỡng các anh
bộ đội giữ yên bầu trời cho các cháu học sinh yên vui học tập và bà con làng
xóm mình thi đua tăng gia sản xuất…
Lời nói của
bà chủ nhà thật có uy. Chỉ một loáng, căn nhà trở nên rộng mênh mông. Mấy mẹ
con bà chủ nhà cũng dắt anh lái xe bê đĩa xôi qua nhà hàng xóm. Cẩm Nhung giao
con cho chồng. Cha nó rúc đầu vào bụng thằng bé, dụi dụi, làm nó bật cười ré
lên. Anh đặt con lên vai, đung đưa chạy quanh nhà làm cho thằng bé khoái chí
cười như nắc nẻ. Một thoáng hạnh phúc đơn sơ bao trùm lên khuôn mặt người phụ
nữ. Cha nó khen:
- Thằng này
lớn lên làm phi công được đây!
- Đừng con ạ! Lúc ấy già rồi mà cứ nơm nớp lo
chắc mẹ chết sớm qúa.
- Ô! Lúc đó nó phải lái máy bay hàng không dân
dụng đưa mẹ vào ra Sài Gòn–Hà Nội như đi chợ rồi lại đi vòng quanh khắp thế
giới chu du thiên hạ xem có mê ly không nào?
- Phi công
lái máy bay lớn phải cao to chớ dài hơn mét sáu, nặng hơn năm chục kilô như cha
nó, không còn ai người ta mới tuyển!
Anh cười khà khà, chuyển thằng cu bồng xốc
trên vai:
- Đến lúc ấy hòa bình là con mình no đủ rồi.
Không như cha nó, thời học sinh lúc nào cũng đói dài. Phải nịnh mấy chị cấp
dưỡng xin thêm miếng cháy. Lỡ bị lộ ra, hai chị em đều bị phê bình là xâm phạm
vào xuất ăn của con heo!
Anh ôm con
nựng trong lòng, âu yếm nhìn vợ, rên rỉ ngâm nga:
- Chứ đâu có
như mẹ Cẩm Nhung bây giờ… lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi… biền biệt…
Nhỡ khi mình… chậm về thì thương người vợ…
này này – Anh hôn vào má vợ bật lên một tiếng thật to.
Cẩm Nhung vỗ
yêu vào má chồng :
- Thiếu gì
thơ hay mà đi xuyên tạc thơ của người ta là yếu… văn lắm đấy nhé!
Thằng bé nằm yên giữa lòng cha mẹ trong khi
hai vòng tay người lớn choàng ôm chặt lấy nhau như không muốn rời ra. Đấy là
giây phút hạnh phúc ngây ngất hiếm hoi với cả hai người.
Hết 36 giờ nghỉ lễ, đêm 26 tháng 12, lầu Năm Góc tập trung lực lượng
lớn, ra đòn quyết định. Ngoài việc tăng thêm công xuất gây nhiễu từ các máy đặt
trên hạm tàu đậu sát ngoài khơi và thêm số máy bay EB-66 gây nhiễu, không lực
Hoa Kỳ còn cho máy bay F4 thả dày đặc những sợi kim loại dọc theo đường bay của
B52, nhằm tạo mục tiêu giả và gây kích thích ngòi nổ vô tuyến, làm cho tên lửa
phát nổ trước khi gặp mục tiêu. Hàng trăm máy bay B52 và các loại máy bay chiến
thuật với mật độ dày đặc, chớp nhoáng trong 15 phút, cùng lúc tấn công cường
tập ba mục tiêu Thái Nguyên, Hải Phòng và đặc biệt là Hà Nội, hy vọng đánh gục
đối phương trong thời gian cực ngắn. Hàng trăm điểm dân cư bị tàn phá trong đó
nặng nề nhất là cả phố cổ Khâm Thiên biến thành đống đổ nát nghi ngút lửa khói,
làm chết hàng ngàn thường dân vô tội. Hà Nội chẳng những không sụp đổ, trái lại
số máy bay Mỹ lại bị hạ gục nhiều hơn: tám chiếc B52 cùng số phi công Mỹ chết
tan xác và bị bắt cũng nhiều hơn.
Phi công
Huỳnh Anh Dũng phát biểu trước tập thể:
- Nó không lỳ
mãi được đâu. Đừng để nó coi thường MIG không thể chạm tới B52 được. Đây là dịp
cuối cùng, để lỡ thì uổng qúa!
Phi công, ai
cũng sôi lên muốn được một phen cho con mẹ phù thủy kiêu ngạo ấy biết tay. Vũ
Xuân Thiều nắm tay Huỳnh Anh Dũng giơ lên :
- Xin cho
chúng tôi được tiêu diệt nó!
Cấp chỉ huy
nhìn những chiến sỹ từng qua nhiều thử thách, được tuyển chọn vào đội đánh đêm,
gửi lòng tin tưởng:
- Đêm nào
chúng ta cũng phục kích nhưng con cáo già này gian manh lắm, nên chưa hiệu quả.
Lần này ta bố trí đón lõng cả hướng bắc, nam, tạo thế bất ngờ. Phát hiện địch
phải nắm thắt lưng nó mà đánh cho
bằng được. Hy vọng một chàng trai Hà Nội với một chàng trai Sài Gòn sẽ làm nên
chuyện.
Hai người
biết nhau từ những ngày mới học lái máy bay bên nước bạn, lại càng hiểu nhau
trong chiến đấu, nắm chặt tay nhau, thầm nghĩ rằng bảo vệ bầu trời thủ đô cũng
là bảo vệ những người thân yêu ruột thịt của mình. Hai anh lập tức lên đường
vào Thanh mật phục vì địch chủ quan nghĩ rằng sân bay trong đó đã bị phá hủy,
không thể phục hồi ngay được. Thiều tâm sự với Dũng:
- Đã có lần
mình đánh lừa được chúng nó... Nhưng khi tiếp cận với con mẹ phù thủy ấy thì...
hết đạn! Lần này mình quyết không tha xem ai thắng ai nào?
Đêm 27 tháng
12, Hà Nội hạ bốn chiếc B52 nữa, có chiếc rơi ngay xuống làng hoa Ngọc Hà,
không xa nhà của Vũ Xuân Thiều. Đặc biệt phi công Phạm Tuân bí mật xuất kích từ
một sân bay dã chiến ở Yên Bái, lái chiếc MIG-21 tiếp cận mụ phù thủy quen ỷ
vào bùa phép lạ, đốn gục một B52 nữa ngay trên bầu trời cửa ngõ Hòa Bình và trở
về đất mẹ an toàn.
Nghe tin ấy,
quyết tâm của hai chiến sỹ phi công càng được vững tin.
Tinh mơ sáng
ngày 28, đúng theo hợp đồng chiến đấu, từ sân bay Cẩm Thủy, máy bay của Huỳnh
Anh Dũng xuất phát trước, cố tình sớm để lộ mình, làm chim mồi khiêu khích nhử
bày máy bay chiến thuật tầm thấp phát hiện và lao theo cánh chim đơn độc. Anh
nhận việc làm nguy hiểm để đồng đội Vũ Xuân Thiều thừa cơ cho máy bay xuất
kích, ẩn mình vượt lên tầm cao... Chiếc B52 nhấp nhánh đèn như đi dạo chơi
hướng vào bầu trời Hà Nội. Khi phát hiện đang bị đối phương truy kích thì cự ly
đã qúa gần. Không kịp nhả bom, nó thả vội ra hai quả tên lửa lạc hướng. Đúng
lúc Vũ Xuân Thiều nhấn cả hai quả tên lửa của mình phóng vụt ra. Tên lửa đụng
tên lửa nổ tung. Chiếc B52 chỉ bị thương, chòng chành, lảo đảo tìm cách thoát
thân. Thiều nhìn rõ mấy tên giặc trong buồng lái ôm đầu co rúm lại. Cùng lúc
máy bay của Huỳnh Anh Dũng bị thương. Sở chỉ huy ra lệnh cho anh nhảy dù ra.
Anh điện gọi bạn cho “chim về tổ”... Chợt nghe tiếng
trả lời vội vã:
- B52 bị
thương! Hết đạn! Rất gần! Quyết không cho nó thoát !
Huỳnh Anh
Dũng nhận ra một tiếng nổ vang rền cùng khối lửa lớn bùng lên phía trên bầu
trời Sơn La đang bừng bừng rơi xuống. Anh chỉ kịp thốt lên trong máy:
- Đồng chí Vũ Xuân Thiều!
Máy bay anh lao vun vút không điều khiển được
đúng ngay trên bầu trời thành phố. Anh không thể nhảy ra để chiếc máy bay rơi
tự do xuống những mái nhà còn sót lại giữa đống đổ nát dưới kia. Anh cố chỉnh
tay lái, nán lại cho máy bay qua được chỗ này. Khi máy bay tới độ thấp nhất,
anh định bấm nút nhảy ra, chợt giật mình nhận ra máy bay đang lao thẳng xuống
một đám đông nháo nhào lố nhố. Hình như là trường học! Anh nghiến răng, hết sức
kéo cần cho máy bay chếch đầu lên một chút. Anh không kịp nhảy ra khi chiếc máy
bay sượt qua mái trường và rơi ngay gần đó. Tại Sở chỉ huy, cùng lúc với màn
huỳnh quang trên máy radar phụt tắt hết các mục tiêu, mọi người chỉ kịp nghe
một tiếng nổ Bùng!
Trên chiếc xe
com măng ca của đơn vị về đón
Cẩm Nhung, anh cán bộ trợ lý chính trị cầm tờ báo Quân đội nhân dân, đọc to lên dòng tít và những hàng chữ lớn
ở trang đầu:
Sáng ngày 30 tháng 12, theo giờ Hà Nội. Trong tâm trạng thất vọng
và cay đắng, Tổng Thống Mỹ đã phải ra lệnh ngừng oanh kích vào các thành phố
lớn ở miền Bắc Việt Nam và kêu gọi nối lại cuộc hòa đàm ở Paris vào ngày 8
tháng 1 năm 1973: Sau 12 ngày đêm điên cuồng không tập, Hoa Kỳ
đã mất 81 chiếc máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B52,
bằng 17% số máy bay tham chiến, gần 10% tổng số máy bay chiến lược hiện có và
năm chiếc máy bay chiến đấu cánh cụp cánh xòe F111A, hiện đại nhất của không
lực Mỹ. Tổn thất lớn nhất của Mỹ là nhiều phi công bị chết và bị bắt sống đang
phẫn nộ và chán chường ngồi trong các nhà tù của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, đợi ngày phóng thích. Đế quốc Mỹ
đã thua trên bầu trời Hà Nội. Lịch sử giữ nước Việt Nam lại ghi nhận một trận
Điện Biên Phủ trên không. Nó chứng minh tinh thần yêu nước Việt Nam là bất diệt
và khẳng định niềm tin của Bác Hồ kính yêu trước lúc Người đi xa. Trong buổi
gặp mặt cán bộ chiến sỹ quân chủng Phòng không–Không quân sau đó, cố vấn Lê Đức
Thọ khẳng định: “Không có chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, làm gì có
thắng lợi ở hội nghị Paris”. Sau này Nixson ghi trong hồi ký: “Nỗi lo
của tôi trong những ngày này không phải là lo những làn sóng phản đối, phê phán
nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy
bay B52 quá nặng nề!”.
Thằng bé
Huỳnh Anh Minh vô tư giật lấy tờ báo cũng giơ lên ra vẻ đọc trong khi mẹ nó như
người mộng du, không biết chuyện gì sẽ xảy ra và trong lòng chị linh cảm điều
lành thì ít, điều dữ thì nhiều.
Cẩm Nhung lao
vào phòng cấp cứu Viện quân Y 108. Một khối băng trắng nằm bất động. Dù không
nhận dạng nhưng không ai khác nữa ngoài chồng chị. Chị ôm choàng lấy người
chồng thân yêu, khóc oà lên:
- Anh ơi! Em và con đến đây rồi! Anh có nhận
ra không?
Trong cõi âm u mù mịt, văng vẳng tiếng gọi mơ
hồ, anh cảm thấy như có ai lôi dần mình lên từ đáy cái hố đen thăm thẳm. Lại có
tiếng trẻ con lanh lảnh như điệu nhạc quen thuộc êm ấm thân thương:
- Mẹ ơi!… Ba…
Ba đâu?
Anh lờ mờ
thấy trước mắt hiện ra một mái trường với những đứa trẻ thơ đang mừng vui ríu
rít giơ tay lên vẫy vẫy. Chắc là học trò của vợ anh. Anh nhớ rõ chiếc máy bay
của anh như con chim khổng lồ gãy cánh lao vun vút xuống chùm lên bầy trẻ. Như
có điều gì linh thiêng thức tỉnh. Bàn tay anh động đậy, quơ quơ. Môi anh mấp
máy bật ra theo hơi thở yếu ớt :
- Các cháu…
học sinh… có… sao… không?
Cẩm Nhung
không biết điều gì đã xảy ra với chồng mình. Chị kéo bàn tay con áp vào tay cha
nó và nâng cả hai bàn tay ấy lên ấp vào mặt mình. Anh cán bộ trợ lý chính trị
hiểu ra sự việc, ghé sát vào tai đồng đội nói thật to lên :
- An toàn!
Bình yên! Đồng chí tỉnh dậy… nhìn chiến thắng!
Tiếng người
gần xa văng vẳng không rõ nhưng dường như báo hiệu một tin vui. Trước mặt anh,
ánh sáng bừng lên. Trên lơ lửng bầu trời, ngọn lửa chói chang long lanh ánh hào
quang muôn sắc. Bạn anh – Vũ Xuân Thiều hiện ra, tươi cười dang đôi cánh rộng,
bay xuống thật gần. Hơi ấm từ ngọn lửa ấy làm người anh càng nóng ran lên. Anh
cố giơ tay lên và cảm thấy như tay mình đã nằm trong tay bạn… Anh rướn người
lên… ngưng thở… trút đi cái bóng đen nặng nề, đớn đau, trì níu. Thân mình anh
nhẹ hẫng như một tia sáng vút bay lên…
để lại trên đôi môi khô rộp một bông hoa tươi rói.
Bàn tay anh
như không đỡ nổi những giọt nước mắt của người vợ thân yêu nữa, rời ra. Cẩm
Nhung thảng thốt nhìn lên nét mặt chồng đen cháy vô hồn. Chị ôm lấy anh, lay
động gào lên :
- Anh Dũng ơi! Anh Dũng ơi! Đừng bỏ em! Đừng
bỏ con!... Anh Dũng!
No comments:
Post a Comment