CHƯƠNG NĂM
Từ tàu Maddox tới khách sạn Hilton Hà Nội
(Chiến tranh phá hoại)
a{b
Ngày 05 tháng 8 năm 1964, từ các tàu sân bay của Hạm đội VII đậu ở ngoài
khơi vịnh Bắc Bộ, hơn 40 chiếc máy bay xuất kích hàng trăm lần đánh phá các căn
cứ của Hải Quân nhân dân Việt Nam từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Tuy bị đánh bất
thần nhưng với sức chống trả quyết liệt, nhiều máy bay của không lực Mỹ lần đầu
tiên bị bắn rơi ngay trên vùng trời, vùng biển Việt Nam. Phi công Mỹ bị bắt
sống bêu hình trên các báo ngay sớm hôm sau làm nôn nao náo nức lòng người.
Lầu Năm góc thanh minh rằng Hải quân Mỹ buộc
phải đánh trả đũa vì trước đó, ngày 4 tháng 8, Tuần dương hạm Telnejoy trong
khi làm nhiệm vụ tuần tiễu ở hải phận quốc tế đã bị tàu chiến của quân Bắc Việt
Nam khiêu khích, tấn công! Thực sự là từ đêm 31 tháng 7, tàu khu trục Maddox
của Hải quân Mỹ đã vượt vĩ tuyến 17 tiến sâu vào vùng biển Quảng Bình, Nghệ An,
Thanh Hóa. Có nơi chỉ cách bờ 5-6 hải lý. Từ các đài quan sát, lính quan trắc
dùng ống nhòm có thể nhìn rõ số hiệu DD731 nơi mũi tàu. Ngày 1 tháng 8, pháo
trên tàu bắn vào các đảo và dọc theo bờ biển thăm dò. Trưa ngày 2 tháng 8, ba
tàu phóng ngư lôi của Hải quân Nhân dân Việt Nam được lệnh xuất kích tiếp cận
tàu Maddox ở gần đảo Hòn Nẹ – Thanh Hóa. Cuộc đụng độ không cân sức. Phía Mỹ
tàu lớn lại có không quân yểm trợ, hỏa lực áp đảo. Phía Việt Nam có tổn thất
nhưng tàu Mỹ cũng phải tăng tốc rời khỏi hải phận Việt Nam. Đó là cơ hội để Lầu Năm Góc kích động dư luận Mỹ đồng tình đẩy mạnh
cường độ cuộc chiến tranh.
Tổng Thống Kennedy lúc sinh thời đã được tướng
Taylor khuyến cáo cần phải tấn công ngay Bắc Việt Nam bằng không quân để răn đe
Hà Nội. Năm 1963, giữa nhiệm kỳ, lúc đang được nhiều người kỳ vọng, ông bị bắn
chết trên đường phố Dallas ở bang Texas. Thế ngôi chủ của Nhà Trắng, ông
Johnson vẫn đi theo vết chân của người tiền nhiệm, lập tức thông qua Kế hoạch 34A do thám và đánh phá Bắc Việt Nam bằng không
quân và hải quân. Giới quân sự Mỹ hoạch định sẵn 99 mục tiêu cụ thể trên lãnh
thổ Bắc Việt Nam và đã thông báo cho chính quyền Sài Gòn trong cuộc gặp tại
Honolulu trước đó. Vấn đề là tìm một lý do nào để dư luận thấy là chính đáng.
Bây giờ là dịp Lầu Năm Góc dựng
lên sự kiện Vịnh Bắc bộ để lấy cớ đòi
Chính phủ khiếu kiện ra Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc
và Quốc hội thông qua nghị quyết cho phép Tổng thống được sử dụng những biện
pháp cần thiết để đẩy lùi mọi cuộc tấn công vũ trang chống các lực lượng của
Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ.
Đó là sự cởi trói cho Tổng thống Mỹ mặc sức tung hoành ngang ngược trên khắp lãnh thổ
Việt Nam bởi họ nghĩ khi người Mỹ nắm toàn quyền điều hành chiến cuộc họ sẽ
xoay trở tình thế dễ dàng, không để dây dưa kéo dài như bấy lâu nay nữa.
Thế là tháng 2 năm 1965, Tổng thống Johnson
bằng quyết định ném bom không giới hạn ra toàn miền Bắc đồng thời áp lực Quốc hội
Hoa Kỳ chuẩn y việc đưa lục quân Mỹ sang tham chiến ở Việt Nam, buộc người Việt
Nam phải lựa chọn giữa hòa bình và chiến tranh. Từ can thiệp từng bước vào cuộc tranh chấp địa phương, người Mỹ lún
sâu dần thành cuộc chiến tranh của chính mình ở một xứ Viễn đông xa xôi!
Ngọn lửa chiến tranh đã lan ra cả nước Việt
Nam dưới hai hình thức vô cùng khốc liệt: Ở miền Nam là cuộc chiến tranh cục bộ của nước Mỹ và ở miền Bắc là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ nhằm triệt
tiêu hậu cứ đối phương.
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Không có gì quí hơn độc lập–tự do
như lời thề quyết tâm giữ nước, thôi thúc
người người làm việc bằng hai để những chiến
sỹ hăng hái lên đường đánh giặc.
Ông Lý Qúy Dân đem hai đứa con sơ tán về quê. Lúc đầu ông lưỡng lự vì
thấy khó xử lắm. Cô Ngọt bảo chồng:
- Nếu như bố mẹ tôi còn thì các con về với
ngoại. Huống hồ cha nó sờ sờ ra đây mà các con phải đi ăn nhờ ở đậu thiên hạ
hay sao? Nhà thờ nội tộc đấy! Cha con ông vừa có quyền, vừa có trách nhiệm
trông nom tu bổ nơi thờ tự ông bà tổ tiên. Ai dám đứng ra ngăn trở cấm cản nào?
Nói cứng vậy thôi nhưng cô cũng thông cảm ẩn
tình của chồng mà thực bụng cũng là nỗi rối rắm của cô. Nhưng tình thế dồn cô
phải thế. Cô nói cho yên lòng chồng:
- Suy cho cùng thì ông cũng không thể từ bỏ
quê hương mà đi mãi được. Dòng giống nhà ông nảy nở sinh sôi ra từ đấy. Đây là
dịp để ông trở về sớm hơn thôi, mở đường cho con đi lại về sau. Bà ấy mà khôn
thì đây là cơ hội để làm lành, về sau còn có chỗ nương thân. Chứ nếu bà ấy cố
chấp gây điều khó dễ, trước hết thiên hạ chê cười, sau này hết quyền hết chức
cái thân gái già lõ mõ lủi thủi cô đơn có ngày chết thối ra xóm làng mới biết.
Ông cứ yên tâm dạy dỗ chăm sóc các con đi. Tiêu chuẩn vật chất tôi sẽ lo chu
toàn. Với người ta thì khó nhưng với mình lúc này lại dễ. Khối người không có
điều kiện sử dụng tem phiếu các loại đúng theo kỳ hạn thì phải bán rẻ đi. Mình
thu gom lại mua vào, bán ra. Dịp này là cải thiện được nhiều lắm đây!
Ông về trước thăm dò ý bà và xóm làng họ tộc.
Người thành thị đang sơ tán về các vùng quê có khác gì chạy tản cư thời chống
Pháp đâu. Người nhà quê dù nghèo nhưng lúc nào cũng hiếu khách và cởi mở dù là
người tứ xứ huống chi cha con ông về với quê hương. Nhà cửa ông mênh mông đó mà
tuyềnh toàng hoang lạnh. Bà sinh hoạt tập thể lâu lâu mới đảo về chốc lát lại
đi. Bà chẳng có quyền gì cấm cản được ông mặc dù trong lòng bà thấy gai gai
chương chướng thế nào. Bà ngăn biệt lập riêng ra một buồng, đừng có ai làm bà
vướng mắt.
Cái xe đạp là phương tiện lưu thông và vận tải
hữu hiệu nhất trong sinh hoạt thời chiến của người Việt Nam. Một tháng đôi lần,
con đường quê-tỉnh cả trăm cây số mà ở tuổi lục tuần ông vẫn đi lại băng băng,
đôi chân thêm cứng, gối càng dẻo dai. Ông vừa làm nhiệm vụ vận chuyển hàng tiếp
tế nuôi hai đứa con ăn học, tiện thể kết hợp lưu thông hàng hóa giữa thành thị
với nông thôn dưới sự điều hành tháo vát của người vợ đảm. Chiếc xe của ông
được cải tạo như chiếc xe thồ. Từ thành phố về, xe ông cồng kềnh những hàng nhu
yếu phẩm : xà phòng, khăn mặt, dăm mét vải, mấy bộ quần áo trẻ con, bao đường
cát vàng, túi kẹo, gói mì chính, bánh thuốc lào, tút thuốc điếu, những bao
diêm, tập vở, tá bút Trường sơn… Ở quê ra xe ông lặc lè bao gạo nếp, mớ đỗ
xanh, đỗ đen, mấy con gà, con vịt, chục trứng, dăm thẻ đường phên… Người tỉnh,
người quê nhờ vào ông khối việc. Ai cũng gian lao vất vả nhưng vợ chồng con cái
ông được no bụng ấm thân lại còn có của kín đáo để dành.
Cẩm Nhung dỡ
chiếc mũ rơm rộng vành ra khỏi đầu, móc vào tay lái xe, ngập ngừng đến gần anh
lính gác cổng sân bay. Anh lính chăm chăm nhìn cô gái trẻ trên mình đầy bụi
cát:
- Chị đến tìm ai?
- Tôi muốn gặp anh Huỳnh Anh Dũng?
- Ở đơn vị nào?
Cẩm Nhung lục trong túi xách đưa ra chiếc
phong bì. Anh ta liếc qua rồi nhìn cô gái dò xét :
- Anh ấy làm nhiệm vụ gì?
- Lái máy bay!
Anh lính hỏi vặn :
- Chị với anh ấy là thế nào?
Cẩm Nhung ấp úng :
- Là… bạn!
Anh lính cười :
- Bạn cấp mấy mà dám vượt đường xa nguy hiểm
đến thăm nhau lúc này ?
Cẩm Nhung hơi khó chịu nhưng cố làm lành :
- Vâng! Tôi từ Hà Nội lên. Anh thông cảm cho
tôi được gặp anh ấy để còn về kịp trong ngày.
Anh lính kiểm tra giấy tờ hợp lệ rồi mới đi
vào quay chiếc máy bộ đàm đặt trên nóc tủ trực ban. Khi trở ra, anh ta vui vẻ :
- May đấy, sắp đến giờ người ta trực chiến.
Chị đi thẳng đường này, tới ngã ba rẽ phải, đi một khúc qua dãy nhà A, rẽ trái,
tới dãy nhà bê (B), hỏi tới nhà xê (C) là nơi dừng chân sơ bộ. Sau đó tuỳ tình
hình sẽ được dẫn tới nhà dê (D)
hay đê (Đ) gì cũng được.
Anh ta tủm tỉm cười dặn với :
- Nhớ khẩn trương tranh thủ mà về, chớ có ham
qúa mà xơi bom Mỹ đấy!
Cẩm Nhung đã ra trường, làm cô giáo tại một
trường cấp III ở ngoại thành. Cô ở nội trú trong khu tập thể giáo viên, chiều
thứ bảy mới về nhà, sớm thứ hai lại đi. Ngoài chuyên môn, cô công tác đoàn thể
tích cực và được giao nhiệm vụ Bí thư chi đoàn trường và có chân trong Huyện đoàn nữa.
Ngày 03 tháng 4 năm 1965, Không quân nhân dân
Việt Nam bất thần xuất kích bắn rơi hai chiếc máy bay F8-Con ma của Không quân Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa
khi chúng vào đánh phá cầu Hàm Rồng. Tiếp đó ngay hôm sau, vẫn bằng những chiếc
máy bay MIG17, ta lại bắn gục hai chiếc F105-Thần sấm hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ. Bác Hồ
biểu dương: Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, nhiều lần quân và dân ta
đã dầm đầu kẻ địch trên đất liền, trên sông biển. Nhưng đây là lần đầu tiên
quân và dân ta dầm đầu kẻ địch ngay cả ở trên không! Cả nước nức lòng.
Trong một buổi mít tinh của nhân dân thành phố
chào mừng binh chủng Không quân của ta non trẻ mà đã lập được chiến tích vẻ
vang, Cẩm Nhung đại diện cho Đoàn thanh niên khối nhà trường được mời tham dự.
Mấy chiến sỹ lái máy bay tiêu biểu được đón chào nhiệt liệt. Các anh báo cáo
với bà con về những chiến công mà trước đó chưa hình dung nổi : Máy bay của ta
do nước bạn viện trợ đã thuộc loại cổ lỗ đến đời thứ mấy rồi, người ta chỉ dùng
để huấn luyện các phi công chiến đấu tập lái lúc đầu thôi. Trong khi máy bay
của Mỹ thuộc loại hiện đại đời mới nhất, vượt xa ta về tốc độ, đường dài, thời
gian bay và kể cả vũ khí tấn công nữa. Kẻ địch áp đảo về số lượng, khí tài, kỹ
thuật nhưng ta áp đảo nó bằng ý chí
chiến đấu bảo vệ tổ quốc mình, phát huy tinh thần chiến tranh nhân dân,
vận dụng chiến thuật đánh du kích, tiếp cận bất ngờ, bám thắt lưng địch mà
đánh, hợp đồng tác chiến dưới đất–trên
không, nên những chiến sỹ lái máy bay của ta dám đánh và đã thắng. Cẩm Nhung
càng sung sướng và cảm động nhận ra người bạn cùng học ngày nào nay là một
trong những phi công anh hùng ấy.
Trường Phổ thông cấp III Nguyễn Trãi ở phố Cửa
Bắc có một số bạn học sinh đặc biệt của miền Nam cùng học. Anh Dũng và Cẩm
Nhung học chung từ lớp 8 đến lớp 10. Anh chàng Dũng thích thể dục-thể thao. Cô
bé Nhung hay văn nghệ. Cả hai cùng là đoàn viên thanh niên tích cực nên còn lưu
nhiều kỷ niệm về một thời học sinh sôi nổi. Tuy nhiên học sinh Hà Nội lứa ấy đa
phần là con em các gia đình viên chức, binh sỹ, thương nhân… có nhiều dính dáng
tới chính quyền cũ và không ít người có quan hệ gần gũi với những người đã bỏ
vào Nam. Không như các bạn học sinh miền Nam toàn là con em những người kháng
chiến gửi ra miền Bắc đào tạo thành những hạt giống đỏ cho miền Nam sau này. Trong khi xã hội lại kích lên sự đối kháng giai
cấp không thể điều hòa, phân biệt đối xử giữa các thành phần xã hội. Cho nên ở
tuổi mới vào đời ấy, một bên luôn mặc cảm, một bên lúc nào cũng thấy tự hào. Dù
các bạn học sinh miền Bắc rất thương qúy các bạn học sinh miền Nam sớm thiếu
vắng tình cảm gia đình nhưng giữa hai bên vẫn có một sự cách biệt khó gần.
Bây giờ gặp người bạn một thời cắp sách trong
ánh hào quang của người hiệp sỹ đang chiến đấu bảo vệ đồng bào trong đó có
mình, lòng Cẩm Nhung không khỏi bồi hồi xúc động và sung sướng. Chiến sỹ phi
công Anh Dũng không ngờ gặp lại người bạn gái xinh xắn năm xưa mà anh vẫn mến
mến thương thương nhưng không biết làm sao gần được. Hai người ôm chầm lấy nhau
ríu rít như đôi bạn thân tình lắm trước sự vui mừng chia sẻ và cả sự ước ao của
không ít bạn trẻ đứng vây quanh. Dù yêu qúy người phi công anh hùng ấy, chẳng
những đã dũng cảm hạ gục một Thần sấm
Mỹ, lại thông minh khôn khéo đánh lừa địch hạ cánh an toàn trong một tình huống
đặc biệt xuống một bìa rừng, vừa thoát hiểm cho mình lại vừa bảo vệ được chiếc
máy bay qúi báu. Câu chuyện của anh kể nghe như huyền thoại giữa đời thường. Ai
cũng muốn nắm tay anh hoặc chỉ được sờ vào người anh thôi, xem người nhà
trời ấy có gì khác với người thường?
Nhưng lúc này mọi người tự động dãn ra thành một lối đi dù chật hẹp mà đôi bạn
vẫn có thể lách ra một chỗ vắng trao đổi tâm tình chốc lát.
Lá thư đầu tiên ngắn gọn, hơi hoa mỹ nhưng bộc
trực của con nhà lính, cô đọc mấy lần đã
thuộc:
Cẩm Nhung mến thương !
Từ ngày xa trường
NGUYỄN TRÃI, mình cứ tưởng Cẩm Nhung như một áng mây trời rất đẹp bay qua không
bao giờ trở lại ! Nhiều lần bay trên trời, chợt nhớ, mình thử liều bay vượt
trên cao độ cho phép để tìm… May ra…
Đột nhiên trong đêm
tối, giữa biết bao khuôn mặt mờ nhòa, mình lại được ôm đám mây ấy trong lòng dù
chỉ là khoảnh khắc. Hạnh phúc qúa !
Giá như mỗi lần hạ gục
một tên giặc trời, mình lại được một lần như thế. Hơn cả huân chương ! Hơn cả
mọi lời khen !
Phần thưởng ấy thật là
vô giá và chỉ có Cẩm Nhung mới có thể mang lại cho mình thôi !
Mình không hình dung
nổi đám mây ấy trắng, vàng, hồng hay là ngũ sắc. Nhưng mà đẹp lắm. Dường như nó
từ Cẩm Nhung tỏa ra đấy !
Đôi lúc mình nghĩ hạ
một chiếc máy bay giặc không khó bằng được chìm mình trong đám mây tuyệt vời
như thế !
Trong mình một chút
buồn thoáng qua !
Rất thân thương !
Những lá thư sau không hoa mỹ nữa, ngắn gọn,
thận trọng mà chân chất. Lá thư gần đây nhất gửi qua tay một người bạn, chỉ vẻn
vẹn mấy dòng thôi:
Cẩm Nhung !
Mình sắp đi xa…
Không được phép tiết
lộ.
Rất mong được gặp Cẩm
Nhung.
Thân
yêu !
Cẩm Nhung thắc thỏm, đêm không ngủ được. Lúc
này máy bay Mỹ ngày nào cũng táo tợn bay vào đánh phá nhiều nơi kể cả tận trên
Yên Bái giáp ranh Trung quốc nữa. Gần như ngày nào cũng có không chiến. Những
lúc nhìn chiếc MIG17 sà ngay trên những nóc nhà, ngọn cây tìm nơi hạ cánh như
một cánh nhạn chao nghiêng trước sự hung hãn của bầy ác điểu, lòng cô thắt lại,
hồi hộp, lo âu nghĩ tới bạn. Lúc này mà đi xa là đi đâu? Chả lẽ anh ấy lại vào
Nam? Lòng cô bồn chồn, trào lên niềm thương nhớ bâng khuâng.
Huỳnh Anh Dũng cảm động lộ rõ trên nét mặt, cử
chỉ và lời nói run run. Gửi thư đi liệu có được sự đáp lại như điều mong muốn?
Anh nắm bàn tay bạn không biết bao lâu và chợt tỉnh nhận ra Cẩm Nhung cười nhăn
mặt thì thào:
- Đừng anh! Đau em lắm !
Đấy không phải lời trách hay sự chối từ vì lời
nói và hơi thở nghe da diết yêu thương. Anh sửa lỗi bằng cử chỉ thân thiết phủi
đi những vết đất bám trên mình bạn.
- Chưa hết một buổi sáng mà em phải nhảy xuống
hầm cá nhân bên đường tới mấy lần !
Cẩm Nhung đứng yên để bạn phủi đi bụi đất cho
mình. Cô cẩn thận lấy ra từ chiếc túi xách một bọc giấy báo đưa cho bạn. Dũng
từ từ mở ra và reo lên :
- Hoa hồng đẹp quá !
Cẩm Nhung khoe :
- May quá ! Em chỉ lo bó hoa thôi… Đố anh biết
hoa này trồng ở đâu nào?
- Anh chỉ cần biết hoa em mang đến cho anh là
đẹp nhất rồi.
- Còn hơn thế nữa kia… Vì em lên tận Ngọc Hà
tìm vườn có hoa đẹp nhất mang lên tặng các anh đấy!
Dũng nhảy tưng lên như trẻ con, chạy vòng
quanh khoe các bạn:
- Hoa Ngọc Hà chính hiệu đây! Hoa Ngọc Hà số
một đây!
Đồng đội quây lại cùng ngắm những cánh hồng
nhung thật đẹp và chia vui với bạn. Một chàng trai trẻ giơ cao bó hoa nói thật
to lên :
- Đây là cách con gái Hà Nội bảo chúng mình
phải đánh cho ra trò đấy!
Cẩm Nhung rối rít xua tay:
- Ơ… Em không dám nghĩ thế đâu! Em chỉ thấy
các anh mới xứng đáng nhận những đoá hoa đẹp nhất này thôi.
Giọng ai đó xuýt xoa:
- Con gái Hà Nội khéo ghê chưa?!
Thời gian gặp gỡ không nhiều vì tình huống bất
thường có thể xảy ra. Dũng ghé tai bạn nói ra điều anh muốn giấu :
- Chiến sự ngày càng ác liệt. Bạn đồng ý chi
viện cho ta phương tiện chiến đấu hiện đại hơn. Dũng được cử đi học cách sử
dụng đồng thời mang theo về nước.
Cẩm Nhung thở phào nhẹ nhõm, nắm chặt tay bạn
và nheo mắt cười. Chuyện vui nhưng lúc này tuy không nói ra mà cả hai người đều
không muốn xa nhau.
Trước khi chia tay Cẩm Nhung trêu bạn:
- Lính nhà trời dồn hết sức văn chương
chỉ được một bức thư đầu, sau đó thì… cụt lủn và cộc lốc!
- Chút xíu nữa là rớt một sao đấy! Mấy ông
chính trị kiểm duyệt thư kêu lên phê phán là thiếu tính kỷ luật và lập trường
giai cấp: Sử dụng một phương tiện hiện đại nguyên tắc là phải chấp hành nghiêm
ngặt. Không phần thưởng nào lớn hơn lời khen của Bác! Không có gì cao qúi hơn
phần thưởng của Đảng và Quân đội!
Anh chỉ vào một ngôi sao mới trên ve áo :
- Sao này chậm mọc 6 tháng để có thời gian suy
nghĩ đấy!
Anh
cười xoà:
- Văn chương xin cạch tới già. Tơ vướng vấn vít
chỉ ta với… nàng!
Cẩm Nhung dừng lại nhìn vào mắt anh rồi nàng
cúi xuống, chân di di trên đất. Anh kéo người bạn gái đã thành thân thiết ôm
chặt vào mình và hít hà lâu lắm làn tóc ấy dù vương cát bụi. Cẩm Nhung áp mình
trong anh, dụi dụi đầu nơi ngực mà không phân biệt được tiếng tim ai như trống
đập rộn ràng.
Tiếng còi rít lên rầm rĩ náo động không trung,
báo động máy bay địch xâm phạm bầu trời.
Cái giây phút ấy đã như lời hẹn ước đinh ninh cả hai người
mãi thuộc về nhau. Các bạn chọc anh: Mặc mẹ máy bay, tranh thủ làm một cái
hôn đã đời! Thật tình lúc đó anh thấy
sung sướng quá, người cứ run lên. Lá thư này như một test trắc nghiệm tình cảm của đối tượng.
Cuộc sống của người lính chiến trên không gấp gáp rủi nhiều may ít và trong
hoàn cảnh đặc biệt của binh chủng không quân Việt Nam mới lập thành thì mỗi khi
chiếc phi cơ chiến đấu bất ngờ rời khỏi một sân bay dã chiến đều khó trở về
đúng nơi cất cánh. Người ta chỉ được thông tin về máy bay địch bị đánh tả tơi
nhưng mấy ai biết được sự tổn thất của các anh. Như trận chiến hôm ấy, phi đội
bốn chiếc của anh trong vòng bủa vây tầng tầng lớp lớp của 24 chiếc máy bay
địch, chỉ còn mình anh hạ cánh an toàn trong một tình thế xuất thần may mắn.
Lại những lần cất cánh tiếp theo. Những người lính mỗi khi xuất trận đều khát
khao được mang theo trong mình một ánh mắt, một nụ cười, một lời thủ thỉ bên
tai, một nụ hôn đắm đuối, một vòng tay da diết, một tiếng khóc trẻ thơ… chỉ
càng làm cho họ tăng thêm dũng khí lao vào nơi hiểm nguy nhất để giành chiến
thắng. Với anh, đây là lần đầu tiên được ôm gọn trong lòng tấm thân mềm nóng
của một người con gái mơ ước từ lâu đã là mãn nguyện qúa rồi.
Cẩm Nhung cười thầm mãi mỗi khi nhớ lại giây
phút thần tiên ấy :
- Lính nhà trời oanh liệt thế mà lại…
nhát!
ô
Nhà cô Hoa ở xóm Lương Yên chật những người. Ngôi nhà nhỏ càng có cảm
giác người ta đông lắm. Cô Hoa nằm bệt trên nền nhà đầu dựa trong vòng tay của hai cô gái lạ mặc bộ đồ màu xanh
rêu. Cô mơ màng lúc gào lên: Con ơi! rồi
lại nấc nghẹn, lịm đi. Mọi người tránh ra nhường lối cho ông Thanh bước tơí với
người em gái. Cẩm Nhung và Nhân Trí theo sát sau cha. Nhận ra anh, cô Hoa gượng
ngồi dậy, hai tay giơ lên như người sắp chết đuối vớ được cái phao, níu chặt
ông anh kéo lại và khóc rên thảm thiết:
- Ối anh ơi! Cha mẹ chết rồi. Anh em ruột thịt
cũng theo nhau đi hết. Người ta khác máu tanh lòng đành tâm bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ
con, bỏ cháu… dứt áo mà đi! Con cháu lớn lên gặp thời tao loạn thế này cứ theo
nhau lao vào nơi mũi tên hòn đạn chết dần mòn mãi, rồi anh em mình biết ở với
ai? Ối cha mẹ, ông bà ơi!
Ông Thanh quỳ xuống, nắm hai tay em gái vỗ vỗ
định nói lời gì an ủi thì miệng ông méo xệch đi, bật lên liên hồi những tiếng Hụ!… Hụ!… cùng với bộ mặt đầm đìa nước mắt. Hai đứa
con ông ôm đỡ cha cùng khóc lên rưng rức. Cô Hoa vùi đầu giữa vai hai đứa cháu
thở than cho số kiếp con mình:
- Cũng có cha mà con người ta được học hành,
đi đó đi đây, tiến bộ, tiến thân. Còn các em cháu thì bơ vơ phải bỏ ngang việc
học hành xông vào những nơi lam sơn chướng khí, bom rơi đạn réo. Ối chồng ơi là
chồng ơi! Đứa nào cũng Qúy mà có ai qúy các con tôi
đâu! Hỏi chúng tội tình gì? Ối trời cao đất dày ơi! Con tôi bị chôn sống giữa
ban ngày ban mặt mà không ai cứu nổi hả trời?!
Nhiều người mủi lòng đang nén khóc thầm cũng
bật lên thành những tiếng thút thít sụt sùi lan khắp trong ngoài. Căn nhà nặng
trĩu tang thương.
Ngày chồng cô bỏ ra đi, hắn đành lòng để lại
năm đứa con lít nhít: con Châu, thằng Ngọc, con Kim, thằng Ngân, con Ngà – đứa
nào cũng đệm tên cha là Qúy và một đứa đang nằm trong bụng mẹ, bây giờ thằng bé cũng đã mười mấy tuổi đầu.
Cô đặt cho nó cái tên Qúy Yên – qúy hồ nó được yên thân, mình yên phận và đất
nước sẽ yên hàn. Một nách sáu đứa con vào thời buổi khắc nghiệt thế này thì lo
cho chúng không chết đói đã là may. Mấy đứa lớn học hành chẳng được tới đâu,
vất va vất vưởng bên lề xã hội chớ lý lịch cha đen ngòm như thế thì đến cửa nào
xin việc người ta cũng lắc đầu quầy quậy. Ông Thanh vốn sống nặng tình, trước
kia có khi giấu vợ giúp em phần nào nhưng bây giờ gặp lúc ngặt nghèo ốc không mang nổi mình
ốc nữa, đành chỉ biết an ủi em an phận
mỗi khi cô than thở về gia cảnh oái oăm:
- Cô neo đơn nuôi một đàn con là vất vả lắm
rồi. Nếu chú ấy ở lại thì cái thân liệu có giữ được yên không? Cô lại thêm một
gánh nặng nuôi chồng nữa thì còn khổ biết mấy mươi lần nữa!
Ông hiểu rõ hơn em những người có qúa khứ phức
tạp như thế sẽ bị đưa đi cải tạo như tù không án mút mùa mà không ai dám dây dưa đến. Khi được tha về như cái xác ve, báo hại gia đình lại càng thêm
chướng.
Thằng Ngọc là con trai lớn, mẹ, chị khuyên nó
cố học lên cho hết bậc phổ thông. Song không lọt được vào đại học. Xin vào
trường học nghề cũng bị từ chối. Xin vào nhà máy dù làm phụ việc cũng không đâu
nhận. Thằng bé vạ vật kiếm sống qua ngày. Khi chiến tranh mở rộng bỗng có giấy
gọi nhập ngũ, mẹ nó vừa mừng vừa lo, chạy tới hỏi ông anh:
- Bao lâu nay thằng bé lao đao lận đận, xin
làm thợ cũng không xong mà bỗng dưng được cho làm lính Cụ Hồ vinh döï thế?
Ông anh thận trọng giải thích cho em :
- Bây giờ mọi công dân đều có quyền bình đẳng…
đi đánh giặc giữ nước. Việc tuyển quân lúc này không còn khe khắt như trước nữa
đâu.
Người mẹ lo lắng cho con :
- Em chỉ mong các cháu lớn lên có việc làm tử
tế nuôi thân chứ có dám mơ tới một chức tước gì, huống chi đòi được lãnh đạo ai
đâu. Mẹ con làm ăn lương thiện, quây quần bên nhau là phúc qúa rồi. Vinh quang
gì đến lượt mình?!
Cô ngậm ngùi. Đã đến nước này cũng đành nhắm
mắt đưa chân chứ liều lĩnh trốn chui trốn lủi thì biết lấy gì để sống trong khi
người ta quản lý ngặt nghèo đến từng hạt gạo, hạt muối, củ khoai? Dù đau thắt
ruột cũng chỉ còn biết trông vào Trời Phật.
Nhưng nó lại bảo:
- Con cái lớn rồi mà phải dựa vào cha mẹ mới
lập thân được là hèn. Đời người sống chỉ một lần thôi, đừng để người khinh.
Phải sống cho ra sống, chứ sống hèn, sống nhục thà chết còn sướng hơn!
Nó vào bộ đội cao xạ phòng không, hành quân
dọc ngang xuôi ngược biền biệt tháng ngày. Người mẹ ngày đêm thấp thỏm phập
phồng lo cho thằng bé cứ giơ mặt ra hứng bom đỡ đạn từ máy bay dội
xuống. Nói dại, rồi cũng có ngày... Lâu lâu mới nhận được vài dòng tin ngắn
ngủi. Cuối thư nó động viên: Bom rơi bão đạn đùng đùng sá chi… Chỉ lo nỗi mẹ khóc
thầm thương con!
Con Châu giúp mẹ chạy bạc mặt đầu đường góc
chợ mà vẫn mang tiếng con phe như một lời phỉ báng! Nó
xấu hổ với bạn bè, xin vào Thanh niên xung phong đi san rừng bạt núi mở đường.
Nó gửi thư về xem như người lớn từng trải dày dạn lắm:
“… Cứ ở nhà với mẹ thì thấy lúc nào mình cũng khổ và gò
bó qúa. Con đã gặp không ít người vất vả, khổ ải hơn mình nhiều lắm. Mẹ cấm
đoán các con không cho gần người xấu và không được làm việc xấu. Điều tốt-xấu
mẹ chọn lọc cho. Ra đời, con được tự do tiếp xúc với mọi điều hay-dở. Nhiều khi
lẫn lộn không phân biệt nổi! Có khi lỡ làm điều sai mà lợi cho người vẫn cứ được
khen, làm điều mình tưởng rằng hay nhưng không hợp ý người lại càng bị chê
trách nặng nề! Ở đây chúng con được tự do cống hiến sức lực, tuổi xanh và cả
tính mạng của mình để giành chiến thắng! Mọi điều mong ước mà không có được đều
đổ lên đầu giặc Mỹ. Thằng giặc nó gieo họa cho dân mà khối người được nhờ vào
nó đấy! Sống bên cái chết cận kề, không ai che đậy nổi cái sự hèn và dối trá.
Nhưng khi người ta được quyền dối trá để che đậy cái sự hèn thì thật là ghê
tởm! Một ông trùm từng đẻ ra đủ loại phong trào cho thanh niên như là “ba bất
kỳ” (Đi bất kỳ đâu–Làm bất kỳ việc gì–Hưởng thụ bất kỳ ra sao), “ba khoan”
(Chưa yêu thì khoan yêu–Yêu rồi thì khoan cưới–Cưới rồi thì khoan đẻ)… Riêng cha con ông từng đi bất kỳ
nước nào và làm bất kỳ việc gì, sướng thật đấy! Dù các con đã lớn khôn rồi lại
gặp được dịp may… vợ chết, lập tức ông ta “khoan” ngay một cô đào trẻ nõn
nường! Tất nhiên không có điều gì sai về pháp lý nhưng về đạo lý thì có là ghê
tởm hay không? Còn quang minh chính đại nỗi gì? Bao nhiêu bà mẹ phập phồng,
mong đợi, xót thương những đứa con gái vào tuổi cập kê đang vùi mình giữa chốn
khói bom lửa đạn này mãi thì rồi đời nó sẽ ra sao? Con đã thấy những mối tình…
xẹt lửa để rồi tan xác pháo! Con mẹ không bao giờ liều lĩnh thế đâu. Chúng con
còn bám trụ ở đây không bởi những lời động viên nhàm chán hay mong đợi một vinh
quang hão huyền, mà thật sự vì chúng con thương nhau, thương những đoàn quân
kìn kìn như củi trôi mùa nước lũ đêm ngày xuôi chảy về Nam mà không nỡ bỏ rơi
nhau để một mình chạy trốn. Nghĩa là còn biết xấu hổ khi lời nói và việc làm
trái ngược với nhau. Bây giờ con mới thấy thèm được sống bên mẹ quá để được mẹ
mắng mỏ, cấm đoán trong sự bảo trợ thương yêu đầy trách nhiệm…”
Hai cô thanh niên xung phong từng chứng kiến
cái chết thương tâm của người đồng đội. Rồi đến lượt các cô cũng bị thương,
được chuyển về tuyến sau điều trị. Vì hết khả năng chiến đấu, được cho giải ngũ
về địa phương, các cô mang theo kỷ vật của người chị mến thương trao lại cho
gia đình…
- Trên đường Trường Sơn, đơn vị nữ chúng cháu
làm nhiệm vụ thông đường. Chị Châu là cán bộ chỉ huy trung đội mà cũng như
người chị lớn tuổi từng trải, gan dạ và tình cảm lắm. Gặp đứa nhát, chị không
nói một điều nặng nhẹ mà giao từng việc cho dạn dĩ dần. Nhưng đứa nào liều lĩnh
chị lại can ngăn, răn đe nghiêm khắc lắm. Chị bảo muốn chiến thắng dù không sợ
hy sinh nhưng thí mạng là vô vị lắm! Đứa nào yếu đau hoặc có chuyện chi khúc
mắc chị không ép ra mặt đường. Nhưng riêng chị thì làm việc không biết nghỉ.
Lúc nào cần cũng có chị. Việc gì khó chị đi đầu. Đơn vị mấy lần đề nghị kết nạp
chị vào Đảng nhưng hình như vướng chuyện cha chị chạy theo giặc vào Nam, chưa
ai xác minh được rõ ràng. Tuy nhiên chị không buồn hoặc là bất mãn. Chị bảo
cuộc sống cần có nhiều người lương thiện vì họ bao giờ cũng là chỗ dựa cho
những người yếu đuối – khổ đau. Họ không nỡ dồn gánh nặng lên vai người khác dù
là họ cũng muốn nhẹ mình vì họ thật dạ thương người. Hèn nhát để thoát nạn và
lừa dối để hơn người, đó là thói tật xấu xa của phường ích kỷ. Những kẻ ấy ở đâu
cũng có, thậm chí nó được lên ngôi. Để mình không bị lây nhiễm nó và làm người
lương thiện mới là điều khó!… Hôm ấy đường bị bom phá hỏng lớn quá. Cả đơn vị
nhào ra mặt đường. Lúc đường thông, lệnh trên cho rút về căn cứ nhưng chị tình
nguyện ở lại canh đường. Đứa nào cũng nhao nhao ở lại cùng với chị. Một tổ tám
người cùng chui vào một cái hang trên lưng chừng đèo. Đêm dài yên ắng qúa, mọi
người cứ bồn chồn lo đợi một sự gì… Bỗng nhiên, cả một khu rừng núi sáng rực
lên, mặt đất lắc lư đung đưa xô đẩy mọi người dồn cục vào nhau, cùng lúc là
những tiếng rít ghê rợn của hàng loạt những đợt bom từ máy bay B52 thi nhau xé
trời dội xuống. Mọi người choáng váng không còn biết sợ hay nghĩ chuyện chạy đi
đâu nữa, cứ ôm nhau, chịu hết đợt này qua đợt khác. Trời vừa sáng, chiếc máy
bay hai thân đã lên quần đảo rồi hàng đàn máy bay trực thăng lượn vòng tít trên
cao bắn đủ các thứ rốc két, đại liên làm náo loạn lên cả một khu rừng… Trận địa
nát nhừ, địa hình ngổn ngang cây cối, đất đá chất chồng không thể nhận ra. Hai
ngày sau mới tìm ra vị trí cái hang mấy chị em trú ẩn. Những tảng đá to tướng
chồng chất lèn sâu trong đất lấp kín miệng hang. Cả đại đội thay nhau cuốc bới
mấy ngày cũng chỉ được như cái hang chồn. Lúc đầu còn nghe văng vẳng tiếng
người từ lòng đất vọng ra… Ngày đơn vị tổ chức lễ truy điệu cùng lúc có quyết
định truy nạp chị vào Đảng Lao động Việt Nam.
Cô Hoa rền rĩ mơ mơ tỉnh tỉnh và lịm đi trong
vòng tay của người anh và các cháu.
ô
Bác sỹ Nguyễn Đức Phúc từ ngôi nhà của vị Bộ trưởng khả kính bước ra
đường trong tâm trạng lâng lâng. Bộ trưởng mời mấy vị giáo sư và bác sỹ đầu
ngành tới nhà riêng thân tình giao nhiệm vụ trước khi lên đường ra tiền tuyến.
Vị Bộ trưởng người miền Nam, gia thế, học bên
tây, lấy vợ đầm, tác phong như dân tây thực thụ. Thế hệ ông, có tấm bằng Bác sỹ
lại có thế thần nếu như an phận sẽ có cuộc sống sung sướng đề huề không dễ mấy
người có được. Vốn người ta càng biết nhiều càng lớn điều lo. Sự trọng điều “liêm sỷ” luôn mang nặng trong lòng đã như là một đặc
tính di truyền của người trí thức Việt Nam chân chính. Càng là người trí giả
càng thấm thía sâu xa nỗi nhục mất nước. Cũng như nhiều bạn bè, ông sớm tham
gia các phong trào chống đối ách thống trị của ngoại bang và là thủ lĩnh tinh
thần của tổ chức Thanh niên tiền phong có ảnh hưởng rộng lớn ở Nam Bộ vào hồi
Tây–Nhật. Ông đã ra bưng biền ngay từ những ngày đầu kháng chiến, rồi được Cụ
Hồ vời ra chiến khu Việt Bắc tham gia chính phủ.
Ông làm việc miệt mài cật lực, cống hiến hết
mình trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh và xây dựng một nền y tế nhân
dân. Có được một uy tín lớn trong giới trí thức kỳ cựu của ngành y không dễ vậy
mà ông đã có được sự khẩu phục, tâm phục từ nơi họ. Ngôi biệt thự cổ ở khu phố
tây cũ yên tĩnh, bề ngoài sang trọng nhưng bên trong thì tuyềnh toàng, giản dị.
Nhà ở không khác cơ quan. Ông ăn uống đơn sơ nhanh gọn, triệt để tiết kiệm
không bao giờ để dư thừa. Ông chúi đầu làm việc và nghiên cứu trị bệnh lao vừa
hiệu quả vừa ít tốn kém hợp với hoàn cảnh một nước đã nghèo lại phải dồn sức chống
giặc ngoại xâm, lúc mệt quá có khi chui vào chiếc nóp dân dã Nam Bộ – với ông
như một kỷ vật tinh thần vô giá, ngủ ngay trên bàn. Vợ con không chịu nổi cuộc
sống qúa giản dị như nhà tu hành khổ hạnh của ông nên lâu lâu mới từ Paris qua
thăm ít bữa. Trong giới bạn bè thân cận kháo cho nhau nghe câu chuyện cha con.
Một hôm cậu con tây lai vào gara lấy xe ô tô của ông định phóng đi chơi. Ông
chặn lại, khoát tay chỉ vào cả nhà và xe nghiêm khắc bảo con :
- Tous ne sont pas à nous mais aux citoyen!
(Tất cả đây không phải của chúng ta mà là của nhân dân!)
Cậu con hậm hực bỏ đi sau khi đốp lại bố tự
nhiên đúng kiểu tây:
- Tu es un bon communiste mais un mauvais
papa! (Ba là một người cộng sản tốt nhưng là một người cha tồi!)
Hôm nay ông căn dặn bác sỹ Đức Phúc rất cặn kẽ
về những việc cần làm
- Chiến trường càng mở rộng. Chiến tranh càng
ác liệt. Bộ đội tham gia tác chiến và các lực lượng phục vụ ngày càng đông.
Phần lớn anh em sống ở rừng và trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Các bệnh
ngoài da và truyền nhiễm càng có điều kiện phát triển. Lực lượng cán bộ y tế
của ta đào tạo tại chỗ còn nhiều khiếm khuyết và non yếu. Cán bộ chi viện đa
phần là trẻ, ít kinh nghiệm. Đưa các anh đầu đàn đi chúng tôi cũng lo nhưng
thực tế yêu cầu ta phải làm như thế. Ngoài ra các anh cần để ý phát hiện tác
hại của các loại thuốc diệt cỏ khai quang mà quân đội Mỹ đã rải xuống trên diện
rộng và kéo dài suốt mấy năm nay. Trong các hội nghị quốc tế, nhiều nhà khoa
học đã lên tiếng tố cáo loại chất độc dioxin có nguy cơ huỷ diệt môi sinh – môi trường và cảnh báo chúng ta đề
phòng. Tuy nhiên nói có sách, mách có chứng là điều rất khó với chúng ta.
Từ ngày mắc nạn văn chương, bác sỹ Đức Phúc đã
dứt tình với cái nghiệp vaên lỡ vận vào
mình để taâm chaêm chuù moät ngheà y, nghiên cứu chuyeân trị các bệnh
của vùng nhiệt đới, đã thuộc lớp đầu đàn có nhiều kinh nghiệm. Anh nhìn vị giáo
sư bậc thầy đầy uy tín về những bệnh côn trùng và ký sinh trùng đang ngồi bên
cạnh ông Bộ trưởng:
- Tôi sẽ làm hết sức mình theo lời Bộ trưởng.
Song chỉ ái ngại một điều… như thầy đây – Anh chỉ vị giáo sư:… Tuổi thầy cũng
đã cao, chẳng lẽ vào chiến trường để bắt dăm con muỗi và mấy con bọ chét? Chúng
tôi sẽ thu thập các vật chứng, làm tiêu bản, các dữ kiện in vivo và in vitro gửi ra để thầy nghiên cứu!
Vị giáo sư khả kính có vầng trán cao, đôi mắt
sáng, nét mặt thật hiền. Lời ông nói không hoa mỹ nhưng từ tốn, chân chất như
vắt ra từ bộ óc ngổn ngang kiến thức và công việc, với cái miệng lúc nào cũng
như cười:
- Nghề mình không thể làm như ông Einstein chỉ
ngồi trong phòng với cây bút thôi mà tính toán chính xác được đường đi và
khoảng cách giữa các hành tinh. Khoa học với ngành y đặc biệt lắm. Môi trường sống –
Người bệnh và Phòng thí nghiệm không thể tách rời nhau được. Vả lại nhà
khoa học cũng là một công dân, khi cần cũng phải cầm súng chiến đấu trực diện
chống quân xâm lược. Huống chi quê hương tôi với bao nhiêu đồng bào, đồng đội
đang cần sự có mặt của mình. Chỉ để chữa trị cho anh em, bà con sớm cắt được
một cơn sốt rét thôi cũng là hạnh phúc lắm rồi!
Giáo sư Bửu Quốc nhìn ông Bộ trưởng bóng gió:
- Tôi cũng ao ước được đi một chuyến nhưng qúa
date rồi thành vô
dụng !
Ông Bộ trưởng cười dàn hòa với vị giáo sư cao
niên và quay qua nhìn vị giáo sư sắp lên đường gửi gắm lòng tin:
- Anh chỉ cần đi ngắn hạn thôi! Thời du học ở
Nhật, anh từng tiếp cận và dành nhiều thời gian nghiên cứu và hieåu bieát sâu ngaønh di truyền – mieãn dòch học. Trong nước ta hiện nay chưa có ai vượt anh
đâu. Tuy nhiên bệnh sốt rét làm
suy giảm sức chiến đấu của bộ đội ta ghê gớm lắm, thậm chí còn tác hại hơn các
loại vũ khí tối tân của địch nữa kia. Anh có ý định chế ra loại vaccin trừ sốt rét là phương pháp phòng bệnh hữu
hiệu nhất. Nếu thành công sẽ là sự đóng góp to lớn của ngành ta và của riêng
anh cho cuộc chiến đấu sinh tử này đấy và cũng là cho khoa học nói chung. Mong
anh mã đáo công thành và sớm
trở về!
Là người lãnh đạo sâu sát, ông còn nắm được
những khúc mắc trong lòng các nhà khoa học thuộc cấp của mình. Như vị giáo sư
này lòng còn vướng bận nhiều điều thế sự. Trong công việc thực hành nghiên cứu,
tuy là Viện trưởng nhưng kè kè bên ông lại là một ông Viện phó chính trị nguyên
là một cán bộ công an, chẳng những không chia sẻ cùng ông những lo toan lại còn
đưa ra những nguyên tắc tổ chức gây khó thêm cho công việc mà ông ta lại được
trên tin dưới nể, bao giờ cũng có đa số người theo! Chính ngay vị Bộ trưởng
cũng lâm vào tình cảnh ấy nhưng biết làm sao? Cái tổ chức guồng máy xã hội lúc
này nó thế, không để bất cứ điều gì cản trở việc điều hành chiến tranh. Mỗi
người tự gỡ rối cho mình thôi. Ông biết cả điều tai họa từng giáng lên đầu anh
bác sỹ tài hoa phóng khoáng Đức Phúc này nữa và ông đã tạo điều kiện cho anh ta
thoát qua ngõ cụt để có được sự tín nhiệm hôm nay. Ông nhìn các đồng nghiệp với
con mắt trìu mến thông cảm và chia sẻ :
- Pasteur nói: Sciences sans frontière!
(Khoa học không biên giới!). Nhưng
mỗi nhà khoa học đều từ mẹ sinh ra dưới một mái nhà, trong một làng quê, một
không gian giới hạn gọi là Tổ quốc – Không ai xâm phạm được! Đây là lúc để mỗi chúng ta thể hiện tình
cảm với điều thiêng liêng ấy. Những người khoa học chân chính đều mong muốn
được góp sức mình cho công cuộc kháng chiến chống giaëc ngoaïi
xaâm dù có nguy hiểm đến đâu. Mọi chuyện riêng tư,
mơ ước hãy gác lại một bên. Tất cả để giành chiến thắng! Bác Hồ vẫn tha thiết
đề nghị Trung ương cho được một dịp đi ra tuyến trước để thăm hỏi động viên
đồng bào, chiến sỹ. Riêng tôi, đang chuẩn bị và sớm muộn gì cũng phải thực hiện
một chuyến đi. Không chỉ đơn thuần là công việc mà còn là tình cảm cách mạng,
tình cảm quê hương nữa.
Ông nhìn anh Đức Phúc thăm hỏi chuyện riêng:
- Chuyện gia đình đã êm xuôi chưa và ra đi có
trắc trở gì không?
Giáo sư Bửu Quốc nhếch mép mà không phải là
cười, không biết ông biểu lộ sự buồn hay vui, ghé sát tai Bộ trưởng:
- Nó tu tại gia… Thuộc dòng ép xác!
Ngồi quanh cái bàn này: Vị giáo sư già thuộc
lớp đàn anh mà ai cũng kính trọng, gia cảnh có thể gọi là êm đềm, hạnh phúc.
Ông Bộ trưởng vợ tây về xứ, năm thì mười họa mới đáo qua ít ngày rồi lại vội
vàng chia tay đức lang quân như nhà có ma không ở được. Ông bạn giáo sư kia còn
hẩm hiu hơn. Ông góa vợ từ ngày còn ở chiến khu Việt Bắc trước ngày hòa bình
không bao lâu. Từ đó ông chung tình ở vậy mặc cho gia đình, bè bạn thúc giục
nhắm hỏi người bạn đời mới cho ông. Anh Đức Phúc thì ngẫm ra lời ông thầy nói
cũng không ngoa. Từ ngày mắc vào vụ án văn chương tuy không phải đứng trước
pháp đình với các ông toà áo xanh áo đỏ nhưng lại khủng khiếp hơn nhiều! Quanh
anh, ai cũng là ông Tòa bà Án cả, họ không chỉ phê phán anh trước mặt, mà không
có anh họ cũng mang thơ văn của anh ra hành khảo và nêu đích danh cái tên
Nguyễn Đức Phúc như là một thằng phản động nguy hiểm lắm. Vợ anh có biết gì đến
thơ văn đâu nhưng nghe người ta bình chán, cô ta lúc đầu hoài nghi rồi sau cũng
tin là tuy không thấy chồng làm một việc gì phản động cả nhưng trong đầu anh có
đấy. Cô oán trách anh, lạnh nhạt với anh, chỉ có điều cô chưa đứng ra đấu tố
trước đám đông người nhưng xem ra cô cũng cảnh giác dè chừng một tên kẻ thù
giai cấp lẩn khuất trong anh. Bạn bè sợ vạ lây. Cha mẹ anh em ruột thịt chạy
vào Nam hết cả. Duy chỉ còn người vợ gần gũi bên mình bao lâu nay mà dường như
cô ta nghi ngờ ghê sợ mình. Không một lời nặng nhẹ cãi cọ gì mà vợ chồng gần
như lãnh cảm với nhau. Đi làm về mỗi người một việc. Anh khi ăn, ngồi riêng một
bàn, khi ngủ, riêng một giường. Vợ con ăn ngủ với nhau. Anh thừa nhận một điều
anh hoàn toàn phụ thuộc vào cô là trông nom con cái và lo toan sinh hoạt hàng
ngày. Cái tật trưởng giả mang tính giai cấp xấu xa ấy anh không sửa nổi! Tuy
nhiên anh có dự phòng rồi. Nếu cô vợ dứt tình không lo cho anh nữa thì anh sẽ ở
lại bệnh viện ăn cơm tập thể. Anh biết thờ ơ với con cái là có tội nhưng anh
biết dạy nó cái gì trong khi những điều chúng học ở trường khác với những điều
anh nghĩ. Để con tố cha là thằng phản động còn là điều oan trái hơn nhiều. Anh
giữ sự yên lặng và thận trọng ngay cả với các con anh. Sự xa lánh ấy lâu dần
thành quen. Nhà trên gác còn bốn phòng. Vợ kêu tiêu pha túng thiếu, anh đồng ý
để vợ cho thuê hai phòng, hàng tháng thêm tiền dưa mắm. Anh một phòng. Ba mẹ
con một phòng. Lấy hành lang làm bếp. Tuy nhiên thời gian làm người ta nguôi
dần đi. Lăn vào công việc và nghiên cứu lúc đầu để quên sự đời rồi tìm thấy
niềm vui trước mỗi thành công cho dù là nhỏ. Anh đam mê tới say xưa với công việc
hàng ngày. Nhiều người nghĩ anh là nhà khoa học thuần túy, lập dị, khô khan
thành vô tích sự với gia đình. Vợ anh có lúc chủ động làm lành nhưng anh vẫn lờ
đi. Khi đã học lên y sỹ, được cơ quan cho đi học bổ túc bác sỹ, cô hỏi ý anh.
Anh trả lời thủng thẳng :
- Cô cứ làm hết công việc như hiện nay là cả
xã hội và các con được nhờ nhiều rồi!
Có lần anh ngồi đọc sách đến lúc trời khuya
lắm, anh tắt đèn lần tới giường đã thấy vợ nằm đó. Anh trở lại bàn bật đèn ngồi
đọc tiếp. Vợ anh không nín được nữa giận dỗi bảo:
- Nhớ rằng anh vẫn là chồng của tôi đấy nhé!
Không rời cuốn sách, giọng anh đều đều như nói
với ai:
- Đừng để khổ thêm cho nhau nữa! Cái thằng
giai cấp cứ rập rình đâu đây để lúc nào đó lại nhảy bổ vào nhau cào cắn, đâu
cần phân biệt thân sơ gì ?
Nhiều lần anh thấy mắt vợ đỏ hoe, trong lòng
cũng thấy nôn nao thương hại. Song nghĩ đi nghĩ lại anh lý sư: Suy cho cùng thì
cả hai đứa đều được và đều mất một cái gì đó. Chẳng nên oán giận nhau làm gì!
Duy có một điều anh tự vấn mà không trả lời
được: Mình không dám ngỏ ý chia tay nhau đã đành rồi nhưng tại sao cô ta cũng
thế nhỉ? Nếu có đáng thương chính là mấy đứa con kia. Có lúc anh nảy ra sự tò
mò: Những đứa con sinh ra bởi sự hứng cảm giới tính hoặc bởi cảm xúc tình yêu
có gì khác nhau không nhỉ? Có thể người ta tránh nêu ra điều ấy vì một khía
cạnh đạo đức gọi là nhân văn nhân bản? Nhìn hai đứa con bề ngoài như bao nhiêu
đứa trẻ khác mà tố chất bên trong có gì khác không? Trong lòng anh thấy thương
chúng nó và cảm thấy mình có lỗi qúa với con !
Bây giờ cả bốn con người trí thức tầng cao của
xã hội ngồi đây đều sẵn sàng hy sinh cho một sự nghiệp chung lớn lao, được
người ta gọi là lương tâm của thời đại. Tuy nhiên có ai dở dang một sự gì đó
cũng không chia sẻ cho nhau được. Nó thuộc phần đời riêng của mỗi người. Và
từng ngày, từng giờ trong họ một sự đòi hỏi nào đó cứ thôi thúc trào lên, quẫy
đạp. Chỉ mỗi người một cách khác nhau nén lại cho nó tạm yên dịu đi. Mà có ai
dám nói ra cái nỗi khổ cả thể xác lẫn tinh thần ấy của mình? Suy rộng ra cả
một-hai-ba thế hệ, ở đó, ở đây, phải vừa sống vừa chiến đấu trong bức bối, dằn
vặt đủ điều. Nó hành tâm hành xác mãi chưa biết sẽ chịu nổi tới đâu. Có thể tin
ai dù là bậc thánh nhân đang sống giữa đời này ? Giá như người ta có thể tự dối
mình mãi để chấp nhận sống như vậy tới cùng đã có thể coi là thánh thiện. Giả
như họ vẫn mặc áo cà sa, tụng kinh gõ mõ mà bỏ qua những điều giáo luật thì mọi
chuyện thật bi hài!
Mải mê suy nghĩ, anh bước qua vuờn hoa hướng
tới cửa trường đại học. Anh ngước nhìn ngôi trường bề thế mang dáng dấp của một
nền văn hóa cổ phương tây nhưng người Á đông vẫn thấy nó hòa hợp với mình,
không có gì là xa cách cả. Bước lên những bậc thềm đá xám trắng kia là tòa đại
sảnh cao rộng mênh mông và một giảng đường mà ở đấy đã bao nhiêu lần anh tới nghe
các giáo sư, diễn giả tây, ta hùng biện. Họ diễn giải đủ điều từ cổ chí kim, từ
Âu sang Á. Có lúc họ mơ màng như dẫn người ta vào cõi thần tiên. Có lúc họ nổi
khùng lên hò hét như muốn lăn xả vào đánh vật với kẻ thù mơ hồ trước mặt. Hồi
ấy anh thờ ơ lắm. Đến nghe để cho biết thôi vì anh chẳng tin ai. Chán chê, anh
quay về với những thú vui tiêu khiển đủ kiểu. Tưởng là vô tích sự nhưng nó để
lại trong anh những cảm xúc và sự hiểu biết căn bản cho đến hôm nay.
Tiếng cót két phát ra từ một chiếc xe cà tàng khiến cơn
hồi ức của anh dừng lại. Một người đàn ông gày gò cắm cúi nhìn xuống mặt đường
xải từng vòng chân uể oải mà chiếc xe đạp Liên xô nửa người lớn nửa trẻ con vẫn tỏ ra mệt mỏi không khác gì con la tội
nghiệp của chàng Xăng xô trung
thành mải miết trên con đường vô định với ngài hiệp sỹ gàn dở của mình. Bác sỹ
Đức Phúc gọi to lên:
- Giáo sư Trần!
Vị giáo sư ngước lên, thòng cặp dò dài ngoẵng
kéo lê đôi guốc mộc trên mặt đường quay ngoắt lại, bỏ chiếc xe nằm chỏng chơ
bên lề, bước lên hè, vừa chìa tay ra vừa hước cặp kính dày cộp lên nhìn người
gọi mình:
- A! Chào bác sỹ!
Rồi như chợt nhận ra vị cứu tinh, ông mừng rỡ
chỉ vào cuốn sách dày cộp buộc hờ hững sau xe nói liền một hơi:
- Cậu mua cho mình cuốn sách này đi. Kinh điển
triết học của mọi thời đại đấy! Mấy thằng có vốn tiếng Pháp đọc được thì coi nó
là vô tích sự. Mấy thằng trẻ thì hám của tân thời. Tớ chỉ cần tiền uống cà phê
cho tỉnh táo để đọc sách thôi!
Bác sỹ Đức Phúc nâng chiếc xe dựng ngay ngắn
lại và liếc nhìn cuốn sách. Anh thở dài nhìn bạn phân trần:
- Nhân dịp gặp anh đây, tôi chào tạm biệt hay
là chào… gì cũng được!
Và anh giải thích việc mình sắp đi xa.
Vị giáo sư nước da trắng bủng cười không thành
tiếng nắm chặt tay anh lắc lắc:
- Thế là cậu được tin tưởng lắm rồi đó! Như tớ
còn bị người ta tống cổ ra đứng chơ vơ mặc xác giữa đường, không biết đi đâu!
Ông buồn bã quay đi. Bác sỹ níu vai bạn lại,
móc ví giúi vào túi bạn ít tiền:
- Tôi mới được ứng trước mớ tiền bồi dưỡng và
công tác phí. Chúc anh gặp nhiều may mắn !
Giáo sư chẳng lộ biểu cảm buồn vui. Đôi chân
liêu xiêu mang tấm thân mỏng mảnh, ông uể oải ngồi lên con la còm cõi và nó lại
phát ra những tiếng kót két kọt kẹt đều đều tội
nghiệp.
Anh quen biết vị giáo sư lừng danh này từ ngày
còn ở chiến khu Việt Bắc khi ông mới từ bỏ giảng đường đại học ở kinh thành
Paris hoa lệ về nước tham gia kháng chiến. Ngày ấy biết bao gian khổ mà mọi
người đều phơi phới hướng về một cuộc sống tự do mà sẵn sàng từ bỏ thậm chí hy
sinh tất cả. Thế rồi không ai rủ ai tình cờ dính vào vụ án văn chương nghệ
thuật oan nghiệt ấy. Với anh chỉ là sự ngẫu hứng của cảm xúc thôi. Nhưng với vị
giáo sư này còn là những vấn đề sâu xa về căn nguyên tư tưởng bởi ông là một
triết gia tài năng thực thụ. Anh chợt nhớ từng được nghe câu chuyện của các bậc
đàn anh rằng hồi năm 1946 Cụ Hồ đi công cán qua Pháp quốc, nhiều trí thức trẻ
tài năng tâm huyết bày tỏ nguyện vọng được trở về quê hương góp phần vào công
cuộc bảo vệ nền độc lập mới giành được của nước nhà. Với mấy vị kỹ sư, bác sỹ
thì Cụ vui vẻ mời cùng về một chuyến trên con tàu khách của nhà nước Pháp.
Nhưng với nhà triết học nổi tiếng với tấm bằng Thạc sỹ hạng nhất của trường Sư
phạm phố Ulm danh giá này thì Cụ chỉ nói một câu dí dỏm: “E rằng chú về nước
lúc này sẽ không có mảnh đất cắm dùi đâu”! Và bây giờ ông như ngưòi lữ hành
cô độc bơ vơ!
Bác sỹ Đức Phúc quen nếp sau
giờ làm việc hay đi lang thang trên đường phố vì về nhà cũng chẳng để làm gì.
Tình cờ đi ngang qua Viện Triết học, chợt nhớ tới
người bạn cũ, anh ghé vào thăm.
- A! Chào thiên thần… gãy cánh!
Anh Hà Giang nhận ra bạn, cười buồn :
- Thiên thần mà gãy cánh có khác gì phế nhân
đâu?
Bác sỹ Phúc kéo ghế ngồi và cười vui với bạn:
- Ông gợi cho tôi một ý rất hay. Phế nhân! Họ
là ai? Là anh, là tôi, là… Anh có tưởng tượng nổi một buổi chiều nay mà tôi gặp
bao nhiêu bậc phế nhân vĩ đại hay không?
Anh rủ rỉ kể cho bạn nghe câu chuyện vừa
nghiêm túc vừa pha hài rồi kết luận:
- Dù sao tôi vẫn nhớ những ngày đầu lộn xộn
anh đã thức tỉnh tôi. Bây giờ chúng ta cùng đi dạo phố vừa để nhớ lại một thời
đã xa vừa như một kỷ niệm. Biết đâu?!
Bác sỹ Đức Phúc chủ động đẩy chiếc xe lăn cùng
anh Hà Giang thong dong trên đường phố vừa mơ màng hoài niệm về quá khứ. Đến
ngã tư Bờ Hồ đầu phố Hàng Khay, nghe nổi lên liên hồi tiếng chuông leng keng… leng keng… và chuyến tàu điện lạch xạch chạy qua, anh
Hà Giang nhớ lại:
- Chỗ này, ngày khởi nghĩa, đội Thanh niên vũ trang
thành Hoàng Diệu chúng mình từ các toa
xe nhảy ào xuống và diễu thẳng vào quảng trường Nhà Hát Lớn, oai ra phết!
Bác sỹ Đức Phúc chỉ vào cửa hàng vàng bạc ngay
đầu phố Tràng Tiền, cười tủm tỉm:
- Những ngày đánh nhau ì xèo ở Liên Khu Một mà
ở nhà dancing này đám lính tây vẫn nhảy nhót loạn xì ngầu. Mình từ khu Sầm Công
chuồn ra, vừa lớ ngớ tới đây bị nó tóm cổ. May mà mình kịp thời xổ ra hàng
tràng tiếng tây sành sõi. Mấy thằng sỹ quan hỏi chuyện, mình khai là sinh viên
y khoa, biết chơi nhạc nhảy, nó kéo vào đây. Mình trổ ngón đánh trống thổi kèn
cho tụi nó nhảy quay cuồng. Sau mình xin về nhà thay quần áo rồi sẽ trở lại
ngay. Tụi nó tin và chắc là trông mình lắm. Nếu không gặp ông, buồn chán qúa
mình cũng quay lại thật. Lúc loạn lạc ấy kiếm đâu ra nhạc công. Kể ra có chút
tài lẻ cũng không phải là vô ích.
- Nhưng cũng có khi là đại họa!
Anh Hà Giang cười khà khà trêu bạn. Nhưng
tiếng cười đột nhiên dừng lại, trên mặt lộ rõ nét u buồn, giọng anh nhỏ đi:
- Chắc anh còn nhớ vụ cuốn tiểu thuyết Vào Đời và anh có biết tác giả của nó là ai không?
- Nhớ chứ! Lại một anh nhà văn gãy bút, một
thân phận bọt bèo! Thêm một bài học cảnh tỉnh cho sự ngây thơ. Con người vốn là
đứa con cưng của Thượng đế nhưng nó mắc “bệnh tôi” bất trị. Ngài biết
cha con không thể ở được với nhau nên cho nó xuống cai quản trái đất này là một
hành tinh nhiều tiềm năng nhưng khắc nghiệt. Ngài không quên phù phép cho căn
bệnh ấy mang thêm đặc tính di truyền! Bản tính liều mạng thông minh, con người
đã chế ngự trái đất này, khai phá nó thành một hành tinh giàu có phồn hoa.
Nhưng vì nặng “bệnh tôi” nên con người chẳng thể chịu nhau dù chung cốt nhục.
Tất nhiên nó phải trị nhau, còn nghiệt ngã hơn Ngọc hoàng trị người thượng
giới. Theo đà văn minh, con người sáng tạo ra lắm độc chiêu triệt hạ lẫn nhau.
Guồng máy ấy vận hành, nó nghiền nát bất kỳ ai cản trước bánh xe! Thượng đế
biết hết nhưng vì có con người thì mới có Trời nên Ngài lờ đi. Cha con cùng làm
chúa tể trên Trời dưới Đất! Vì thế ngôi
Hoàng đế bất diệt như ngôi Thượng đế. Chỉ khác nhau cái tên gọi mà thôi. Người
cầm bút chưa hiểu ra cái luật nhân sinh muôn thuở ấy sẽ mắc lụy trong vòng thế söï là điều tất nhiên thôi!
- Chắc anh không biết ông ấy từng một thời
oanh liệt? Là người chỉ huy Đội thanh niên vũ trang thành Hoàng Diệu từ những ngày tiền khởi nghĩa, một cán bộ
chỉ huy dày dạn trận mạc suốt chín năm đánh Pháp từ mặt trận bảo vệ Thủ đô cho
đến Điện Biên, một con người đa tài, nhiệt tâm và đầy thiện chí. Một người bạn
văn đã mượn danh những tác phẩm của cây bút khả ái này tổng luận thành mấy câu
thơ trào lộng rất hợp với cảnh ngộ của ông: Bốn mươi tuổi mới Vào đời
/ Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ / Giữa hai trận tuyến ngu ngơ / Trong lòng Hà Nội bây giờ ở đâu? –
Và anh quay qua bạn:… Thế ông có đoạn tuyệt với trò chơi ấy không?
Bác sỹ nhẹ lắc đầu không ra ý dứt khoát hay
không:
- Với mình, đó không phải là trò chơi, càng
không phải là nghề, chỉ là cách biểu cảm nỗi lòng thôi. Người viết mà bị treo
bút mãi thì sợi tơ rung động trong lòng sẽ thô cứng, mất dần đi sự nhạy cảm và
rồi trí tuệ cũng mòn dần, đến lúc được cầm lại bút không chừng dễ nổi điên lên,
nếu không thành trò cười cũng là lạc lõng. Tôi đã dứt tình với nó!
- Đã có những người giấu đổi bút danh?
- Thì họ sẽ không còn là họ nữa! Nhu cầu viết
của họ như người đi câu cần kiếm cá. Nghĩ lại, mình càng thấy cảm ơn mẹ vì lời
khuyên của bà khi các con chọn nghề: Trên đời này có ba nghề được tôn vinh là: thầy tu, thầy giáo và thầy thuốc. Với bản tính, mình chọn nghề thầy thuốc vì cảm thấy nó đạo ít đời nhiều. Vậy mà may. Thời nay thầy tu bị coi như nghề ru ngủ lòng người
trong khi cần làm cho nó dậy sóng lên. Thầy giáo dù có cũng như không vì người
học chẳng đến đâu cũng có thể thao thao rao giảng giáo thuyết cho các bậc thầy.
Chỉ người thầy thuốc cứ chăm chút với nghề, lẳng lặng nhìn nghe thế sự nhân
tình là còn sống được.
Hai anh ngẩn ngơ đứng giữa quảng trường Nhà
Hát lớn rất lâu lúc bóng đổ về chiều. Bác sỹ nhìn bóng mặt trời đang tắt hỏi
bâng quơ:
- Ta đánh Mỹ lúc hai người anh lớn cứ ông chẳng bà chuộc sự thể liệu sẽ ra sao?
Anh Hà Giang nói ra ý của mình:
- Thi đua hòa bình và Đối đầu sống mái
đều xuất phát từ nội tình mỗi nước. Riêng ta đang cưỡi trên lưng cọp, phải lựa chiều tranh thủ sự ủng hộ của cả
hai bên. Tất nhiên xu hướng bạo lực vũ trang là điều không mơ màng gì nữa. Nói chuyện hòa bình không hợp lúc này!
Bác sỹ nhìn bạn ngao ngán lắc đầu:
- Bệnh tật và chiến tranh song hành với lịch
sử loài người. Nó như là định mệnh. Khoa học dù tiến bộ nhưng căn bệnh này bị
khống chế thì căn bệnh khác lại nảy ra. Xã hội dù phát triển nhưng hình thức
đấu tranh này bị loại trừ thì lại đẻ ra hình thức đấu tranh khác tùy theo thời
đại. Chiến tranh là đỉnh điểm của sự tranh giành không nhân nhượng được. Muôn
thuở, trong con người vẫn ẩn chứa cái man dại nguyên thủy của sự tồn tại bản
năng. Khi nhu cầu vật chất được đáp ứng tạm thời thì lại nổi lên những mâu
thuẫn về tín ngưỡng và sắc tộc…
Anh Hà Giang rướn mạnh đôi tay trên thành xe
cố cho đôi chân đờ đẫn lắc lư vừa nói trong hơi thở nặng nề:
- Với một nền dân chủ thật sự, con người sẽ có
được sự bình đẳng, tự do dù chỉ là tương đối. Lúc đó nhân loại đủ khả năng chôn
vùi lũ hôn quân bạo chúa quen thói chuyên quyền bạo ngược áp chế người. Mơ ước
của loài người được sống trong một thế giới hòa bình ổn định sẽ không phải là
điều không tưởng.
Anh Đức Phúc nhìn bạn thương hại:
- Những người như ông là hay chuốc họa vào
mình! Ông bạn vĩ đại láng giềng đang đẩy cuộc Cách mạng văn hóa tới cao trào bi kịch. Liệu rồi ta sẽ lại có những con vật tế thần
không?
Trên đường về, bác sỹ đi bên xe bạn. Anh Hà
Giang giọng rủ rỉ đều đều như nói với chính mình, với bạn, với cả qúa khứ và
tương lai:
- Hàng ngàn năm nay, chỉ một dòng người xuôi
chảy vào Nam. Có lúc âm thầm lặng lẽ là những đám người lẻ tẻ kéo nhau đi tha
phương cầu thực hoặc chạy trốn tai ương. Có lúc thành dòng cuồn cuộn là những
đoàn quân rầm rập đi mở mang bờ cõi. Đi nhiều, về ít tuy nhiên không phải là vô
ích và không hẳn ai cũng gặp điều bất trắc cả đâu. Đời mình chứng kiến hai cuộc
Nam tiến lớn lao. Trước đây là những phút thăng hoa của lòng yêu
nước, từ một dân tộc nô lệ rũ bùn đứng dậy. Cả một thế hệ tay không xông vào
hang bắt cọp! Bây giờ, mọi người chỉ
có một con đường ra phía trước để biểu thị lòng ái quốc trung quân. Lớp trẻ phơi phới hồn nhiên như sự tiếp
bước cha anh trên con đường trường chinh ngời ánh hào quang chiến thắng một thời
bi tráng!
Một tay anh đưa ra nắm chặt tay bạn như muốn
chia sẻ:
- Không ít người đi tìm sự giải thoát trong
những nỗi bế tắc triền miên…
Và anh thở dài giọng nhỏ hẳn đi:
- Cũng không ít kẻ tưởng như cuộc đi hái lộc
cầu may!
Hai người bạn lặng lẽ chia tay không một lời
chúc tụng nhưng họ đồng cảm về nỗi trăn trở trong lòng.
ô
Anh Hà Giang cầm tờ giấy gọi
của Bộ Công an đưa trình ông bí thư của viện. Ông không nhìn vào tờ giấy, cũng
không nhìn thẳng vào anh, nét mặt phẳng lỳ, giọng lạnh tanh như ra lệnh:
- Anh phải đến cho đúng hẹn!
Chuyện này anh đã nghĩ tới rồi nhưng nó đến
lúc nào và bằng cách nào thì anh không biết được. Nó khởi đầu từ mấy năm trước
khi có nghị quyết trung ương IX của Đại
hội III vào cuối năm 1963 về Chống
chủ nghĩa xét lại hiện đại. Một chủ
trương có những ý kiến bất đồng là chuyện thường tình. Những quan điểm đó nói
là được bảo lưu nhưng những người nắm chức vụ trọng trách mà không đồng chính
kiến cứ âm thầm được ngồi chơi sơi nước. Không ít người bị huyền chức, bị cách ly thậm chí bị bắt bớ giam cầm.
Kéo theo là số người trung gian cũng bị phân tán và vô hiệu hóa dần. Điều mà
người bạn lo lắng cho anh về những con vật tế thần khi liên hệ tới sự ảnh hưởng
mang tính truyền thống lịch sử văn hóa – xã hội là điều dự báo không sai.
Anh Hà Giang có mặt đúng hẹn tại nơi triệu tập
và tỏ ra lúng túng vì cuộc gặp bất ngờ trước người đại diện cho cơ quan pháp
luật lại chính là anh Lê Quốc Trung – người mà anh từng có thiện cảm trong buổi
gặp ban đầu mấy năm trước đó taïi nhaø chuù anh. Trái lại là sự rất tự chủ của người thừa hành công vụ với nét mặt
bình thản, không tỏ ra thân thiện hay là lạnh nhạt. Giọng anh ta đều đều không ra chào cũng không ra hỏi:
- Anh Hà Giang tức Nguyễn Hữu Nghĩa, nguyên
Thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam, tốt nghiệp loại ưu khoa Triết đại học
Lômônôxốp–Maxcơva, chuyên viên nghiên cứu kiêm dịch giả ở Viện Triết học?
Anh Hà Giang nhìn người hỏi, không lắc, không
gật ra ý biết rõ rồi còn hỏi làm gì.
- Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ làm việc với
anh! Anh có đủ sức khoẻ làm việc hay không? – Giọng anh ta tuy nghiêm nhưng có
vẻ thật tình.
Anh Hà Giang laáy laïi bình tĩnh, nhìn thẳng vào người đối diện :
- Tôi khoẻ không bằng ai nhưng được cái dai
sức nên đến lúc này thần chết vẫn chịu thua!
Anh ta nhếch mép cười tỏ ra hiểu ý người đối
thoại:
- Cấp trên cho gọi anh tới đây để làm rõ một
số sự việc mà tổ chức cần biết rõ. Đề nghị anh thành khẩn hợp tác với chúng
tôi!
- Chỉ với yêu cầu như thế thì cần gì phải gọi
tôi tới đây để các anh tốn thì giờ? Tôi là người của tổ chức, đương nhiên lúc
nào, ở đâu cũng có trách nhiệm giải trình những điều tổ chức yêu cầu!
Anh ta dướn người lên :
- Trường hợp này có đặc biệt vì tổ chức cần có
nhiều thời gian trực tiếp làm việc với anh!
- Có nghĩa là tôi sẽ bị giam giữ ở đây?
- Nơi này không phải là trại giam, chỉ là nơi
tạm trú của một vài trường hợp đặc biệt thôi! – Giọng nói và ánh mắt của anh ta
có ý nhắc nhở khách được đối xử như vậy đã là một sự chiếu cố lắm rồi.
Anh Hà Giang tỏ ra khó chịu:
- Nhưng tôi còn cần những đồ sinh hoạt!
- Sẽ có người mang đến cho anh đầy đủ!
- Có nghĩa là nơi ở của tôi bị khám xét như
tên tội phạm? – Anh Hà Giang đỏ mặt lên, giọng sẵng run run.
Không muốn đối tượng của mình bị kích động, Lê
Quốc Trung nói nhưng quay mặt vào phía trong :
- Bây giờ anh hãy tạm vào nhận chỗ nghỉ đi.
Chúng ta còn nhiều thì giờ làm việc với nhau.
Một nữ nhân viên bước ra đẩy nhanh chiếc xe
đưa anh Hà Giang vào dãy nhà sâu mãi phía trong.
Anh Hà Giang được dành cho một căn phòng nhỏ đơn sơ cũng không hơn gì
cái góc cầu thang nơi anh thường trú tại cơ quan: một chiếc giường cá nhân kết
hợp làm ghế với một chiếc bàn kê sát đầu giường, một chiếc tủ con thấp lè tè
không cánh để tư trang. Chỉ thiếu cái kệ sách và một cái bếp dầu với cái nồi
con và cái rổ đựng chén bát là cuộc sống của anh coi như tạm đủ. Người ta chỉ
yêu cầu anh không đi qúa phạm vi của một khu vực nhỏ. Chung quanh không thấy ai
gác xách nhưng mọi người đều tất bật trong công việc thầm lặng với bộ sắc phục
nghề nghiệp ấy thì đâu dễ bắt chuyện với ai. Việc sinh hoạt cũng đơn giản, mỗi
bữa có người mang đến cho anh một cạp lồng cơm
từ bếp ăn tập thể.
Một êkíp làm việc với anh là người của Ban Tổ
chức trung ương, Ban bảo vệ nội bộ, Ban văn hóa tư tưởng, Ban cán bộ Tổng cục
chính trị nhưng người làm việc thường xuyên là anh Lê Quốc Trung người của Ban
an ninh chính trị Bộ công an. Những cuộc đối chất dù người chủ cuộc cố ý gây
cảm giác nhẹ nhàng, không ra hỏi cung nhưng nhiều khi căn vặn lúc thì lắt léo
lúc thì bộc trực ý ra: Người ta muốn biết khi kẻ thù dùng vũ khí đàn áp, anh có
chống lại không? Anh đấu tranh tự vệ kiểu gì? Chính
kiến của anh về lập trường giai cấp là có khuyên người bị áp bức buông tay
súng? Anh hiểu đối tượng của chuyên chính vô sản là những ai? Những ý
kiến trên những bài viết là vô tình trùng hợp hay chịu ảnh hưởng của ai? Có sự
liên kết nhằm gây ảnh hưởng gì không?...
- Tôi chỉ là một người nghiên cứu phát biểu
quan điểm của mình về xu thế chung của xã hội loài người ngày một văn minh. Giá
như đôi chân tôi không chống lại tiếng gọi của trái tim thì giờ này tôi không
chịu ngồi ở đây đâu!
Anh Hà Giang thường thì giữ thái độ phải chăng
nhưng cũng có khi không tự chủ được mình. Lúc đó thường là câu chuyện giữa hai
người tạm dứt. Ngày qua tháng lại tưởng như không giới hạn thời gian với những
câu chuyện lặp đi lặp lại chán phèo đến phát ngấy lên nhưng cuối cùng anh được
yêu cầu viết Bản tự kiểm điểm. Sự việc trở
thành gay go đôi co mãi về cái tiêu đề:
- Tôi không làm điều gì vi phạm luật pháp Nhà
nước và điều lệ Đảng, không dưng bảo tôi trình Bản kiểm điểm là phi lý!
Công việc cơ quan giao cho, tôi làm minh bạch mọi người đều biết cả cớ sao tôi
phải làm Bản tường trình?
Dù sao hai người cũng tự hiểu lòng nhau riêng những kính yêu nhưng sự thể mỗi người một cảnh nên họ cùng
đồng thuận một tiêu đề là Bản tự bạch nghe ra là hợp lý.
Dù được yêu cầu viết đi viết lại nhiều lần
nhưng xem ra Bản tự bạch nào cũng đều một ý
mà những bản sau còn sơ sài ngắn gọn hơn bản trước với những nét gạch ngang đầu
dòng rồi chỉ nêu lên ý chính với lời chú giải: Đã trình bày chi tiết ở
các bản trước rồi cùng với tình trạng tinh thần tôi ngày càng mệt mỏi!
Nội dung Bản tự bạch như sau:
“ Tôi sinh ra lúc non nước điêu linh và lớn
lên lúc nước non binh lửa. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng được ông bà và chú tuy
không giàu nhưng đủ sức cho tôi đeo đuổi ý chí lập thân. Hàng ngày, thấy cảnh
người ta chết đói đầy đường, người bị hành hình đủ kiểu vì không chịu làm thân
nô lệ trong khi kẻ thống trị ngoại bang da trắng, da vàng nhởn nhơ cấu kết với
nhau dồn đẩy người dân sa vào cảnh lầm than khổ cực. Truyền thống yêu nước
chống ngoại xâm từ các đời Đinh, Lý, Trần, Lê đến Quang Trung… chống giặc Bắc
phương vẫn còn ghi trong sử sách. Truyền thống chống giặc Tây vẫn được nghe kể
từ các bậc ông cha. Học sinh chúng tôi lòng đầy cảm phục tinh thần quả cảm của
các anh hùng hào kiệt như Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cũng như
những liệt sỹ Yên Bái tỏ rõ khí phách lẫm liệt trước cỗ máy chém khủng khiếp
của bọn thực dân. Các bài thơ khơi dậy lòng yêu nước của các vị sỹ phu, trí
thức và cách mạng như Sào Nam, Tây Hồ, Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, Phạm Tất Đắc,
Trần Tuấn Khải, Tố Hữu… càng nung nấu lòng yêu nước sôi lên trong lớp trẻ chúng
tôi. Trong bối cảnh ấy, sự hoạt động tích cực của những tổ chức yêu nước đã
cuốn hút chúng tôi đến với những người cộng sản. Trong khi những người lớn tuổi
còn phân vân đắn đo nghi ngại với những định kiến về sự thanh trừng giai cấp
khủng khiếp của những người cộng sản ở Nga, ở Tàu cũng như ở trong nước từng
trương khẩu hiệu lúc manh nha: “Trí, Phú, Địa, Hào – Đào tận gốc, trốc
tận rễ!”, thì lớp trẻ chúng tôi nghĩ
tới một xã hội cộng sản tương lai với thế giới đại đồng như một áng thơ văn
lãng mạn không khác gì cõi thần tiên. Chúng tôi đến với Đảng cộng sản với tấm
lòng trong trắng trinh nguyên và sẵn sàng xả thân cho sự thắng lợi cuối cùng
của nó.
Cuộc chiến tranh tái xâm lược của thực dân
Pháp là một hành động cưỡng bức thô bạo xúc phạm tới phẩm giá những người Việt
Nam cương chính và những người cộng sản đã xứng đáng là người đi đầu trong cuộc
chiến tranh giải phóng.
Điện
Biên Phủ là chiến công bất diệt của tinh thần yêu nước bất khuất Việt Nam được
cả thế giới khâm phục. Nó dấy lên tình cảm tự hào dân tộc và lòng ngưỡng vọng ở
cả những người Việt Nam trước đây vốn yếm thế, tự ty. Cả dân tộc phấn khởi, đặt
niềm tin vào tương lai của một nước Việt Nam mới.
Tuy nhiên màu sắc chính trị khuynh tả ngày
càng đậm nét đã làm phân hóa một bộ phận không nhỏ nhân dân. Tiếp theo là những
sai lầm liên tiếp trong thiết chế xã hội, phát triển kinh tế và việc thực thi
các quyền tự do – dân chủ của nhân dân càng làm cho dân chúng chán nản và thất
vọng. Cuộc chiến tranh có sự tham gia trực tiếp của lính Mỹ ở miền Nam, đồng
thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc là lối thoát cho sự bế
tắc về nhiều mặt với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Đế quốc Mỹ không chỉ bị lộ diện
là tên hung nô thời đại mà cũng bị quy là nguyên nhân của sự đói nghèo về đời
sống, thắt ngặt về tư tưởng, trì trệ về văn hóa xã hội và một lần nữa tinh thần
chống ngoại xâm lại được lấy làm thước đo nhân cách, lòng yêu nước, sự trung
thành của mỗi người, được lồng vào trong đấu tranh quyền lực.
Gần mười năm sát cánh cùng đồng đội tham gia
chiến đấu ở Nam Bộ, được bà con nuôi dưỡng chở che càng hun đúc trong tôi tình
cảm sâu nặng gắn bó ruột thịt với nhân dân và đất nước. Dù bị thương tật nặng
nhưng tôi không hề ân hận và cũng không muốn mình thành người tàn phế. Tôi phấn
đấu miệt mài học tập để mở mang trí tuệ, tiếp thu càng nhiều càng hay kho tàng
tri thức vô tận của nhân loại đặng có thể làm việc gì thiết thực như truyền bá
cho đồng bào đồng chí những điều mình học được.
Tôi sống và học tập ngay trong nôi của chủ nghĩa xã hội và được sự săn sóc cưu mang dạy bảo tận
tình trong tinh thần của những người đồng chí anh em. Ít nhiều tôi đã thấy cả
mặt phải và mặt trái của một xã hội tương lai mà chúng ta đang hướng tới. Đúng
lúc ấy Đại hội XX của Đảng cộng
sản Liên Xô mạnh dạn nói ra những khuyết tật của xã hội đương thời và nguy cơ
suy sụp của nó mà người chịu đựng không ai khác chính là nhân dân – những đảng
viên chân chính và những người lương thiện lao động, yêu nước và nhân hậu. Tôi
tiếp nhận nó với tâm trạng phấn khởi rằng Đảng ta sẽ rút ra được những bài học
ấy và nhân dân ta sẽ tránh được những vấp ngã đớn đau không cần thiết.
Loài người
càng văn minh tiến bộ, càng xích lại gần nhau, hợp tác toàn diện với nhau để
khống chế và cải tạo thiên nhiên phục vụ cho đời sống con người. Chiến
tranh sẽ không là định mệnh nếu nhân dân
toàn thế giới nhận ra khi một bộ phận dân chúng ở đâu đó bị hủy diệt có nghĩa
là những bộ phận dân chúng khác còn đông hơn nhiều lần cũng có thể chung số
phận. Lúc đó, mọi thành tựu văn minh chẳng còn ý nghĩa gì. Hòa bình là ứơc mơ
của nhân loại. Một nền dân chủ phát triển có khả năng tháo ngòi nổ mọi cuộc
chiến tranh.
Khi nền dân
chủ được đảm bảo, ý chí của nhân dân được tôn trọng, các dân tộc ở những
quốc gia dù có thể chế chính trị khác nhau vẫn có thể chung sống hòa bình hữu nghị. Tùy hoàn cảnh lịch sử, các quốc gia có những bước đi nhanh chậm khác
nhau nhưng đích cuối cùng là như thế. Đừng vội coi ta là ưu việt khi năng xuất
lao động còn rất thấp như lời của Lénine. Ý tưởng đốt cháy giai đoạn
hoặc đón đầu thế giới sẽ đưa đến những việc làm khiên cưỡng tệ hại
khó lường.
Khái niệm bạo
lực cách mạng cần được định nghĩa lại trong hoàn cảnh mới. Chỉ có ổn định, các
quốc gia mới có thể cùng hợp tác thi
đua hòa bình. Một quốc gia càng phát triển càng ổn định, hòa bình càng được củng cố.
Đồng nghĩa
với sự đảm bảo quyền dân chủ là các quyền tự do căn bản của con người được tôn
trọng và tệ sùng bái cá nhân bị loại trừ.
Nó là tàn dư của chế độ phong kiến quan liêu, hẹp hòi, thiển cận, độc đoán,
chuyên quyền, chỉ làm cho xã hội trì trệ và lạc hậu. Ngay lúc chế độ phong kiến
đang còn là lực lượng tiến bộ thì tư tưởng “Dân vi qúy – Xã tắc vi thứ – Quân vi
khinh” là bước tiến dài táo bạo vượt
thời đại của loài người. Nhưng thế lực cầm quyền phản động chỉ vì quyền lợi ích
kỷ của nó ngang nhiên trà đạp mọi giá trị nhân văn càng làm cho các quốc gia
bảo thủ sớm bị tiêu vong.
Trong một
quốc gia thống nhất, độc lập, phát triển, một Đảng của một bộ phận dân chúng
không thể đại diện cho quyền lợi đa dạng của toàn dân tộc. Ý nghĩa Đảng
toàn dân là tập hợp những lực lượng tiến bộ trong nhân
dân, điều hòa những mâu thuẫn nội bộ, hòa hợp các khu vực sắc tộc, cư dân, phát
huy dân chủ, đảm bảo nhân quyền, đoàn kết toàn dân xây dựng một quốc gia tiến
bộ văn minh.
Trên bình diện quốc tế, đó cũng là quan điểm
của Tuyên bố chung Maxcơva 1960 được hơn
70 trong số 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế tán đồng, trong đó có Đảng
Lao động Việt Nam.
Những ý kiến ấy đã một lúc tưởng như được tôn
trọng, lắng nghe nhưng dần thành lạc lõng rồi như vật cản cho quan niệm chính
thống đương quyền. Nó bị coi như là chống đối.
Đồng thuận với quan điểm ấy có nghĩa là nhiều
vấn đề cơ bản kinh điển của chủ nghĩa Marx cần được xem xét lại trong bối cảnh
thế giới hiện nay và người ta quy kết những ai chấp nhận nó là theo Chủ
nghĩa xét lại hiện đại, coi họ như
những tội đồ. Luận cương các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin dẫn
người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến với chủ nghĩa Marx. Trên cơ sở
của phép Biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử, con người khát khao tìm hiểu
ấy đã công khai nhận định: “Dù sao thì cũng không
thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Marx bằng cách đưa vào đó những tư
liệu mà Marx ở thời kỳ mình chưa có được. Marx xây dựng học thuyết của mình
trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? – Lịch sử Châu Âu.
Mà Châu Âu là cái gì? – Đó chưa thể là toàn bộ nhân loại” và Anh đề nghị “Xem xét lại chủ nghĩa
Marx về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng vốn dân tộc học phương Đông”. Sau này khi đã từng trải, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc chắt lọc tinh
hoa của nhiều môn phái triết học xây dựng nền tảng tư tưởng cho cách mạng Việt
Nam từ truyền thống nồng nàn yêu nước của
dân tộc ta; từ điều Nhân-Nghĩa của đạo Khổng rút ra tư tưởng lấy “Dân làm gốc”
là cốt lõi; lòng Từ-Bi-Hỷ-Xả trong đạo Phật; tinh thần Bác ái vị tha của đạo Cơ
đốc; chủ nghĩa tam dân (Dân tộc-Dân quyền-Dân sinh) của Tôn Trung Sơn là sự kết
hợp giữa chủ nghĩa dân tộc ở phương Đông với tinh thần nhân bản của của văn hóa
phương Tây. Người sớm nhận ra dù trên bình diện quốc tế đã có một tổ chức cách
mạng lớn mạnh thì mỗi dân tộc vẫn phải lo tự giải phóng mình. Các nước thuộc
địa không thể tự cô lập mình trong cái “khung giai cấp thuần túy”. Phải mở rộng
khối đại đoàn kết toàn dân lấy mục tiêu giải phóng dân tộc và giai cấp là hành
động gắn bó thiết thân. Trong bối cảnh cách mạng đang trong xu thế tả khuynh
lúc ấy tất nhiên là không hợp với tinh thần chuyên chính vô sản cực
đoan, dễ bị coi là thỏa hiệp, hữu khuynh, cách mạng không triệt để. Thực sự là
lãnh tụ của chúng ta đã từng gặp khó! Và nó để lại hệ lụy lâu dài tới cả quá
trình tiến triển mà chưa biết hậu quả sẽ thế nào.
Chủ nghĩa Marx không phải là cẩm nang mầu
nhiệm cho sự phát triển toàn diện của đất nước này, của thế giới này luôn biến
động, muôn màu sắc và vô cùng phong phú. Việc người sáng lập và đứng đầu của
Đảng vắng mặt trong ngày bỏ phiếu thông qua Nghị quyết 9/III chứng tỏ vấn đề phức tạp đến mức độ nào và cần có thời gian để suy
ngẫm những quan điểm hiện khác biệt nhau.
Nguy cơ bùng nổ chiến tranh sẽ không hẳn từ
những quốc gia có thể chế chính trị khác nhau. Nó nằm ngay trong mỗi cơ thể đó
một khi chủ nghĩa dân tộc cực đoan bị kích động, các tư tưởng tôn giáo mê mị
lòng người đưa đến sự cuồng tín tin rằng khắp trời đất này chỉ có một đấng tối
cao linh thiêng duy nhất. Chủ nghĩa Marx bị các giáo phái chống đối kịch liệt
vì người ta có xu hướng biến nó thành một tôn giáo mới mà trên hết cũng là vị
Giáo chủ quyền uy tối thượng vaø mỗi lãnh tụ ở
một quốc gia cộng sản được sùng bái như các vị Bồ tát hay Thánh Tông đồ! Khi
nào đời sống vật chất các dân tộc không khác biệt nhau, nền văn minh cùng với
ánh sáng trí tuệ bao trùm toàn nhân loại thì cõi tâm linh con người mới được
yên ổn để mách bảo nhau cùng giữ gìn phát triển thế giới chung này.
Cuộc đấu giành độc lập dân tộc bị cường điệu
lên thành cuộc đấu tranh giai cấp đang phân tán dần lực lượng! Triệt tiêu giai
cấp thuộc về tương lai. Giai cấp tồn tại trong sự phân hóa nội thân cùng với sự
tiến bộ của xã hội loài người. Nó vừa đấu tranh vừa thoả hiệp với nhau để thích
ứng và cùng tồn tại. Các cuộc chiến tranh chỉ bùng nổ ra một thời gian ngắn và
chấm dứt khi quyền lợi dân tộc hoặc của một bộ phận nào tạm thời được thoả
đáng. Có lúc giai cấp tưởng chừng bị thủ tiêu nhưng thực ra nó biến thể và
những mâu thuẫn giàu nghèo, thống trị bị
trị vẫn trầm kha. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể mỗi nước, cộng đồng các dân tộc ở
đó tự tìm cách hiệp thương, hòa hợp, dàn xếp để đảm bảo sự tồn tại quốc gia với
mục tiêu xây dựng một xã hội phát triển, công bằng, dân chủ, văn minh.
Tiếc rằng sự thức tỉnh muộn màng ấy bị nhiều
thế lực chống phá bởi những bộ óc cục bộ hoặc là bảo thủ. Ý nghĩa nhân văn của
việc chống tệ sùng bái cá nhân bị lạm dụng để giải quyết những ân oán cá nhân hoặc toan tính một sự
thoán nghịch nên mau chóng biến thành một trò chơi chính trị! Cuộc đấu tranh Giáo
điều – Xét lại đã làm trò cười cho thiên hạ bởi chẳng những
nó gây chia rẽ sâu sắc nội bộ ở nhiều nước mà sau cụm từ nhân danh sự trong
sáng của một tư tưởng mới vẫn là chủ
nghĩa dân tộc cực đoan cố hữu! Chuyên chính vô sản là sự trừng phạt để giữ vương quyền không
khác gì Pie Đại đế ở nước Nga, Tần Thủy Hoàng ở nước Trung Hoa thời trung cổ
đại. Nó hoàn toàn trái ngược với tinh thần nhân chính (nền chính
trị lấy điều nhân làm gốc) của minh triết phương Đông. Những
khuyết tật của chế độ xã hội chủ nghĩa không bị khống chế, đẩy lùi, trái lại nó càng nở bung ra nhanh chóng
khiến cho hình ảnh một xã hội mới lý tưởng không còn sức hấp dẫn và tăng lên
mối hoài nghi về một học thuyết khả thi cứu rỗi loài người. Marx từng giải
thích: “Bản chất của đời sống là thực tiễn và thực tiễn của loài người ngày
càng tiếp cận hơn với tự do”. Chủ nghĩa xã hội là hiện tượng khách quan
khoa học chứ không thể được nhào nặn bởi ai.
Người làm công tác nghiên cứu khoa học xã hội
không chỉ đọc sách báo hay tìm hiểu tâm lý nhân sinh một chiều. Tôi nhiều lần
tới sứ quán một nước bạn lớn mà ở đấy từng gợi mở cho tôi đi vào con đường
nghiên cứu sự phát triển của xã hội loài người, với mục đích tìm thêm tài liệu
và thăm dò chính luận bên nước người ta. Tôi không được nắm một điều bí mật
quốc gia đặc biệt nào để có thể ngầm trao cho họ. Những điều tôi biết cũng là
những điều xôn xao trong dư luận, sứ quán nào cũng có nguồn thông tin riêng, họ
dư sức biết. Tôi tiếp xúc với họ hoàn toàn bởi nhu cầu công việc chứ tôi không
nằm trong một tổ chức nào và tôi có đủ bản lĩnh để không thể ai lôi kéo được
mình. Một nhân vật quan trọng nào đó mà
người ta bóng gió gợi ý về những mối liên hệ thì với tôi thật xa vời vợi. Tôi
chẳng là gì và cũng chẳng có tư cách gì để quan hệ với người ta. Một số người bất đồng chính kiến là coù thật nhưng không thể kéo bè thành một tổ chức làm tay sai của ngoại bang
nằm sâu trong Đảng và âm mưu thoán nghịch.
Từ söï trì treä
veà kinh teá, độc đoán veà toå chöùc keùo daøi
ñöa tôùi lãnh đạo chuyên quyền, thao túng nội bộ seõ làm phân liệt Đảng ta. Kẻ cơ hội mượn gió phất cờ ngày một nhiều và
càng được tin dùng. Những người kiên trung dễ bị vu oan, cô lập, thất sủng, bất
lực dẫn tới co thủ, thờ ơ thậm chí tự thoát ly khỏi Đảng. Đó là nhöõng tieàn
trieäu baùo hieäu nguy cơ tha hóa của một Đảng cách mạng tự vô
hiệu hóa mình!
Trong sự việc này tôi caûm nhaän
coù moät aâm mưu nhắm vào một thế lực đương quyền nào đó mà khoâng ít người do sự tình cờ hoặc do thâm ý của ai ñöa ñaåy vaøo để tạo nên một vụ án coù chuû möu. Neáu bieán coá xaûy ra seõ laø tai hoïa khoâng
sao löôøng noåi. Nhưng tôi tin rằng lịch sử sẽ cải chính lại. Khi söï thöïc
ñöôïc phôi baøy seõ roõ ra sai đúng, tất nhiên phải trả giá bằng sự đổ vỡ niềm tin mặc dù trước đây ta vẫn
nói: Có niềm tin là có tất cả, mà bước đầu đã có những thành công!
Người làm khoa học xã hội lấy mục tiêu là chân
lý phải có chính kiến rõ ràng. Đó là phẩm chất đáng trọng nhưng đầy gai góc.
Tôi chấp nhận mọi bất trắc bởi tôi vẫn đi trên con đường đã chọn và thấy đời
mình đầy đủ, như một nhà thơ nào đó tự thoả mãn với mình: “Sống vì tình yêu và rượu ngon / Chết hy sinh cho tổ
quốc / Đời ai được thế này / Đó là người hạnh phúc”. Tôi đã được nhận tình yêu nguyên sơ tuy chưa được hưởng đến tận
cùng. Tôi đã say trong men say của nghĩa bạn, tình dân. Tôi đã ngã xuống bởi
đạn thù giữa nơi chiến trận. Và bây giờ nếu phải chết trong ngục tù bởi dám nói
thật lòng cho sáng ra chân lý thì tôi là người hạnh phúc!
Một người yêu nước chân thành:
HÀ
GIANG – Nguyễn Hữu Nghĩa ”
Kết thúc buổi nói chuyện cuối cùng, anh Lê
Quốc Trung với ánh mắt dịu dàng nói giọng hơi buồn :
- Chuyện với anh đã đến hồi kết thúc. Tuy
nhiên anh sẽ không về lại cơ quan cũ nữa mà đi sơ tán về một Trại thương binh ở
trên Bắc Giang!
- Có nghĩa là anh cho tôi đi an trí?! – Anh Hà
Giang cười mai mỉa.
Người đối thoại đứng lên, một hơi thở dài nén
lại:
- Tôi truyền đạt theo lệnh của trên!
- Người ta định quản thúc tôi tới bao giờ?
- Tôi cũng không biết nữa! – Anh ta đi nhanh
ra khỏi phòng như tránh một ánh mắt nhìn mình.
Ông Thanh xót cháu, mang nỗi buồn phiền đến than thở với bác Trịnh Huy :
- Chính nó là người dắt em đến với Đảng mà bây
giờ nó bị oan khiên em không biết phải làm gì cho nó!
Ông anh thở dài cười:
- Tôi cũng được mời vào làm chứng nhân trong
cái Ban đặc biệt nghị án vụ này. Chứng cớ thì ít, hồ nghi thì nhiều nhưng vẫn luận tội
mà không thể đưa ra công khai giữa chốn pháp đình!
- Cỡ như cháu nó đâu có nghĩa lý gì. Còn bao
nhiêu vị công thần danh tướng từng được giao cho những công việc trọng yếu từ
những ngày khai quốc nữa mà sao không có ai đứng ra bênh vực vài lời?
Ông anh cười chua chát:
- Nó lôi cổ vào cái Ban trời ơi ấy toàn những loại cỡ như Nguyên lão
nghị viên của nước Anh thời trung cổ.
Các vị mũ cao áo dài ngồi nghe nó đọc vanh vách ra đủ thứ tội. Có hay không ai
biết? Nó lại trương ra mấy cái Bản trần tình của mấy anh nản chí muốn thoát nợ, tặc lưỡi cho xong, ngoáy nhanh khúc
tấu, coi như đó là bằng chứng. Rồi nó giả nhân giả nghĩa nói rằng tội tày đình
đó nhưng xét có công lao và thể tình đồng chí nên rộng lượng hải hà, mở lòng
khoan dung tha thứ nên chỉ xét xử nội bộ thôi, không bắt tội tù gì cả, cho nghỉ
ngơi an trí một nơi để tĩnh tâm suy nghĩ, chừng nào nhận ra lỗi lầm hối cải sẽ
được hoàn lương. Điều nào hớ hênh không hợp hiến thì nó bảo bên Quốc hội bổ
sung điều luật. Còn ai nói gì được nữa? Coi như trảm trước mà lệnh chỉ ký sau!
- Các vị đều một thời oanh liệt, tù đày sơn
lâm hải đảo coi như trò trẻ, lý sự quan tòa, chúa ngục cũng phải kiềng, nhiều
vị tướng quân xông pha trận mạc như vào chỗ không người mà sao bây giờ họa đến
bạn bè đồng chí từng vào sinh ra tử có nhau lại dễ nghe, dễ gật đến thế?
Ông anh xịu mặt, im lặng buồn bã hồi lâu mới
dè dặt nói thật ra cái tình đời kiểu nhà sử học:
- Con người ta mỗi thời một khác. Khi sự
nghiệp chưa thành thì tất cả chung một chữ Ta. Nhưng khi công thành
rồi thì chữ Ta thành chữ Tao
để cái danh trọn về mình mới toại. Lúc hiển vinh cân đai mũ áo xênh xang thì
lại nghĩ chuyện giữ gìn danh gia thể diện. Thế mới có chuyện đời lúc nếm mật
nằm gai thì chúa tôi “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”
nhưng khi giữa chốn triều đình rồi thì quân thần mỗi người một phận. Xem như
Nguyễn Trãi tài danh công đức như thế còn bị chém xả ngang người. Trần Nguyên
Hãn khua gươm rụng đầu bao tướng giặc mà lúc yên hàn biết thân treo ấn từ quan
về ở ẩn cũng không yên phận, đành ngẩng mặt kêu trời mà trầm mình dưới dòng
sông Thao để chết được toàn thân. Xét cho cùng thì trong mỗi con người có bậc anh
hùng và kẻ tiểu nhân cùng sống. Tùy hoàn cảnh mà vị này, thằng nọ lộ ra thôi!
Ông Thanh còn nghi hoặc:
- Ta từng dũng cảm nhận sai lầm mà sửa mãi
chẳng tới đâu rồi vẫn cứ triền miên sai lầm như thế?!
Ông anh cười không thành tiếng:
- Trong cải cách ruộng đất, người ta kích động bừa bãi để nông dân
hăng lên làm loạn, động tới cả triều đình. Bao nhiêu đại thần danh tướng xính
vính không yên, người ta vội đình nó lại. Nói vu vơ chủ trương đúng,
biện pháp sai, nghĩa là trên vẫn sáng
suốt, chỉ có dưới làm sai thôi. Vài anh nhận đòn phủi bụi nhưng rồi lại ung dung tại vị trong khi
hàng ngàn người lương thiện trung thành chết oan tức tưởi! Hồi ấy, tại hội nghị
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc, luật gia Nguyễn Mạnh Tường có bài phát biểu
thẳng thắn chân tình. Lúy phê phán sửa sai như thế chỉ là biện pháp
chính trị hời hợt, xuề xòa, không truy rõ căn nguyên, không truy ra trách nhiệm
cụ thể vào ai thì làm sao sửa được?! Lúy phân tích thấu đáo sâu sắc lắm.
Ông lục tìm cuốn sổ tay, lật ra mấy trang ghi
tóm ý, đọc cho chú em nghe:
- Mong muốn của loài người gom lại chỉ là một
đời sống vật chất tương đối đầy đủ và ổn định, một đời sống tinh thần tương đối
thoải mái và êm ấm, có đảm bảo tự do. Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ
sở dân sinh và dân
quyền. Cốt lõi của dân quyền là dân
chủ. Nội dung cụ thể của dân chủ là nhân dân làm
chủ đất nước mình, mỗi người được làm chủ bản thân mình và phải được hưởng các
nhu cầu thiết yếu chính đáng.
Bác Trịnh dừng lại, nhìn người em đang chú ý
lắng nghe, chêm vào ý của mình:
- Người ta tin anh, theo anh cũng là hy vọng
một xã hội tương lai như thế. Dù tên gọi của thể chế chính trị ấy là Dân chủ cộng hòa, Xô viết nhân dân hay là Xã hội chủ nghĩa gì cũng được!
Ông lại cúi xuống đọc phần ghi:
- Nguyên nhân của những sai lầm vừa qua trước
hết là lãnh đạo ngợp trong hào quang chiến thắng, tự coi mình là người duy nhất
tìm ra chân lý và cũng là người duy nhất được quyền bảo vệ chân lý. Gọi là lắng
nghe ý kiến nhân dân nhưng phải hợp ý mình! Không nên coi Đảng lãnh đạo như là
một cây rất to, lá rờm rà che hết ánh sáng mặt trời khiến một ngọn cỏ cũng
không mọc dưới chân nó được. Từ đó xa rời quần chúng, cảnh giác với tất cả mọi
người, mơ hồ ta địch, coi chính trị là thống soái, cường điệu chuyên chính tới
mức coi nó như hình phạt, xem nhẹ pháp quyền sinh ra tùy tiện, coi nhẹ chuyên
môn nên coi thường trí thức. Cụ thể là với anh em trí thức đi theo kháng chiến
vẫn hoài nghi, với những người ở lại gọi là lưu dụng thì hợp tác nặng về hiếu hỷ. Trong khi ở các công sở lại có tình trạng
chèn ép của chính trị với chuyên môn đưa đến những lời xầm xì “giai cấp này nọ”
và “họ Lưu – họ Kháng” làm cho ta đau lòng! Kết quả là không phát huy được tiềm
năng tri thức và nhiệt tâm của họ. Đồng thời ta tích cực đào tạo lớp trí thức
mới một cách vội vã cả về thời gian và số lượng, không dựa trên nền tảng cơ sở
giáo dục hiện có, coi thường chất lượng. Những sản phẩm trí tuệ ấy thời gian sẽ
minh chứng được! Bởi ta đi lên từ những bước khởi đầu qúa thấp nhưng lại muốn
tỏ ra xã hội ta ưu việt nên sinh ra chứng thích tô hồng, thì phải ham thành
tích! Mọi báo cáo đều phóng đại lên, trên dưới đều biết cả nhưng ai cũng hả hê
vui vẻ. Các đoàn thể gọi là của quần chúng nhưng thực sự không nói lên được tâm
nguyện của số đông dân chúng. Mỗi đại biểu là mối giây liên lạc hai chiều giữa
Nhà nước với nhân dân và ngược lại, là yếu tố không thể thiếu để Nhà nước hình
thành những chủ trương chính sách sát hợp với thực tế. Thế mà những người đại
diện đã thành nếp quen chỉ biết phụ họa, tán đồng theo nghị quyết, họa chăng có
ai thỏ thẻ đôi điều khác ý thì
lạc điệu! Cội nguồn của nó là từ óc tự ty ở một giai cấp thiếu bản lãnh của
người làm chủ, khi nắm chính quyền thì bộc lộ tệ quan liêu, không phân biệt
được ai là bạn là thù! Nói rằng cách mạng là tốt đẹp, là mang lại hạnh phúc cho
mọi người mà sao vẫn có người xa lánh cách mạng? lo ngại trước cách mạng? đau
đớn vì cách mạng? Ngoại trừ số ít phần
tử đối kháng còn số đông họ thuộc thành phần cơ bản trong nhân dân như công
nhân, nông dân, những người làm bách nghệ để mưu sinh… Thế thì chân lý ở đâu?
Đó là vấn đề phải đặt ra và phải giải quyết! Để giải thoát ách tắc ấy trước hết
phải xây dựng một xã hội pháp quyền bình đẳng, công minh. Cải tổ các tổ chức xã
hội để nó đúng là tiêu biểu cho dân, đưa lên những người đại diện thật xứng
đáng với vai trò của họ. Công khai hóa xã hội bằng cách để tự do ngôn luận kể
cả việc cho phép làm thông tin, báo chí tư nhân trên cơ sở pháp luật quy định
rõ ràng. Đó là những quyền dân chủ sơ đẳng của một thể chế tự do.
Xếp cuốn sổ lại, ông Trịnh thở dài nhìn em :
- Lúy nói thẳng ra rằng: Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa rút được kinh
nghiệm đâu. Như thế ta vẫn mở cửa cho các sai lầm tiếp sau còn nguy hại hơn
nữa! Sai lầm cải cách ruộng đất chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát
nhất mà trong nhiều lĩnh vực khác cũng sai lầm nghiêm trọng và sẽ càng tệ hại
nếu không kịp nhìn ra và sửa! “Trung ngôn nghịch nhĩ”, bị gán cho là thiếu tinh thần xây dựng, lâu nay pháo tịt ngòi luôn!
Nếu người ta thật sự cầu thị và triệt để sửa sai theo tinh thần đó sẽ không có
những cuộc cải tạo áp chế và cưỡng bức vào các xí nghiệp công tư hợp
doanh nửa đời nửa đoạn và các hợp
tác xã trời ơi đất hỡi để nên nỗi sản
xuất đình đốn, đời sống thiếu thốn tới mức này! Sẽ không có các vụ án Nhân văn – Giai phẩm, rồi Xét lại chống Đảng gây bao
điều oan trái như thế này đâu. Thời nào cũng vậy, giới trí thức và đặc biệt là
văn nghệ sỹ rất nhạy cảm với những biến thiên thời cuộc. Họ có thể dấy lên
thành cao trào ủng hộ hay phản kháng đòi tự do tư duy, tự do sáng tác, tự do
trong sinh hoạt xã hội. Họ có thể qúa khích chứ không là phản quốc, càng không
thể lật đổ được ai một khi giới lãnh đạo bản lãnh vững vàng. Tuy nhiên, lần này
kẻ chủ mưu khuynh đảo lắm! Muôn thuở, giới trí thức bao giờ cũng là đối
tượng bất đắc dĩ của giới cầm quyền.
Người cầm quyền thông minh tài giỏi biến họ thành động lực, xã hội sẽ lành mạnh
đi lên. Trái lại, dùng cường quyền áp chế hoặc nhử mồi danh lợi, biến họ thành
kẻ tội đồ hoặc đám tay sai, xã hội sẽ tối tăm mù mịt, muôn sự nhiễu nhương!
Ông thở ra buồn bã như sự cam nhận thay cho
những người bất lực :
- Thật ra không phải là hèn hết cả đâu nhưng
nói lúc nào, nói ở chỗ nào, nói với ai và ai nghe mình nói? Làm chính trị như
đánh đu với tinh! Trung thành, dũng cảm chưa đủ; phải tỉnh, nhanh, nhậy, ẩn,
hiện đúng lúc đúng nơi – Tay ông chỉ thẳng ngực mình: Nào ai biết cái Hiệp định
sơ bộ ngày 6 tháng ba năm 1946, trong thế chẳng đặng đừng phải nhân nhượng Pháp
nhưng phá được thế bao vây, đuổi được thằng Tàu nham hiểm, đuổi được cả lũ theo
đóm ăn tàn báo hại và mấy anh ngây thơ cũng bị gạt ra luôn trong đó có cả chính
mình, để rảnh tay chống một kẻ thù! Lỡ xảy chân thì khó mà gượng dậy! Thôi đành
tặc lưỡi cho xong. Tâm can sâu nặng gì trút ra ngòi bút gửi vài dòng lại cho
hậu thế.
Những điều ấy bị ém nhẹm đi vì nhiều lý do,
cán bộ cỡ ông Thanh hôm nay mới biết bởi một sự tình cờ!
Người trí thức tâm huyết cũng là nhà cách mạng
nhiệt thành nhưng đã già, không còn đủ sức bộc lộ hết ra tâm trạng của mình,
mắt đăm đăm hướng về cõi xa xăm như nhìn về quá khứ mà lo cho hiện tại. Ông
Thanh chợt nhớ cụ đồ cha ông từng có lần dạy bảo các con: Kẻ sỹ không lo đến sự
phú bần, sinh tử của bản thân mình mà chỉ một lòng nghĩ tới sự thịnh suy, tồn
vong của quốc gia dân tộc! Đời ông thấy nhiều kẻ sỹ không màng danh lợi, dấn
thân vào chốn gian khó hiểm nguy vì không chịu nỗi nhục mất nước. Có người âm
thầm gửi thân nơi đáy biển rừng sâu. Có người hiên ngang oanh liệt ngã xuống
trước lưỡi gươm họng súng. Có người âm thầm cay đắng bỏ cuộc giữa chừng. Mà khi
không còn bóng giặc thù lòng họ sao vẫn ngổn ngang trăm mối? Bởi ý nghĩa cuộc
đời họ là được cống hiến tài năng trí tuệ cho nhân quần xã hội, nghĩa là được
làm những điều nhân nghĩa. Họ không thể là kẻ ngu trung.
Hương Giang chuyển qua làm công tác ngoại giao. Chị đi đó đây tất bật
tháng ngày. Dịp trở về biết chuyện, hỏi chồng. Anh Trần Quyết Tâm bảo vợ:
- Mình phải tin vào Đảng. Không kiên quyết làm
sao tập trung đánh thắng giặc Mỹ được. Nhiệm vụ của em cũng là một trong ba mũi giáp công (Quân sự–Chính trị–Ngoại giao) đánh Mỹ!
Chị lao vào công việc. Những chuyện rối rắm
nội bộ không ai dám nói cho chị biết vì chồng chị là một cán bộ có cỡ của Ban Tổ chức trung ương. Lâu lâu Ban cán sự tổng hợp đại cương tình hình trong ngoài.
Những chuyện đó chịu nghe đài, đọc báo người nghe chỉ mất thì giờ vô ích thôi.
Một số tin gọi là đặc biệt cũng úp úp mở mở một chiều. Chị là cán bộ mẫn cán,
ngoài chuyện công, chị còn phải lo cho bốn đứa con nữa thì cũng không có thì
giờ để ý tới những chuyện không phải của mình. Dù sao chị cũng đến thăm chú để
muốn biết về anh. Nhưng chú không nói ra vì nghĩ chị biết rõ rồi và chị cũng
không dám hỏi vì không biết mở đầu câu chuyện làm sao. Trước khi ra về chị đưa
ra một hộp sâm qúy, giọng nghẹn ngào:
- Chú giúp cháu gửi cái này cho anh. Nhưng chú
đừng nói là quà của cháu. Anh sẽ không nhận đâu!
Nói rồi chị chạy ra, sợ chú cũng không nhận
giúp!
Cẩm Nhung tìm tới Trại an dưỡng thăm anh và
báo tin lễ vu quy. Cô kể lại với cha:
- Trại toàn thương binh nặng cả, anh vậy mà
vào loại khá đấy. Anh than phiền không có sách đọc, không có thông tin gì ngoài
những buổi phát thanh công cộng trên mấy cái loa của Viện phát ra. Ngồi cắm cúi
viết là một sự lạ ở đây vì viết gì ? gửi cho ai? và để làm gì?… Để quên thời
gian, anh tích cực tham gia dạy văn hóa cho anh chị em thương binh nặng tại
giường nên được nhiều người quý mến và tháng nào Viện cũng biểu dương. Mọi tiêu
chuẩn và lương xướng của anh vẫn được giữ nguyên. Anh tạm đầy đủ và nhắn chú
khỏi phải lo lắng gì cho cháu. Tuy nhiên anh dặn đừng có lặn lội lên thăm vì
người ta để ý, có thể sẽ ảnh hưởng tới sự tiến bộ của các em. Anh cũng bảo đừng
gửi thư từ vì người ta kiểm duyệt. Sách vở dù có gửi lên cũng không bao giờ đến
anh đâu. Anh không tin tức gì về có nghĩa là anh vẫn khoẻ. Có chuyện gì đặc
biệt anh sẽ nhờ người tin cẩn báo về.
Ông Thanh lên giường lâu lắm rồi mà trằn trọc
không sao ngủ được. Ông thương con gái ông, lấy chồng mà không được mẹ lo.
Chồng nó là phi công, giá như thời buổi yên bình thì sung sướng đấy nhưng vào
lúc chiến tranh ác liệt thế này, ngày nào cũng bay lên trời quần nhau với hàng
đàn máy bay Mỹ… Xem chừng mong manh lắm! Ông lại trăn trở nghĩ tới mấy đứa con
xa cha đã lớn… Không chừng cha-con-anh-em hai phe đánh nhau loạn xà ngầu! Ông
nghĩ tới cháu ông chịu cảnh đơn côi ngang trái suốt đời. Mọi nỗi khổ nó chịu
được hết chỉ còn niềm vui và an ủi ở chữ nghĩa thôi. Thế mà nó không được đọc,
không được nghe, không được nói, không được viết thì trí tuệ trở nên vô dụng,
teo tóp dần đi và bộ óc sẽ thành bã đậu! Nó chấp nhận tàn tật như một sự hy
sinh cần thiết nhưng không chịu để thành phế nhân. Nhưng bây giờ, số phận nỡ
nào cay nghiệt với nó thế?! Ông chợt nhớ tới lão chủ sự Jean Debus ngày nào.
Hắn vừa là ân nhân vừa là sếp của mình. Thế sự bất thường, mình lại là ân nhân
của hắn. Thế mà trong lúc rối ren, hắn công khai đến tìm mình báo nghĩa. Nhân
tình thế thái càng nghĩ càng đau đầu quá.
Ông bật dậy, đi đến bàn thờ thắp lên mấy nén
hương thơm. Thắp hương vào dịp giỗ tết cha con ông vẫn thường làm, đã như thành
lệ phải có mùi hương khói trong những ngày khác thường như thế. Nhưng lần này,
ông trang nghiêm đứng trước bàn thờ, tay giơ cao mấy nén hương lên, dưới ánh
đèn lờ mờ trong đêm khuya khoắt, ông khấn rõ thành lời cầu cõi linh thiêng gần
xa về đây che chở, phù hộ cho con gái ông hạnh phúc yên lành, cho các con ông
không sa vào cảnh nồi da xáo thịt, giải thoát cho
con của người bào huynh qúa cố là cháu ông vốn hiền lành, lương thiện, thật
thà, hiếu nghĩa, thương người, không may gặp họa, sớm được giải oan trở về
trong sự đùm bọc thương yêu của tình máu mủ ruột rà.
Dáng ông gầy, cao, hai bàn tay giơ qúa đầu chắp
lại, mấy nén hương trong tay rực đỏ đưa những làn khói mờ mờ ảo ảo bay lên. Cái
bóng ấy chênh chênh in trên nền nhà… Cả hai cùng bất động cảm như cõi đời này
và cõi thiêng kia cùng hội về đây.
No comments:
Post a Comment