CHƯƠNG BA
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
a{b
Phủ Tây Hồ nằm sát ngay mép nước một doi đất bên bờ đông Tây hồ, giáp đê
Yên Phụ, thờ Thượng đẳng tối linh thần – Liễu Hạnh thánh mẫu. Cõi tâm linh, người Việt tôn thờ tứ thần bất tử là các thánh: Gióng, Tản Viên, Chử Đồng Tử
và Liễu Hạnh. Thánh là người trần có công to với đời khi thăng hóa được tôn
vinh. Thần là người trời giáng thế phò chánh trừ tà, ban phúc cho dân. Tứ Ngài
vừa là Thánh vừa là Thần, vừa thực vừa hư. Thánh Mẫu chính là công chúa Quỳnh
Hoa, con của Ngọc Hoàng, mấy lần giáng trần có tên là Giáng Tiên, Liễu Hạnh.
Nhiều lần Bà hóa thân thành người trần chung hòa thế tục, giúp dân đuổi tà ma
yêu quái, ngao du khắp nơi sơn thủy vui cùng mây gió. Dân gian tôn sùng bà là Mẫu nghi thiên hạ. Tương truyền vào thời Lê, có ông Trạng Bùng
Phùng Khắc Khoan giỏi văn thơ lý dịch, một hôm ông cùng hai bạn văn nhân Ngô,
Lý dạo chơi vãn cảnh Tây hồ, thuận chân dẫn tới nơi non xanh nước biếc, sen
trúc hữu tình, nhận ra một tửu lâu quán trên đề mấy chữ “Tây hồ phong
nguyệt”, thấp thoáng sau rèm bóng Liễu
nương mỹ nữ cất giọng oanh mời khách. Cuộc kỳ ngộ Thi–Mỹ–Tửu tương phùng giữa phong cảnh gió-mây-trăng-nước-hoa-người
kỳ thú làm xao lòng mặc khách tao nhân. Lúc chia tay giai nhân-tài tử vẫn còn
lưu luyến. Mấy lâu sau, nhớ cảnh nhớ
người, lòng phơi phới, bạn văn nhân cùng tìm đến thi quán bên hồ. Chốn cũ người
xưa chỉ còn là nơi non xanh ngăn ngắt, nước biếc lồng mây, hoa cười oanh hót,
hệt như cõi bồng lai tiên cảnh. Chợt nhìn mấy câu thơ để lại, giật mình nhận ra
là Quỳnh Hoa công chúa hiển linh!
Mang tiếng sinh ra và lớn lên ở đất Hà thành
mà hôm nay bởi sự tình cờ, anh Hà Giang mới đến đây. Thời niên thiếu, vào dịp
hè, bạn bè thường rủ nhau lên bơi ở hồ Quảng Bá. Mấy làng chài, cảnh ven hồ dọc
đê sông Hồng còn đọng lại trong ký ức một thời của nhiều lứa tuổi là những rặng
ổi trĩu trịt quả xanh quả vàng rất ấn tượng và hương thơm của nó thật hấp dẫn nhiều
khi níu chân đám học trò lại cùng nhau diễn những trò con trẻ. Việc đi lễ bái phủ đền là chuyện của các bà các
cô, tuổi học sinh không mấy khi nghĩ tới. Từ sau hòa bình, ngôi làng nhỏ bé yên
tĩnh mát mẻ này là khu nghỉ đặc biệt của Trung ương, người ngoài khó mấy ai vào
được.
Một số cán bộ từng hoạt động nhiều năm ở chiến
trường miền Nam được triệu tập tới đây trực tiếp nghe các đồng chí từ tuyến đầu
tổ quốc bí mật lặn lội ra Trung ương báo cáo tình hình. Lòng mỗi người xao
xuyến nặng nề nghĩ tới bà con đồng chí mình đang chịu bao đau thương tang tóc
trước sự khủng bố dã man điên cuồng của lũ phản bội bán nước, tay sai của ngoại
bang âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Từng tốp tản bộ ven hồ và tụm lại dưới
bóng cây si xum xuê tán lá rườm rà với những rễ nhỏ to tỏa xuống lòng thong.
Bên kia hồ, trường Bưởi ngày xưa bây giờ vẫn thế. Anh Hà Giang vừa có cảm giác
bâng khuâng vừa thấy nỗi buồn càng trĩu nặng. Anh cảm thấy bất lực vì đời mình
bị cột chặt vào chiếc xe lăn!
Điện phủ vắng hoe, xập xệ, khói hương bảng
lảng.
- Mời các đồng chí vào thắp nén hương thỉnh
Mẫu! – Ông từ phủ già tỏ ra biết khách lạ
là ai.
Mỗi người tiếp nhau thắp hương, cúi đầu nhưng
lòng dạ để ở mãi đâu. Không mấy dịp có nhiều khách vãng lai đông thế, ông từ phủ cảm động trân trọng lắm:
- Phủ ta đây là nơi Mẫu ngự trước khi thăng
hóa. Phủ Giầy – Nam Định là nơi Mẫu hạ giới đầu thai. Ngoài hai phủ còn có ba
đền thờ ở dưới Hàng Trống ta, ở Lạng Sơn và Thanh Hóa là nơi Mẫu hiển thánh
giải họa cứu người. Ngày xưa, hàng năm, dịp đầu xuân, vào thượng tuần tháng ba
có Hội Thánh Mẫu, người ta đi lễ Phủ, Đền nô nức sùng kính lắm…
Cảm thấy khách tuy trang nghiêm mà lơ đãng,
ông “từ” bỏ chuyện xa xưa về kể chuyện gần:
- Có chuyện rằng, vua Bảo Đại háo sắc ham chơi
bỏ mặc việc triều chính quốc dân cho ngoại nhân điều khiển. Vào đầu những năm
1930, viên Toàn quyền Pháp Pasquier dụ ngọt dỗ ngon vua bù nhìn chấp thuận ký
điều ước sáp nhập nốt hai xứ Trung kỳ và Bắc kỳ vào Pháp quốc giống như xứ
thuộc địa trực trị Nam kỳ để thành một xứ Đông Pháp xa xôi thuần nhất! Một số
cận thần nhỏ to với hoàng hậu Nam Phương tìm cách cứu cái tội bán nước hại dân
sỉ nhục muôn đời cho cả đám triều thần. Bản hiệp ước được ông vua mất gốc ký
rồi và đã nằm gọn trong cặp của tên trùm cướp nước. Người trần không sao gỡ ra
được nữa, chỉ còn cách cầu tới thần linh. Bà Hoàng đành tạm quên mình là tín đồ
của Chúa Kito, dấn thân vi hành tới Đền, Phủ cầu xin Thánh Mẫu giải cho. Là
chuyện ngẫu nhiên hay có một thần phép quyền biến nào chăng mà trên đường về
nước, chiếc thủy phi cơ chở tên thực dân cáo già ấy cùng bảy viên quan thuộc hạ
tự dưng bốc cháy trên trời cao và chìm nghỉm dưới đáy biển sâu. Bản hiệp định
ấy cũng bất đắc kỳ tử như kẻ chủ mưu.
Lời sấm Trạng “lửa đâu mà đốt tám gà (Bát kê =Pasquier) trên mây” từ mấy trăm năm trước lúc này người ta mới hiểu ra và thấy là linh
nghiệm!
Một chiếc thuyền nan bơi dọc gần bờ. Trên
thuyền có hai người với tay lưới phủ trên một lồng chim. Bầy chim đen trũi
tuyệt vọng lồng lộn muốn lao ra. Mấy vị khách xô ra sát bờ nhốn nháo lao xao:
Con le le!... Con vịt trời!... Con cồng cộc!... Con gà nước!... Con cúm núm!...
Con quốc quốc!
Có người gọi to lên:
- Có bán không?
- Ghé mua thử ăn coi!
Ông từ phủ thủng thẳng giải thích:
- Không dễ mua được đâu. Mậu dịch quản lý tại
gốc Hợp tác xã rồi. Nó là giống chim qúy hiếm. Loài chim này rất kén ăn, nó
biết tìm moi củ sâm nằm sâu dưới đất lên ăn nên mới gọi là sâm cầm. Thịt nó
thơm và ngọt, ăn vào bổ dương, tráng khí, kiện tinh, ích thần. Tích xưa kể có
cô con gái nghe lời cha đi tìm nó mà lượm được nhiều củ sâm mang về cứu cả làng
thoát chết vì đói đấy!
Và ông giải thích liền một hơi:
- Giống chim này được liệt kê trong Tây
hồ bát cảnh: Bến trúc Nghi Tàm /
Rừng bàng Yên Thái / Đàn thề Đồng Cổ / Phật say làng Thụy / Sâm cầm rợp bóng
/ Đồng bông Nghi Tàm / Chợ đêm Khán Xuân
/ Tiếng đàn hành cung.
Ông già thở dài ý tiếc rẻ:
- Bây giờ bảy cảnh mất biệt tăm tích từ lâu
rồi. Chỉ còn lại giống chim này. Ngày xưa nó dạn dĩ lắm, bơi đặc quanh thuyền
như đánh bạn với người… Nhưng mà ngày càng phập phù thưa thớt và sợ người lắm!
Anh Hà Giang hồi tưởng lại:
- Tôi nhớ là cứ vào mấy tháng rét cuối năm,
bầy vịt trời ở đâu bay về như mảng mây đen sà xuống đông đặc mặt hồ. Những buổi
chiều mờ mờ sương khói, ngồi trong lớp học bên kia, nhìn qua cửa sổ đóng kín mít
thấy bầy chim bay lên nhào xuống lặn lội trong gió rét căm căm hoặc ngay cả lúc
trời mưa buốt giá thế mà thấy lòng nao nao thương kiếp chim giang hồ vất vả!
- Ấy, đừng tưởng thế mà thương nó! Mùa đông ở
phương bắc lạnh hơn ta nhiều lắm. Bầy chim di trú qua bên đây để tránh cái rét
nước đóng thành băng tuyết. Bắc quốc sông hồ nhiều và rộng bát ngát mênh mông
như biển, hoa thơm trái lạ bạt ngàn, tha hồ kiếm ăn. Ngày xưa nó là một trong
năm sản vật đặc biệt hàng năm dân thành Thăng Long mình phải đem cống tiến nhà
vua mãi trong Kinh đô đấy – Và ông đọc tên mấy thứ đó vần như một câu ca: Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm / Cá rô đầm Sét, sâm
cầm hồ Tây.
Vừa ra khỏi làng, mấy anh em tụm
lại cùng đi bên xe của Hà Giang rù rì tâm sự.
Một người đàn ông như đang đợi sẵn từ dưới rặng ổi, hai tay xách hai cặp
chim chạy tới:
- Các đồng chí muốn mua chim?
- Đúng là chim sâm cầm không? – Một anh vượt
lên hăng hái.
- Còn gì nữa. Tôi giữ lại được mấy con. Các
đồng chí thử xem hương vị Tây hồ!
Con chim mà giá gấp mấy con gà. Các anh đắn đo
lừng khừng.
- Của này đâu lọt ra ngoài chợ được. Chúng tôi
lặn lội rình mò suốt ngày bẫy được dăm con mà đâu dám ăn. Hàng phân phối tiêu
chuẩn đặc biệt cấp trung ương đấy! Dấu diếm được mấy con lén đem trao đổi kiếm
thêm vài bơ gạo nuôi các cháu.
Mấy dịp hưởng đặc sản nổi tiếng đất Hà thành.
Mấy anh tặc lưỡi gom tiền mua đại. Người bán nhận tiền rồi biến nhanh sau rặng
ổi. Tới dốc Yên Phụ, một anh nhanh nhẹn ghé vào một quán bên đường. Lúc ra thủ
bên nách một bọc gói trong giấy báo. Mặt anh tươi rói, thì thào:
- Quốc lủi Bắc Giang… làng Vân chính hiệu!
Toàn là thứ qúy hiếm ngày xưa vua chúa mới được dùng, dân thường dễ gì được
hưởng!
Mấy anh em nghỉ chân bên ghế đá hướng ra hồ.
Cái nắng hửng ấm lên giữa ngày đông làm người ta cảm thấy dễ chịu nhưng trong
lòng mấy chiến sỹ năm xưa vẫn nung nấu một điều u ẩn. Chờ nghị quyết cụ thể tới
bao giờ nữa trong khi ta bị dồn ép đến thế cùng rồi. Nhiều người muốn vùng lên
ào ạt bất kể chi! Giải thích thế nào anh em chưa dễ thông đâu. Có người ý này ý
nọ. Một anh nói thẳng ra:
- Chúng ta ngồi đây mà ở trỏng anh em đồng chí
mình đang bị chúng săn đuổi như “dặm cù chuột” giữa đồng. Tôi không chờ đợi được nữa đâu! Mấy thằng bạn đã tìm về Nam
bằng đủ mọi con đường. Mấy đơn vị đóng trong Thanh–Nghệ–Tĩnh, nhiều đứa rủ nhau
bỏ đi tập thể nửa bí mật nửa công khai. Không qua giới tuyến được thì họ vòng
sang Lào, sang Thái. Nhiều đứa bị khai trừ. Có đứa bị bỏ tù vì vi phạm quân
phong quân kỷ! Nhưng tôi không sợ. Kỷ luật gì tôi cũng chịu!
- Ta muốn làm gì cũng không thể tách mình ra
khỏi mối tương quan giữa thế và lực ở hai miền và bối cảnh quốc tế hiện nay!
Người do dự, người nôn nóng, kín đáo hoặc công
khai bộc lộ chính kiến của mình và cũng chỉ mỗi người tự giải tỏa cho mình
thôi.
Một ông trong bộ đồ thể thao, tay cầm chiếc
cần câu, dáng vẻ thư nhàn đi ngang qua, nhìn mấy con chim bị trói nằm quay lơ
bên bờ cỏ. Ông ta bước tới gần, cúi xuống ngó nghiêng rồi quay qua mấy người
đang ngồi đây thân thiện hỏi:
- Mấy đồng chí mua những con chim này ở bên vệ
đê phải không? Nó là chim gì đấy?
- Bác người ở đây mà không biết nó là con chim
gì à? Chim sâm cầm đấy!
Ông ta cười xòa:
- Tôi biết ngay là các đồng chí bị lừa mà!
Và ông vui vẻ giải thích cho:
- Giống sâm cầm đầu đen, mình xám, mào trắng
nhạt dẹt và rộng, mỏ nhọn như chim nhưng giữa bốn ngón chân có màng mỏng dính
vào nhau như chân vịt vì nó sống nhờ vào sông nước. Con này thuộc giống gà
nước, mào mỏng nhú lên, chỉ biết kiếm ăn trên cạn, gọi là con quốc quốc hay con
gia gia cũng nó, sống đơn lẻ, thường lủi trong các bụi rặm ven hồ, đầm, đồng
nước, đẻ lang!
Mấy anh em quên cả chuyện đang bàn, mỗi người
một phản ứng khác nhau. Ông khách lạ kể chuyện vui như để an ủi mấy anh em từ
phương xa tới:
- Trong hàng ngàn con sâm cầm mới có một con
đầu đỏ là cực kỳ qúy hiếm. Đấy mới là chim tiến vua. Hàng năm phải tiến triều
mười cặp chim đầu đỏ thì kiếm đâu ra? Ngày xưa mấy anh lý xã vùng này khốn khổ
vì chuyện đó. Thế mới có câu “đít Lý Râu / đầu Án Cộng”. Cái đít anh Lý bị đòn
vua cũng trơ ra như cái đầu anh Án trụi tóc vì đòn ghen của vợ!
Ông cười xuề xòa chia sẻ:
- Nếu đúng là sâm cầm thì vặt lông rồi thui
lên đem nấu cháo hoặc hầm với hạt sen Tây Hồ này, có thêm vào đương quy, thục
địa, kỳ tử thì càng tốt. Hoặc là có thể sấy khô, ngâm rượu ngon, để quá trăm
ngày hẵng uống. Nhưng là con chim quốc thì chỉ có cách phi sào hành mỡ cho thơm
vì thịt nó… tanh!
Người lạ đi rồi, mấy anh em đem cái hớ hênh
của mình ra mổ xẻ:
- Người địa phương là thổ công đất họ. Không
ai qua mặt được đâu!
- Vậy thì chai rượu làng Vân này cũng… dởm!
Bây giờ gạo người ăn mua theo tem phiếu còn chưa đủ lấy đâu ra gạo dư nấu rượu?
Các anh được học lý luận nhiều, lại xoay ra
triết lý về thói gian dối là đặc tính địa phương? là thuộc tính giai cấp nông
dân hẹp hòi thiển cận? hay chỉ là một tính cách lịch sử xuất hiện trong thời
điểm nhất định nào thôi? Kết thúc cuộc tranh luận kiểu này thật khó. Anh Hà
Giang lảng chuyện đi:
- Chỉ một cái tên của hồ này đã lắm chuyện
rồi: Nào là Đầm Trâu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Tây Hồ, Đoái Hồ… Sau ngày vua Quang
Trung đại thắng quân Thanh, có một thời gian lưu lại ở Thăng Long. Một hôm nhà
vua ngự lãm cảnh Tây Hồ, có ông tiến sỹ văn thần muốn được lòng Hoàng đế qùy
tâu: Trịnh Tạc là kẻ bất tài mà cũng biết kiêng kỵ húy tây vương bắt đổi “đoài” thành “đoái”. Nay bệ hạ uy danh bốn bể, muôn dân tôn phục, xin đổi tên hồ để tránh
phạm húy quý hương! Ông vua áo vải cờ đào chiến tích lẫy lừng như thế cả cười:
Tây hồ là thắng cảnh của đất Thăng Long, người Thăng Long yêu quí và gắn bó với
Tây hồ bao đời nay rồi. Họ Trịnh làm trái đạo trời mới bị diệt. Nay ta lẽ nào
chỉ vì việc nhỏ mà làm điều sái lòng bách tính. Ta nay là khách Tây Sơn cùng
các nhân sỹ Bắc Hà vãn cảnh Tây hồ chẳng là duyên kỳ ngộ lắm ru? Cảnh không phụ
người nỡ nào người phụ cảnh?!
Nét mặt nghiêm trang, anh Hà Giang chậm rãi :
- Cho đến nay nền công nghiệp của ta vẫn mới
chỉ là khởi đi những bước đầu thôi, lại trong bối cảnh rất đặc biệt thì giai
cấp mới chỉ là một đứa trẻ con chập chững. Chúng ta cứ ngộ nhận mình, chê bai
phỉ báng người. Không có ai xấu cả ngoại trừ những kẻ ích kỷ cơ hội, phản bội,
bất nhân là tồi tệ thậm chí là nguy hiểm. Chúng ta quen phân tích đánh giá theo
sách vở, vừa nâng vừa hạ đến nỗi người nông dân vừa cảm thấy như mình mới là
người quyết định vận mệnh quốc gia nhưng lại tự ty về gốc gác của chính mình.
Hàng ngàn đời nay nông thôn và người dân quê vẫn là nguồn cội thân thương rất
đỗi tự hào mà bây giờ ta không còn nhận
diện ra! Nó vẫn đói rách, dốt nát và lạc hậu mà lại nghênh ngang hãnh tiến lạc
lõng đến lạ kỳ. Ai
đời mo cơm, quả cà, chân đất với tấm lòng
cộng sản mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội được không? Hỏi nó giống ai ở trên đời này?
Chính chúng ta đang xa rời gốc rễ. Không hiểu mình thì làm sao hiểu người ta
được?!
ô
Căn phòng chừng chục mét vuông ở ngay dưới chân cầu thang cơ quan là nơi
làm việc cũng là nơi ở của cán bộ Hà Giang. Với công việc của người nghiên cứu
và dịch thuật lại sống độc thân, anh không cảm thấy gì là chật chội. Việc ăn
uống anh tự lo với sự phụ trợ của bạn bè. Cái bếp dầu chiếm một khoanh nhỏ xíu
so với những chồng sách kềnh càng… Điều nan giải nhất là kho sách nhưng rất may
cơ quan có cả một thư viện khổng lồ. Ngoài giờ làm việc, anh bao luôn công việc
cho người thường trực.
Trên bàn, lá thư miền Nam không phong bì, rách
mướp, vàng ố, hoen mờ dù cố làm cho phẳng nhưng vẫn còn nhiều nếp nhăn không
thể mất đi đặt trên tấm khăn rằn xếp gọn gàng ngay ngắn. Thư không còn là của
riêng người nhận. Nỗi đau của một người là nỗi đau của cả tuyến đầu tổ quốc.
Nỗi nhớ niềm tin không chỉ dành trông ở một người mà là sự hướng tới và hy vọng
cả hậu phương rộng lớn. Anh Hà Giang giữ gìn, trân trọng, không chỉ đã thuộc
nằm lòng những lời những ý trong thư mà hằn in trong đầu nét chữ và vị trí từng
câu trên mấy trang thư dày đặc. Người viết vội không kịp đề ngày và nơi gửi hay
là sự cố tình vì sống trong cái chết dập dình và sự khắc khoải chờ mong dằng
dặc thì ngày nào chẳng thế, ở đâu cũng vậy. Đây là lá thư Bến Tre bằng máu và
nước mắt của một người con gái gửi cho anh:
Anh Hai ơi !
Không biết thơ này em
viết có đến được với anh không? Khi cầm thơ trong tay anh còn nhớ con bé Út
Nước ngày xưa mà anh đặt tên xếp thứ là Tám Hương Thủy nữa không? Em đêm ngày
cầu mong cho anh được lành vết thương và nếu như vết thương tai quái không chịu
cho anh hết bịnh thì anh Hai vẫn còn sung sướng là được sống yên bình với người
thân, với đồng đội, được học hành và có Bác Hồ che chở cho.
Anh Hai ơi! Chết hết
ráo rồi anh à! Là em nói lớp người khi em còn nhỏ thì người ta đã là người lớn
như anh, các cô, cậu, chú, bác, ba, má, dượng, dì… May có ai còn là nhanh chưn
đi điều lắng hoặc trốn biệt tăm mãi đâu không biết nữa? Những ai đang sống
nghênh ngang phất phơ xe ngựa giữa ấp giữa làng thì coi như chết còn hơn, bà
con mình bớt khổ vì sự tráo trở ăn ở hai lòng của họ!
Ngay sau khi các anh
đi tập kết, thằng điền chủ Tý chạy lên Sài Gòn về đòi lại ruộng, ba không chịu,
cự lại: Nếu như đó là cục vàng thì các ông có bỏ đấy không? Hoặc giả tui nhặt
được, tui sài hết các ông có đòi lại được nữa không? Các ông bỏ của chạy lấy
người, ruộng đất để hoang, bom đạn mặc sức cày sới, chúng tui sống chết đêm
ngày với nó mới ra được hạt lúa trái cây, bi giờ các ông về đòi sao đặng. Nếu
các ông cần, xin chuộc lại tui ưng! Nó kêu lính đồn kéo xuống bắn chết ngay tại
đầu bờ rồi vu lên ba cầm đầu Việt cộng nằm vùng chống đối quốc gia! Má bị bỏ tù mấy tháng rồi nó cho về quản thúc tại
gia, bọn tề xã ấp ngày nào cũng xục vô nhà kiểm tra lục soát. Mấy anh chị không
chịu được phải bỏ trốn đi. Anh Bẩy vô ở trong giồng, bị đám lính tuần lủi phục
bắn chết lúc đang đặt đó trong kinh! Chúng lập ra những đoàn tố cộng bắt bà con
mình tố giác lẫn nhau, xếp loại từng nhà ghi trên những Bảng nóc gia. Chú Năm
Thẩm là nông dân thì vô Hội Nông dân chớ có gì đâu mà chúng vu là Việt cộng đầu sỏ, bắt
qùy sám hối, tra khảo đặng moi ra cơ sở. Chú đâu biết gì mà nói. Chúng bắt vợ
con chú lên bót và biểu nếu không khai ra còn liên hệ với những ai chúng sẽ bắn
bỏ từng người và chú là sau chót. Ổng ức quá nhằm mấy thằng phản bội ác ôn khai
cho chúng là đảng mật của ta gài vô. Mấy thằng bị bắn bỏ liền. Nhưng rồi nó
cũng phát hiện ra chú chơi ác, đem ra giữa chợ mổ bụng moi xem gan bây lớn!
Chúng bắt các chị có chồng tập kết phải viết giấy ly hôn rồi bọn cảnh sát, dân
vệ, mấy đứa trở mặt đầu hàng sáp vô hù dọa o bế ép làm vợ bé! Anh còn nhớ đám
cưới tập thể ở Cao Lãnh không hà? Được mấy hôm là các anh xuống tàu, các chị
lại về chờ đợi. Chị Chín có mang rồi, nó ép sao cũng cự tuyệt, đang đêm một đám
xông vô nhà. Mấy hôm sau người ta đi chợ thấy xác chị dạt mãi ngoài vàm. Người
thì biểu nó cưỡng bức xong rồi bóp cổ chị quẳng xuống sông. Người thì biểu chị
không chịu nhục nhảy xuống sông tự vẫn. Mấy người lớn bị khủng bố bức bách quá
chịu qui hàng làm phản đã đành. Mấy đứa nhỏ mới lớn biết chi, có đứa cha đi tập
kết mà cũng nhập vô đám thanh niên cộng hòa hùa theo với bọn dân vệ, cảnh sát ác ôn mang theo
xiên chĩa đi lùng xục xăm xoi từ trong nhà ra đến ngoài vườn tìm kiếm bắt bớ
đánh đập bắn giết bà con làng xóm!
Sông Cổ Chiên, sông
Hàm Luông ngày nào cũng có xác người trôi nổi dập dềnh!
Chúng bắt mọi người vô
ở trong khu dinh điền gần chợ gần lộ cho dễ kiểm soát. Nhà nào mang Bảng nóc gia đen là nguy hiểm, chúng
mặc sức làm tình làm tội, hạch hỏi tra xét công việc và hành tung của từng
người. Hàng ngày ra ruộng xa cả chục cây số, đi bộ mỏi chưn, đi ghe mỏi tay,
còn làm gì được nữa?! Sáng đi muộn, chiều về sớm hoài, chịu sao đặng? Ai không
nghe ở lại trong vuông trong giồng là theo Việt cộng làm giặc, chúng không dễ
gì để yên cho đâu! Chúng nó thâm hiểm lắm, biết người đằng mình ẩn trốn trong
các cụm địa hình, buộc đàn ông con trai cầm gậy cầm dây lùa đi trước, có lính
theo sau. Bắt được người nào phải trói lại và đánh đập ngay trước mắt chúng nó.
Có người vừa đánh vừa khóc, nó hạch: Bộ thương Việt cộng lắm sao? Ổng đáp: Tui
thương tui vì bất lực chịu làm điều thất đức để mang tiếng ác cho con cháu đời
sau!
Hết chịu nổi rồi anh
Hai ơi! Em phải bỏ lên thành ở đợ cho người ta, lâu lâu lén về thăm má.
Vậy mà anh Hai biết
hôn? Quê mình nổi dậy rồi đó! Tưởng là ai cũng sợ nhưng vì lâu nay mình muốn
cho yên, không muốn chuyện người ta biểu mình gây gổ làm rối loạn lên. Nhưng
mình càng nín nhịn chúng càng làm tàng quá sức thì phải đến nước này thôi! Ngày cuối năm Hợi sang năm Tý mà chẳng ai lo tết nhất, cứ hè nhau đồng
loạt khởi nghĩa từ ấp tới xã tới tổng tới khắp mọi nơi. Đang đêm tiếng trống,
tiếng mõ, tiếng thùng thiếc, tiếng súng đạn nổ đùng đùng nghe hết hồn, tiếng
loa kêu gọi bà con nổi dậy, gọi địch đầu hàng, rần rần xã này liền xã khác,
vang lên tới cả trên phố huyện. Nhiều nơi mang rơm, lá bặp dừa khô chất đống to
đùng đốt lửa đỏ rực trời rồi hù lên là ta đánh phá tháp canh chỗ này, bót đồn
chỗ nọ. Nghe tin phao lên có bộ đội 502 bên Đồng Tháp và cả bộ đội miền Bắc về
hỗ trợ, mang theo nhiều súng lớn súng nhỏ hành quân rầm rập suốt đêm. Em cứ hồi
hộp coi chừng biết đâu trong đó có anh Hai. Mãi sau mới vỡ lẽ ra là các cô chú
anh chị đánh nghi binh. Súng đạn toàn là cây, bập
dừa bọc trong tấm mủ cho thanh niên khiêng vác lặc lè. Chứ súng đạn thiệt chôn
giấu mấy năm nay bị tụi nó khui hết trọi rồi còn đâu. Chỉ toàn là dao, phảng,
mác, mã tấu với cây tầm vông thôi! Sau rồi mới có súng đạn thiệt lấy từ đám
lính dân vệ, bảo an bỏ chạy.
Bọn tề – điệp liên gia
ấp xã chui lủi biệt tăm, nhiều đứa ra đầu thú xin nhân dân tha tội chết. Đám
lính bảo an đóng chặt cổng đồn bót lại, im re không dám nổ một phát súng. Chị Tư tôm xông ôm con của tên trưởng
bót xông vô đòi mở cổng cho anh em ta ào vô chiếm bót. Mãi cả tháng sau mới có
lính chủ lực trên Sài Gòn xuống. Đám này quen thói hung hăng tàn ác lắm nhưng
chúng đâu ngờ bây giờ ta được phép đánh trả rồi, súng đạn nổ rần rần khắp các
xóm ấp bờ kinh, thằng chết thằng co giò chạy về kêu trời. Chúng cụm lại một
nơi, dùng cối, pháo bắn bừa bãi, bắt bớ tùm lum giết hại người ta. Bà con hè
nhau kéo về “chi khu” trên quận.
Từ các kinh rạch đổ ra sông lớn đặc nghẹt những xuồng ghe chất đầy người già,
đàn bà con nít, chất đống đồ đạc mùng mền tấm đệm, có cả trâu bò, chó heo, gà
vịt… Tiếng súc vật kêu ran trời dậy đất, tiếng người la thét đòi lính quốc gia
không được tàn sát dân lành, đòi bồi thường nhân mạng. Người ta tứ phương kéo
tới đông nghẹt quanh “chi khu”,
đầy phố quận. Bà con phố thị cũng là người từ quê lên trú chứ ai, có cả gia
đình lính và cảnh sát cùng kéo tới tiếp tế đồ ăn nước uống, ủng hộ cô bác dưới
quê. Cuối cùng chúng phải xuống nước rút quân và hứa để cho bà con làm ăn sinh
sống.
Anh Hai ơi! Em bỏ
không lên thành nữa. Các cô chú anh chị giao việc cho em. Em nhát lắm mà có
được học hành gì đâu ngoài mấy chữ và mấy bài toán hồi anh dạy. Nhưng nghĩ tới
bà con quê hương mình, nghĩ tới anh, nghĩ tới miền Bắc là em phải ráng. Có điều
là sức mình liệu có chọi nổi với nó không? Chúng nó có Mỹ chi viện xả láng thiếu gì súng đạn tiền của.
Liệu Bác Hồ có cho miền Bắc vô giúp sức với miền Nam không? Và anh Hai có vô
đây nữa không?
Anh Hai ơi! Chưa biết em có sống nổi tới ngày gặp anh Hai
không hà? Anh đừng cho là em nói dại. Em đã từng thấy biết bao bộ đội của anh,
bao nhiêu bà con anh em trong bấy lâu nay.
Dù gì thì em vẫn cầu
mong có một ngày được ra quê hương miền Bắc gặp Bác Hồ, gặp anh.
Cầu mong anh Hai mạnh
giỏi và tiến bộ.
Em Út Nước tức Tám
Hương Thủy đây.
Bảy năm chiến đấu ở miền Nam, cũng gần bằng
thời gian ấy nữa trôi qua nhưng những con người, cảnh vật vẫn hằn in trong anh
sâu đậm. Khắp nẻo rừng già miền Đông với chiến khu Đ, khắp miền sông nước Đồng
Nai, Vàm Cỏ, Cửu Long và miệt bưng biền Đồng Tháp , khắp cả miền Tây đầy sông
rạch với những cánh rừng U Minh thượng, U Minh hạ chim muỗi đặc trời tới tận
miệt Năm Căn tận cùng của mỏm Cà Mau mung lung mây nước. Chỗ nào cũng để lại
trong anh những kỷ niệm không phai mờ được về tình dân, tình đồng đội, tình
người. Những ngày gian khổ đói vàng con mắt. Những ngày đơn vị tan tác vì địch
bố càn. Những ngày vui ta thắng địch và dân trúng mùa. Tiếng khóc câu cười, tiếng hát niềm đau, hòa
trong bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu xương biết bao người.
Ngày sắp có hiệp định Genève, tinh thần địch
quân tan tác. Lính viễn chinh Pháp chỉ mong chờ ngày hồi hương. Lính ngụy bù
nhìn Bảo Đại dã đám tanh bành. Nhiều đồn bót mới nghe tin bộ đội hành quân ở
mãi đâu đã vứt súng bỏ đồn chạy mất tiêu. Ban chỉ huy trung đoàn quyết định
phân tán chủ lực tranh thủ mở rộng vùng giải phóng gây thanh thế cho chính phủ
Cụ Hồ. Tham mưu trưởng trung đoàn Hà Giang chỉ huy một phân đội trên đường hành
tiến về miền Tây, bị một toán lính đạo vệ binh đoàn phục kích bất ngờ giữa cánh đồng lúa bạt
ngàn, anh bị trúng thương ngay loạt đạn đầu. Hai chân anh đờ ra, chỉ bò lết
được thôi. Quân y cấp cứu ban đầu rồi giao cho dân công chuyển về hậu cứ. Đơn
vị tiếp tục nhiệm vụ truy quét đám tàn quân phản động. Vết thương ngọt xớt gọn
hơ đau nhói ở nơi lưng. Bác sỹ gắp ra viên đạn ngon lành, hy vọng là vết thương
sẽ hồi phục lại. Bao nhiêu lần chuyển đổi xuồng ghe, về đến vùng giải phóng Bến
Tre thì hiệp định Genève vừa được ký. Cô bác địa phương nhận chăm sóc thương
binh chờ ngày chuyển quân theo hiệp định. Gia đình bác Ba chỉ còn cô con gái
út, mấy người con lớn đã có gia đình ra ở riêng. Bà già phúc hậu, ít nói, quanh
quẩn việc nhà. Ông già rắn rỏi, quán xuyến ruộng vườn, thích kể các tích chuyện
xưa và tự hào về gốc gác gần xa:
- Người Bến Tre này đa phần phát tích từ Thuận
Hóa và miệt xứ Quảng vô nên phát sanh nhiều danh thần, võ tướng như các ngài
Trương Tấn Bửu, Phan Thanh Giản… Nhiều danh sĩ đang lúc sinh thời hoặc viên
tịch rồi cũng tụ hội về đây như thầy Đồ Chiểu, thầy Võ Trường Toản và nhiều vị
văn nhân võ tướng. Ông bà tui xưa mới vô ở cù lao Bảo mãi sau mới dời qua cù
lao Minh là đất Mỏ Cày này. Nghe truyền lại thì xưa kêu là Mõ Cày vì hồi khai
thiên lập địa nơi đây là rừng của cọp, dân sợ lắm phải tôn ngài là Hương Cả và
lập miếu thờ ông Cả Cọp. Tuy nhiên, khi đi cày vẫn phải có người gõ mõ vang lên
để canh chừng.
Cô gái mới lớn hồn nhiên thương người và hay
xúc động. Một huyện Mỏ Cày này cô đi chưa hết thì trời đất ơi chuyện trên rừng
dưới biển, miền Đông miền Tây đã là quá xá rồi nói chi tới chuyện xa miết Sài
Gòn, Hà Nội, miết tới núi rừng Việt Bắc nơi có Bác Hồ như một ông tiên thương
con nít lắm. Anh thương binh Hà Giang nói giọng Bắc nhỏ nhẹ líu ríu khó nghe
nhưng riết rồi thấy êm tai. Anh biết nhiều, giỏi chữ, tật nguyền đau đớn vậy mà
không muốn người khác bận tâm về mình, cứ âm thầm chịu đựng, ráng sức tự lực,
ít muốn phiền hà đến ai, lại còn bày chuyện ra để có việc làm. Cô Út nhiều khi
phải giành lấy việc giúp anh. Bà già có lúc giận lẩy:
- Tụi bay từ mãi ngoải vô đây đánh giặc cho cả
nước, lỡ bị thương là bà con tao phải lo, kẻo cô bác ngoải trách bà con trong
này vô tâm vô tính!
Anh thương binh chỉ lặng lẽ cười rồi lại bày
cho Út học chữ. Khi con bé tự tay nắn nót viết được những dòng chữ đầu tiên, nó
len lét đưa tờ giấy khoe và ghé vào tai má rì rầm đọc: Công cha như núi thái sơn / Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra / Một lòng thờ mẹ kính cha / Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Bà Bảy tròn mắt nhìn con, không ngờ lại có chuyện này. Nó dạy con bà
cái chữ, lại dạy cả cái nghĩa nữa kìa! Thương con, bà lại thương cái thằng con
nhà ai mà tội nghiệp? Nước mắt bà rưng rưng. Con gái cũng giụi đầu vào vai má
nghẹn ngào:
- Con thương ảnh quá hà!
Bà già đem chuyện hỏi chồng. Ông biểu:
- Thằng đàn ông kín bụng lắm!
Bà chép miệng:
- Dù gì thì xa xôi tít tắp lại bặt tin cả chục
năm trời chắc gì vợ nó đã chờ. Hay là nếu nó ưng nhau thì cho nó ở đây chớ về
ngoải có khi còn cực hơn nữa thì sao?
Ông giảng giải cho bà rõ ra
- Bà có điên không? Hết hạn, Nam, Bắc bên nào
giữ nguyên bên ấy rồi thì đám quốc gia về đây, cái thân mình còn chưa biết ra
sao nữa huống chi là mấy người bộ đội Cụ Hồ, lại Bắc kỳ nữa thì giấu làm sao
được? Cứ để hai năm nữa đất nước thống nhứt muộn gì. Nó ra ngoải còn hy vọng
chữa lành bệnh được!
Anh được đưa về khu tập kết 100 ngày ở Cao
Lãnh sâu mãi trong Đồng Tháp Mười. Ông đóng cho cái cáng tre gọn gàng chắc
chắn. Bà già với cô Út cùng đi. Chiếc ghe tam bản má ngồi mũi, con gái bơi sau
vòng vo theo đường kinh rạch, có lúc băng đồng nhắm hướng mà đi. Gặp chỗ nước
cạn, Út lội hì hụi long đẩy ghe cả một đoạn dài. Những nơi giao thủy giao lộ
người ta xuồng ghe tàu xe nườm nượp, vui thiệt là vui mà buồn cũng thiệt là
buồn nhưng phải nín đi. Vậy mà cũng có lúc không cầm được, nó bật ra bằng những
dòng nước mắt, những lời nói nghẹn ngào không hết ý. Anh Hà Giang gặp lại đồng
đội của mình, vồn vã vội vàng, mỗi người đều có tâm trạng thầm kín riêng tư lúc
này. Dù có người phụ giúp nhưng cô Út vẫn không chịu rời tay cáng.
Nhiều đơn vị tổ chức đám cưới tập thể.
Khi các bà má đưa con gái đến đây chỉ là với ý
tiễn mấy đứa con bộ đội ra đi nhưng lúc này mới thấy tình cảm của chúng nó lộ
ra, quấn quýt nhau không muốn rời xa. Thương quá, cả đứa đi và đứa ở! Các má
chụm lại quyết một điều đem bàn với Ban chỉ huy: Nếu cặp nào thương nhau thiệt
tình thì cho tổ chức đám cưới tập thể ngay tại nơi đây, miễn chấp tục lệ, các
má về sẽ thỉnh với ông bà rộng lòng cho sấp nhỏ trong cảnh biệt ly cấp thiết
lúc này, chỉ một lời nhắn nhủ:
- Mấy đứa ra ngoải với Bác Hồ ráng rèn luyện,
học tập cho ngon và giữ lòng chung thủy với miền Nam. Khi trở về các má sẽ giao
lại tụi nó vẹn toàn!
Thế là hàng chục đám cưới được tổ chức gấp gáp
đơn sơ mà cảm động lắm. Bà con cô bác sở tại miễn chấp tục lệ xưa, sẵn lòng cho
các cặp vợ chồng mới cưới vô ở nhà mình ít bữa rồi mai kẻ Bắc người Nam tội
nghiệp! Ban chỉ huy hỏi Hà Giang:
- Ý má ưng cho đồng chí cô Út đấy!
Anh rưng rưng cảm động nắm tay hai người lâu
lắm:
- Tình cảm của ba má và em con ghi nhớ mãi…
Khi lành vết thương nhất định con sẽ trở lại miền Nam!
Đêm chia tay bùi ngùi bịn rịn, anh nói cho
vui:
- Giữ mãi cái tên Út Nước thì làm sao lớn
được? Nước với thủy là một. Em thứ tám. Có biên thư cho anh cứ ghi là Tám…
Hương Thủy đi!
Những đêm này, anh thao thức không ngủ được
với bao điều suy tư trăn trở. Lâu nay anh đã yên phận và quên đi đôi chân liệt.
Anh cảm thấy vẫn là người hạnh phúc vì còn hai tay nguyên vẹn, đôi mắt sáng, bộ
óc tỉnh táo và trái tim nhạy cảm. Anh làm việc cật lực không để ý tới thời gian
dầu là mùa hè oi nồng hay mùa đông buốt giá. Những tập sách dịch văn học được
các bạn trẻ đón đọc nồng nhiệt vì nó thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước và trách
nhiệm công dân trong mỗi người vẫn còn đang âm ỉ phập phù. Những tập sách dịch
triết học có ý nghĩa thiết thực giúp mọi người tìm hiểu kho tàng trí tuệ tư duy
tinh tế nhất của nhân loại. Những bài viết của anh được đánh giá có lý luận căn
bản vững vàng. Anh cảm thấy đời mình còn ý nghĩa. Nhưng bây giờ, sao mà tù túng thế?! Đôi chân
liệt này là một tai nghiệt của đời anh! Cái xe lăn thành vật cản bước chân anh!
Thơ Petófi càng làm anh bức bối :
Một ý nghĩ cứ dày vò tôi mãi
Chết trên chăn gối một chiếc giường
Tàn tạ dần như hoa nọ phai hương
Con sâu cứ ăn ruồng ngầm ngấm
Chết mòn mỏi như nến kia cháy chậm
Trong một căn phòng trống trải không ai…
Tôi không ưng cái chết đó… Trời ơi !
Cái chết đó tôi không thèm ! Tôi muốn…
Là cái cây sét gầm quật xuống
Là cái cây bão thổi trốc lên
Là tảng đá lăn sấm động vang rền
Giữa trời đất chuyển rung… nhào xuống
vực!
Sao đúng quá với tâm trạng anh lúc này? Anh
thèm khát được hoạt động xông xáo như ngày xưa, được hò hét nổi xung lên trong
tiếng đạn và nếu phải chết anh ước ao được chết gục giữa đồng lúa bạt ngàn hay
bên bờ kênh xanh mát trong tiếng reo hò vui chiến thắng. Bấy lâu nay, tình yêu
tưởng sẽ không bao giờ đến với anh nữa. Nhưng bây giờ ở nơi xa xôi ấy vẫn có
một người con gái ngày đêm đang nghĩ tới anh, dành cho anh nguyên vẹn tình cảm
nhớ nhung yêu thương da diết nhất và rất cần đến sự hiện hữu của anh. Anh biết
sau ngày gặp lại, Hương Giang phải dằn vặt đau khổ lắm để dồn nén xuống những
tình cảm muốn bật lên. Nhưng bây giờ cô đã là mẹ và những đứa con đã hồn nhiên
vô tư biến nỗi đau ấy trong cô thành
những kỷ niệm mơ hồ. Anh tự hỏi tại sao ngày ấy anh bất chợt bộc phát lên cái
tên Hương Thủy mà không chỉ là Huỳnh Thị Thủy? Tại sao anh không dám có một lời
hứa hẹn đinh ninh? Tại sao anh vẫn không muốn người con gái phải ràng buộc với
anh bởi một lời hứa hẹn hay bởi anh không muốn bị ràng buộc vào ai? Cả một
khoảng không gian và thời gian đằng đẵng xa xôi như thế mà tương lai với anh
vẫn mơ hồ như một dấu hỏi cặp kè bên một dấu than. Hay là trong anh ám ảnh một
điều gì như là định mệnh?!
Anh cảm thấy nhà cửa phố phường thành chật
chội. Chiều chiều anh thường dạo xe ra hướng bờ sông Hồng. Nhìn dòng nước chảy
miên man, nhìn khoảng không bát ngát và những cánh chim trời tất tả. Anh đau
đớn thấy mình bất lực, muốn hét thật to lên! Anh gục xuống, bỗng thấy thông cảm
và thương đồng đội quá. Nhớ thương như thế. Dày vò như thế. Sức lực như thế mà
phải buộc chân bó tay ở đây? Cần hiểu họ và hãy rộng lòng với họ!
ô
Ngày chủ nhật, ông chú lôi đồ nghề ra lúi húi sửa xe cho cháu.
Người lạ bước vào. Khách dáng cao, da trắng,
rất chủ động:
- Đồng chí Thanh có nhà?
Khách đưa tay ra:
- Chào đồng chí! Tôi ở bên Bảo vệ chính trị – Tay kia rút từ túi áo ra tấm thẻ màu đỏ.
Chủ nhà đáp lễ và giới thiệu:
- Anh Hà Giang, cháu tôi, công tác ở Viện triết học về chơi!
Thái độ hòa nhã thân thiện, sau những câu thăm
hỏi xã giao, khách từ tốn hỏi chủ nhà:
- Đồng chí có biết ông dược sỹ Bảo Toàn?
- Ông dược sỹ trước kia có Pharmacie (Nhà bào chế
thuốc) lớn nhất ở phố Hàng Bài? – Chủ nhìn khách thăm dò.
- Đồng chí có biết chuyện gì không?
- À, con gái ông cùng học với thằng cháu nhà
tôi! Hai đứa thân nhau lắm. Tôi có nghe ông ấy trốn đi Nam. Nhưng đấy là chuyện
của bên Công an!
- Không sao đâu! Biết là con em đồng chí mình,
tôi đến thăm và nói để đồng chí lưu ý nhắc nhở cháu. Tuổi học sinh, bạn bè các
cháu vô tư. Đừng để con em mình dại dột trong mối quan hệ xã hội phức tạp vô
tình bị lợi dụng thôi!
Anh Hà Giang tham gia vào chuyện:
- Nếu đúng là ông dược sỹ ấy thì tôi biết.
Những ngày đầu kháng chiến bảo vệ Thủ đô, tôi phụ trách một đơn vị công an xung phong. Ông ấy nhiều lần vượt qua sự kiểm soát của
địch, tiếp tế cho ta thuốc men và ủng hộ cả tiền bạc nữa. Lúc đó là sự động
viên tinh thần chiến sỹ ta lớn lắm. Khi đơn vị rút về hậu phương, tôi được chuyển
qua bên quân sự nhưng có bàn giao cho anh em hoạt động nội thành mấy cơ sở
trong đó có cả nhà tư sản kim hoàn mỹ nghệ Bùi Hưng Gia ở phố Hàng Trống nữa.
Từ ngày về nước, tôi lu bu nhiều chuyện và cũng có sơ xuất. Nhưng thật tình với
đồng chí là tôi rất hạn chế mọi sự gặp gỡ giao lưu.
Khách tươi hẳn lên, vồn vã:
- May quá! Thì ra người nhà với nhau cả. Tôi
tên là Lê Quốc Trung, đồng chí ạ! Ngày đầu kháng chiến tôi là công an xung phong thành Tô Hiệu (Hải Phòng) sau hoạt động ở
mặt trận Đường Năm, tới hòa bình vào tiếp quản Thủ đô. Tôi đến đây chỉ là tiện
dịp đi qua nhà ghé thăm thôi chứ thật ra chuyện đó không có gì lớn cả. Nhưng
gặp đồng chí đây như là một nhân chứng đỡ cho đương sự. Ông ta không nói ra
nhưng bà vợ khóc lóc kể lể là gia đình trước đây là cơ sở của ta mà lúc hoạn
nạn không ai ngó ngàng gì tới. Có người biết đấy mà cố lờ đi vì sợ liên lụy!
Chúng tôi không rõ thực hư thế nào?
Anh Hà Giang hoạt hẳn lên:
- Tôi sẵn sàng đứng ra chứng nhận về sự đóng
góp của ông ấy cho đơn vị chúng tôi và tôi biết hiện còn một số anh em công tác
thành hồi ấy có bí mật liên hệ với ông ấy. Tôi tin những người như thế không
phải là địch đâu!
- Chúng tôi đang suy nghĩ. Thời sự lúc này khá
phức tạp. Nhân lúc ta “sửa sai” và bước vào “cải
tạo kinh tế tư nhân” thì một số trí
thức xoáy vào những sai lầm đòi đủ các thứ tự do dân chủ, các Đảng đòi chia
quyền lãnh đạo. Ông ta có chân trong thành bộ đảng Dân Chủ. Ông ấy liên hệ với
một phái bộ trong Ủy ban quốc tế
cho trốn trong thùng hàng chuyển vào Nam. Ra đến sân bay bị an ninh ta phát
hiện giữ lại. Đơn thuần chỉ là phản ứng vì quyền lợi bị đụng chạm hay bên trong
có tổ chức nào khác không? Với giới trí thức ta có đối sách riêng. Có thêm
những bằng cớ cụ thể thì chúng tôi có cơ sở đề xuất sớm cho ông ấy về nhà.
Hai người trao đổi những việc cần làm.
Trong bữa ăn, ông Thanh hỏi con:
- Chuyện bên gia đình bạn con tới đâu rồi?
Cẩm Nhung tố cáo luôn:
- Ngày nào con cũng thấy nó lăng xăng tới nhà
người ta… làm gì?
Nhân Trí đỏ mặt lên:
- Bạn bè giúp nhau lúc hoạn nạn là sai à? – Nó
nhìn cha:… Con qua chở bạn Yên Thịnh mang cơm vào Hỏa Lò cho bác ấy có được
không?
- Mày không được kết nạp vào Đoàn là phải. Mày
mất lập trường! – Cẩm Nhung trừng mắt lên.
- Bác ấy làm gì sai tới đâu thì Nhà nước trị
tới đấy, tôi không có ý kiến gì. Nhưng tôi không bỏ bạn tôi! – Thằng em đỏ mặt
lên.
- Thế nó theo cha phản động mày cũng theo nó
à? – Cô chị lý sự.
Thằng em bỏ bát cơm đứng dậy cự lại:
- Giả như cậu mình, anh mình lỡ làm chuyện gì
đấy lôi thôi thì chị cũng mặc kệ à? Chuyện nào ra chuyện nấy chứ!
Ông Thanh hiền từ kéo con ngồi xuống:
- Cậu cũng không biết cụ thể chuyện ấy ra sao?
Nhân Trí cảm thấy được cha ủng hộ, ra sức
thanh minh cho bạn:
- Ông bà bí mật bàn nhau nhất trí cả rồi.
Nhưng khi ông cất bước ra đi chưa được một buổi chiều thì bà thấy nhớ nhung
không chịu nổi hay là bà sợ ông vào đấy lại gặp bà bé ngày xưa thì không biết.
Thế là bà cuống quýt lên nói thật với các con và bàn nhau đi báo công an. Nhưng
bây giờ thấy ông ngồi tù thì bà ân hận lắm! Bạn con cứ rối cả ruột lên không
biết làm gì.
Anh Hà Giang hỏi em:
- Thế bạn có nói cho em biết nguyên nhân nào
mà cha bạn bỏ đi không?
- Đương nhiên là chuyện người lớn không đem
bàn với trẻ con rồi. Nhưng bạn em bảo ông ấy chán chường nhiều thứ lắm. Gia tư
cơ xưởng một lúc mất sạch. Hợp doanh
mà như cướp giật! Nhưng không nói ra được vì chính tay mình ký vào đơn tình
nguyện! Mà không ký thì không vào tù cũng tan cửa nát nhà vì ông Công nghiệp
hoạnh những là công cụ và kế hoạch sản xuất cùng với việc thuê mướn công nhân?
Ông Thương nghiệp ép môn bài và phải trình bày cụ thể việc khai thác nguồn
nguyên liệu? Còn ngoi ngóp được thì ông Tài chính bóp cổ với đủ các thứ thuế
đặc biệt là cái khoản thuế bổ xung
dù có đem bán vợ đợ con đi cũng không bù vào được! Bây giờ chủ chẳng ra chủ,
thợ chẳng ra thợ. Mang chức Cửa hàng phó mà ông có được bàn bạc gì về kế hoạch sản xuất, kinh doanh lời hay lỗ
và kể cả chuyện nhân sự đâu. Ngồi không thì xấu hổ, muốn bày việc ra làm phải bàn đủ lệ bộ từ Chính quyền, Đoàn lớn,
Đoàn nhỏ, tới Đảng bộ xem xét. Nhất trí cả rồi mới lên thỉnh thị cấp trên và
chờ chỉ đạo. Còn sợ bị mang tiếng là tiếm quyền lãnh đạo nữa chứ! Hàng ngày
nhìn cơ xưởng tiêu điều đi! Cái labo trên gác biến thành nhà ở. Cái cửa hàng bày
la liệt vậy mà chỉ toàn những hộp thuốc cũ rỗng ruột với hàng mẫu trưng ra
thôi. Người bán nhiều hơn người mua vậy mà cũng cắt cử đủ cả các cấp bậc Cửa
hàng trưởng-phó, tổ trưởng, tổ phó… Liên miên họp hành! Kế hoạch chưa xong đã
tổng kết rồi bình bầu, phê bình, góp ý, đấu tranh moi móc nhau đủ thứ chuyện. Ông
ấy bảo mất của tuy có tiếc nhưng còn hy vọng vì người còn thì của làm ra chẳng
mấy hồi. Nhưng người sống sờ sờ ra đây mà bị buộc chân bó tay, cái đầu không
nghĩ chuyện làm ăn, chỉ nghĩ những mưu gian mẹo vặt dối lừa nhau những thi đua
thành tích thì rồi cùng kéo nhau xuống hố. Mấy ông cán bộ còn phấn đấu leo lên
đủ các cấp từ sơ đến trung cấp A–B, rồi cao cấp, thượng tầng cao cấp chứ làm
dân cải tạo thì chỉ được tiếng khen là phục tùng giai cấp lãnh đạo thôi. Sống
mà như chết! Bác ấy bi quan bế tắc. Trong khi ông chú ngày xưa vì trốn lính xin
vào ngạch cảnh sát, làm thượng sỹ chuyên đứng chỉ đường, vậy mà cũng bị liệt
vào nằm trong bộ máy đàn áp của đối phương, buộc phải đưa cả gia đình lên mãi
trên Phú Thọ làm kinh tế mới! Người thành phố lên rừng cuốc đồi đá sỏi trồng
chè trồng sắn làm sao chịu nổi? Vợ con nhếch nhác trách chồng oán cha. Ông em
mỗi lần về lại than thở ý trách ông anh ngày ấy ngăn cản không cho em di cư vào
Nam bây giờ mới nên nông nỗi ấy! Ông bà quẩn quanh thở ngắn than dài vừa tiếc công
của vừa ân hận. Mấy người con lớn ông cho qua Pháp học từ lâu rồi. Chỉ còn Yên
Thịnh với thằng em Quốc Anh thôi. Bạn em khổ tâm bối rối lắm!
Anh Hà Giang khen em :
- Việc em làm là đúng đấy!
Cẩm Nhung nghẹn ngào:
- Nhà mình cũng phức tạp lắm chứ! Cha kháng
chiến, đảng viên mà mẹ lại công giáo, theo giặc chạy vào Nam. Vừa rồi Chi đoàn
giới thiệu con đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng nhưng lên Chi bộ người ta
xóa tên đi! – Nước mắt cô lã chã.
Ông Thanh nhìn con thương hại :
- Các con vào đời sớm quá! Ở tuổi các con mà
xen vào những chuyện phức tạp của người lớn thì chưa hẳn đã là tốt đâu. Thời
nào trong một lớp học cũng có lẫn lộn con cái của kẻ giàu, người nghèo, kẻ sang
người kém, đủ các thành phần xã hội. Mình hợp với ai thì chơi, không hợp thì
thôi chứ không nên thành kiến chê bai đả kích lẫn nhau. Cắp sách tới trường là
để học thầy, học bạn, học chữ, học nghĩa, học đạo làm người, học lòng nhân ái
vị tha, mở mang đầu óc để biết định hướng đời mình chứ đâu có học thói dòm dỏ,
đố kỵ, khích bác này nọ, gây ra ân oán hận thù! Các con đừng lẫn lộn giữa đạo
đức và chính trị. Một đằng là sự giàng buộc về trách nhiệm và tình cảm trong
các mối quan hệ giữa con người với nhau. Một đằng là mối liên kết xã hội có
chừng mực từng nơi từng lúc để làm chung một việc. Hết việc này lại sang việc
khác, bạn thù cũng khác tùy thời.
ô
Ông Thanh vào nằm bệnh viện mấy tuần nay. Bệnh thực thể không nặng, chỉ
là một stress tinh thần thôi nhưng cũng
vì thế mà khó nói và khó trị. Chuyện không đâu vô cớ mà cứ làm cho ông dù muốn
quên phứt nó đi mà không sao quên được. Nhiều lúc ông bần thần không muốn tiếp
xúc với ai. Công việc nhớ nhớ quên quên chậm trễ mà vẫn thấy ông lúc nào cũng
cắm cúi trên bàn làm việc. Các con đang tuổi ăn tuổi học, bản tính ông lại vốn
ít nói thở than nên chúng không để ý. Cô Thảo Tâm thấy ông khác thường lo lắng
và chăm hỏi nhưng ông giữ nguyên im lặng. Anh em trong cơ quan phát hiện ra.
Người đoán này nọ, dù có hiểu ra nguyên cớ nhưng vẫn là sự suy ra từ cái lòng
của họ.
Ông là một trong những người khởi lập cơ quan
này. Số người hợp đầy đủ tiêu chuẩn như ông không mấy đâu: có văn hóa cơ bản,
có thời gian dài thử thách, tính tình cẩn trọng, ít giao du và có kinh nghiệm
thực tiễn tuy xuất thân của ông vốn là nghề cạo giấy. Chức năng công việc ngày càng phức tạp, cơ quan phát triển thành một
ngành trọng yếu trong hệ thống chính quyền chuyên chính. Lẽ ra đương nhiên ông
phải được giao trách nhiệm là người chủ chốt đứng đầu. Nhưng đột nhiên tổ chức
cấp trên có văn bản yêu cầu đồng chí Thanh giải trình rõ về mối quan hệ
trong thời gian hợp tác với chính quyền tay sai thời thuộc Pháp (!) đồng
thời điều một cán bộ quân sự chuyển ngành về phụ trách. Ông làm “Bản
tường trình” mà băn khoăn chẳng lẽ
hàng chục năm một lòng tận tụy vẫn chưa đủ độ tin cậy hay sao? Ông sớm đi theo
phong trào không vì mục đích áo cơm hay là danh vọng mà chỉ bởi lòng tự trọng
của một con người. Trách nhiệm của người dân với nước giống như bổn phận con
cháu với ông bà tổ tiên. Cha ông thường dạy các con phải học giữ từng điều hiếu-trung-tiết-nghĩa
thì mới mong giữ được điều liêm-sỷ giữa đời. Sau này người ta mới phóng lên, gọi phong trào là cách mạng chứ lúc ấy không mấy người nghĩ chuyện lớn lao như thế. Cũng như người
ta nghĩ giải phóng là thoát khỏi cái cảnh chướng tai gai mắt bị thằng Tây đè
đầu cưỡi cổ mình thôi. Sau này mới thấy giải phóng nhiều chuyện quá. Giải phóng
con người là phải làm cho người ta thoát khỏi sự lệ thuộc cả vật chất lẫn tinh
thần. Bây giờ gia đình ông lại ly tán vì ông muốn giữ tròn chữ trung chữ
tiết mà để dở dang chữ nghĩa chữ tình! Ấy vậy mà bỗng
dưng ông bị truy xét lại cái thời từng hợp tác với chính quyền thực dân cướp
nước mà ông đã rũ bỏ đi rồi làm ông cảm thấy dù có hết lòng thì vẫn bị coi như
người ngoài cuộc! Thời thế ấy, mọi người đều phải thế. Như ông Bá Di và Thúc Tề
ngày xưa, vì bất phục nhà Chu, bỏ vào rừng không thèm ăn gạo của nhà Chu nữa
thì vẫn ăn rau, lá, qủa và uống nước của nhà Chu đó thôi? Chết rồi vẫn bị mang
tiếng nho gia hủ lậu!
Vậy mà “Bản tường trình” của ông bị trả về vì chưa đạt yêu cầu, còn có ý kiến chỉ đạo cụ thể cần
làm rõ có mối quan hệ riêng tư với người Pháp nào không (?!). Từ chỗ lờ mờ đến
dần rõ ra sự thật, ông buồn lắm và đầu óc nặng nề trước nhân tình thế sự. Anh
Trần Quyết Tâm đi học ở nước bạn về, bây giờ giữ việc trọng yếu trong cơ quan
tổ chức. Câu hỏi chắc là ám chỉ vụ Jean Debue đây! Người biết rõ việc này là
anh Nghĩa và bác Trịnh Huy. Nhưng Nghĩa là cháu ruột vả lại lâu nay ông vẫn giữ
kín chuyện này. Cuộc đời biến cải vũng nên đồi là chuyện nhân thế thường tình. Chỉ thương cháu tật nguyền mà âm thầm
chịu đựng một mình thế cũng đủ rồi. Bác Trịnh Huy ghi lời bảo chứng rõ ràng: “Việc đồng chí Thanh cứu giúp một viên chủ sự
người Pháp vào thời tiền khởi nghĩa là có sự chỉ đạo của đoàn thể đúng với chủ
trương của lãnh đạo phong trào lúc đó”! Người từng giữ trọng trách một thời đã ghi như thế vẫn không giải
được cho ông nỗi buồn:
- Một khi Tào Tháo đã nghi thì chỉ dùng người
vào việc chết thôi! Em không buồn vì cái ghế đâu. Phải sống trong nghi kỵ là
một điều xúc phạm và không bao giờ yên ổn được!
Ông anh thở dài an ủi ông em:
- Đáng tiếc là đã ngồi lên cái ghế trị vì rồi
dễ quan liêu lắm. Tệ quan liêu làm người ta có mắt như mù!
Ông Thanh vẫn coi bác Trịnh Huy là bậc tiền
bối giỏi giang tâm huyết nhưng bây giờ bác chỉ như cái bóng của quá khứ thôi và
những lời của bác mang một nỗi u hoài :
- Qúa tự hào về chiến thắng dễ đưa tới chỗ ngộ
nhận về sự vĩ đại của mình. Chân lý là ta và ta là chân lý! Khi cách mạng mới
nổi lên, gần như toàn bộ anh em trí thức cả nước phấn khởi lắm, họ không tiếc
gì trí lực, vật lực đem ra cống hiến cho cách mạng. Nhưng dần dần thì rơi rớt!
Do anh em cũng có. Không chịu được gian khổ chỉ là điều phụ thôi. Điều chính
yếu là họ bị ngợp trước sức mạnh vật chất của địch mà không nhìn ra sức mạnh tinh
thần to lớn của ta nên không tin là cách mạng có thể vượt qua. Suy cho cùng họ
cũng mắc tật quan liêu, không nhìn ra sức chuyển động trong tình thế mới! Tuy
nhiên phần ta cũng phải nghiêm khắc nhìn mình. Thật sự ta không tin họ vì nghĩ
rằng họ gắn chặt với tầng lớp thống trị quá hay vì ta yếu ở điểm nào? Cái khẩu
hiệu tả khuynh ngớ ngẩn “Trí-Phú-Địa-Hào: đào tận gốc, trốc tận rễ!”, dù ta nói bỏ đi rồi nhưng vẫn ám ảnh cái mầm kỳ thị! Có kẻ cầm
quyền nào bỏ được trí thức đâu? Người trí thức chỉ muốn được cống hiến tài
năng. Bản thân họ xuất thân từ mọi thành phần xã hội và khi nắm được tri thức
của nhân loại, những người trí thức tiên tiến nhìn ra chân lý và chính họ thức
tỉnh mọi người. Lênin nói “Không
có tri thức không có cách mạng”
mang ý ấy. Chúng ta vừa dùng họ vừa nghi ngờ họ nên ta ưa lấy số đông quần
chúng ra áp đảo và bây giờ thanh gươm Damocles là cái biện pháp chuyên
chính để ta khống chế răn đe họ.
Thanh gươm ấy đáng sợ thật nhưng coi chừng nó cũng hại ta!
Chiều nào cô Thảo Tâm cũng vào bệnh viện chăm lo ông. Người sơ giao khen
ông có cô vợ trẻ khéo nấu ăn lại nhu mì hiền hậu. Người thân tình biết chuyện
muốn chắp mối hai người nhưng ái ngại trước bao điều trắc trở. Ông ký Finance nằm chung với ông
một phòng tặc lưỡi:
- Hai cái kẹo để kề bên mãi cũng dính vào nhau
huống chi gái lỡ thì với anh đàn ông xa vợ!
Từ ngày về thành phố, hai ông gặp nhau đôi lần
ở đâu đó, thăm hỏi vài câu rồi mỗi người mỗi việc. Dù sao cái tình kháng chiến
vẫn có nhiều kỷ niệm khó quên và bây giờ trong cảnh cùng là người bệnh nên dễ
dàng tâm sự:
- Nghe bà bủ kể lúc sinh ra, tôi bé tẹo như
con mèo, người đầy lông lá, khóc không ra tiếng. Ông bố tôi ngồi nhà ngoài,
nghe nói sinh con trai đắc ý lắm, vỗ đùi lên tiếng hỏi: Ước được mấy cân? Bà mụ trả lời gọn lỏn: Một vạn cân! Ông cụ tợp chén trà, rũ quần đứng dậy: Tao
lên xã làm giấy khai sinh cho thằng Đỗ Vạn Cân đây! Tôi lớn lên cao thì mau mà
cân thì chậm lắm. Dài hơn một mét bẩy mà chưa bao giờ cân đến được cái vạch 50!
Vậy mà không ốm đau lặt vặt, được việc với vợ những lúc giúp bà ấy phơi phong
áo xống nhưng không có sức lực điền!
Chuyện riêng tư ông lắm nỗi niềm:
- Tôi học hành không giỏi mà cũng không dốt
nhưng tếu lắm. Ông bố bảo: Mày thi cũng khó đậu… mà dù có đỗ đạt gì cũng không
làm quan được! Mới học hết cát
dèm (quatrième moderne – tương đương
lớp 8/12) thì ông cụ bảo học vậy kiếm ăn tạm được rồi, cho nghỉ ngang lấy vợ.
Mình không ham mấy cái chữ mà bụng cũng muốn lấy vợ thử xem nó mặn ngọt thế
nào. Ông cụ hẹn ngày ra mắt. Cô gái nửa tỉnh nửa quê nuôi tằm kéo tơ, bán hàng
xén đầu phố huyện, da dẻ trắng trẻo, má lúm đồng tiền, cứ quanh quẩn vào ra,
thỉnh thoảng đưa mắt liếc trộm nhìn anh khóa dở trông tình ra phết. Bà
cụ khen: Hay lam hay làm, to mông rộng háng, lưng gù cánh phản – nái dòng đấy
con! Ngày cưới xin, các cụ định từ
trước cả cái ngày ra mắt. Là vợ chồng rồi mới phát hiện ra mấy điều không hợp.
Một là đứa cao đứa thấp, lúc đứng lúc nằm chẳng bao giờ giáp mặt nhau! Hai là
cầm tờ báo, chồng thích xem mục rao vặt và chuyện tiếu lâm, vợ chúi mũi vào mấy
cái chuyện tình vớ vẩn. Ba là vợ chồng chẳng biết tâm tình với nhau những gì
ngoài mấy chuyện vặt cửa nhà muôn thuở nghe mãi mà phát bệnh. Nhưng điều ấy
chẳng hề hấn chi. Cái chính là ăn ở với nhau mấy năm bà ấy cho ra liền tù tì
bốn thằng con trai tròn trùng trục. Tứ tử trình làng, bố mẹ tôi khoái lắm vì mấy đời liền nhà
tôi trưởng tộc mà toàn là độc đinh.
Bây giờ một lúc gần nửa tá đinh
hỏi không mê sao được. Cũng nhờ có thế mà ngày tôi đi kháng chiến các cụ bình
chân như vại: Nó thích theo ai
cứ việc. Cái ngữ ấy chỉ làm quan sai thôi!
Mình bỏ cha mẹ già với bốn đứa con lít nhít ở nhà cho bà ấy một mình xoay xỏa.
Lúc đầu nói đi là đi chứ không kịp nghĩ thời gian sẽ bao lâu. Vậy mà thoáng
chốc, ba ngàn ngày kháng chiến trở về. Người ta thì đoàn tụ vui vẻ, hạnh phúc
tràn trề nhưng mình thì… ngậm bồ hòn làm ngọt! Bà ấy gọi anh em thân tộc bên nhà tôi tới, dắt ra bốn đứa con mình và
một đứa bé gái trông chẳng giống ai ẵm nách trên tay, tuyên bố với mọi người
rằng: Tôi không xứng đáng với ông. Nhưng vì các con mà tôi không đành.
Nay ông về đây, tôi giao trả lại cái dòng cái giống, gia tư nhà ông. Từ nay tôi
đi ra khỏi nhà này! Mọi người ngơ ngáo
nhìn nhau. Như ngày kháng chiến, bảo tôi ôm cả khối bộc phá cho nổ tung cái đồi
A1 ở Điện Biên Phủ hăng lên tôi cũng dám làm. Nhưng bây giờ bảo năm bố con ôm
nhau để… cùng chết đói thì tôi chưa phải thằng điên. Họ mạc anh em bình thường
thì lời ong tiếng ve, tiếng bấc tiếng chì nhưng trước cảnh này ai ai cũng im
như thóc. Tôi chỉ thiếu nước qùy xuống lạy bà ấy thôi: Tôi nợ mình nhiều
lắm! Bao nhiêu năm một mình mẹ nó gồng gánh cả nhà này. Bố mẹ tôi đến lúc mãn
đời cũng một tay mình chăm lo gánh vác. Có mình các con mới được thế này để bây
giờ tôi về đây nhận làm cha chúng. Mọi chuyện khác quên đi, tôi không bao giờ
nghĩ tới! Còn một điều tôi không dám
nói ra là nếu để bà ấy ra đi thì chỉ còn cách theo thằng sở khanh ấy di cư vào Nam để lao vào thân lẽ mọn là
mình thêm tội với các con. Nhưng nói vậy thôi chứ quên đi không nghĩ tới làm
sao được! Mình là thằng đàn ông tử tế đàng hoàng hẳn hoi chứ đâu có phải là
thằng vô tướng bất tài bất lực hoặc là có trăng phụ đèn gì đâu! Vợ chồng những
lúc mặn nồng, thượng mã rồi lại
nghĩ tới có thằng khốn nạn nó ghì cương phi nước kiệu nhong nhong ngựa ông
đã về là mình tự nhiên… xìu xuống! Xem chừng bà ấy cũng cay đắng hiểu ra: Sao
mà ông lẩy bẩy như Cao Biền dậy non thế?
Để cho êm thấm, phải tự làm công tác tư tưởng cho mình còn khó hơn anh chính
trị viên đốc chiến quân trước giờ nổ súng. Coi như mình làm nghĩa vụ của thằng…
cha! Bà ấy nhận xét chua chát lắm: Chính sách dân vận của các ông đây! Nghĩ cho cùng, làm chồng, làm cha mà không
lo toan quán xuyến được cho vợ con là hỏng bét! Cảnh nhà tẻ nhạt thế nào. Chỉ
còn cách khuây khoả ở cơ quan. Ở sở Finance ngày xưa, mình chỉ làm ký quèn chứ không phải là ký gộc.
Nhưng bây giờ về sở cũ mình thành người thạo việc. Từ chức nhóm, tổ lên đến cấp
phó phòng nhanh lắm. Mọi việc giao mình làm hết. Tôi lo tròn phận sự. Ông
trưởng chuyên đi họp hành hội nghị, lâu lâu đáo về nghe báo cáo và để mình
thỉnh thị. Tuy nhiên đến đó là kịch trần rồi. Mấy lần ông trưởng phòng được
nhấc lên thì lại có người ở đâu điều tới. Một hôm tình cờ gặp anh bạn học cũ
làm luật sư bên thành phố. Dường như chợt nhớ ra điều gì, anh ta vỗ vai mình hỏỉ:
- Này… Anh đảng phái gì chưa?
- Tôi mensêvích!
Anh ta mừng như vớ được vàng:
- Vậy thì vào đảng tôi đi!
Đảng của ông ta là Đảng Xã hội. Tôi ậm ờ.
- Tụi mình đang phát triển, cần người tin cẩn
lắm. Ông làm sao thành communiste (người cộng sản) được. Ông muốn làm son fils (con họ) hay là cher ami (bạn thân) của đảng cầm quyền? Có chỗ ngồi,
chỗ ăn, chỗ nói xênh xang vui vẻ!
Mấy ông luật sư bây giờ đâu có việc gì làm!
Mình tặc lưỡi gật đầu. Hôm tổ chức kết nạp,
ông bạn ghé tai dặn dò thân ái:
- Tôi chỉ nhắc ông một điều thôi: Đảng mình là
đảng mặt trận. Ông chớ có dở chứng
đòi chia quyền lãnh đạo là lôi thôi lắm đấy!
Tôi được bổ sung ngay vào thành ủy đảng và giữ
chân thường trực. Họp hành tiệc tùng hiếu hỷ đó đây, từng có chân trong đoàn
đại biểu thủ đô đi nước ngoài chơi đấy.
Anh em cũng có lúc tâm sự với nhau: Một đảng này lại họp
bàn thực hiện nghị quyết của đảng kia xem ra cũng kỳ kỳ…! Nhưng thôi, lịch sử
đặc biệt mà. Cũng chỉ vì cái sự độc lập–thống nhất nước nhà là nguyện vọng bức
xúc của toàn dân thôi. Thế mới là Việt Nam ta! Ông vui vẻ nhận:
- Đời mình như một trò đùa!
Trông người lại nghĩ đến ta! Ông Thanh bồi hồi suy nghĩ lại đời mình. Ông đã để hạnh phúc tuột mất
đi! Tại sao ông dễ dàng chấp nhận sự phân ly như thế dù nghĩ rằng chỉ một thời
gian ngắn ngủi thôi? Do suy tư nông cạn mà nhìn chuyện đời ngờ nghệch đơn giản
quá không? Lời ông Ký Vạn Cân: làm chồng, làm cha mà không lo toan quán xuyến
được cho vợ con là hỏng hết, cứ làm lòng ông nhoi nhói. Dù bà có ở lại cũng chỉ
sung sướng một thân ông. Ông bó tay bất lực chẳng giúp gì được cho vợ cả. Với
tài tháo vát của bà ít ra mấy mẹ con cũng không đến nỗi ăn bữa nay lo bữa mai
như cảnh ba bố con ông hiện tại, lại còn bị đặt một cái dấu hỏi to tướng trong
lý lịch cả bố lẫn con! Tuy nhiên để mãi cái cảnh vợ chồng xa cách, con đứa này
không cha, đứa kia không mẹ suy cho cùng là lỗi ở ông! Có một điều ông âm thầm
suy nghĩ mà không dám nói ra ngay cả với chính mình: Dường như giữa hai người
có một sự gì không đồng cảm với nhau nữa?!
Thời buổi ngày càng thắt ngặt. Cẩm Nhung ở nội
trú trong trường, chiều thứ bảy mới về nhà. Nhân Trí đã vào Đại học Y-Dược. Hai
bố con đi làm đi học suốt ngày, việc chạy ăn thật là vất vả. Ông sợ nhất cái
cảnh xếp hàng: chen lấn, xô đẩy, cãi cọ nhau chí chóe, mọi ngón nghề láu tôm
láu cá trổ ra. Người thua bao giờ cũng là ông! Đau đầu nhức óc, mệt bở hơi tai
nhưng đến lượt mình thì hết hàng rồi! May ra mua được thì cũng là hàng ôi hàng
ế. Không chịu thì thôi. Tem phiếu hết hạn rồi! Phần ông được cái bìa C còn đỡ
nhưng ăn vào một miếng mà nuốt khó trôi, nghĩ càng đắng đót. Ai chẳng biết
những câu vè nghe như sát muối vào lòng: Tôn Đản là của vua quan. Vân Hồ là của
trung gian nịnh thần. Chợ trời là của muôn dân! Ông được liệt vào hàng ngũ trung gian nịnh thần? Đồng nghiệp bạn bè
đồng cảnh với ông cùng chạnh lòng lắm nhưng rồi tặc lưỡi bảo nhau: Mấy
thằng Chí Phèo ấy chấp làm gì. Miệng thế gian ngọt ít đắng nhiều muôn thuở ai
cấm được! Không dưng cả nước này như
một làng Vũ Đại khổng lồ?! Cái chữ liêm – sỷ thấm sâu trong ông qúa
rồi. Miếng ăn là miếng tồi tàn, đấng
trượng phu với kẻ tiểu nhân không khác gì nhau! Những lúc cần bước chân vào
chốn đó, trong lòng ông cứ thấy nhồn nhột thế nào, cảm như mình làm điều gì
vụng trộm, trong khi có kẻ lại nghênh ngang vênh vác. Chẳng biết thời buổi này
ra làm sao nữa?!
May mà có cô Thảo Tâm chứ không thì bí lắm.
Tất cả tem phiếu lương thực, thực phẩm giao hết cô lo. Chuyện đời nhiều sự bất
ngờ. Ngày cô Thảo Tâm bị đuổi việc chán đời thất nghiệp mà ông cũng không muốn
cho theo nghề cô Ngọt. Hay ho gì cái nghề hàng thịt hàng cá đứng ngồi góc chợ,
đanh đá, đáo để, chua ngoa. Lúc ấy ông giận cô Ngọt lắm. Nghĩ đi nghĩ lại thì
cái bệnh sỹ vẫn cồm cộm trong đầu
khiến ông không thể thức thời. Lúc nào cũng thế! Bây giờ mà thân quen được với
một cô bán hàng ngoài chợ, cô mậu dịch viên đứng quầy hàng là sung sướng vênh
vác lắm. Họ bị mang tiếng là dân phe phẩy, làm kinh tế ngoài luồng
hoặc là móc ngoặc tuồn hàng mà lại là người tự do nhất trên đời này dù bị coi
như đứng ngoài lề xã hội, chỉ như con ruồi con muỗi, cùng lắm là bị mấy anh
thuế vụ, công an xua đuổi chốc lát chứ không phải là đối tượng nguy hiểm để bị
trừng trị thẳng tay đâu. Đời coi thường họ, họ coi thường đời, lạnh lùng, lặng
lẽ, không bị lệ thuộc bởi những qui định hay lề thói nào.
Thảo Tâm không bị ràng buộc trách nhiệm với
ai. Không thân thích ruột rà, chỉ có ông Thanh là người gần gũi bao lâu nay,
hiểu cô và kín đáo thương cô. Cô cũng hiểu ông neo đơn lấn bấn mà âm thầm cam
chịu với lòng tự trọng. Cô gợi ý khéo cô Ngọt chủ động mỗi tháng đỡ ông chút tiền
nhà để anh thêm tiền mua sách vở cho các cháu học hành. Ông thấy khó xử, Thảo Tâm bàn vào:
- Người ta giúp nhau có hạn chứ ai giúp được
lâu dài. Cô ấy kinh tế tự do mà hơn các anh
nhiều đấy!
Dù là sống giữa anh em họ hàng nhưng không ai
giúp được gì cho ai. Cô Thảo Tâm là người gắn bó thiết thực với bố con ông:
- Cô ấy lo cho bố con mình như mợ ấy! – Nhiều
lần ông nói với các con như thế.
Cô Ngọt chẳng cần giữ ý tứ gì, nói toẹt ra với
Cẩm Nhung:
- Sao không chịu cưới cô Thảo Tâm về cho cậu
mày đi?
Con bé giận lắm, chẳng vừa:
- Cậu cháu không quen thói vợ nọ con kia đâu!
Cô Ngọt tức lắm, nói trêu ngươi bóng gió:
- Muốn tìm thầy tu thì phải vào chùa may ra
mới bói được một ông sư thật. Chớ thấy ai trọc đầu mà ngỡ là sư thì không là sư
hổ mang cũng là sư thịt chó! Thời nay thiên hạ đua nhau cạo trọc đầu để được
gọi là sư đấy!
Cẩm Nhung ấm ức nhưng không nói lại được cô.
Dù đã lớn rồi nhưng nó chưa thể hiểu hết tình đời. Mợ không có ở đây thì trách
nhiệm của nó càng lớn để giữ gìn sự êm thấm và danh dự của gia đình. Nó thương
cậu nhưng suy nghĩ đơn giản lắm: Cậu cô đơn thì mợ cũng cô đơn! Nó không mảy
may có một suy nghĩ lung lay nào về mợ. Nó biết cô Thảo Tâm lâu nay tốt với nhà
mình và trong lòng vẫn qúy cô. Nhưng bây giờ nó nghi ngờ: Lòng tốt nào cũng vì
vụ lợi mà cái chung thì ít, cái riêng thì nhiều! Nó hỏi ý thằng em. Nhân Trí
bảo:
- Mợ có ở đây đâu! Nhiều ông miền Nam tập kết
lấy vợ có ai biết thực hư thế nào không?
Nó mắng em:
- Mày vô trách nhiệm!
Nó sợ cậu, không dám nói ra nhưng nó có những biểu
hiện ý tứ khác thường với cô Thảo Tâm. Qua mắt người lớn làm sao được. Ông
Thanh bảo:
- Con không được hỗn với cô!
Con bé đứng thần người. Nó cắn chặt môi để dằn
lòng xuống nhưng hai hàng nước mắt túa trào ra. Không chịu được nữa, nó gục vào
lòng ông:
- Cậu còn thương mợ nữa không? Còn thương
chúng con không?
Hai cha con ôm nhau cùng khóc. Ông Thanh dỗ
con:
- Nên nông nỗi này là lỗi do cậu! Lúc nào cậu
cũng thương mợ và các con!
Cô Thảo Tâm biết chuyện, càng thương cháu,
thương anh ấy và thương cả nỗi mình.
ô
Ông Trịnh Huy cũng gặp chuyện không muốn mà nên và không ở cương vị điều
hành quan trọng nữa. Có người bảo tuổi tác là điều cản trở. Nhưng cũng không
hẳn là như thế. Ông thuộc lớp lão thành từng trải đa năng, thành tâm, trực
khẩu. Những bài báo của ông ngày xưa nhà cầm quyền lúc đó tức lắm nhưng vì cái
bánh vẽ tự do ngôn luận nó không làm gì
được, chỉ đục bỏ đi từng câu từng khúc thôi, càng làm công chúng tò mò tìm
hiểu. Bây giờ cái khẩu khí ấy không hợp nữa rồi. Nhưng ông hiểu nhiều, biết
rộng, tinh thông chữ tây chữ tàu nên được giao cho làm Sử. Vốn là người ưa hoạt
động, tưởng như trái khoáy mà sự tình cờ lại hợp với ông. Ông bảo: Làm cây ngay
giữa trời dễ gãy. Nhưng làm cây ngay giữa rừng rất khó vươn lên! Ông từng đưa
ra câu hỏi trước hội nghị có hàng ngàn người dự: Được làm sử quan, tôi phải
viết thế nào về một thời gian dài cải cách ruộng đất, đã có hàng ngàn đảng viên
ưu tú và quần chúng tận tình với Đảng bị đem ra xử bắn mà không được xét xử
nghiêm minh. Chẳng lẽ căn nguyên chỉ đơn giản là ta bị động máy móc học người?
Khi người ta hành động không ai nghĩ mình làm
sai. Nhưng nêú biết nghe, biết nhìn cả hai phía trước sau thì sớm nhận ra điều
phải trái. Càng độc quyền càng dễ sa vào độc đoán. Chức trọng quyền cao làm sai
càng khó sửa vì hạ cấp nói ra sợ phạm thượng mà ở đời được mấy người tỉnh thức
và có gan phủ nhận mình đâu?! Người làm Sử trước hết phải vô can, vô cầu để
được sáng lòng soi nhìn sự việc trước sau. Điều gì nói được hôm nay thì nói nếu
không ghi lại gửi đời sau. Người thức giả bao giờ cũng giữ được sự bình tâm.
Công việc của ông với anh Hà Giang vừa giống
nhau lại vừa khác nhau. Giống nhau vì đều cần có sự ưu tư trí tuệ chỉn chu.
Khác nhau vì một người có thể tạm gác lại nói sau, một người cần bộc trực ngay
chính kiến.
Hai bác cháu đang ưu tư lắm.
- Bài báo của anh ra không hợp thời. Nghe nói
Ban biên tập bị kiểm điểm nặng nề lắm .
- Cháu muốn biết quan điểm của bác?
- Anh nói không sai. Hòa bình là mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội. Khi nhà nước công nông mới ra đời, Lênin đã có bản “Tuyên ngôn hòa bình” nổi tiếng. Nó cho người ta hiểu rằng chính
quyền vô sản là một nhà nước xây dựng
chứ không phải là nhà nước chiến tranh – nhà nước đẻ ra từ họng súng!
- Đến bây giờ vẫn đúng!
- Chiến tranh và Hòa bình vẫn là câu
hỏi lớn treo lơ lửng trước mắt loài người. Có kẻ miệng nói hòa bình nhưng tay
gây chiến!
- Và cũng có kẻ lấy chiến tranh làm phương
tiện cứu rỗi cho mình! Nhưng hòa bình và phát triển là đích tới của chúng ta.
- Đó là chuyện chung lâu dài. Còn chuyện của
mình trước mắt, anh nghĩ thế nào?
- Nếu có đôi chân lành lặn, cháu cũng xin trở
lại miền Nam chiến đấu! – Anh Hà Giang đặt lên bàn lá thư miền Nam của mình.
- Cái nút là ở đấy!
Bác Trịnh thở phào vì đã tìm ra được mối tương
đồng:
- Ta phải lo chuyện của ta. Đấy là điều đang
rắc rối. Cần phát động đấu tranh vũ trang hay chăm lo củng cố hòa bình xây dựng
hậu phương? Trong khi yếu tố quyết định thành bại của cách mạng trên cả nước
chính là từ hậu phương lớn ta đây. Chiến tranh hay hòa bình đang là điểm bất đồng
gay gắt trong nội bộ chúng ta, cũng là thể hiện cục diện thế giới ngày nay.
Không thể dựa vào cụm từ tình cảm cách mạng để hành động
thiếu cân nhắc được. Cách mạng Việt Nam bây giờ muốn phát triển không thể tách
ra khỏi một cộng đồng mà cộng đồng ấy đang rạn nứt ghê gớm, chưa biết bao giờ
mới hàn lại được?!
- Cháu hiểu và muốn thể hiện quan điểm của
mình về giáo điều và xét lại.
- Ta nói chuyện ta đi. Ở miền Bắc tuy có hòa
bình nhưng lòng dân chưa yên! Cải cách ruộng đất làm rối loạn nhân tâm khủng khiếp, tuy có sửa sai nhưng chưa tìm tới
căn nguyên, mấy năm chưa hồi lại được đâu. Cái thời nhất đội nhì trời không còn nhưng cái sự nhất vẫn còn dai dẳng lắm! Tiếp đó là hợp tác hóa gần như cưỡng bức, người nông dân chỉ thấy
đơn giản một điều là ruộng đất vào tay rồi lại tuột mất đi nên họ thờ ơ! Vẫn
theo khuôn sáo ấy, ta vừa cải tạo tư sản vừa làm cho thành phố trong như pha lê kiểu Bắc Kinh. Nhưng nhà máy về tay công nhân rồi sản xuất thế nào?
Nguồn nguyên liệu khai thác từ đâu? Mạng lưới thu mua, phân phối rã rời. Trong
khi trình độ tổ chức và quản lý xã hội của ta non yếu từ trên xuống dưới. Bộ
máy hành chính phi sản xuất phình ra, bóp lại rồi lại phình ra lớn hơn! Người
lao động không được chăm lo đúng mức. Người thành phố bị đẩy về nơi xa xôi heo
hút loay hoay không biết làm gì. Người từ quê lên chiếm ngự thị thành quẩn
quanh lúng túng. Những người cảm tình và ủng hộ ta nản lòng. Mọi mặt sản xuất
từ thành thị đến nông thôn đều trì trệ và sút giảm nghiêm trọng! Mấy khu kinh
tế viện trợ tưởng ghê gớm lắm, thực ra là mới với ta mà cũ với người và hoàn
toàn lệ thuộc, không ổn định lâu dài được! Giới trí thức sa sút niềm tin trầm
trọng sau vụ ta trừng phạt quá đáng nhóm Nhân văn–Giai phẩm liên lụy đến nhiều người, vô tình hay hữu ý
tước bỏ hoặc là vô hiệu hóa tư duy trí tuệ đáng qúy của họ, gây nên sự bất mãn
không đáng có. Họ rủ rỉ với nhau: Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa! Nội bộ lãnh đạo ta có chiều phân hóa.
Anh Hà Giang đặt tay lên lá thư đặt trên bàn:
- Nhưng miền Nam! miền Nam! – Giọng anh lạc đi
vẻ đau đớn lắm.
Bác Trịnh Huy vẫn ngồi yên, mắt đăm đăm, trầm
tĩnh :
- Bây giờ là ta đụng đầu với Mỹ – một cường
quốc quân sự vào hạng nhất nhì thế giới. Nó không là con hổ giấy. Nó là con hổ
thực không chỉ vì có cái răng nanh nguyên tử. Nó là một cường quốc có thực lực,
có khả năng khống chế áp đảo đối phương kể cả những quốc gia rất mạnh. Trong
khi anh Cả ta khuyên hãy “chung sống hòa bình” và anh Hai thì bảo cứ “trường kỳ mai phục”! Ta sẽ dựa vào đâu mà đánh Mỹ? Với phương
châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc như trước đây liệu ta có thể tự lực
cánh sinh được tới đâu? Dù cố gắng hết
mình ta chỉ có thể động viên sức người, còn cần rất nhiều vào sự chi viện to
lớn toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần, từ viên đạn đến từng khẩu phần ăn và
sự phối hợp trên các bình diện đấu tranh toàn thế giới chứ ta không thể chiến
đấu cô lập được! Sự ra đời của Nghị quyết 15/1959 phản ảnh tình thế trong ngoài
phức tạp tới mức độ nào.
- Nhưng miền Nam đã đứng lên rồi!
- Từ lúc khởi thảo đến hình thành và ra được
nghị quyết phải trải qua mấy năm trời chờ đợi, thăm dò, họp bàn, tranh luận hao
tốn bao xương máu. Một ý kiến của lãnh tụ mở được nút mắc là vô cùng quan
trọng. Rất đúng lúc, Bác Hồ đưa ra một gợi ý tài tình tinh tế: Bác phê bình “Đảng bộ miền Nam thiếu sáng tạo, không biết bảo vệ
nhân dân và bảo vệ mình”! Cuối
cùng nguyện vọng đòi giải phóng, thoát mọi ràng buộc từ nhiều phía đã vượt qua
những rào cản lớn và miền Nam đang đứng dậy!
- Phải đứng lên thôi, chứ không thì lực lượng
kháng chiến yêu nước bị tiêu diệt hết trong khi lớp trẻ mới lớn bị tuyên truyền
xuyên tạc không hiểu lịch sử thực hư thế nào. Phong trào khó mà gây dựng lại! –
Anh Hà Giang nâng lá thư lên.
- Cho nên bài viết của anh không đúng lúc, dễ
bị hiểu lầm!
- Trước mắt vũ trang tự vệ là cần thiết nhưng
để đi đến mục đích cuối cùng là hòa bình xây dựng. Cháu không chấp nhận những
phần tử cơ hội lợi dụng chiến tranh để củng cố quyền lực và địa vị của mình!
- Nhưng cũng có những kẻ cơ hội lợi dụng chiêu
thức hòa bình được chứ?
- Vì động cơ nào thì hiệu quả cuối cùng của nó
phải là một xã hội hòa bình, phát triển và dân chủ… đúng với tinh thần nhân văn
của Chủ nghĩa xã hội!
Khuya lắm rồi, anh Hà Giang ngồi một mình trong phòng nhớ lại những năm
kháng chiến. Anh chiến đấu ở miền Bắc chỉ một thời gian ngắn ngủi trong khi anh
gắn bó sống chết ở chiến trường Nam Bộ gần chục năm ròng. Tưởng rằng về miền
Bắc vết thương trên người anh sẽ lành lại và sức khoẻ anh hồi phục. Không ngờ…
Anh âm thầm mang nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần! Anh lấy sách vở làm nguồn
động viên để sống. Anh đến gần ánh sáng của trí tuệ nhân loại và nhận ra nhiều
điều. Có nhiều điều đã thành lẽ sống chung nhưng có nhiều điều mới mẻ. Nguồn
sáng từ mặt trời chiếu ra. Những tia sáng toả ra trong vũ trụ có phân phối đều
tới các hành tinh không? Ngay trên hành tinh Trái đất này rõ ràng là nó không
đều bởi cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguồn sáng từ tư duy trí
tuệ loài người cũng thế. Nó được tiếp nhận khác nhau ở mỗi cộng đồng và mỗi cá
nhân. Dường như ở những quốc gia, địa hạt nào nghèo khổ, ở những cộng đồng dân
tộc thiếu ánh sáng văn minh rọi tới, ở những con người lam lũ ít học bị đè nén…
thường là sống theo bản năng ưa bạo lực? Chính quyền vào tay họ như một sự
thoán đoạt ngai vàng muôn thuở. Họ phải giữ nó bằng bạo lực và chuyên chính của họ nghĩa là bạo lực! Họ tranh đấu quyết
liệt đòi dân chủ tự do nhưng khi nắm quyền thì họ phân phối nó như của bố thí
cho sao hưởng vậy. Chỉ có cách nâng cao mức sống người dân trên cơ sở không
ngừng nâng cao hiệu suất lao động, đưa ánh sáng của văn minh trí tuệ tới họ, mở
mang dân trí, nếp sống kỷ cương, bảo đảm sự công bằng xã hội thì các quyền tự
do dân chủ của công dân mới được tôn trọng, mọi người được phát huy trí tuệ và
sức sáng tạo sẽ gắn kết với nhau, mỗi dân tộc xích lại gần nhau, cùng hợp tác
phát triển, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị cùng bảo vệ hòa bình. Đấy là tư
duy lý trí, là hướng đi, cũng là chuyện dài lâu mãi của loài người.
Nhưng trên Tổ quốc anh và với nhân dân của
anh? Giữa lý trí và tình cảm nhiều khi chưa đồng nhất. Từ lúc trẻ, anh đi chiến
đấu cho một xã hội công bằng, đạp bằng đi những bất công nhưng lại những bất
công mới chồng chất ngổn ngang. Anh linh cảm một ngày nào đó anh sẽ là nạn nhân
của những bất công mới đó. Anh thấy giận đôi chân của mình, nếu nó không quen
thói ỳ ra, chịu nghe theo sự điều khiển của anh thì anh đã không còn ngồi đây
nữa.
Anh nhớ lại vào một chiều cuối đông mấy năm
trước, hình như trùng năm 1960 thì phải, một người đồng đội cũ đến kín đáo chào
anh trước khi trở về chiến trường Nam Bộ. Là người lính chiến thực thụ, các anh
hiểu điều gì sẽ xảy ra mà lòng mỗi người xốn xang lắm. Bạn như đứng trên khối
than hồng, chỉ muốn vọt đi thôi. Anh nhìn bạn vừa muốn chia sẻ những ngày vất
vả gian nguy sắp tới lại vừa thèm khát. Nước mắt anh tự nhiên cứ trào ra. Bạn
vừa lộ vẻ tự hào vừa tỏ ý buồn phiền:
- Đây là chuyến đầu tiên về tăng cường sức
chiến đấu cho quê hương. Chỉ vẻn vẹn có hai mươi lăm người. Khác chi muối bỏ
biển! Dự tính một trăm người nhưng trên cho thế thôi, để nghe ngóng xem sao đã.
Mong rằng đầu xuôi đuôi lọt!
Qua buổi gặp bác Trịnh Huy, anh Hà Giang mới
hiểu ra sự đắn đo của người lãnh đạo.
Hai mươi lăm đồng đội của anh tự khai phá con
đường rừng hàng ngàn kilômét âm u heo hút cheo leo hoang dại. Liệu khi tới đích
còn được bao nhiêu?! Lòng đầy nhớ thương, mệt mỏi, đầu óc mung lung, anh gục
trên bàn. Rặng dừa đung đưa thổi gió xuống dòng kênh xanh mát. Dáng người con
gái thân quen chèo chiếc ghe nhỏ băng trôi giữa dòng. Bỗng trời đất mịt mù mây
khói, sóng gió bịt bùng, ngọn lửa từ đâu bùng lên và bốc cao cuồn cuộn. Người
con gái quằn quại đau đớn giơ cao chiếc khăn rằn vẫy gọi người ứng cứu. Trong cơn
mê mộng chập chờn, vẳng bên tai lời thơ tha thiết từ chiếc radio để ở đầu
giường:
…
Vì sao chẳng ngày vui trọn vẹn
Như bâng khuâng việc
hẹn chưa làm
Vì sao miếng cơm ăn
bỗng nghẹn
- Một nửa còn cay đắng
: miền Nam !
Ôi miền Nam vì sao mỗi
lúc
Mây chiều xa bay giục
cánh chim
Đêm khuya một tiếng
bầu tiếng trúc
Một câu hò cũng đọng
trong tim ?
… Hãy nghe tiếng những
người đang sống
Như biển động ầm ầm
tiếng sóng
Và hãy nghe cả tiếng
người xưa
Như gió khơi reo vọng
rừng dừa
Tất cả nói một lời :
giải phóng
Cứu miền Nam ! Cứu
miền Nam !
Ôi cửa Phật cũng dầu
sôi lửa bỏng
Dẫu thiêu mình làm
đuốc cũng cam…
Tưởng như lời thôi thúc gọi cứu ngay đây, anh
Hà Giang bật người đứng dậy. Cả người anh nghiêng về một bên, chiếc xe lật sang
cùng phía đổ sầm xuống gây một tiếng động lớn đánh thức người bảo vệ dậy. Anh
ta hốt hoảng chạy vào phòng, vực người thương binh lên.
Anh Hà Giang không nói một lời nào. Mặt anh ngây
ra, mắt nhìn mãi đâu xa như còn đang trong cơn mộng du!
No comments:
Post a Comment