CHƯƠNG MƯỜI
Nước
mắt ngày gặp mặt
a{b
Sau những ngày lễ hội chào mừng giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống
nhất đất nước, các chuyến xe đò từ thành phố Hồ Chí Minh đi lục tỉnh lại ngược
xuôi tấp nập. Người tìm về quê hương gốc gác của mình sau bao nhiêu năm loạn ly
chinh chiến. Nhưng cũng không ít người tìm đường lẩn tránh tông tích của mình
vì sự dính líu sâu nặng với một chính quyền đã thành qúa khứ.
Tại bến xe Cần Thơ, một ông già quê chân chất,
hai tay xách hai giỏ nặng, lúng túng giữa đám người chen lấn. Ông không biết
chiếc kim cài túi áo bà ba đã bật tung ra. Một bàn tay vừa thọc vào túi áo đã
bị một bàn tay khác nắm chặt lại với lời cảnh cáo:
- Mày làm chi vậy?
Tên kẻ cắp giật tay ra và lẩn nhanh vào đám
đông. Một bọc nhỏ từ túi áo ông già rớt xuống. Người lạ nhặt lên, tay vỗ vào
lưng ông già:
- Bác có mất gì không?
Ông già nhìn người lạ đầy hoài nghi, cùng lúc
hai tay nắn túi và chợt hiểu ra sự việc. Ông nhận lại cái bọc nhỏ của mình, rối
rít nói lên nỗi mừng:
- Hên qúa. Nếu không có chú em chắc qua phải quay về nhà thôi!
- Bác Hai về thành phố Hồ Chí Minh phải không?
- Qua lên Sài Gòn thăm thằng nhỏ đi tập kết ở
miền Bắc về.
- Bác có mang giấy phép đi đường của chính
quyền mới cấp cho không?
- Có chớ sao không? Để trong đây cả!
Ông già vỗ cái bọc trong túi áo:
- Qua phải cảm ơn chú nhiều lắm đó!
Người lạ vui vẻ, thân tình:
- Lần đầu bác Hai lên thành phố ?
- Qua người miệt vườn, chưa từng lên đó bao
giờ.
Bằng cử chỉ nhanh nhẹn, người lạ nhấc cả hai
chiếc giỏ vừa đi vừa nói:
- Bác đi theo cháu!
Ông già lập cập bước theo người ấy lên xe.
Khi đã có chỗ ngồi ổn định, ông già mới để ý
tới người đàn ông lạ. Người này lứa tuổi trung niên, mặc bộ đồ cũ nhàu nhưng
mặt mày sáng sủa, dáng vẻ là người lương thiện và tử tế khiến ông mau trút bỏ
nỗi mặc cảm về người tứ chiếng ở nơi bến xe ô hợp:
- Chú cũng lên thành phố?
- Bấy lâu nay cháu chạy xuống đây làm ăn, trốn
lính, giờ về thành phố với gia đình. Hai bác cháu mình cùng đi thì hay qúa.
Cháu sẽ tìm được đến tận nơi bác cần.
Ông già mừng húm, kể ra chuyện mình:
- Thằng con tui đi tập kết ở miền Bắc vô nhưng
còn lu bu công việc nên chưa về thăm nhà được. Tui phải vọt lên nhìn mặt con
cho đỡ nhớ…
- Sao bác gái không cùng đi thăm anh ấy?
- Bả chết lâu rồi, từ hồi Mậu Thân kìa… Bả với
mấy đứa nhỏ ngủ trong trảng xê, chịu một trái bom đìa,
chẳng còn vết tích gì ! Tui dở gỡ mẻ lưới ở ngoài đồng nên thoát chết.
- Thế bác ở vậy một mình?
- Tui có bảy đứa con, bốn trai, ba gái. Thằng
Hai đi tập kết theo hiệp định Gieo neo.
Con Ba lấy chồng là lính quốc gia, được hai đứa con rồi cũng ở giá luôn. Thằng
Tư là du kích xã, bỏ mạng, chưa vợ con gì. Ba đứa chết một lượt với bả. May còn
nhỏ Út, chạy chợ với chị Ba nó ngoài lộ, giờ phải coi nhà, coi mấy công ruộng,
công vườn, chớ bỏ đi sao đặng. Con Ba không dám gặp anh Hai nó vì sợ bì rày.
- Bác Hai cho cháu xem tờ giấy phép đi đường
để cháu biết bác sẽ tới đâu?
Ông già cẩn thận mở cái bọc, đưa ra tờ giấy
học sinh có chữ viết tay và cái mộc đỏ chót. Người lạ đọc lướt nhanh và cười
nhưng mặt anh nhăn lại. Ông già hỏi:
- Chú có biết chỗ đó không?
- Bác có biết anh ấy làm gì không?
- Nghe nói nó là công an, chắc tình hình lúc
này rối ren lắm nên nó mới không về nhà được.
- Địa chỉ này… cháu biết!
Qua mỗi trạm gác dọc đường, du kích mang súng,
đeo băng đỏ lên xe, nhìn dò xét từng người. Người đàn ông chủ động cười thân
thiện, đưa ra tờ giấy phép và nói:
- Hai bác cháu tôi lên thành phố thăm người
nhà… chỗ Bộ Công an.
Mấy anh du kích đọc xong tờ giấy, trao lại
ngay với thái độ nể trọng, tin tưởng lắm. Người lạ nhanh nhảu xuống xe, mua qùa
bánh, hai bác cháu cùng ăn và nói chuyện thân tình như người nhà:
- Gia đình chú mần chi trên thành phố?
- Buôn bán!
- Thế có ai bị bắt lính không?
- Làm sao mà trốn lính hết được nên cháu cũng
lo!
- Cách mạng không vơ đũa cả nắm đâu. Người ta
cũng xem xét từng hoàn cảnh một. Người nào bị cưỡng ép thì được học tập ít hôm
rồi về. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Chớ có ai muốn thế đâu?
- Còn những trường hợp khác thì sao?
- Tất nhiên là phải có thời gian học tập, cải
tạo lâu hơn để mỗi người nhìn ra lỗi lầm của mình. Nhưng người ta không giết ai
đâu. Dân mình khổ nhiều lắm rồi. Bao nhiêu năm,
đứng về bên nào cũng chết. Muốn làm dân thường cũng khó. Bây giờ hòa
bình thống nhất rồi, người cùng một nước liệu mà bảo nhau, lo chuyện làm ăn, an
cư lạc nghiệp, chớ hãm hại nhau nữa để được gì? Nơi đâu xa không biết chớ ở
huyện, quận, xã chỗ tui chưa thấy một ai bị bắn giết từ ngày giải phóng tới
giờ, dù là những gia đình cách mạng từng bị o ép, hãm hại đau thương, khổ ải
lắm.
Người lạ nhìn ra ngoài xe, những cảnh vùn vụt
lướt qua, không biết anh nghĩ gì.
Tới xa cảng miền Tây, anh kêu taxi về Tổng nha cảnh sát cũ. Hai bác cháu cùng lên xe. Anh thở phào,
thầm nghĩ nếu không gặp sự việc tình cờ vừa qua, liệu anh có qua nổi chặng
đường đi ngược này không?
Người đàn ông đó chính là Nhân Tín.
Anh xuống miền Tây trong tình thế tan rã của quân đội cộng hòa, mong tìm nơi có thế tiến, thế lui, chờ
thời. Anh đặt niềm tin vào người bạn từng cùng nhau tu nghiệp bên Mỹ quốc. Viên
tướng trẻ trung, gia thế, tự tin đắc thắng một thời mà giờ đây cũng tỏ ra thất
vọng:
- Dù moa rất tin và qúy toa
nhưng không thể giao cho toa
một chức trách gì nếu như không có lệnh của Sài Gòn. Mà bây giờ cha nào cũng
xác một nơi hồn một nẻo còn thiết chi nữa đâu? Đám chỉ huy dưới quyền dù hoang
mang, muốn bỏ dò lái nhưng vẫn không dễ bảo, không chịu để ai qua mặt chúng. Toa như người khách lạ lúc chủ nhà tang gia bối
rối!
- Ta có thể tổ chức tuyến phòng ngự cuối cùng
chờ cho các vùng chiến thuật vừa tạm
thời tan rã có thời gian tập hợp quân lực lại, sẽ phối hợp với nhau để phục
hồi?
- Việc toa chạy xuống đây đã hàm ý tìm một con đường rút chạy rồi, còn mong gì
chuyện đó? Đám Không quân, Hải quân chọn đường chạy thẳng tới các căn cứ Mỹ ở
Thái Lan, ở Philippine, ở Nhật Bản chớ dại gì dồn về đây để chịu đòn rồi lại
chạy. Còn đám bộ binh chuồn thẳng về nhà chớ cắc cớ gì phiêu dạt đi đâu nữa?
Bây giờ quan không dám bảo lính vì lính không sợ mà quan cũng không dám làm gì.
Ngay trong hàng ngũ sỹ quan cũng không tin, không phục tùng nhau nữa. Tuy
nhiên, có một số thằng hăng máu, loại trừ kẻ quen đánh võ mồm, còn thực ra mấy
đứa ở thế cùng đường bởi nặng nợ qúa với phía bên kia, thì thà đằng nào cũng
chết. Trong binh pháp, kẻ liều chỉ có thể làm việc thí mạng chứ không thể làm
nên chiến thắng!
Sau ngày 30 tháng Tư, cả vùng Bốn chiến thuật tan nhanh như bọt xà bông. Viên tướng tư
lệnh sau khi trình diện lực lượng cách mạng tại chỗ, được tạm phóng thích về
nhà, tỏ ra buồn bã, chán đời, nói với viên đại tá bạn thân tín từng mong đợi ở
mình:
- Nhìn trên bàn cờ, quân tướng còn đủ bộ. Tuy
nhiên mình thua ở thế cờ, thế trận. Xe, pháo, mã đều bị cản đường đi. Quân đông
mà vô dụng. Tướng bị chiếu vỗ mặt không đỡ nổi. Người nhìn xa lẽ ra phải biết
từ lâu, có nghĩa là mình thiển chí thì đoản vận thôi. Để mất thành, phải biết
tự xử mới là dũng tướng. Lúc này toa vẫn còn đường rút tương đối an toàn!
Nhân Tín ngồi trong một căn nhà mối chờ gom người lên tàu vượt biên, nghe tin
viên tướng bạn tự sát bằng một viên đạn súng ngắn, người anh gai lạnh, không
cầm nổi hai hàng nước mắt. Anh bỗng cảm thấy mình tìm đường tháo thân như thế
này thật hèn. Anh không có trách nhiệm cụ thể về công vụ nhưng ít ra anh cũng
còn có trách nhiệm với mợ, với bác, với vợ con của một người đồng đội từng tin
cậy trông đợi vào anh.
Anh quyết định ngược đường lên thành phố dù
biết rằng công khai lộ diện trước chỗ đông người lúc này là vô cùng nguy hiểm…
Xe đỗ, anh trả tiền xe và giúi vào túi ông già
mấy tờ bạc lớn:
- Bác vui lòng nhận chút qùa của cháu và bác
cháu mình tạm chia tay ở đây.
- Chú chờ tui gặp thằng con để nó cảm ơn chú!
– Ông già nắm tay anh giữ lại.
Anh lưỡng lự rồi đành làm theo ý ông già.
Hai bác cháu bước qua cổng, trình giấy. Anh
bảo vệ quay máy điện thoại, nói oang oang:
- Mời thủ trưởng xuống phòng khách ngay, có
ông già dưới quê lên!
Hai bác cháu mới đi tới giữa sân, một người
quá tuổi trung niên, chạy ào từ trong nhà ra ôm chầm lấy ông già. Hai cha con
quấn lấy nhau, hai gương mặt chai sạn đầm đìa nước mắt với những tiếng nấc
nghẹn ngào và tiếng khóc hu hu, lây nỗi xúc cảm tới những người đang dồn đến.
Nhân Tín hai tay xách hai giỏ nặng mà nước mắt cũng trào ra. Anh chột dạ nhận
ra mình đứng giữa đám đông người toàn mặc sắc phục công an. Anh đặt cặp giỏ đồ
xuống định quay ra thì ông già đột nhiên quay lại:
- Bớ chú Hai! Cho cha con tui được nói lời cảm
ơn với chú.
Ông già kể hết với con và quay sang nhìn người
lạ:
- Không nhờ chú đây, hôm nay cha con tui chưa
được hạnh ngộ thế này đâu.
Người con hai tay dìu cha và ân nhân đi vào
phòng khách:
- Tôi thật có lỗi với cha tôi. Cảm ơn anh đã
giúp đỡ cha con tôi qúa nhiều.
Nhân Tín cũng tìm cớ thoát nhanh ra khỏi nơi
này:
- Gia đình tôi đang thất tán, tôi phải về nhà
ngay.
Vị thủ trưởng gọi người thuộc cấp điều xe chở
ân nhân về tận nhà chu đáo với lời dặn dò chân thật:
- Nếu anh có gặp điều gì khó khăn trắc trở cứ
tới đây tìm tôi: Trung tá Nguyễn Thương – Trưởng phòng chính trị.
Ngồi trên chiếc xe mang phù hiệu công an cách
mạng chạy giữa đường phố mới giải phóng vừa quen thuộc vừa xa lạ mà trong người
chưa hết nổi gai, tim anh đập thình thình như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực.
ô
Sau ngày giải phóng, các đơn vị lại phân ra, nhanh chóng trở về nhiệm vụ
của mình.
Không ai dám che dấu bảo vệ Yên Thịnh nữa mà
mỗi bộ phận còn phải chuẩn bị tinh thần kiểm điểm ý thức tổ chức, kỷ luật vừa
qua. Yên Thịnh không biết quay về đâu và cũng không biết nương dựa vào đâu.
Nhân Trí chạy tới cầu cứu trung đoàn trưởng
Hoàng Tuấn. Anh kể rõ sự thể của vợ anh. Về tình, thủ trưởng thông cảm được
nhưng về lý thì không thể vượt qua nguyên tắc nhất là trong thời kỳ quân quản
càng cần sự nghiêm ngặt. Nhưng bây giờ không thể để cho vợ của thằng em, người
lính dưới quyền mình bơ vơ giữa thành phố lạ lẫm đầy sự bất trắc thế này. Anh
chợt nghĩ tới trung đoàn trưởng Ba Phát, người từng có nhiều năm hoạt động
trong thành phố chắc sẽ có nhiều cơ sở để tạm gửi Yên Thịnh ít ngày.
Anh Ba Phát nhớ tới gia đình đại tá Chu, là
người Hà Nội, gởi cô gái này ở đó chắc là sẽ hợp, cũng trùng ý anh đang muốn
tới tìm thăm một gia đình cơ sở.
Thấy mấy người mặc quân phục cách mạng đi xe
nhà binh, có lính bảo vệ súng ngắn, súng dài vào nhà, mẹ con cô giáo Dạ Lan
trốn biệt dưới bếp mà người vẫn run lên. Chị Nhài bình tĩnh ra tiếp khách và
càng vui hơn khi nhận ra anh Ba Phát đã nhiều lần theo anh Chu tới nhà ông
giáo:
- Anh Chu xuất cảnh theo gia đình vợ từ trước ngày
giải phóng.
- Tôi có thời gian công tác trong phái đoàn
bốn bên ở Sài Gòn nhưng vì công việc không thể liên hệ với đại tá Chu. Anh ấy
là người tốt và có tinh thần yêu nước. Tôi có trách nhiệm chứng nhận gia đình
là cơ sở và có công với cách mạng.
- Được vậy thì qúy hóa qúa, để mấy ông địa
phương không đến đuổi chúng tôi ra khỏi nhà tên sỹ quan ngụy tay sai của Mỹ !
Trong khi nói chuyện, mấy người khách cứ chăm
chăm nhìn chị Nhài, tuy nhiên chị không tỏ ra khó chịu và cũng nhìn thẳng vào
họ, ngờ ngợ một nét quen quen. Trung tá Hoàng Tuấn hỏi:
- Chị người Hà Nội?
- Chủ nhà này mới chính là người Hà Nội. Quê
tôi ở Hưng Yên nhưng lên Hà Nội ở cũng lâu.
- Chị làm gì trên Hà Nội?
- Lúc nhỏ thì đi ở. Sau tôi buôn bán.
- Chị bán hàng tấm ? – Linh tính mách bảo Nhân
Trí buột ra câu hỏi bởi những nét thân quen cứ hiện dần ra.
- Sao ông sỹ quan đoán trúng thế?
Cùng lúc dường như ký ức một thời hiện rõ dần
ra, chị nhìn người lạ với ánh mắt đầy thân thiện:
- Mợ tôi mở cửa hàng vải ở phố Hàng Đào. Tôi
đứng một sạp ở chợ Đồng Xuân.
- Chị Nhài phải không? – Nhân Trí nhảy lên.
- Em… Nhân Trí đây à? – Chị đồng thời bật khóc.
Cuộc đoàn viên hội ngộ thật bất ngờ. Nhân Trí
cuống lên:
- Mợ và các em Nhân Tín, Bích Liên đâu?
Nhài chợt nhận ra nhiều điều rắc rối. Chị mời
mọi người ngồi, cố làm dịu đi:
- Chuyện còn dài. Mình cứ vui đi đã.
- Chị có nhận ra ai đây không? – Nhân Trí chỉ
thủ trưởng của mình.
- Từ lúc các anh mới vào, tôi đã cảm thấy nét
gì đó quen lắm mà sợ là nhận vơ. Nhưng lâu qúa rồi và tôi đã già nên không nhớ
nổi.
Trung tá Hoàng Tuấn cười thân mật:
- Tự cô là đàn bà con gái, không cắt tóc nên
không để ý.
- Á à!... Nhớ ra rồi…
- Anh Miều, cấp trên của em đấy! – Cậu em
nhanh miệng.
Chị Nhài hai bàn tay vỗ vào nhau:
- Đúng rồi… Mỹ – Miều – Tô – Điểm làm sao quên
được!
Một thời thơ trẻ vô tư ập đến làm cho họ cười
nói ríu rít như chim.
Để cuộc vui kéo dài cho Nhài suy nghĩ sẽ nói
chuyện mợ như thế nào với đứa em đang nóng lòng gặp mẹ, chị kéo Dạ Lan lên cùng
tiếp khách.
Thủ trưởng cho phép Nhân Trí ở lại giải quyết
chuyện gia đình. Trước khi ra về, anh Ba Phát hẹn sẽ có ngày tới thăm ông giáo
Phú.
Chị Nhài kín đáo hỏi tin anh Nghĩa. Nhân Trí
chỉ dám nói một phần sự thật:
- Anh còn sống nhưng gặp chuyện không may. Vết
thương cột sống từ ngày chiến đấu ở Nam Bộ đã thành cố tật liệt hai chân. Hiện
anh sống trong một trại an dưỡng thương binh nặng ở xa Hà Nội. Bây giờ hỏi anh
Hà Giang người ta mới biết.
Chị Nhài giật mình, chợt nhớ ra và không tin
rằng có sự trùng hợp đến lạ lùng: Hà Giang à! Có trùng tên với ai không?
Chị chạy lên phòng lục tìm cái hộp cất kỹ
trong đáy tủ và lấy ra tấm ảnh. Ảnh cũ, khổ nhỏ nhưng còn rõ nét. Chị chỉ vào
người thương binh ngồi trên chiếc cáng tre lẫn trong đám cả chục người đàn ông,
đàn bà lố nhố :
- Em có biết người này không?
- Chị không nhận ra sao? Anh Nghĩa đấy!
Chị lặng người đi, âm thầm nuốt nước mắt vào
trong, nói như muốn khóc:
- Thế mà chị không nhận ra anh ấy!
Nhân Trí giới thiệu vợ mình với chị Nhài và kể
lại nỗi gian nan liều lĩnh tìm chồng. Chị Nhài kéo Yên Thịnh vào lòng, thương
xót như một đứa em gái của mình:
- Bây giờ cậu cứ để mợ ở đây với tôi đi. Không
phải lo nơi ăn chốn ở gì cả. Chị em tôi lo cho nhau được.
Nhân Trí trút được một nỗi lo trước mắt.
Chị Nhài tìm cách nói làm sao cho thằng em đừng hờn em, giận mẹ. Với
Bích Liên chẳng có gì phải lo. Nhưng với Nhân Tín, làm sao cho anh em nó hòa
hợp với nhau. Thật ra với nó, chị cũng có những điều không hài lòng. Nó thích
tiến thân bằng đường công danh để thể hiện mình thành ra nó từ chỗ xa lạ tới
đối chọi với phía bên kia nên dần dà nó cũng không thiết tha gì với cha anh
nữa. Bây giờ không biết nó ra làm sao hay còn đeo đuổi những chuyện phiêu lưu.
Liệu cha con, anh em có còn gặp được nhau không? Lỡ gặp nhau liệu sẽ thế nào?
Với mợ, là một ân nhân lớn suốt đời của chị. Bác giáo cũng là người chị luôn nể
trọng. Mặc dù chuyện hai người cạp với nhau chị thấy lòng mình không thuận. Có
lẽ vì chị rất thương qúy cậu. Cũng có thể do chị đơn côi, ngấm ngầm ao ước chỉ
cần được một phần của mợ cũng là toại nguyện lắm rồi. Có một người chồng hiền
lành tử tế, yêu vợ, qúi con, có những đứa con trưởng thành ngoan ngoãn. Đã được
như vậy rồi mà không cam phận chắc là cái tâm còn động. Nhưng cái cảnh cái tình
ở mỗi người một khác.
- Em phải hiểu mợ một nách hai đứa con ở tuổi
dở dở ương ương lúc đó, lại một thân một mình bương chải xoay chuyện bán buôn
nơi phố chợ xô bồ, còn phải lo việc dạy bảo các con giữa phố phường nhốn nháo,
sức một người đàn bà làm sao chịu nổi. Với một người đàn ông trong cảnh về
chiều góa bụa cũng cần một nơi nương dựa. Bác là người đứng đắn, nghĩa tình, lo
cho hai đứa không khác gì một người cha thật sự. Anh Chu cũng không trách cứ gì
mợ và vẫn qúy trọng bác. Tiếc là anh ấy lại bỏ đi. Ai ngờ sẽ có ngày hôm nay
đâu?
Nhân Trí mắt đỏ hoe :
- Không chỉ một nhà mình đâu, mọi người trên
đất nước này sống vào thời buổi tai nghiệt qúa. Còn sống được là may lắm rồi.
Có thể Nhân Tín sẽ tưởng thằng anh làm hại thằng em. Nhưng nó không biết là
thằng anh cũng khổ vì thằng em nhiều lắm. Điều này không ai muốn thế mà tự dưng
cứ vận vào nhau. Em không giận mợ nhưng em thương cậu. Cậu lấn cấn với chuyện
công chuyện tư. Chung thành, chung thủy,
nặng tình, trọng nghĩa âm thầm kiềm chế lòng mình. Cậu không muốn các
con thiếu mẹ lại thêm cảnh thiếu cha nên cậu chịu đựng tất cả vì con. Mà trong
đó cũng có lỗi của chúng em .
Vài hôm sắp xếp việc nhà và để cho Nhân Trí có
thời gian suy nghĩ chín chắn, chị Nhài đưa các em sang thăm bác Tham.
Hai người đàn ông một già, một trẻ mau giữ
được thăng bằng và tỏ ra thông cảm với nhau. Ông giáo biết là Nhài đã nói đủ
rồi và Nhân Trí tỏ ra tế nhị không đụng gì tới chuyện mẹ mình nên ông cũng
không gợi đến làm gì. Lúc này ông mới cảm thấy việc bà giáo ra đi là đúng và
càng thương bà nhiều hơn. Mối quan hệ giữa hai bác cháu giữ được sự bình
thường. Anh hay qua thăm bác để biết tin về mợ và các em.
Khi chiếc xe mang phù hiệu công an xịch đỗ trước cửa nhà, mọi người hốt
hoảng chạy ra và không tin ở mắt mình. Nhân Tín tươi cười bắt tay người lái xe.
Anh còn đứng nhìn theo cho tới khi chiếc xe lẫn vào dòng xe chạy trên đường.
Quay vào nhà, thấy khá đông người đứng nhìn mình, anh tỏ ra lúng túng. Một
người mặc quân phục cách mạng chạy vọt ra ôm chặt lấy anh và reo lên:
- Em !
Nhân Tín đứng trơ ra vô cảm. Nhân Trí nắm chặt
hai vai em, mặt sát mặt nhau:
- Em không nhận ra anh sao?
Nhìn thẳng vào người đối diện, Nhân Tín đã
hiểu ra sự việc. Anh vẫn đứng ngây ra đó, miệng chỉ phát ra một tiếng:
- A… à!
Nhân Trí hơi bị hẫng vì nhiệt tình của mình
chỉ nhận được sự thờ ơ nhưng anh vẫn nắm tay em dắt vào nhà:
- Em ở đâu về đó?
Nhân Tín nhăn mặt vì câu hỏi vô tình mà có ý
tò mò làm anh thật khó trả lời. Anh chỉ đáp lại bằng một nụ cười khó hiểu.
Ông giáo biết rõ tính nết thằng cháu và tìm
cách gỡ khéo ra. Ông chỉ Yên Thịnh lúc đó là người lạ duy nhất:
- Đây là chị dâu của cháu!
Chú em trai liếc qua người chị dâu lúc đó cũng
mặc đồ bộ đội. Anh nhìn mọi người đứng quanh, tự dưng trong lòng trào lên nỗi
mặc cảm về sự thất thế ngay trong gia đình mình. Anh sẽ cúi đầu, nhếch mép :
- Xin chào! Toàn người cách mạng cả. Chỉ mình
tôi là ngụy!
Thủy Tiên chưa hiểu rõ sự tình:
- Vậy mà chưa ai có vinh dự được như Nhân Tín
đấy?
Đột nhiên anh cay đắng nhận ra vẻ tiều tụy âu
lo của mình trước những nét mặt hân hoan và ánh mắt vui vẻ của mọi người:
- Không biết tôi lừa cách mạng hay là cách
mạng lừa tôi?
Mọi người ngạc nhiên nhìn nhau. Chị Nhài xoa
dịu:
- Em đi đường xa, hãy vào tắm rửa, ăn uống,
nghỉ ngơi, cho lại sức đã.
Bữa cơm đoàn tụ mà tẻ nhạt. Nhân Tín không
muốn nuốt. Anh cảm thấy lạc lõng giữa những người thân. Nhân Trí hỏi mát:
- Chú còn nhớ cậu không?
Nhân Tín cười chua chát:
- Thằng chiến bại hỏi thăm người chiến thắng
chỉ để cầu xin một sự ban ơn!
- Chả lẽ cậu, mợ, anh chị và các em chia thành
hai phe đánh nhau sao? – Nhân Trí giận tái mặt.
Thủy Tiên không kìm được nữa:
- Trong nhà này không ai coi Nhân Tín là ngụy,
là thù, chỉ coi cậu như một đứa ham vui qúa trớn…
Tự dưng nước mắt cô chảy ròng ròng, giọng
nghẹn lại:
- Cậu có biết người chiến thắng phải chịu bao
nhiêu mất mát đau thương hơn những kẻ chiến bại không?
Ông giáo biết không thể đợi ở nó sự bình tĩnh
và tỉnh táo lúc này, xua tay nhắc mọi người không nói điều gì chạm tới Nhân Tín
nữa. Mỗi người tản đi trong tâm trạng buồn và giận.
Trong nhà này, chỉ có ông giáo hiểu Nhân Tín
và cũng chỉ có ông nói nó mới chịu nghe thôi. Còn nó sẽ làm như thế nào lại là
chuyện khác. Lúc chỉ còn hai bác cháu, ông giáo muốn thanh minh cho Thủy Tiên:
- Cháu biết không? Trong thời gian bị tù đày,
nó bị tra tấn hành hạ tới mức mất chức năng làm mẹ của người phụ nữ!
Nhân Tín tái mặt đi. Bác nói tiếp, giọng còn
xúc động:
- Anh Văn Khoa vì nó mà quyến luyến mãi. Vừa
mới bị gọi đi tập trung từ mấy hôm nay!
Nhân Tín tỏ ra lo lắng, phân trần với bác:
- Cháu chưa bao giờ nghĩ tới sẽ rơi vào tình
cảnh thế này!
- Cháu chẳng nên trách mình. Ngay đến viên
thái thú tân thời Mỹ cũng tái diễn cảnh Tôn Sỹ Nghị đang đêm cuống cuồng, không
kịp mặc áo giáp, nhảy lên ngựa không yên, cùng mấy tên thuộc hạ phóng qua cầu,
trốn lên ải bắc, để mặc đám tàn quân nháo nhào chạy theo đến nỗi sập cầu. Sông
Nhị Hà đầy những thây người chết! Bây giờ có khác chăng là nó còn kịp cuốn cờ
tót lên máy bay trực thăng chuồn thẳng ra tàu đợi ở ngoài khơi nhưng cũng để
lại bao nhiêu thây người nổi trôi trên biển và còn biết bao nhiêu thân phận bơ
vơ điêu đứng!
- Chẳng lẽ cháu phải ra trình diện, tự nộp
mình để chết rục xương trong trại cải tạo hay sao?
- Thế cháu còn quay lại đây làm gì?
- Cháu không thể bỏ mợ!
- Và vợ con anh thiếu tá đệ tử thuộc quyền nữa
phải không?
Bác như đọc được từ tâm những suy nghĩ của
mình, Nhân Tín cúi đầu im lặng. Bác nhẹ nhàng an ủi :
- Cháu tự làm khổ thân ngay cả lúc cháu tưởng
đời mình bay bổng lắm. Cháu đừng câu nệ mặc cảm qúa về thắng bại. Trong nhà này
không ai chống ai và có ai thắng ai đâu? Chỉ chung một niềm vui của sự đoàn tụ.
Tuy nhiên mỗi người có một tâm trạng riêng, một nỗi đau riêng.
Ông thở dài, đăm đăm nhìn đâu xa:
- Bác không có quyền gì nhưng bác có thể thanh
minh cho cháu và có cơ sở để cách mạng tin những lời bác trình bày.
- Họ chẳng tin ai đâu!
- Một điều rõ nhất là đã không có cuộc tắm máu
như người ta đồn thổi. Hồi thế chiến thứ hai, khi quân Đồng minh vào giải phóng
Paris, hàng chục ngàn người từng hợp tác với quốc xã Đức đàn áp người kháng
chiến Pháp, kể cả loại đĩ điếm, đã bị những người chiến thắng hành quyết ngay
trên đường phố mà không cần xét xử. Ngay cả thủ tướng chính phủ Vichy và một
ông nhà văn Bộ trưởng cũng bị đưa lên giá treo cổ, viên Thống chế già nua thì
bị đưa đi đày cho đến chết. Nhưng ở Sài Gòn này tuyệt nhiên không xảy ra chuyện
ấy. Sau ngày 30 tháng Tư, tại Tổng Y viện cộng hòa còn lại hàng trăm thương
binh quân đội Sài Gòn nhưng vẫn được đối xử tử tế, những trường hợp nặng được
chuyển dần sang các bệnh viện dân sự tiếp tục chữa trị, những trường hợp nhẹ
thì được cho về nhà trình diện với chính quyền mới ở địa phương. Những người
cầm đầu chính quyền cũ đều được phóng thích về với gia đình trong sự bình yên.
Không có sự trả thù của những người từng bị triệt hạ, đày đọa, khủng bố mới là
điều kỳ lạ. Cháu nên suy nghĩ chín chắn và tự quyết tương lai của mình.
- Nếu không có ông Tổng Thống nhẹ dạ cả tin
này thì chưa đến nỗi nào đâu!
- Chưa đến nỗi nào! Có nghĩa là ngay từ trong
ý thức, cháu đã không tin vào một tương lai mờ mịt của nó rồi. Lịch sử là những
sự kiện đã xảy ra theo quy luật của nó, không chấp nhận một sự “nếu” đâu. Sinh có hạn – tử bất kỳ! Người mắc căn bệnh
trầm kha, không chết nay sẽ chết mai, càng dai dẳng càng khổ cho cả người bệnh
lẫn người lành. Nuối tiếc làm gì!
Ông giáo biết Nhân Tín sẽ không ở lại nhưng
không thể làm gì cản được. Ông nói với các cháu trong nhà:
- Cũng không nên trách nó. Con người ta sống
trong hoàn cảnh nào thường bị chi phối bởi hoàn cảnh ấy, mấy ai vượt qua được
những ràng buộc của xã hội mình đang sống!
Ông chỉ vào Nhân Trí:
- Giả như hồi ấy hai đứa lớn theo mợ cháu vào
đây và hai đứa bé ở lại với cậu cháu ngoài ấy. Liệu bây giờ mỗi đứa sẽ thế nào?
Đó cũng là hiện tình chung của đất nước mình. Đừng vội vàng quy kết hay áp đặt
sự đổi thay tức thì về cách nghĩ, cách sống với người này, người khác. Nhất là
mỗi con người đều có lòng tự ái. Không biết tự ái thì không thể tự trọng. Nhưng
để lòng tự ái làm mờ con mắt thì sự tự trọng sẽ thành lố bịch. Phải biết thông
cảm, rộng lượng và chờ đợi nhau. Không gì qúy hơn lòng yêu thương, chia sẻ với
nhau lúc này.
Cuộc hội ngộ thật lạ kỳ. Chỉ một thoáng nhìn người đàn ông vượt biên bị
bắt, trung tá Nguyễn Thương với trí nhớ nghề nghiệp khiến anh mau chóng lấy ra
một khuôn mặt rất gây ấn tượng trong bộ nhớ. Anh cho thu thập đầy đủ hồ sơ và
hôm nay anh trực tiếp đối chất với con người này:
- Dường như chúng ta đã gặp nhau trong một
hoàn cảnh khá là đặc biệt?
- Tôi chưa từng gặp ông dù chỉ một lần!
- Anh có thể quên tôi. Nhưng tôi không thể
quên người từng giúp đỡ mình bất kể là điều lớn nhỏ.
Người bị bắt lạnh lùng:
- Nếu như mình đã giúp ai qua được bước khó
thì không cần nhớ làm gì.
- Thôi được rồi! Anh khai là thượng sỹ sư đoàn
23, đi tìm vợ con thất lạc. Người đàn bà nói giọng Huế với đứa con nhỏ khai là
vợ và con anh, hai người sống bằng nghề chạy chợ trời. Nhưng một số người trên
thuyền biết rõ qúa khứ của anh và họ khai ra anh rủ rê thậm chí bao cho họ chạy
tị nạn đến miền đất hứa. Chúng tôi tra cứu tàng thư và có đầy đủ hồ sơ của anh
còn lưu ở Bộ Tổng tham mưu và Nha
An ninh quân đội ngụy. Anh có biết
việc trốn tập trung cải tạo là chống lệnh của Ủy ban quân quản hay không? Lại thêm việc tổ chức vượt biên
trái phép này?
Nhân Tín cảm giác đầu óc u ám, quay cuồng. Chỉ
mấy tháng thôi, cuộc đới anh như một cánh chim tả tơi trong cơn xoáy lốc. Từ
một sỹ quan chỉ huy trên đà danh vọng bỗng chốc biến thành kẻ bại trận, trốn
chạy, dần mất hết người thân và bây giờ là tên trọng tội với một cái án mù mờ
xám xịt.
Biết Nhân Tín về thành phố, cô giáo Dạ Lan đến
tìm anh:
- Sự đời đảo lộn nhanh chóng vượt qúa sức
tưởng tượng, như một cơn ác mộng. Tôi có thể thoát thân một mình nhưng không dễ
quên lời hứa, bỏ mặc vợ con người đồng đội không may tử nạn. Bây giờ một thân
tôi cũng không biết sẽ trôi dạt về đâu!
- Mẹ con em trong cảnh bơ vơ. Dù có quay trở
về quê hương cũng không biết nương dựa vào ai. Đại tá là ân nhân, là nơi nương
dựa cuối cùng. Đêm ngày em cầu Trời phù trợ cho mẹ con em, cho Đại tá.
- Nếu tôi ở lại, chắc chắn sẽ bị đi tù không
biết có ngày ra. Chỉ còn cách duy nhất chạy đi theo đường biển nhưng như một sự
phó mạng cho đấng bề trên, lành ít dữ nhiều.
- Coi như Đại tá sống thì mẹ con em được sống,
Đại tá chết thì mẹ con em cũng chẳng thiết sống làm gì. Dành dụm được chút qúy
kim đây, em đưa hết cho Đại tá dùng lo vào những việc cần.
Bác giáo nói cháu tự làm khổ mình là đúng đấy.
Cánh cửa sắt trước mặt do anh dựng nên và bây giờ chính tay anh khóa chặt lại
rồi. Dù ai cũng muốn sống nhưng sống hèn thà chết sớm còn hơn. Anh tỏ ra ương
ngạnh:
- Các ông đã biết rõ rồi thì chẳng cần hỏi
thêm nữa làm gì. Tôi nhận đã đứng ra mua tàu và rủ người vượt biên.
- Từ ngày giải phóng, anh đã thấy một cảnh nào
chính quyền cách mạng đối xử tàn tệ với những người từng hợp tác với quân xâm
lược Mỹ chưa?
Nhân Tín cúi đầu im lặng.
- Giả định chuyến đi trót lọt, anh có tụ họp
đám tàn quân lưu lạc để tổ chức chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp hòa
bình thống nhất tổ quốc hay không?
- Đấy lại là chuyện khác. Tôi nói ra hoặc là
ông không tin, hoặc là ông nghĩ tôi nói lấy lòng chuộc tội. Biến động vừa rồi
to lớn qúa khiến mỗi người dù mê cũng phải tỉnh ra để nhìn lại mình và người
cho đúng. Tôi không muốn ngồi tù và thật tình không quen sống trong sự hà khắc
và ép thân xác của chế độ các ông. Tôi không phải là kẻ liều mạng, thí thân.
Tướng sỹ đồng đội của tôi, tôi biết rõ, không như quân đội của các ông sẵn sàng
quên mình vì lý tưởng. Bên tôi, lý tưởng là lý tài. Từ Tổng thống đến binh lính
đánh nhau chỉ vì tiền. Hẳn các ông đã nghe lời cầu xin tối hậu từ tâm can của
ngài Tổng tư lệnh tối cao của quân lực Việt Nam cộng hòa: “Người Mỹ đưa viện trợ nhiều thì chúng tôi đánh
nhiều, còn đưa ít thì chúng tôi đánh ít! Nếu
Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng,
một năm mà chỉ sau ba giờ chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc lập”! Còn chi thể diện một quốc gia? Còn đâu sức mạnh của một đội quân? Và
còn ai chỉ huy ai được nữa?! Ngoài số người phải sống theo thời thế hoặc để
kiếm cơm, có một số bởi thù hận riêng hoặc bản năng bạo lực, sẽ không thể nào
phất lên được ngọn cờ. Tôi chỉ muốn đi tìm một chân trời tự do cho mình được
sống yên thân. Tôi dự kiến trước những điều rủi ro sẽ đến với mình. Các ông có
quyền xử theo luật của các ông và tôi sẵn sàng đón nhận.
- Các anh nghĩ rằng chúng tôi xử lý sinh mạng
một con người đơn giản lắm sao? Trong khi cả gia đình nhà anh đều là những
người theo cách mạng, chân chính, rất đáng kính trọng.
- Tôi với họ chỉ có quan hệ huyết thống chứ
không có quan hệ gì trong công việc, thậm chí rất trái ngược nhau.
- Đó là chuyện riêng trong gia đình anh. Tổ
tình báo trong đó dân biểu, nhà giáo Phan An Phú là một thành viên tường trình
anh từng cung cấp nhiều nguồn tin quan trọng để báo cáo về trên, đã từng được
khen thưởng huân chương. Ở cương vị anh, đó không phải là một sự vô tình khi
anh thừa nhận là những người trong gia đình có quan điểm rất trái ngược nhau.
Là anh em, cùng sống trong một hoàn cảnh nhưng đại tá Chu đã có một lẽ sống
tỉnh táo hơn. Nếu anh Chu còn ở lại hoặc một lúc nào muốn quay trở lại, chúng
tôi luôn dang rộng hai tay ra đón và cùng sống trong sự cảm thông hòa hợp. Một
sỹ quan Quân giải phóng từng được anh giải thoát trong trận đánh năm Mậu Thân
cũng gặp chúng tôi xác thực. Khi thả người tù binh ấy anh có nghĩ như thả hổ về
rừng không?
- Khi ở hai chiến tuyến tôi chưa hề nghĩ mình
chịu thua đối phương và hành động quyết liệt. Nhưng trước một con người cụ thể,
tôi thấy không có lý do gì coi họ là kẻ cừu thù ngoài sự khác nhau về chính
kiến mà suy cho cùng cả tôi và họ đều không được tự mình lựa chọn. Tôi không
thể nào táng tận lương tâm.
- Đó là một nghịch lý! Tôi hỏi thêm anh một
điều vào lúc này có thể là không hợp...
Nhân Tín ngước lên chờ đợi.
- Dạo tết Mậu Thân anh làm việc bên cơ quan
MACV?
Anh ta gật đầu:
- Đúng… dưới quyền tướng Westmoreland?
- Các anh nghĩ gì về trận đánh lớn năm ấy?
Nhân Tín cười chua chát:
- Lúc ấy thì nghĩ rằng chúng tôi thắng… Lúc
này thì nghĩ rằng chúng tôi thua!
- Vì sao?
- Người Mỹ đã “bỏ dò lái” ngay từ đấy mà chúng
tôi thì quá ngây thơ!
- Sau sự kiện 30 tháng Tư, anh nghĩ gì về đối
phương?
- Trong những đêm dài mất ngủ, chủ yếu nghĩ
cách làm thế nào thoát khỏi vòng tay của các ông, tuy nhiên có lúc bật lên câu
hỏi lạ lùng…
- Cứ nói đi… đừng ngại, vì dù sao anh vẫn để
lại chút tình cảm riêng với tôi.
- Sau Mậu Thân, sự thiệt hại bên cách mạng
tưởng khó mà gượng dậy. Để lên dây cót tinh thần cho đồng đội, một nữ biệt động
quân nhận lệnh ám sát một nhân viên thám sát của chúng tôi từng gây khó cho các
ông tại cửa ngõ phía nam đô thành. Sự việc bất thành. Tòa án quân sự của chúng
tôi kết án 20 năm tù, vậy mà cô gái xuất thân học sinh độ tuổi đôi mươi đã thản
nhiên hỏi lại: “Liệu chính quyền các ông có tồn tại được tới lúc đó để bỏ tù
tôi”? Một phóng viên Nhật chớp đúng lúc cho ra một tấm hình có giá tung lên
các mặt báo toàn cầu…
- Đúng… chúng tôi gọi là “Nụ cười chiến
thắng”!
- Không… lúc ấy chúng tôi nghĩ Việt cộng giỏi
nhồi sọ… Vậy mà câu nói lại như lời tiên tri?!
- Không có gì lạ cả vì chúng tôi tin vào chính
nghĩa!
Trung tá Nguyễn Thương với thái độ cởi mở nhìn
người đang đối chất:
- Anh còn có nhiều thì giờ để suy nghĩ về
nhiều điều nữa… Chúng tôi sẽ tạo điều kiện cho anh cùng hướng về một nguồn cội
sâu xa.
Nhân Tín được dẫn lên một phòng khách đặc biệt. Ba người đàn ông và một
người đàn bà bật đứng dậy khi anh bước vào. Anh đứng trân trân chơ vơ giữa
phòng. Người đàn ông tóc bạc, cao, gầy và thiếu phụ trung niên xô đến với anh
nhưng Nhân Trí đứng bên đưa tay cản cha lại. Cẩm Nhung ôm lấy em khóc lên rưng
rức. Nhân Tín vẫn đứng y nguyên như cây cột giữa nhà. Ông Thanh ngồi vật xuống
ghế, lờ đờ nhìn vào khoảng trống trên trần. Bác giáo Phú nhìn hai cha con có ý
vừa thương vừa giục. Cẩm Nhung kéo ghế tới, hai chị em cùng ngồi đối diện với
cha. Chị vuốt tóc em nghẹn ngào:
- Sao em không nói với cậu một lời? Cậu vẫn
nhớ thương em lắm!
Nhân Tín úp mặt trong lòng hai bàn tay, người
anh rung lên nhưng không bật ra tiếng khóc.
Ông Thanh lả người trên ghế. Hai mươi năm
trước, ở bến cảng Hải Phòng, khi chiếc cầu tàu rập rình rút nhịp, ông vội vàng
quay chạy lên bờ mà thằng bé còn níu tay ông lại không muốn buông ra, nài nỉ: “Cậu đi với các con đi!”. Bao nhiêu năm, ngày đêm ông không lúc
nào quên nó, càng thương nó, lại càng ân hận tự trách mình không tròn trách
nhiệm với con. Dù có nghĩ tới một ngày đoàn tụ phải vất vả lắm để chỉnh sửa lại
nếp sống, nếp nghĩ của nhau nhưng ông không nghĩ tới cái sự rẽ chia nó khó
khăn, nặng nề, đau đớn, cay đắng, giận hờn sâu xa đến thế. Vợ không dám nhìn
chồng! Con không muốn nhận cha! Anh em nhìn nhau thờ ơ hờ hững! Không ai hiểu
được lòng dạ của ai mà không biết trách ai?!
Trung tá Hai Thương trầm tĩnh nói với gia đình:
- Đây là một trường hợp đặc biệt, chúng tôi sẽ
lưu tâm. Anh ta không phải là người xấu nhưng có cá tính mạnh mẽ, không dễ thuyết
phục nhưng khi hiểu ra sự thật sẽ biết tự quyết định cho mình. Cần có thời gian
cho anh ta suy nghĩ. Để cảm nhận tình thương của cộng đồng không là chuyện dễ
và cần nhiều thời gian. Nhưng đừng để cho một con người cảm thấy không còn tình
thương nữa ở trên đời này thì trước hết phải là gia đình. Từ đó người ta được
an ủi sẽ bình tâm lại và nhận ra điều phải, trái. Chúng tôi tạo mọi thuận lợi
để gia đình chăm sóc động viên anh ta.
Cô giáo Dạ Lan đến sạp vải của chị Nhài, nức
nở:
- Em được tha nhưng em không thể về quê bỏ anh
ấy được. Anh ấy vì em mà bị tù đày. Món nợ ấy em trả suốt đời cũng không xong.
Em xin chị cho em phụ giúp việc nhà, việc chợ để có điều kiện chăm lo anh ấy.
Chị Nhài về hỏi ý bác giáo. Bác bảo:
- Thằng bé háo thắng mà mã thượng, chứ như
người ta dông tuốt là xong. Cô ta không có gì đáng trách vì nếu cô ấy không đi
thì nó cũng không đời nào chịu ở lại đâu. Cô ta là con nhà tử tế, có học, có
tình, nửa đường gặp sự không may. Hai số phận không may nương dựa vào nhau có
thể mang lại sự quân bình cần thiết. Và đó cũng là nhiệm vụ của anh-em-bác-cháu
mình.
Nghe lời bác giáo, chị Nhài nhận mẹ con Dạ Lan
về nhà cùng ở, cùng lo việc nhà, việc chợ, tạo điều kiện và thời gian cho cô
thăm nuôi Nhân Tín.
Chị Nhài nói với Cẩm Nhung:
- Từ trước đến nay, bác giáo đã làm hết sức
mình không khác gì một người cha với hai em. Bích Liên ngoan, hiền, thuần tính
dễ bảo hơn.
Thủy Tiên cũng chạy đôn đáo lo cho Văn Khoa.
Người ta nghi anh có trong một tổ chức chính
trị nào. Cha anh là nhân vật nổi tiếng của Việt Nam Quốc dân đảng trước kia, đã bị cách mạng trừng trị từ
ngày khởi cuộc chiến tranh chống Pháp. Lớn lên, theo gia đình vào Nam, anh ta
có nhiều mối liên hệ với các lãnh tụ đảng của cha anh và nhiều bạn bè cùng hoạt
động với ông. Anh ta được người Pháp đào tạo, có nhiều mối giao du với giới
chức Pháp ở Sài Gòn. Những ngày cuối của chế độ ngụy, anh ta còn hy vọng thay
thế một chính quyền thân Mỹ bằng một chính quyền thân Pháp. Xét về nhân thân,
anh ta còn nhiều nghi vấn.
Thủy Tiên không chứng minh đươc Văn Khoa có
đóng góp cụ thể gì cho cách mạng. Cô nói với bác giáo. Bác giáo phải nhờ ông Ba
già là người có tiếng nói trọng lượng với cơ quan an ninh. Ông Ba là một nhà
tình báo già dặn, tiếp xúc rộng rãi với các đối tượng trí thức nội thành, ông
bảo:
- Anh ta tuy có bằng cấp cao về học vấn nhưng
còn ngây thơ về chính trị. Cả tin và nệ sách vở trong hoạt động xã hội giống
như việc tự mang dây cột vào mình, dễ oan uổng lắm.
- Cha nó ngày xưa cũng vậy.
- Cơ quan bảo vệ chính trị không dễ tin ai đâu
trong khi đã đến lúc ngay cả những người hoạt động giữa lòng địch lẫn lộn trắng
đen cũng đang bị rà soát lại. Tôi nhớ là anh ta còn mang quốc tịch Pháp, hãy
thử tác động theo đường ngoại giao vì lúc này cả hai bên đang muốn làm lành với
nhau.
Mẹ anh, cô Bảo Ngọc vào thăm con nhưng đành
bất lực vì ông Trịnh Huy đã hết thời và không muốn gợi lại chuyện cũ vì há
miệng mắc quai.
Thủy Tiên nghe theo lời khuyên ấy. Văn Khoa
còn lưu được giấy tờ chứng minh là ký giả đặc phái của một tờ báo lớn của Pháp
ở Sài Gòn. Có sự hợp tác theo đường ngoại giao, Văn Khoa được trả tự do nhưng
không có yêu cầu anh ta ở lại Việt Nam.
Văn Khoa vừa mừng vừa hy vọng. Anh bày tỏ lòng
mình muốn bảo lãnh cho Thủy Tiên cùng xuất cảnh.
Thủy Tiên hiểu tấm lòng anh chân tình với cô
ngay từ buổi gặp đầu tiên. Anh là người có thiện chí. Từ là người đứng ngoài
cuộc, bởi cảm tình với Thủy Tiên, anh có công trong việc cứu cô và một số bạn
tù ra khỏi nơi địa ngục trần ai Côn Đảo. Từ đó anh xích gần lại với phong trào
đối lập ở thành thị trong đó lẫn nhiều chính kiến, động cơ. Anh chưa hiểu hết
những biến động phức tạp của phong trào, những mưu mô toan tính sâu xa của các
đối thủ nên chỉ hưởng ứng nước đôi, không được ai tin và luôn bị nghi ngờ.
Thủy Tiên nhìn ra sự thật của cuộc chiến này
ngay tự gia đình của mình. Cô khinh bỉ sự giả dối và căm giận nhận ra vì đâu
mình côi cút bơ vơ. Từ cảm tình tới mức cô dấn thân ngày một quyết liệt vào con
đường tranh đấu. Tuy nhiên lòng cô không khỏi rung động trước tình cảm chân
thật của một tấm lòng hướng thiện. Anh ấy vốn là người tốt và sẽ dễ đồng cảm
với cô trong cách nhìn xã hội và trong cách sống. Tình cảnh hai người có những
nét giống nhau. Nếu như xuôi xả, cô không có lý do gì từ chối mối tình chân
phương ấy. Nhưng là con gái cô không đủ can đảm nói thật ra nỗi đau khi cơ thể
bị hành hạ đến nỗi thành khuyết tật của mình. Chính cô luôn phải nén lại để cố
quên đi nỗi bất hạnh âm thầm của một người phụ nữ không còn khả năng sinh sản
để được làm người vợ đem lại hạnh phúc cho chồng và cho cả chính mình. Trước
đây, cô đã chủ động gây dựng mối quan hệ thân tình giữa anh Văn Khoa với đứa em
họ Bích Liên. Cô thật khó xử thấy anh rất vô tư với tình cảm ấy. Và trong vụ
gặp nạn này cũng bởi anh quyến luyến vì cô. Để cho anh tránh được sự thất vọng
trước lúc chia tay, cô ráng lộ ra sự vui vẻ với lời hứa nửa vời :
- Em nghĩ Paris vẫn là thủ đô của ánh sáng và
được đến đó luôn là mong ước của em. Chỉ sợ anh không đủ can đảm để đón em
thôi!
Cô gửi anh chuyển thư tay tới Bích Liên, kèm
thư nhờ em gái trao lại cho anh, trong đó cô nói rõ sự thật về nỗi đau của mình
và không để thành nỗi đau của cả hai người. Có khi người ta phải từ chối một
hạnh phúc hiển nhiên để nhận một nỗi đau ngấm ngầm dày vò mãi suốt đời. Cô nói
với bác giáo:
- Em Liên có thể giữ cho anh ấy được thăng
bằng.
Ông giáo nắm chặt tay cháu, ứng mấy câu Kiều
an ủi:
- Giữa đường đứt gánh
tương tư / Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em! Lịch sử
không bao giờ xảy ra những sự việc giống y trang nhau nhưng có sợi tơ dây liên
kết chuyện xưa và nay thật là cảm động.
Ông là người cô luôn tin cẩn và thường hỏi ý
bác mỗi khi có sự gì vướng mắc:
- Đoàn thể muốn kết nạp cháu để giao cho việc
lớn hơn nhưng còn xem xét mấy điều: Một là xuất thân gia đình phức tạp. Hai là
chưa dứt khoát với mối quan hệ tôn giáo. Ba là thời gian trong tù có chuyện gì
khuất tất không? Toàn là những suy luận cắc cớ. Dù có giải trình cũng không hết
được những điều nghi vấn. Ngay cả với những người có xác minh tốt trong tù
nhưng khi về đời, được giao trọng trách vẫn có không ít đơn thư tố giác. Mỗi
người đều có một hoàn cảnh xuất thân nhưng cuộc đời là của riêng họ. Chúa thổi
vào các con của Người một linh hồn vốn thiện nhưng làm điều lành dữ là tự mỗi
con người. Chúa đã lựa chọn mười hai thánh tông đồ mà vẫn lọt tên Giuda bán
Chúa?
- Thế cháu có buồn không?
- Nói không là tự dối lòng vì nó cũng là thước
đo quyết tâm và ý chí của mình đi theo lẽ phải. Nhưng nói có là tự hạ thấp mình
xuống. Chả lẽ dám đem mạng sống của mình ra chỉ để đổi lấy phần thưởng đó hay
sao? Còn về tôn giáo, cháu nghĩ Chúa không liên can gì tới những tội ác của con
người mặc dù họ vẫn luôn mồm nói nhân danh Đấng bề trên. Đến ngày phán xét cuối
cùng sẽ sáng danh Đấng cứu thế!
Ông giáo ôm chặt cháu gái vào lòng, mắt ông
chớp chớp:
- Cháu bác lớn lắm rồi! Ngày bị bắt, cháu nói
những lời miệt thị anh-em-chú-bác trước lũ đầu trâu mặt ngựa, bác ngạc nhiên tự
hỏi ai dạy cháu những điều khôn ngoan như thế? Những điều cháu ứng xử với Văn
Khoa, bác nghĩ cháu biết hỷ-xả trong mọi việc riêng chung như một người chân
đạo. Chạy theo cái mồi nhử diện tiền là hạ thấp giá trị một niềm tin. Dù rằng
cái tâm người ta như con ngựa chạy giữa đồng hoang nhưng bác tin cháu đã vững vàng
dấn thân vì chân lý. Sống như thế mới thực là hướng tới điều Chân-Thiện-Mỹ.
Bác cảm phục cháu lắm.
ô
Chị Nhài thật không ngờ Hà Nội cổ lỗ mà xa lạ đến thế. Trên chuyến xe
lửa từ Nam ra, dù lòng chị nôn nao háo hức lắm nhưng càng gần chốn quen xưa,
chị càng có cảm giác dần mất đi ấn tượng đẹp lắm trong lòng. Dù đã nghĩ rằng
chiến tranh tàn phá nặng nề và người dân sống vất vả lắm nhưng chị không ngờ
miền Bắc tiều tụy và khốn khổ đến thế, hiển hiện trên cảnh vật, trên nét mặt
mỗi con người. Hà Nội như một người già suy kiệt nửa say nửa tỉnh, ngất ngưởng
trong ảo giác rực rỡ hào quang lại bừng tỉnh trong cơn đói khát giận hờn, tham
lam thèm muốm lại ngạo mạn khinh khi. Chị đến thăm hỏi vài chỗ thân quen, chỉ
nhận được sự tiếp đón thờ ơ nhạt nhẽo. Người nào cũng nói một kiểu như nhau,
vừa đãi bôi vừa khinh bạc. Phố phường một màu xám ngoét. Nhà cửa rêu phong tơi
tả. Người ta đi đường lộn xộn, nghênh ngang, văng tục chửi thề không biết
ngượng. Ngày rằm, đi lễ đền Quan Thánh mà người vắng hoe, lơ thơ, vội vã. Sập
chiều, tiện vãng cảnh Tây Hồ mà những gốc cây bờ cỏ từng cặp trai gái áo quần
chỉ một màu đen trắng, san sát tình tứ tự nhiên như chỗ không người khiến Cẩm
Nhung vội kéo chị lên xe đạp ào đi. Cả hai chị em đều biết ý, không dám hé răng
nói một câu nào.
Chị chỉ dám nói ra với cậu:
- Hà Nội khác xưa nhiều quá, như một thành phố
nào xa lạ!
Cậu hiểu ý chị, thanh minh:
- Người Hà Nội xưa còn mấy đâu. Phần lớn những
người không đi Nam, con cái lớn lên đều bị đưa đi các tỉnh xa. Số người lớn ở
lại không thất nghiệp thì thất thế, bương chải vất vả lắm mới sống được qua
ngày. Số đông hiện nay từ các tỉnh dồn về. Nhà cửa xây thêm chẳng bao nhiêu nên
sống dồn ép lại, giành nhau từng góc cầu thang, hành lang, xó bếp. Mình được ở
vậy còn may lắm chớ không ít nhà mấy chủ một phòng. Trẻ con lớn lên thả lổng
cho xã hội. Cha mẹ không bảo được con. Các em nhà mình được vậy là cậu rất
mừng.
- Sao các anh bộ đội miền Bắc vào chiến đấu ở
miền Nam dũng cảm và được bà con thương lắm ?
Ông Thanh thở dài không biết giải thích ra
sao.
Chị không dám về quê vì biết người thân cũng
chẳng còn ai vả chị rời quê lúc còn tấm bé giờ cũng không ai biết chị. Chị nôn
nao muốn gặp anh Nghĩa không chỉ để được nhìn anh mà còn để báo một tin chắc là
anh đau lòng lắm. Sau giải phóng miền Nam, anh và nhóm người mắc nạn lần lượt
được trả lại tự do nhưng anh không biết về đâu. Cơ quan cũ không còn trách
nhiệm với anh. Nhà chú chỉ còn ở phần trên gác, phần dưới nhà coi như gia đình
ông bạn Qúy Dân và cô Ngọt ngang nhiên chiếm dụng, anh không có chỗ chen vào.
Anh đành quay về lấy nơi an dưỡng làm nhà. Chị không thể chờ nhắn anh từ Bắc
Giang về Hà Nội được.
Từ xa, Cẩm Nhung chỉ chiếc xe lăn, Nhài không
kìm được mình như dự định ban đầu. Chị chạy xô tới, gục đầu vào ngực anh khóc
thật to như hai anh em bơ vơ côi cút giờ mới tìm gặp được nhau. Anh Nghĩa thật
sự xúc động vì cũng từ lâu lắm rồi, không có ai bộc lộ tình cảm của mình ra với
anh tha thiết tự nhiên trước mọi người như thế. Những giọt nước mắt của anh rơi
xuống má Nhài. Biết anh Nhỏ đã là con rể của bác Tham, chị càng thương anh
Nghĩa và càng thổn thức lâu hơn. Từ thuở niên thiếu, chị nhìn anh như một thanh
niên học thức và đứng đắn, vừa kính trọng vừa xa cách. Sau ngày được anh cứu
mạng trên con đường tuyệt vọng, hình ảnh anh là người vệ quốc quân đã thành gần
gũi thân thương nặng nghĩa nặng tình. Khi anh Nhỏ bằng cách nào đó vượt lên và
cố tình quên chị thì hình ảnh anh Nghĩa càng lớn lên, đậm nét hơn, thương yêu
tha thiết của một mối tình đơn phương thầm kín nén chặt trong lòng. Bao nhiêu
năm sống ở Sài Gòn, lúc nhớ về Hà Nội, chị lại nhớ tới anh và mơ hồ ao ước có
một phép tiên nào chị được gặp anh. Bây giờ anh hiển hiện trước chị đây, võ
vàng, tật nguyền, ngầm chứa một nỗi đau u uất. Lòng thương anh càng đậm hơn và
chị thấy yêu anh là trách nhiệm và hạnh phúc của mình.
Chị ở lại với anh một thời gian, vừa để được
chăm sóc anh, vừa muốn đón anh vào Nam với chị. Việc này phải có thời gian xin
phép cấp trên.
Chuyện về cái chết của một người con gái,
nhiều lần chị muốn nói ra nhưng vừa sợ anh buồn mà sâu xa trong lòng như có sự
gì khiến chị ngập ngừng khó nói. Nhiều lần lưỡng lự. Nhân một hôm anh kể lại
chuyện hồi chiến đấu, bị thương và những tình cảm của bà con ở trong Nam, chị
nói xa xôi:
- Ngày đó anh có quen ai ở Bến Tre không?
- Sao em biết ? – Anh ngạc nhiên hỏi lại.
- Em tìm hộ một người quen.
- Người ấy tên gì?
Nhài lục từ đáy túi xắc, đưa ra tấm hình chị
vẫn giữ kỹ bấy lâu nay. Anh thương binh ngồi giữa một bà già và một cô con gái,
phía sau là những đôi nam nữ quàng vai nhau vui vẻ. Anh giật vội lấy tấm hình.
- Sao em có nó đây?
Lật ra sau, dòng chữ hơi mờ nhưng còn rõ nét: Miền
Bắc trong tim tôi – Út Nước! Tay run
lên, anh không giữ được sự trầm tĩnh nữa:
- Trời ơi! Út Nước! Hương Thủy đây! Sao em lại
có hình này?
- Em chỉ biết người này là ni cô Diệu Hương,
còn kêu là Út Ngoan!
Nhài nghẹn ngào kể lại những kỷ niệm về người
con gái Bến Tre và cái chết gây chấn động của người nữ chiến sỹ biệt động thành
ngày ấy. Chị không dám nhìn anh:
- Em nhớ mãi nét mặt và ánh mắt khi Út nói lời
cuối cùng trước lúc chia tay: Em cầu mong một ngày
nào ảnh sẽ hiểu em!
Anh ngồi như pho tượng đá mà nước mắt chảy
ròng ròng…
Thư của anh bạn Lê Quốc Trung ở bộ phận bảo vệ
chính trị nội bộ báo cho biết là bên Tổ chức không đồng ý cho anh Hà Giang vào
Sài Gòn ở thời điểm này dù đã bỏ lệnh quản chế với anh mà không cần giải thích
lý do. Cho đến lúc này, anh Hà Giang vẫn chưa biết chồng của Hương Giang chính
là anh Trần Quyết Tâm tức là anh Trần Thanh Nho, anh Nhỏ. Chị Nhài được cậu và
các em dặn phải dấu kín chuyện này. Chị càng thương anh và chỉ nói bóng gió
thôi :
- Em nghe nói vợ chồng chị Hương Giang làm lớn
lắm mà. Chị ấy đang làm thủ tục cho bác Tham Phú sang Paris với mợ. Ngôi biệt
thự ở Sài Gòn, bác sang tên cho con chị ấy. Người thường có làm như thế được
đâu?
Anh lảng đi:
- Thôi, em cứ về! Anh sống vậy quen rồi.
Chị Nhài chia tay anh bịn rịn day dứt lắm :
- Vậy là Trời còn thương em. Cho em được chăm
sóc anh suốt đời!
Tuy nhiên anh chị đều không biết anh Trần
Quyết Tâm là người có vai trò quan trọng trong vụ án của anh.
ô
Điều bất ngờ đến nỗi bàng hoàng không ai có thể đoán ra là đống tro của
cuộc chiến trước vẫn còn hực nóng, đã bùng ngay lên ngọn lửa của một cuộc chiến
khác đơn thương dai dẳng ở cả hai đầu đất nước.
Chỉ ba ngày sau khi ta giải phóng miền Nam,
quân Khmer đỏ có người bảo trợ đã ào
sang chiếm đảo Thổ Chu ở mãi ngoài khơi, đánh đảo Phú Quốc và một số vùng ven
biên giới, cướp bóc, tàn sát dã man hàng ngàn thường dân không trừ người già,
đàn bà, con trẻ. Từ đó cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía tây-nam càng mở
rộng dằng dai và khốc liệt .
Đến lúc nhận rõ bản chất phản động tráo trở
của chính quyền Campuchia dân chủ, quân đội Việt Nam cùng với những người Khmer
chân chính không chấp nhận chế độ diệt chủng và phản bội phối hợp phản công.
Bè lũ phản động khủng bố và hiếu chiến Pôn pốt
vừa bị đánh một trận như bầy chim tan tác thì ngày 17 tháng 2 năm 1979 “người
bạn láng giềng vĩ đại phương bắc” cả giận “tên tiểu bá phía nam hãnh tiến”
dám “vuốt râu hùm” liền kéo hơn ba chục vạn quân chính quy có hàng ngàn xe
tăng, đại pháo, máy bay yểm trợ cùng hàng chục vạn dân binh ào ạt tràn qua hàng
ngàn kilômét đường biên giới thuộc sáu tỉnh địa đầu, ra đòn răn đe và cũng là “món quà ra mắt” làm vừa lòng ông bạn Mỹ
mà họ ve vãn từ lâu!
Cuộc chiến tranh tổng lực chỉ diễn ra chưa đầy
một tháng thì Trung Quốc lui quân. Vì sức đề kháng mạnh mẽ của quân đội Việt
Nam? Hay vì chột dạ trước cuộc động binh khổng lồ chưa từng thấy của các lực
lương vũ trang Xô viết áp sát biên giới Xô-Trung cùng lúc các chiến hạm dồn về
biển Đông theo Hiệp ước hợp tác toàn diện Việt-Xô 1978? Tuy nhiên cả hai bên
đều tuyên bố thắng lợi vì đã đạt được mục tiêu chiến đấu! Nhưng với người Việt
Nam sau đó là cuộc chiến tranh giữ gìn biên cương diễn ra ở cả hai đầu đất nước
dai dẳng hàng chục năm hao người tốn của gần như là kiệt sức!
Ông Thanh tóc bạc nhiều, người võ vàng, ngồi
thừ ra, để mặc cho hai hàng nước mắt rơi lộp bộp xuống tờ thư của thằng Nhân
Trí ông cầm hờ hững trên tay. Cẩm Nhung và cô Thảo Tâm khóc sùi sụt không biết
nói gì.
Cậu ơi !
Xin cậu tha lỗi cho
con.
Tại sao người ta lại
ấn khẩu súng vào tay con lần nữa? Trong khi bao nhiêu kẻ nhởn nhơ ngồi trong
các giảng đường đây đó lúc chúng con đang lăn lóc ngoài mặt trận, bây giờ họ
vẫn quanh quẩn nhàn cư hưởng lộc, chờ thời thăng tiến
Chẳng lẽ con lại đi
chiến đấu để vợ con lại vất vưởng đi tìm chồng giữa nơi bom đạn? Đến khi trở về
không được vào ở nhà mình và bơ vơ thất nghiệp! Để nếu không chết, con sẽ lại
đi khắp nơi cầu cạnh xin việc trước những con mắt thương hại hoặc coi thường?
Con đã từng coi thường
cái chết nhưng bây giờ con nhận ra để cho người coi rẻ mạng sống của mình là tự
khinh mình. Khi cầm mảnh giấy quyết định tái ngũ trên tay, con mới nhận ra sự
giả dối, vô cảm với sinh mạng một con người lại nhân danh một trách nhiệm chung
cao cả. Ai cũng chỉ lo giữ yên thân mình. Con không thể bình tĩnh được. Người
lính, trong cơn giận dữ lại có khẩu súng trong tay, dễ thành kẻ sát nhân.
Không có nơi nào là
miền đất hứa với kẻ phản bội, hèn nhát, lười biếng, hưởng lạc, viển vông. Con
đi tìm sự công bằng dù chưa chắc có thấy không nhưng ít ra cũng là một sự đổi
thay! Con chấp nhận mọi sự hiểm nguy và gian truân thử thách. Dù phải gửi xác
giữa trùng khơi có khác gì các bạn con đã gửi xác nơi xó rừng, bờ ruộng hay
dưới những nền nhà, góc phố đâu?
Con không mắc nợ hay
xấu hổ với ai. Con chỉ mắc nợ và ân hận đã không thể làm gì chia sẻ bớt những
nỗi khổ đau riêng chung trong lòng một người cha, để một mình cha âm thầm chịu
đựng suốt đời.
Con xin cậu rộng lòng
tha thứ cho sự ngây ngô thơ dại của những đứa con, đến khi hiểu ra nỗi đau của
cha thì đã muộn rồi.
Con – Nhân Trí.
Ông cảm giác như mình lơ lửng trên mây.
Người ta nói đời người ngắn ngủi mà sao một
đời ông chứng kiến bao nhiêu chuyện bể dâu, không chỉ ngoài đời mà ngay cả ở
nhà ông, trong cuộc đời ông.
Cuối thế kỷ XIX, sau khi người Pháp bình định
xong ba nước Việt, Miên, Lào, lập nên nhà nước Đông Dương thuộc Pháp gọi là
Indochine (mảnh đất nằm giữa Ấn độ và Trung hoa) gồm năm vùng lãnh thổ:
Cochinchine (Nam kỳ) – An Nam (Trung kỳ)–Tonkin (Bắc kỳ)–Laos–Cambodge, đặt
dưới sự cai trị chung của một viên Toàn quyền. Ở Nam kỳ là viên Thống đốc, ở
Campuchia và Trung kỳ mỗi nơi một viên Khâm sứ, riêng Bắc kỳ và Lào có một viên
Thống sứ coi chung và ở mỗi tỉnh là viên Công sứ đều do Tổng Thống Pháp cử
sang. Ngày còn trẻ, làm ở phủ Toàn quyền, đôi lúc ông tháp tùng các quan tây đi
công cán qua Viên chăn, Nam Vang, cộng sự với những người Lào và Khmer vui vẻ.
Ngày nhân dân ba nước nổi lên ủng hộ lẫn nhau
chống Pháp tái xâm lược, những người Việt minh với Itsara (Mặt trận Lào yêu
nước), Itsarăc (Mặt trận Khmer yêu nước) gắn bó thật thân tình. Sau hiệp nghị
Genève, nhân dân ba nước càng đoàn kết chặt chẽ trong liên minh kháng chiến
chống đế quốc Mỹ kéo dài hai mươi năm nữa. Quân giải phóng Việt Nam là đội quân
xung kích luôn có mặt trên khắp chiến trường ba nước Đông Dương. Chiến thắng
toàn diện của Việt Nam cũng là tiền đề cho thắng lợi toàn diện của hai nước
láng giềng đặc biệt phía tây.
Thế mà bạn biến thành thù. Ân tình chuyển
thành oán hận. Lòng người đời bất trắc? Hợp tan, tan hợp là cái vòng biến hiện
của đất trời, của cõi nhân gian này.
Xưa nay, những kẻ ngông cuồng hoang tưởng háo
danh lại hành động nhân danh một mục tiêu cao cả sẽ là tai họa khôn lường, có
thể hủy diệt mọi thứ và đẩy lùi lịch sử.
Ai ngờ, ngay khi chiếm được Phnompênh, chính
quyền Khmer đỏ nhận được lời khen kích
động của lãnh tụ tối cao: Một lúc đồng thời hoàn thành ba cuộc cách mạng vĩ đại
phản đế, phản phong và vô sản! Họ hăng lên tiến hành cuộc trừng phạt giai cấp
theo tinh thần chuyên chính vô sản truyền thống, thật ra là diệt chủng, xây
dựng xã hội theo kiểu công xã Ankar và ôm mộng phục hồi đế chế Phù Nam – Chân Lạp, hướng sang Việt Nam,
điên cuồng phát động cuộc chiến tranh xâm lược?
Ba năm liền, bè lũ Pôn pốt, nội bộ thì thanh
trừng triệt hạ lẫn nhau đồng thời hủy diệt xã hội bằng những hình thức tàn sát
man rợ hơn hai triệu người dân của chúng, sát hại trí thức, nhà sư, những người
buôn bán. Đồng thời thường xuyên tấn công suốt dọc gần một ngàn kilômét đường
biên giới biển và bộ, hoặc khủng bố bằng đạn cối-pháo bắn qua, hoặc có chỗ cho
bộ binh tiến hàng chục kilômét sâu vào lãnh thổ Việt Nam, giết hại thường dân,
đốt phá nhà cửa, đình, chùa, nhà thờ, nhà thương, trường học, cướp bóc, phá
hoại mùa màng làm cho hàng chục ngàn hecta ruộng bị bỏ hoang trong khi nguồn
lương thực nước ta đang rất thiếu.
Ý đồ này được hoạch định từ đâu? Nó âm ỷ và
phát lộ dần ra mà ta thì chủ quan cả dạ tin người. Nếu không có chỗ dựa vững vàng
thì chúng không dám làm liều như thế và tin rằng Việt Nam không làm gì được
chúng!
Hai miền Nam-Bắc Việt Nam bao lâu phân ly như
hai quốc gia đối địch. Súng đạn, gạo tiền đều do người ngoài chu cấp. Bây giờ
dù mấy nhịp cầu trên sông Bến Hải đã được khai thông nhưng đồng ruộng hoang
phế, nhà máy không có nguyên liệu với những máy móc cổ lỗ, hàng chục triệu
người thất nghiệp, trắng tay, bị bỏ rơi, không ai cứu trơ, cùng những di hại
vật chất, tinh thần của cuộc chiến tranh không dễ giải quyết một sớm một chiều.
Lẽ ra cần tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển để người dân tự bương
trải nuôi nhau thì lại đưa mô hình kinh tế tập thể kế hoạch hoá đã bộc lộ sự
trì trệ và có nguy cơ đổ vỡ, khiên cưỡng áp đặt rộng ra cả nước, càng làm cho
xã hội sa sút nhanh hơn về mọi mặt.
Người Mỹ còn ôm mối hận, vừa dùng áp lực ép
các nước đồng minh phong tỏa cấm vận Việt Nam, vừa kích động người di tản tới
miền đất hứa. Lại thêm hàng triệu người Hoa từ bao đời vẫn sống yên ổn như một
bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bỗng dưng biến thành đội quân thứ năm nằm vùng nguy hiểm. Làn sóng di tản càng ào
ạt trào lên suốt dọc đường biên bộ và biển cả nước gây nhiều thảm cảnh. Dư luận
thế giới trước đây nhiệt tình ủng hộ Viêt Nam, nay trở cờ tẩy chay, lạnh nhạt.
Các nước thù địch càng được nước.
Hòa bình, thống nhất là nỗi mong ước trong
lòng mỗi người, càng khát khao khắc khoải trong ông suốt hai chục năm trời.
Nhưng khi nó đến lại mang cho ông bao nhiêu đổ vỡ. Nghĩa tao khang không dễ
nhạt phai nhưng thương nhớ làm gì khi thuyền tình bà đã cặp bến người. Bé Bích
Liên coi như yên phận, ông chỉ mong gặp mặt xem con thế nào thôi vì lúc cha con
xa nhau nó còn bé qúa. Nhưng thằng Nhân Tín vẫn ở nơi cải tạo, ông không biết
lo sao. Nỗi long đong vất vả của thằng anh nó, ông lo chẳng đáng gì. Vợ nó trở
về bị mang tiếng là đào ngũ, không nơi nào nhận, thậm chí không được nhập hộ
khẩu vào nhà cha mẹ nơi nó sinh ra. Nhân Trí được rời quân ngũ nhưng lại trả về
nơi nó ra đi nhập ngũ. Muốn về Hà Nội phải có thế lực mà cả hai thứ ông đều
không có. May nhờ nơi quen cũ là giáo sư Bửu Quốc đỡ cho, con ông mới được về
một bệnh viện ở Thủ đô. Chưa an cư thì lại đến cái sự này. Cha con ông đều bế
tắc khi người ta đưa ra cái lý là Tổ quốc lâm nguy, lại còn tán dương những
chiến sỹ đã qua thử thách chiến trường như nó là vô cùng qúy giá lúc này! Nó đã
lăn lóc từng trải rồi, tự nó nhìn ra những điều ngang trái. Điên giận mà có vũ
khí trong tay dễ chuốc vào mình tai họa. Tấm gương bạn nó rành rành ra đấy. Anh
ta là giáo viên, nhập ngũ, vào Nam đánh giặc. Thoát chết trở về. Cửa nhà nhếch
nhác. Long đong xin việc. Lận đận vợ con. Lại có lệnh lên đường tái ngũ. Lại
gian truân biên trấn ải xa. Đứa con trọng bệnh phải đưa vào viện. Chẳng quen
ai, chẳng quyền thế gì, lo lắm. Anh được phép về thăm con. Vợ chồng nghèo nhưng
cũng bóp bụng kiếm chút qùa mọn, chỉ mong được sự quan tâm của các ông thầy áo
trắng. Thế mà lúc quay lại thăm con, người ta chỉ xuống nhà xác mà tìm! Anh
phát điên lên. Ông thầy lại đôi co lý sự. Không ai chịu nhịn ai. Tới mức mỗi người
đều giơ ra cái oai của mình. Nhưng cái oai của kẻ có súng trong tay là điều
người khôn lẽ ra phải tránh. Mà ông thầy không sợ! Ông ấy du học tây về, lại là
con rể một vị quan lớn hàng cột trụ triều dình. Không có lý gì để gỡ tội sát
nhân nhưng người ta thương anh bị nhiều ức chế, dồn nén tới mức bung ra làm
điều manh động!
Ai nghĩ sao mặc họ, ông tin con ông không là
người xấu. Nó đi tìm lối giải thoát. Có ai dám nhận lỗi về mình đâu. Ông chỉ lo
có một điều… Nói dại!
- Con bé mang thai mấy tháng!
Lời nói trong tiếng nấc nghẹn của con gái làm
ông bị hẫng như rơi từ trên trời xuống, bừng tỉnh lại. Hai vợ chồng nó may ra
còn chịu được. Đứa bé mới là một hình hài thì mong manh lắm! Ông càng đau đớn
thương đứa cháu nội chưa ra đời đã chịu nhiều nghiệt ngã. Sự im lặng làm cho
căn gác mênh mông qúa, nỗi trống trong lòng dâng lên, mỗi người đều muốn níu
nhau gần lại. Cẩm Nhung giọng trang trọng, chân thành nói với hai người lớn:
- Cô ơi! Em cháu xin lỗi cậu mà cũng là xin
lỗi cả cô! Cô tha lỗi cho chị em cháu! Chúng cháu trẻ con, nghĩ cuộc đời đơn
giản quá. Để cậu và cô nhìn các con cháu càng thương càng ngại. Bây giờ chúng
cháu mong muốn cậu và cô… sống gần với nhau đi! Để chúng cháu được sửa lỗi. Để
em cháu dù ở đâu, dù gặp điều may hay rủi nó cũng mát lòng. Từ lâu cô chăm
chúng cháu như con. Bây giờ cho chúng cháu được trả nghĩa cô như mẹ! – Cẩm
Nhung thổn thức gục đầu vào lòng cô.
Ông Thanh nhìn Thảo Tâm và con gái, ông nói
trong hơi thở dài nuối tiếc:
- Giá như trước kia nên chuyện thì tôi còn
giúp được cô. Bây giờ không dưng cô thêm trách nhiệm. Tôi chỉ quàng lên vai cô
thêm gánh nặng.
Cẩm Nhung nói như van vỉ:
- Không biết thế nào là muộn là sớm cả. Chỉ
biết ông Trời còn dành thời gian cho mình làm những việc cần làm.
Cô Thảo Tâm an ủi Cẩm Nhung như dỗ trẻ con:
- Làm được điều gì đỡ cho các cháu thì cô
không từ.
Cô nhìn sang ông Thanh, ý muốn nhắc lại lời đó
với ông.
ô
Ông Thanh và cô Thảo Tâm cùng bác giáo Phú đi thăm Nhân Tín. Hai ông vẫn
giữ lòng quí nể lẫn nhau. Bây giờ họ dễ tâm tình hơn về mọi chuyện, chỉ trừ ra
một chuyện mà cả hai người không ai muốn nói. Dường như có sự bình đẳng từ
trong tâm thức. Ông Phán cảm thấy gần gụi và dễ nói hơn với bậc đàn anh và rõ
ràng ông Tham có sự nể trọng người em hơn trước.
Ngay khi mới trở về, Nhân Trí nói lại với cha
và chị chuyện mẹ tái duyên với bác Tham, rồi sau đó không ai nhắc tới nữa ngoài
một sự đổi thay duy nhất là tấm hình đôi cha mẹ treo bên bàn khách, Cẩm Nhung
lặng lẽ cất vào trong tủ. Chị Nhài không dám động tới nhưng luôn kể chuyện tình
cảm của bác giáo với Nhân Tín. Lần nào chị cũng nhấn lại một câu:
- Em nó vẫn là người tốt. Nếu không có bác
chưa chắc em được như vậy đâu!
Trước khi xuất cảnh, bác giáo làm một chuyến
thăm này, ông Thanh hiểu điều ấy. Chuyện tình nghĩa vợ chồng tan vỡ, ông không
trách bà cũng không giận bạn. Người như ông, vào tuổi ấy đã chủ động được tình
cảm trước mọi sự đời. Ông tâm sự với các con:
- Qua cuộc chiến tranh này, cả nước mình, trừ
lũ láu cá ra, ai cũng bị mất một điều gì lớn lắm. Tuy nhiên mỗi người mỗi cảnh,
không dễ thông cảm với nhau đâu. Ngay trong nhà mình đã thấy. Điều an ủi duy
nhất là cha con ta thoát ra được mà thân thể vẫn an lành. Nỗi đau mỗi người tự
chịu. Thật khó quên nhưng giải được đến đâu làm lòng mình nhẹ bớt đi. Bụt dạy: Hành giả trên đường đừng ngoái đầu nhìn lại,
cứ nhìn phía trước mà đi.
Trong tâm, nghĩ đến cảnh xảy đàn tan nghé, ông
nhận trách nhiệm về mình. Nhưng ông không có tâm trạng của người cứ âm thầm đau
đớn ôm trong lòng mãi nỗi đau để âu sầu nuối tiếc hay ân hận. Ở đời ai cũng tính
sự hay chứ không ai muốn nhận vào mình sự dở. Dòng đời khác chi một dòng sông.
Lúc hiền hòa êm ái. Lúc dữ dội thác ghềnh. Mỗi người như vật phù du nổi trôi
trên sóng nước. Người tài vào dòng thác lũ khó giữ được mình. Kẻ hèn gặp lúc
gió lặng sóng êm dễ dàng cập bến. Càng sống lâu ông càng thấy đời người thật
ngắn và lòng ông càng bình thản với những gì xảy đến. Giả như được sống lại thì
ông chỉ nhắc mình chớ bon chen, đừng chịu nhục, quên mọi giận hờn và tránh xa
điều ác. Muôn thuở vẫn là biết trọng điều liêm-sỷ.
Đường lên Sơn La gập gềnh đèo dốc. Đột nhiên
Thảo Tâm xướng lên bài ca dao cũ:
Chém cha cái lũ thực
dân
Không dưng mày nỡ xua
quân hại bà
Đàn ông đánh giặc xa
nhà
Để cho bà phài xông
pha chiến trường
Gặp nhau giữa chốn đèo
mây
Kẻ đây người đấy giãi
bày… lòng son
Cho dù cách trở nước
non
Ước gì em có đứa con
cho chàng.
Con đường lên Tây bắc ngày xưa! Ông Thanh nhìn
Thảo Tâm, nhìn ra cảnh rừng núi âm u. Những người ngày ấy chưa mất hết. Như
ông, như cô Thảo Tâm đây, như ông bạn Qúy Dân, như cô Ngọt đấy. Con người ta có
lúc vụt sáng lên như sao băng rồi lại là đêm tối. Nhưng kia… Ông nhìn lên trời,
trong ráng chiều muộn vài ngôi sao le lói, một cánh chim miệt mài vỗ cánh.
Chiếc xe nghiêng ngả, ông nhìn xuống… Con đường chon von cheo leo bên bờ vực thẳm…
Ông buột ra ý nghĩ cùng lúc buông tiếng thở dài:
- Đời là như thế!
Ban chỉ huy Trại cải tạo không gây khó khăn gì
với trường hợp của trại viên Nhân Tín. Anh ta chạy đến ôm chầm và gục vào vai
bác trước khi cảm động nắm tay cha và cô lắc lắc. Ông Thanh càng nhận ra lời
của Nhài là đúng. Lần trước ông lên đây, nó ngạc nhiên lắm, ấp úng mãi mới bật
ra được lời: Chào cậu!
- Chúng tôi được báo đây là trường hợp đặc
biệt. Nhưng anh ta không hề kể công, trái lại còn tỏ ra khó hiểu. Anh ta hoàn
thành công việc được giao lại còn giúp đỡ một số trại viên khác nữa. Anh ta ham
đọc sách báo nhưng hay nghi ngờ. Học tập, anh ta chịu khó ngồi nghe nhưng khi
thu hoạch thì viết ra như thế này…
Anh cán bộ quản giáo đưa ra tờ giấy viết tay,
đúng là chữ của Nhân Tín rồi :
“… Trước đây tôi không
nghĩ là người Mỹ xâm lược Việt Nam. Họ giúp miền Nam giống như người Nga, người
Tàu giúp miền Bắc. Hai miền chủ nghĩa khác nhau thì đừng ai ép ai. Bây giờ tôi
mới rõ ra lịch sử nước nhà phức tạp. Thống nhất đất nước thì cũng tốt nhưng theo
chính thể nào thì người dân phải được quyền tự do lựa chọn. Không ai đứng ra
lựa chọn thay cho dân được. Cái chính thể của miền Nam trước đây tôi không ưa
nhưng chính thể của các ông chúng tôi cũng sợ. Những chuyện ở Nga, ở Tàu, ở
miền Bắc có thể bị giới tuyên truyền phóng to ra nhưng không phải là vô cớ. Chỉ
cần một phần trăm sự thật cũng không ai muốn bị vô tròng. Nhân dân ta không chỉ
một lần thắng quân xâm lược. Bởi thời nào cũng có nhiều người yêu nước. Người
nào có lòng tự trọng đều yêu nước. Trong gia đình tôi không có ai là cộng sản
nhưng không ai ưa Pháp và Mỹ, có thể gọi là yêu nước được không? Tôi cảm nhận
mỗi người âm thầm làm một việc gì đấy khác tôi. Nhưng tôi không quan tâm vì tôn
trọng tự do của họ. Tôi làm sỹ quan quân đội cộng hòa thì phải hợp tác với
người Mỹ vì họ đỡ đầu mình. Họ giàu có, nuôi mình, lại là nước văn minh tiên
tiến cả thế giới đều phải học thì mình cũng phải học và làm theo họ. Chiến
tranh nhiều khi xô đẩy người ta đứng ở chiến tuyến bên này hay chiến tuyến bên
kia. Chiến trường không phải là nơi để suy nghĩ về cái ác và cái thiện. Trước
hết cần phải sống nghĩa là phải thắng. Không ai muốn để mình thua. Khi có vũ
khí trong tay chỉ kẻ hèn nhát hay là phản bội mới nghĩ tới chuyện đầu hàng.
Tuổi trẻ tự ái cao càng hiếu thắng chứ tôi không nghĩ là mình chống lại dân tộc
và gây tội ác. Bây giờ bình tâm suy nghĩ mới thấy là mình nông cạn. Nhưng hoàn
cảnh đất nước như thế hỏi sao chúng tôi có thể làm khác đi. Số người có điều
kiện đi theo cách mạng ít lắm, có thế chính quyền mới bắt được quân. Ngoài ra
ai cũng phải làm ăn buôn bán để kiếm sống, thế là làm cho giặc?! Con người ta ở
bầu thì tròn ở ống thì dài biết làm sao được! Bây giờ chúng tôi chỉ muốn các
ông định án rõ ràng. Cấp nào thì chịu “bóc lịch” mấy năm? Chứ nói chung chung
ai tiến bộ sẽ được về sớm thì mơ hồ lắm. Tiến bộ là thế nào? Bị giam, bị mất
quyền công dân mà không được nói là bị tù. Cái đứa nói theo các ông chưa chắc
đã là tiến bộ. Có mấy thằng ngày xưa tôi đã không ưa. Chúng giỏi nịnh lắm.
Không có ngày 30 tháng Tư sẽ có thằng lên tướng mà không hề biết mùi khói đạn
thế nào. Chẳng lẽ cứ lúc nào được tha coi như là được hưởng ơn ân xá trong khi chưa biết
mình tiến bộ tới đâu! Khi được ra khỏi trại, tiếp xúc với xã
hội, biết hay dở ra sao tôi mới có thể nói yêu hay không yêu được chớ…”
Chờ cho khách đọc hết Bản thu hoạch dài, chủ
giải thích thêm:
- Anh ta là trại viên có ảnh hưởng ở đây.
Trong chúng tôi có người đề nghị cho anh ta chuyển qua trại khác có chế độ quản
lý chặt chẽ hơn. Nhưng chúng tôi nghĩ người này có cá tính mạnh, khó thuyết
phục nhưng suy nghĩ có chiều sâu, hiểu ra điều gì là chắc chắn. Trong khi xã
hội bên ngoài còn nhiều phức tạp dễ chao đảo lắm, cần có thời gian để anh ấy
suy nghĩ. Ở Liên xô, bọn cu lắc, bọn mensêvich, bọn chống đối không chịu cải tạo
thì cứ ở Xibêri mãi. Cách mạng Trung Hoa thành công từ năm 1949 mà tới năm 1976
mới thả hết số sỹ quan Tưởng Giới Thạch cần cải tạo. Chúng tôi không đày ải
trại viên, chỉ yêu cầu họ lao động cải thiện đời sống thôi. Anh nào yên tâm
vững chí vẫn sống được. Chỉ tiếc cho số anh đêm ngày nghĩ quẩn, lo âu sợ hãi
làm xằng thì chóng hao mòn lắm. Trong khi môi trường tự nhiên khắc nghiệt thế
này. Chúng tôi cũng sống trong điều kiện ấy vô thời hạn. Ngồi đây là tình đồng
chí, nói cho vui thôi. Họ tù trong. Chúng tôi tù ngoài! Nhiều anh có viện trợ
gia đình còn sướng hơn chúng tôi phải gom từng đồng lương, lạng đường, hộp sữa,
tí mì chính, hột tiêu… gửi về nhà. Các anh ấy đi rừng, quan hệ với dân, khối
anh gửi con nơi họ. Chứ như chúng
tôi đâu dám lơ mơ, đụng tới là vi phạm đạo đức, chính sách rồi, lại thành trại
viên loại B chứ không được thế đâu. Có chị người Huế năm nào cũng lên thăm một
hai lần. Chúng tôi biết vợ con anh ta đã định cư ở Mỹ nhưng chị ta nói là vợ
ngoài giá thú, chúng tôi cũng thông cảm để hai người tâm sự với nhau ngoài
phòng khách trại viên.
Ông Thanh để bác giáo nói chuyện nhiều với
con. Nó chịu ảnh hưởng nhiều của bác. Lúc chia tay, Nhân Tín thực sự cảm động
trước tấm lòng của những người thân nhưng vẫn không biết bác sắp đi xuất cảnh,
việc vợ chồng Nhân Trí đang
ở trời tây và quan hệ giữa cậu với cô Thảo Tâm đã khác.
Mấy anh em vòng qua ngả Phú Thọ, rẽ sang Bắc Ninh, thăm anh Hà Giang ở
trong trại an dưỡng Thuận Thành. Ra về bác còn xúc động.
- Tiếc là không còn được gặp anh Trịnh Huy,
một người thuộc thế hệ nho học cuối cùng, tâm huyết, uyên thâm, luôn lấy điều liêm
sỷ để soi mình.
- Anh ấy ra đi đột ngột, dù lòng đầy tâm trạng
mà suốt đời giữ cốt cách là kẻ sỹ: Tri túc tâm thường lạc – Vô cầu phẩm
tự cao (Hiểu nhiều lòng an lạc - Ít muốn phẩm càng cao)
- Tôi tới thăm một đồng nghiệp lứa trên. Ngày
nước nhà mới độc lập anh hăng hái lắm. Với kiến thức sâu rộng về luật, trong
những cuộc đàm phán hai bên, nhiều lần anh làm đối phương đuối lý. Nghe đâu anh
nói điều gì nghịch nhĩ nên bị thất sủng. Anh vẫn điềm đạm, nói chuyện từ tốn,
chẳng phàn nàn điều chi cả. Tuy nhiên nhìn cái giá sách mấy quyển ngả nghiêng
và chỗ ở tuềnh toàng đơn sơ qúa. Một trí thức bậc thầy, khảng khái đầy nhiệt
huyết, nhiều người biết tiếng mà sống như vậy chắc không phải là giản dị, càng không phải là lập dị. Dường như bây giờ người ta sống kiểu đa nhân cách. Đó có phải là cách sống trong xã hội mơí
chăng?
- Đó là điều nghịch lý với không ít người mà
vẫn không bỏ nhau được. Lắm người học hư nhiều hơn học thực lại có thực quyền!
Chúng tôi sống mãi quen rồi. Anh xa lâu chắc thấy nhiều sự lạ?
- Vợ chồng mới cưới về ở chung còn lạ huống
chi… Trước mắt là cái nghèo, cái thiếu rồi cũng qua đi. Sự lạ tai nghe mắt thấy
tưởng bình thường mà làm mình khó chịu là quá nhiều người lẫn lộn âm l với n. Không chỉ ở
ngoài đồng, ngoài chợ, mà ngay cả trong hội trường chính khách, khi người ta
đọc diễn văn phát sóng trên đài, đưa lên TiVi cho thiên hạ nghe mới kỳ lạ chứ?
Không ít là người có học, có chức sắc, thậm chí cả thầy giáo, văn nhân, thi sỹ
nữa! Ngày xưa ông Nguyễn Thái Học đậu Cao đẳng sư phạm, chỉ vì không sửa được
cái tật nói ngọng l-n mà nhà nước bảo hộ không bổ đi dạy học, phải chuyển sang học trường
Cao đẳng thương mại. Thằng tây đô hộ mà nó chau chuốt cái chữ của dân nô lệ
mình như thế! Muốn sửa đâu có khó gì?
- Ngày mới độc lập, mấy vị nho gia quen dẫn
lời Khổng-Mạnh hoặc dăm câu thơ Đường, mấy anh tân học hay đệm tràng tiếng tây
khi nói chuyện thì bị chụp cho cái mũ lai căng, mất gốc. Bây giờ dù nghe chướng
tai cũng không ai dám nói, sợ mất lập trường! Cháu bác dạy Văn, nó bảo lúc đầu
còn sửa cho học trò, nhưng chúng nó không chịu nghe, còn cho đó là niềm tự hào
giai cấp! Trong số đông áp đảo ấy, mình giữ không bị lây đã là mừng lắm rồi.
- Mình không là cộng sản nhưng vô thần bẩm
sinh mà bây giờ cũng tin có số phận. Khi biết tôi làm cuộc thăm này, anh con rể
tôi can, nói đường xa vất vả, tuổi già. Nhưng biết còn dịp nào gặp các cháu nữa
không? Con gái tôi bảo tự lượng sức mình, cứ làm tùy theo ý của ba.
Ông Thanh từ tốn, nói ra điều vẫn giữ kín lâu
nay:
- Dường như ai lúc về già ít nhiều đều nghĩ về
một cõi tâm linh. Anh biết không, con Nhài thương thằng Nghĩa lắm vì nó nợ ơn
cứu mạng. Tôi cũng mong hai đứa nương dựa đỡ đần nhau lúc tuổi xế chiều này.
Nhưng cháu Nghĩa xả nạn mà chưa được giải oan nên cứ lằng nhằng dằng dai mãi.
Chuyện này chồng cháu Hương Giang có thể can thiệp được nhưng kẹt nỗi anh ta
chính là thằng Nhỏ ở nhà tôi cùng một lứa với con Nhài. Đi theo cách mạng, anh
ấy trưởng thành!
Ông giáo Phú trố mắt nhìn ông Thanh ngạc nhiên
lắm nhưng rồi ông bình tâm lại, nắm tay bạn:
- Đời chúng mình được thấy bao nhiêu đảo lộn
bất ngờ, dù nằm mơ nghĩ cũng không ra. Nhưng tôi biết cháu Hương Giang, nó là
đứa sống tình nghĩa lắm.
Trước ngày lên đường, ông giáo Phú tới chia tay ông Ba già. Ông Ba sọm
đi nhanh qúa. Ông đang được chỉ đạo làm bản báo công để đề nghị tuyên dương anh
hùng bỗng được lệnh cho giải ngũ, về hưu và ngừng sinh hoạt đoàn thể. Mẹ ông
người Việt. Cha ông lai Tàu. Ông sống trong xóm người Việt, học trường Việt,
lớn lên theo Việt minh đánh Tây. Ông lấy vợ Việt mới được ít tháng thì bị Tây
bắt. Nó tra tấn đủ kiểu vẫn không chịu khai. Vô cớ nó phải thả ra. Ông bám lại
thành phố hoạt động, gần nhà mà không dám lộ mình. Trước khi đi tập kết ra Bắc
mới biết vợ sanh cho đứa con gái mà cha con chưa được nhìn nhau. Hòa bình vợ
chồng gặp lại thì bà hết khả năng sanh đẻ dù ông vẫn mong có một thằng cu. Đành
hy sinh vậy chứ không dám nghĩ vẩn vơ! Ông là người có máu tình báo bẩm sanh.
Nói tiếng Anh, tiếng Pháp lưu loát, thạo nhiều nghề, bắn súng được cả hai tay.
Ông vẫn nghĩ cái gốc Hoa chỉ là nhắc tới qúa khứ xa xưa của tiền nhân chứ cái
rễ Việt mới cho ông thành người. Thế mà bây giờ ông bị liệt vào hàng nghi vấn
mà không biết than thở cùng ai.
- Bây giờ tôi cũng không biết mình là ai nữa?
Rồi con gái tôi, cháu ngoại tôi sẽ vẫn cứ đeo đẳng mãi về chuyện cái gốc một
nơi cái rễ một nẻo mà ông bà cha mẹ mình thì sống chết ở đây. Nếu như tôi chạy
về bên kia, họ lại nghi cái máu lai, chỉ dùng tôi vào một việc chống lại chính
nửa phần kia dòng máu của mình!
Ông giáo chia sẻ nỗi phân vân với bạn :
- Sự hình thành các quốc gia là một qúa trình
mở mang bờ cõi. Lúc đầu là tự nhiên, sau thì tranh chấp tới mức quyết liệt và
thôn tính nhau tàn khốc vì mộng bá chủ của những kẻ cầm quyền. Đấy là những
thùng thuốc súng trong lòng mỗi quốc gia và sẽ được châm ngòi nổ khi ý thức dân
tộc dấy lên. Tuy nhiên Đông-Tây có khác biệt nhau. Trong khi công quốc Monaco
chỉ là dẻo đất bé tẹo bên bờ Địa Trung Hải mà ba bề lọt thỏm trong lòng nước
Pháp với số dân chừng ba chục ngàn người mà người Pháp nhập cư đông gấp hai lần
số dân bản xứ, thế mà cả vương triều của họ vẫn sống yên bình thì nước
Tàu xưa khởi đầu ngôi thiên tử truyền từ Nhà Hạ với vạn phiên quốc chư hầu, qua
nhà Ân còn vài trăm nước, tới Nhà Chu còn vài chục nước. Hết thời Chiến quốc
còn bảy nước: Tần, Sở, Tề, Triệu, Hàn, Ngụy, Yên tranh hùng, cuối cùng quy lại
một nhà Tần rồi qua nhà Hán! Các đời sau cứ tiếp lấn rộng ra. Cả khi họ bị xâm
lược lại thành người đi xâm lược. Triều Nguyên, triều Thanh khởi dựng từ những
bộ tộc ngoại lai đã là những vương triều chính thống của người Hoa Hạ! Cái chí
bình thiên hạ là cái gène di truyền trội của người Hán tộc. Lúc đói kém nó là
giặc cướp. Lúc vượng lên nó là đế quốc! Không nước lân bang nào được sống yên
với họ! Người dân bị xô đẩy vào những cuộc tranh giành thâm hiểm dã man, thành
những nạn nhân khốn khổ chưa biết tới bao giờ... Chủ thuyết cộng sản mơ về một
thế giới đại đồng nhưng họa bá quyền làm người ta vỡ mộng!
Cũng là dịp ông nói ra lòng mình:
- Chuyện đời phức tạp qúa! Ngày mình sống với
nhau tưởng mọi người chỉ lo cho nước nhà thống nhất độc lập trong một thế giới
hòa bình hữu nghị, đâu nghĩ sẽ rối rắm thế này. Quốc gia nào mà không có mâu
thuẫn trong ngoài. Nhưng sao chỉ thấy anh em đồng chí ta triệt hạ lẫn nhau
thôi?! Thực ra, trong máu người Tần-Hán với người Bách Việt không biết có bao
nhiêu phần trăm lẫn lộn với nhau? Có người nói người Việt bị Hán hóa. Nhưng có
người nói ngược lại. Xứ Hoa Trung, Hoa Nam, từ bờ nam sông Dương tử là nơi phát
tích giống người Bách Việt với một nền văn minh lúa nước sơ khai. Người
Tần-Hán từ phương Bắc tràn xuống, ỷ sức mạnh hoang dã bạo cường đẩy người Việt
lùi dần ra biển. Đất đai của người Việt bị lấn chiếm nhưng nền tảng văn minh
còn để lại. Bao nhiêu tập quán của ta với Tàu lẫn lộn, thờ chung các vị thần,
lắm tích giống nhau, triết lý như nhau, nghĩ theo nhau, làm theo nhau… Nhưng
Việt vẫn là Việt và Tàu vẫn là Tàu! Tinh hoa văn hóa trống đồng của
người Lạc Việt vẫn được bảo tồn. Đại Việt tồn tại hàng ngàn năm bên cạnh thiên
tử Trung Hoa với khát vọng bành trướng vô độ, bởi biết mềm dẻo bảo vệ cội nguồn
văn hóa tâm linh. Hoa Hạ là người láng giềng qúa to, qúa mạnh, lại đa mưu túc
trí mà thâm trầm độc địa nhưng ta không thể không chơi. Chơi mà phải tỉnh để biết
bụng người khắc không sợ bị mắc lừa. Ta có lúc say say tỉnh tỉnh quên mất bài
học ngày xưa. Thông gia rồi vẫn lừa con trẻ hại nhau! Rước người về cứu khốn
phò nguy hóa ra rước giặc vào nhà! Dù sao thì bán anh em xa mua láng giềng gần, được vẫn là hơn. Tiền nhân đã dạy rồi !
- Anh đi được là yên thân đấy! – Ông Ba già
tiễn bạn.
Ông giáo thở dài:
- Con không thể chọn cửa cha mẹ để đầu thai.
Không ai chọn được xứ sở để cho mình sinh ra. Đó là sự ngẫu nhiên hay là duyên
tiền định mà nó giàng cột con người ta với quê hương, gia đình đến thế? Xa
thương gần thường nhưng chẳng ai thiết tha qúy trọng kẻ chối bỏ nguồn cội của
mình đâu.
ô
Cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương lãnh thổ mấy năm rồi xem chừng còn
triền miên dai dẳng.
Ở phía Bắc, người anh em môi hở răng lạnh kiên trì quốc sách mở mang lãnh thổ, lúc ào
ạt như hổ vồ mồi, lúc ngấm ngầm âm ỉ như con sâu gậm nhấm từng phân mét đường
ranh biên giới. Họ cho dân quân đào cột mốc ấn định theo Hiệp ước Thiên
Tân do nước Pháp ký với Thanh triều,
lén chuyển sang lãnh thổ Việt Nam được chút nào hay chút nấy, như anh nhà quê
lấn gian từng chút bờ ranh ruộng. Đất họ tuy rộng nhưng người đông, hở ra lúc
nào làm cũng được. Bên ta núi đồi trùng điệp, hoang vắng, lâu lâu bộ đội biên
phòng và dân quân mới đảo qua, đã thấy đường biên bị lấn sang đất mình rồi. Bây
giờ đến chuyện biển Đông, chẳng những là con đường hàng hải quan trọng Á - Âu
mà còn là nguồn lợi lớn nằm ngầm dưới đáy đại dương thì sự tranh giành càng
quyết liệt.
Ở phía Tây nam, đám tàn quân Pôn-pôt dựa vào
địa hình hiểm trở vùng biên giáp với Thái và Lào, xây dựng căn cứ, tổ chức lực
lượng phản công. Không thiếu kẻ giấu mặt kích động, tiếp tay cho lũ thiểu năng
trí tuệ này.
Từ xa xưa, mỗi quốc gia chỉ là các bộ tộc manh
nha. Nước lớn dụ nước nhỏ, phá vỡ thế hợp tung. Nước yếu bị ép ngả vào lòng
nước mạnh, kế liên hoành vô hiệu. Thế là bao nhiêu nước nhỏ bị nuốt chửng dần
trong khi nước lớn như con cá mập cái bụng phình trương lên như thùng không
đáy. Khi ngôi bá chủ đã thành tham vọng thì mộng bá quyền thành bạo chúa. Mối
lợi thả ra chỉ là cái mồi câu.
Nội lực của những người Khmer tiến bộ chưa đủ
sức tự bảo vệ mình. Muốn yên nhà phải yên nước, Việt Nam bắt buộc phải chi viện
toàn diện cho người anh em phát triển mạnh lên. Chưa bao giờ Việt Nam phải dốc
sức người, sức của lớn đến như thế sang một nước láng giềng. Các cơ quan dân sự
cử người luân phiên nhau qua giúp bạn trong khị các đơn vị quân chủ lực coi đó
là chiến trường chính để hoàn thành nhiệm vụ. Một lớp trẻ mới lớn lên phải từ
biệt quê hương dấn thân vào cuộc chiến tranh xa lạ ở xứ người. Những mất mát
lúc này gây chấn động tâm lý cho cả người lính ngoài mặt trận và những người ở
phía sau.
Trong khi ở hậu phương nảy sinh bao điều rối
rắm.
Giữ mãi kiểu cách quản lý quan liêu bao cấp:
ngăn sông cấm chợ ách tắc hàng hóa lưu thông, người ngoài toả cảng mà ta
lại tự bế quan. Mọi mặt sản xuất đều sa sút, cung không đủ cầu, nhập là
chính trong khi xuất chẳng bao nhiêu, đồng tiền ứ đọng đẩy nạn lạm phát tăng
lên khủng khiếp tới hàng ba con số vẫn không kiềm chế được! Xã hội thiếu thốn
trầm trọng đủ thứ. Người ở nông thôn ăn khoai, sắn thay cơm. Người ở thành thị
dùng hạt bo bo, bột mì thay gạo. Cuộc sống càng khó khăn điêu đứng và những
điều ngang trái càng bộc lộ rõ ra. Bộ máy hành chính vốn đã cồng kềnh, quan
liêu, cửa quyền càng tỏ ra trì trệ. Đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp! Chính
quyền chỉ đạo vẫn theo phong cách thời chiến: tùy
tiện và bằng áp lực. Cán bộ như đám quan viên yên phận, ngồi mòn ghế ngóng cổ
chờ dịp lên lương, hết hơi rồi còn vin lấy lời thề còn hơi thở, còn chiến đấu!
Người lương thiện chỉ biết chịu đựng mà không biết thoát làm sao?! Chưa bao giờ
lòng người lo âu, phân tâm, bất ổn đến thế.
Các quốc gia trong khối Hội đồng tương trợ
kinh tế (Khối CEB) đến lúc bộc lộ ra
thực chất không kham nổi nữa. Yêu cầu tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chính
quyền không thể kiềm chế mãi. Nhiều nhà nước tỏ ra bối rối ngả nghiêng. Mối
liên minh giữa các quốc gia rạn nứt lung lay tới mức đối nghịch nhau. Không thể
trông chờ sự cứu cánh của nền kinh tế tập thể kế hoạch hóa được nữa. Mỗi quốc gia tìm lối thoát ra.
Hai cha con anh Bùi Công Bình và Bùi Công Danh
từ mặt trận phía tây nam trở về. Cha hết hạn ba năm làm chuyên gia xây dựng
chính quyền. Con là lính chiến, không có hạn nhưng hết khả năng chiến đấu vì bị
mất một bàn chân do đạp phải mìn lá Trung của dẩn mỉn khi đi truy quét tàn quân
Pôn-pốt chạy trốn vào rừng.
Anh Bình tỏ ra mệt mỏi, than với ông chú vợ:
- Người ta động viên về hưu sớm. Cháu thấy
mình nên về.
- Đã bao nhiêu lần giản chính rồi, sau đó biên
chế lại phình ra hơn trước. Cái chính là cần ai và giản ai lại là điều rối rắm.
Có người bị giản chỗ này nhưng lại được vơ vào chỗ khác, có khi ngồi ở vị trí
cao hơn. Anh già ký quyết định cho anh trẻ nghỉ hưu non! Nhưng anh tính sẽ làm gì?
- Lương hưu cháu lĩnh dồn một cục. Mình có tay
nghề, rủ mấy anh thợ bạn làm một xưởng sản xuất thủ công. Thiếu gì việc làm.
Đâu đâu cái gì cũng thiếu.
Ông Thanh ngạc nhiên nhìn cháu rể:
- Anh liều lĩnh qúa? Tôi sợ rằng anh mất hết!
- Thời buổi này không biết thế nào là đúng hay
sai. Thời cháu khoán sản là sai. Bây giờ khoán
sản là bài học hay! Cái anh quyết liệt
phê phán cháu ngày ấy, bây giờ thành người chủ chốt chỉ đạo khoán sản của thành. Người ta dối trên lừa dưới quen
rồi, nói là vì dân chứ thực ra là vì cái thân mình.
- Ngày xưa cải cách ruộng đất có hai năm thôi
đã nhìn thấy sai lầm…
- Là bởi vì nó dám đụng tới cả triều đình. Bao
nhiêu vị từ huyện, tỉnh tới trung ương đều bị đòi lôi cổ về địa phương để đấu
tố nên các vị giật mình. Còn khi đã yên vị rồi, cứ theo sách, theo nếp mà làm.
Khác đi là cái ghế rung rinh. Dân khổ chứ mấy vị vẫn ung dung ngựa xe đề huề,
áo quần xúng xính, no cơm ấm cật, cứ tối ngày nhẩn nha hội nghị bàn chuyện xây
dựng con người mới, giải phóng giai cấp, giải phóng loài người! Hồi nhỏ đi học
thầy đồ, mới dạy mấy chữ nhân chi sơ tính bản thiện đã
nghe thầy dẫn lời của thánh hiền: Muốn lập thân trước hết phải có một nghề ổn
định và một gia sản đủ lo cho gia đình thì mới không dễ sa vào cạm bẫy. Vì sao
bây giờ con người ích kỷ, tham lam, dối trá nhiều đến thế? Cái tính ấy lâu dần
thành thói quen thì dù khi khá lên rồi nó đã thành cố tật, xã hội còn rối loạn
hơn!
- Kinh tế tư nhân vẫn là điều cấm kỵ?
- Cháu tình nguyện rút ra ngoài đoàn thể. Có
nước rồi bây giờ phải có nhà. Nhìn gia cảnh hai vợ chồng với gần chục đứa con,
đứa thất nghiệp, đứa què, với nửa tá cháu, chỉ nhìn vào mấy đồng lương và mấy
cái bìa cung cấp được chăng hay chớ, cháu thấy đời mạt qúa. Bên nước người ta
vừa thoát ra họa diệt chủng khủng khiếp thật nhưng chóng thoát khỏi nạn đói,
tuy vượt qua cái nghèo còn khó. Mấy cha con cháu sẽ rải khắp từ Bắc vào Nam qua
tới bên kia. Vừa thu gom nguyên liệu, vừa tìm kiếm thị trường. Chuyện sản xuất
kinh doanh không thể nghĩ như việc của người nội trợ. Nó là tâm, là sức, là sự
khôn ngoan tháo vát, là sự rủi may. Người đi đầu cũng khó mà cũng dễ. Khổ nhất
là những chủ trương tiền hậu bất nhất và nạn sứ quân. Nhưng đã dấn thân rồi
đành chấp nhận và trông vào cả thời cơ vận hội nữa.
Cha con anh xuôi ngược đến rạc người ra trên
các đường mòn lối tắt để tìm con đường tự cứu lấy mình như con đường thiên lý
đầy những truân chuyên.
ô
Ông Thanh và ông Đỗ Vạn Cân lại gặp nhau trong bệnh viện. Cái tuổi già
bắt đầu giở chứng. Chuyện đời chồng chất vui ít buồn nhiều, nói ra với nhau rồi
lại cười khì, nhưng trong lòng vẫn nặng. Nỗi đau mỗi người một khác.
Tưởng rằng đến ngày hòa bình nỗi khổ đau của
mỗi người ít ra cũng nhẹ bớt đi. Nào ngờ còn não nề hơn. Gia đình ông Thanh tan
nát: Vợ lánh mặt chồng. Con không muốn nhìn cha. Đứa con gái lớn thành góa phụ,
một nách nuôi con. Nó vất vả túng thiếu mà ông chỉ có thể nhường cho cháu một
phần tem phiếu hàng nhu yếu phẩm chẳng thấm thắt gì. Con trai đứa ở bên kia thì
tù vô hạn, đứa ở bên này thì vừa thoát nạn chiến tranh lại tiếp dấn thân vào
vòng binh lửa, nó liều đem vợ con bỏ đi biệt tích để lại liên lụy cho ông. Đứa
cháu lớn phong trần từng trải gặp nỗi oan khiên đến giờ vẫn coi như thân tù
giam lỏng. Là cha chú mà chẳng giúp gì được cho con cháu. Nỗi buồn trong ông
dấm dứt đêm ngày.
Vấn đề xem ra nặng nề vì đã có nghị quyết
Trung ương, lúc này ta có hai kẻ thù lâu dài và trước mắt đều nguy hiểm cả. Kẻ
thù lâu dài không đội trời chung với mục tiêu của chế độ. Kẻ thù trước mắt là
nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Tổ quốc. Cả hai kẻ thù ấy ông đều có dây dưa
dính dấp vào. Một nhân vật thuộc hàng khai quốc công thần vì mâu thuẫn nhau sao đó, bị thất sủng, đã
bỏ chạy sang hàng ngũ kẻ thù trước mắt, lên đài vạch ra chuyện kín cung đình
càng làm rối nhân tâm, lập tức bị đưa ra tòa án đặc biệt tuyên án xử tử hình
vắng mặt tên phản bội. Cả Hà Nội xôn xao xầm xì.
Trường hợp con ông trùng vào dịp đó. Ông phải
hứng đòn. Ai tin được ông không có liên quan? Gạt đi mối nghi kỵ đã khó, lại
những lời xì xầm thêm thắt đặt điều làm ông chán nản. Ông xin về hưu sớm. Được
chấp thuận đã là một điều ưu ái vì qúa trình cống hiến lâu năm nhưng người ta
lại động viên ông tự làm đơn xin ra khỏi Đảng. Ông không chịu :
- Tôi vào Đảng do tổ chức tuyển chọn và thử
thách qua đủ các khâu cảm tình, đối tượng, người giới thiệu bồi dưỡng, thăm dò,
thấy được rồi mới bảo làm đơn xin vào. Bao nhiêu năm tôi tuân thủ mọi điều,
không làm trái giới luật hoặc điều gì mờ ám bôi nhọ thanh danh của Đảng. Bây
giờ tôi không thấy có điều gì ân hận và vẫn giữ lòng qúy mến người giới thiệu
mặc dù đồng chí ấy đã hy sinh. Nếu tổ chức không tin tôi nữa thì cứ xóa tên
trong danh sách chứ tôi không việc gì phải làm đơn xin ra để lại viện lý do tôi
tự thấy mình không xứng đáng dù tổ chức vẫn rộng lòng.
Ông
nhận sổ hưu nhưng không có giấy giới thiệu về địa phương sinh hoạt.
Người ta bảo cứ về đi, giấy tờ sẽ gửi theo sau. Chờ cả năm rồi. Coi như người
ta xóa sổ thật!
Ông bạn vẫn nhận ra cô Thảo Tâm dạo nào, cười
khơ khớ:
- Anh xem tôi có xứng đáng là nhà tâm lý học
không nào? Hai cái kẹo cặp kè nhau mãi, chẳng cần gặp gió nồm cũng tự chảy ra
và dính vào nhau. Chỉ tiếc một điều… già rồi mới thấy thời gian qúy nhất với
một đời người, qua rồi là hết, càng tiếc càng xót. Làm gì chung quy cũng là để
có đời sống ổn định và một tổ ấm gia đình. Tưởng yên tiếng súng là yên thân mà
đâu đã được. Một kẻ thù lớn đã liểng xiểng rồi. Lại chuốc thêm một kẻ thù lớn
nữa thì làm sao sống nổi! Hàng triệu mảnh đời bất hạnh. Dân tình nháo nhào lên.
Người sống đói. Người chết rách. Ông hàng xóm bên tôi, quan vừa tha thì ma đến bắt. Chạy đi lãnh được cái áo quan tiêu chuẩn nứt trên nẻ dưới, phải lấy
đất thó trét vào, lấy giấy báo nhuộm phẩm đỏ dán phủ bên ngoài, đúng 24 giờ sau
phải tống khứ mau ra khỏi nhà. Trong khi các ngài quan lớn chầu trời, tùy cấp
chức mà được gia hạn thêm ngày tang lễ, lại còn ganh nhau từng loại quan trong
gỗ thượng thặng loại nào, quách ngoài ra sao nữa? Có khác chi vua chúa ngày xưa
đâu? Vậy mà diễn văn nghe mát ruột: Nhiệm vụ của đồng chí đã hoàn thành.
Công việc để lại có lớp sau vững vàng gánh vác. Xin đồng chí hãy yên giấc ngàn
thu… Ô hô! Tôi mà chết bây giờ là
không nhắm mắt được đâu.
Ánh
mắt, nét mặt lộ vẻ tủi thân :
- Tôi trước đây còn chút danh, lâu lâu được
ngồi xe con bóng loáng đi dựa tiệc tùng, vừa có tiếng vừa có miếng, thấy đời có
chút hương. Bây giờ chỉ còn biết tháng tháng lĩnh mớ lương hưu còm về nộp vợ và
chờ ngày đi Văn Điển, nằm ở khu C. Ra đường chẳng biết đi đâu. Về nhà lúc nhúc
ba thế hệ. Mỗi cái giường là một gia đình. Đêm nằm toàn nghe tiếng thở dài ngao
ngán. Hai đứa già lãnh cảm nằm kề bên nhau cứ ấm a ấm ách. Ấy thế mà bà ấy lại
bỏ đi trước mình! Lúc ấy mình mới nhận ra, vợ chồng già, đứa nào đi trước là
sướng. Mình lõ mõ một thân một bóng, cô đơn, thui thủi. Con người ta lúc sống
cần cái tình, lúc chết là cái hậu. Tôi chẳng được cái cóc khô gì. Sao cuộc đời
oaí oăm thế nhỉ?
Ông ngồi bần thần. Chợt nhận ra thực tại, vẫn
không mất đi cái tếu táo của ông ký finance dạo trước:
- Người ta cứ ôm xô tất cả “chúng ta là người
cách mạng”, chả hiểu anh nghĩ thế nào chứ tôi không dám nhận! Kim cổ đông tây,
chỉ người có chí lớn gan to mới dám nghĩ chuyện đội đá vá Trời, khai sơn phá
thạch, nếm mật nằm gai, đứng mũi chịu sào, tạo thời chuyển thế dựng nên nghiệp
lớn mới xứng đáng với danh vị ấy. Họ sống quyết liệt và chết oanh liệt vì lý
tưởng. Đó là bậc anh hùng cái thế. Được mấy người như thế? Và mấy ai được tới
lúc đỉnh chung đâu?! Trong cơn khát độc lập tự do lúc ấy, ai phất lên được ngọn
cờ giải phóng thì dân chúng ào theo hưởng ứng, ngay cả những người gần chết đói
cũng gượng mà đứng lên, thành phong trào rầm rộ. Rồi là nhập cuộc với giai cấp
đấu tranh chớ lúc đầu mấy ai nghĩ thế! Gần hết đời người rồi mà nhiệm vụ cứ
ngày một nặng nề hơn! Chỉ thấy rõ một điều là cùng theo cách mạng mà người đi từ không đến có lại có người đi từ có đến không?! Không chỉ có anh với tôi là mất vợ, mất
con, ruộng vườn bỗng dưng sang tay người khác, nhà của mình cho đồng chí nhờ
qua lúc khó rồi không đòi lại được! Bao lâu mình dấn thân đứng vào đoàn thể để
đấu tranh cho lẽ phải và công bằng mà bỗng dưng bị gạt ra. Lúc đầu tôi buồn lắm
nhưng ngẫm kỹ sự đời, có cái mất đau đớn hơn nhiều. Nhân cái sự lộn xộn đa
nguyên, đa đảng, đa tình, đa ý gì đó, phòng những điều phiền hà nhiễu sự, người
ta ghé tai nói nhỏ với mấy ông đầu đảng chúng tôi: Các anh đã làm xong sứ mạng
lịch sử rồi, hãy tự giải thể đi thôi. Thế là xong! Không bệnh mà chết lại được
nhận lời biểu dương thay lời ai điếu! Anh biết không? Sau ngày đảng Cộng sản tự
giải tán, chỉ có hai anh Dân Chủ và Xã hội là tranh đấu kịch liệt ra trò với mấy
đảng xôi thịt nằm trong Quốc hội! Mấy vị công thần khai sáng được ưu ái coi như
nguyên lão, về hưu. Không dưng thầy bỏ trò, đàn anh bỏ đàn em vất vưởng! Trước
đây tôi cũng dự cảm Đảng mình đoản mệnh nhưng còn tin có bạn đường dài, ngọt
bùi cay đắng cùng nhau. Không ngờ nó đột tử chết nhanh đến thế! Thế mới hay Cụ
Hồ bản lĩnh cao cường, đủ đức đủ tài để tự tin thuyết phục, tập hợp được mọi
người đa thành phần đa chính kiến trong một xã hội đa nguyên. Trong tình thế
cực kỳ rối ren, thế nước ngàn cân treo sợi tóc, để giữ được khối đại đoàn kết
toàn dân Cụ đã chẳng từng tự giải tán Đảng Cộng sản và tuyên bố: Nếu cần có
Đảng thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam với mục tiêu làm cho quốc gia hoàn toàn
độc lập, dân tộc hoàn toàn tự do, nhân dân ấm no hạnh phúc đó sao? Hỏi có ai
cao tay hơn thế?
Nét mặt rầu rầu, giọng ủ ê cố gượng lên tự vỗ
về mình:
- Anh có biết tục ông bà ta xưa, sống tới năm
mươi thì được lên bô. Bô nam chết pháp danh là Tự
Phúc gì. Bô nữ chết pháp danh là Hiệu Diệu gì. Ai chưa lên bô đã chết, pháp danh là Tự Trực gì
hay là Hiệu Mỹ gì. Đảng
của chúng tôi chưa lên bô,
nghĩa là Phúc chay, Diệu
bỗng. Anh em an ủi nhau nhận pháp danh
là Tự Trực Tâm, Tự Trực
Thành hoặc là Hiệu Mỹ Tâm, Hiệu
Mỹ Thành… Đực, cái đều thế cả. Chả là
một thời chúng mình sống với tâm thành.
Dù trút ra được nỗi niềm nhưng vào những ngày
xế bóng, lòng hai ông già suốt đời lương thiện, thành tâm, tận tụy vẫn là nỗi
cô đơn trống vắng.
No comments:
Post a Comment