THẦY GIÁO TÔI
{
Tặng
các thầy giáo
một
thời mang áo lính
Trước khi bước vào chiến dịch,
Tiểu đoàn tôi được bổ sung một đại đội tân binh. Tôi cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn
xuống kiểm tra cụ thể trước khi phiên chế vào từng đơn vị. Tôi thấy xao xuyến
trong lòng vì trước mặt tôi không chỉ là các chiến sĩ măng tơ mà còn có không ít người lớn tuổi hơn
tôi! Tôi lách giữa đội hình đi xuống cuối hàng quân. Tôi sững lại vì trước mặt
là thầy giáo cũ của tôi: Thầy Thanh dạy Vật lý hồi tôi học Cấp ba. Bởi xúc cảm
đột ngột, tôi ôm chầm lấy thầy. Thầy vẫn đứng thẳng, hai tay buông xuôi, mắt
chớp chớp. Tôi kịp thời chỉnh lại tư thế, đứng nghiêm trước thầy rồi quay vội
lên hàng quân. Đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn thông cảm, thay mặt tôi nói
chuyện với tân binh.
Từ ngày có thực binh*, việc bố trí nhân
lực của chúng tôi thật khó. Tiểu đoàn là đơn vị chiến đấu cơ động, không có hậu
cứ. Anh em tuy đa tài, nhưng lớn tuổi, phiên chế vào các đơn vị làm sao?! Giờ
đây lại là thầy học của tôi?!
Chập tối, tôi cho liên lạc xuống đơn vị
mời thầy lên. Bước vào cửa hầm, thầy đứng nghiêm chào:
- Báo cáo Tiểu đoàn trưởng, tôi – chiến sĩ Nguyễn Thanh có mặt!
Tôi chạy lại kéo thầy về phía mình, mời
thầy ngồi trên cây gỗ dùng làm ghế:
- Thưa thầy, em mời thầy lên đây là để
gặp thầy chứ không có chuyện gì đâu!
Cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn chúng tôi đãi
thầy trà bắc và sắn luộc. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện từ hậu phương đến tiền
tuyến và cả về mặt trận nơi chúng tôi đang tác chiến. Khuya, tôi tiễn thầy trở
về đơn vị. Đắn đo, cân nhắc mãi tôi mới nói thật lòng:
- Thầy ạ, thầy về đơn vị em lo lắm. Đây
là đơn vị chủ công của Trung đoàn. Thầy lớn tuổi rồi, em sợ thầy… chậm thích
nghi!
Dừng lại, nắm tay tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi… Dưới ánh sao đêm
mờ qua kẽ lá, tôi thấy mắt thầy đầm ấm mà bình thản:
- Tôi hiểu lòng anh. Nhưng cả tôi và anh
đều là trai thời loạn. Có ai thích nghi được với đạn bom?! Cuộc sống bắt chúng
ta phải tìm cho mình sự tồn tại nhưng phải là sự tồn tại trong danh dự, đồng
chí Tiểu đoàn trưởng ạ!
Hai bàn tay thầy trò tôi nắm chặt với
nhau… Cái xiết chặt đến đau cứng ấy như biểu lộ sự cảm thông của hai người đàn
ông cùng trong một cảnh ngộ ngặt nghèo, rất tin ở nhau và quyết dựa vào nhau!
Chúng tôi quyết định bổ sung thầy vào
“tổ hỏa lực” để tôi có dịp được hỗ trợ thầy. Chỉ hơn một năm sau thầy đã là một
Tiểu đội trưởng hỏa lực có uy tín. Sẵn có vốn kiến thức toán – lý nên thầy dễ
dàng ứng dụng trong thực tế và thầy cũng thành người huấn luyện giỏi cho các xạ
thủ mới về. Thầy hay triết lý và đôi lúc cũng có tác dụng tốt cho đơn vị. Tôi
vẫn nhớ một lập luận của thầy: “Nếu định mệnh đã khắc trên trán ta cái ngày tận
số thì ta cứ ung dung thanh thản mà đi. Và nếu định mệnh vẫn yêu ta thắm thiết
thì hãy dang tay ra ôm chặt nó vào lòng!”.
Mỗi khi ra trận chúng tôi thì thầm vào tai nhau vế một và khi trở về,
chúng tôi thường ôm lấy nhau la lớn vế thứ hai để khuây đi những mất mát vừa
qua!
Trong một trận tập kích, tôi trực tiếp
đi với “tổ hỏa lực” của thầy. Chỉ khoảng một giờ chiến đấu đánh vào một Đại đội
Mỹ đóng dã chiến, người tổ trưởng hỏa lực ấy đã “thụt” tới bốn trái B41 rất có
hiệu quả vào các ổ đề kháng… Khi có lệnh rút, tôi kéo thầy ngồi lại sau một ụ
mối để tránh làn đạn truy đuổi và cũng là để nghe ngóng địch tình. Khi tiếng
súng đã êm, hai thầy trò tôi cùng rút lui thì cũng là lúc pháo địch truy đuổi
cấp tập… Bỗng tôi cảm thấy đau nhói ở sau lưng và như nghẹt thở, tôi hoa mắt
ngã lăn xuống đất. Thầy đã chạy được một đoạn xa, không thấy
tôi, thầy quay lại tìm:
- Đồng chí Tiểu đoàn trưởng ơi!… Tiểu
đoàn trưởng ở đâu?
Tôi rên to lên để báo hiệu. Thầy đã tìm
đến với tôi.
- Em bị thương rồi, thầy!
Thầy kéo tôi vào nép dưới thân một cây
to bị đổ dập vì bom và băng vết thương cho tôi. Khi pháo địch thưa thớt và
chuyển làn, thầy dìu tôi đi. Lúc tới quãng trống, thầy ghé vai cõng tôi cho mau
về hậu cứ. Tôi như mê man, chỉ thèm được thở. Bỗng tôi thấy một tia sáng lóe
lên, một tiếng nổ “bục” đâu đây và người tôi bị quăng xuống đất...
Khi tỉnh dậy, tôi mơ màng thấy mình đang
nằm đu đưa trên võng. Đồng chí y tá tiểu đoàn đi bên, nắm tay tôi lay gọi:
- Thủ trưởng tỉnh chưa? Tiểu đoàn trưởng
tỉnh chưa?”
Tôi ra hiệu đã tỉnh và ráng lắm mới thì
thào được mấy câu:
- Mình đang ở đâu đây?
- Thủ trưởng bị vết thương phổi vì miểng
pháo và bị sức ép của trái nổ! Đồng chí Thanh cõng thủ trưởng đạp phải mìn lá
và cụt mất một chân!
Vậy là bây giờ cả hai thầy trò tôi đang
trên đường về quân y dã chiến.
Chúng tôi nằm
viện ba tháng, vết thương đã lành. Thầy bị cưa mất cẳng chân trái, gần tới gối.
Tôi thì vẫn còn khả năng chiến đấu. Trung đoàn bộ cử người đưa công văn về
“Trạm thu dung”. Thầy được đề nghị khen thưởng Huân chương Chiến công hạng ba,
được phong cấp từ “A” trưởng lên “B” phó và kèm theo là quyết định kết nạp thầy
vào Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Tôi được yêu cầu về đơn vị gấp, nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn.
Hôm chia tay, thầy trò tôi ngồi bên nhau
suốt một buổi chiều ngoài trảng. Một bãi cỏ trống giữa rừng đại ngàn có khác
chi một cái túi không khí để thoát ra khỏi cái ngột ngạt của rừng sâu. Cho đến
khi ánh nắng chiều lướt trên ngọn cây cao, trảng chỉ còn là một khoảng sáng mập
mờ, sau lưng chúng tôi là bóng đen thăm thẳm của rừng già, thầy trò tôi mới cảm
thấy nỗi trống vắng của sự thiếu nhau. Cầm cây nạng di di xuống mặt cỏ, thầy
nói giọng đầy xúc động: -
Bây giờ tôi về hậu phương, anh ra tiền tuyến! Cho tôi được nói với anh như thể
thầy trò. Tôi rất tự hào về anh: một người chỉ huy dũng cảm, gương mẫu và rất
có trách nhiệm với sinh mạng của chiến sĩ. Cổ nhân có nói: “Nhất tướng công
thành vạn cốt khô!” là để nhắc nhở người chỉ huy hiểu được mình công thành danh
toại nhờ đâu, chứ tôi tin rằng chúng ta không ai muốn lập công trên xác đồng
đội của mình. Trở về hậu phương, tôi vẫn còn dạy học được. Tôi sẽ nói với các
em học sinh về những người lính đang chiến đấu ngoài mặt trận với một lòng
trong sáng về tình yêu nhân dân và tổ quốc như thế nào. Lúc này tôi chỉ biết
cầu chúc em chân cứng, đá mềm, thoát được tất cả những bom rơi, đạn lạc!
Hòa bình 1975, tôi vẫn còn mang nợ nghiệp
binh đao. Một lần về Hà Nội, tôi tìm đến thăm thầy. Gia đình thầy ở Hà Nội đã
mấy đời, cơ nghiệp có được ngôi nhà gác hai tầng ở gần Chợ Đuổi, đã thuộc tầng
lớp người Hà Nội phong lưu thời trước. Anh em đông, mỗi người chia nhau ở một
buồng. Trong khi vợ thầy ở dưới sân làm cơm đãi tôi, thầy nhỏ to tâm sư:
- Mình phục viên, lại về dạy học ở
trường cũ. Vợ mình là con gái bà hàng xóm kề bên. Cô ấy học xong lớp bẩy thì
thôi, xin vào làm ở “Cửa hàng thực phẩm”. Mình làm sao kén chọn được nữa. Cũng
nhờ có cô ấy mà mình thoát được cái nạn xếp hàng vì gạo, mắm, thịt, cá, rau
dưa… Ở nhà này mình là anh cả nhưng vị trí xã hội lại là thứ bét, vậy mà bữa
ăn hàng ngày cũng chẳng thua ai. Bà ấy lại thần thế hơn mình! Con cái
xin vào Mẫu giáo, Nhà trẻ đều một tay bà ấy cả! Mình chỉ có việc lo cho mấy đứa
học trò.
Trong bữa ăn, biết tôi và thầy có nhiều
tình cảm gắn bó sâu nặng, bà vợ thầy nói tả lả:
- Ông ấy “đụt” lắm! Nhờ có ông đi “B”,
là đảng viên, là thương binh mà cái lý lịch nhà này mới được xếp loại A. Mấy
đứa em đi tây đi tàu về có chỗ làm ngon ơ. Nhưng có đứa nào san sẻ cho ông được
cái gì đâu?! Ngay cả cái nhà này cũng mỗi đứa một phòng đàng hoàng. Ông về cụt
một chân thì ở góc nhà sau, đến khi lấy vợ thì cơi lên cái chòi trên nóc nhà
bếp mà ở! Là thương binh, ông có quyền được dậy ít giờ, vậy mà trống giờ ông cứ
bao luôn! Như cái con mẹ gì ở đầu phố, nó cáo ốm, bỏ giờ, ông cũng ôm tuốt luốt
nhưng tôi lại thấy nó xếp hàng ở chỗ tôi cả mấy tiếng đồng hồ để mua thịt đó!
Con cái thì ông chỉ giảng giải những cách làm người, còn dạy nó làm thế nào để
khôn ra trong thời buổi khó khăn này thì ông tắc tị! Mỗi khi ông thương tật trở
chứng hoặc lúc con cái bệnh hoạn ốm đau cũng chỉ tôi lo! Vậy mà cái gì ông cũng
nhường, cũng đòi san sẻ từ trong gia đình đến ngoài xã hội!
Bữa ấy có trò, có bạn mà tôi cảm thấy
thầy ăn không ngon. Thầy nhai chậm chạp và khi nuốt thì cái yết hầu trên cổ cứ
lộ rõ ra!
Bẵng đi một thời
gian tôi mới có dịp về Hà Nội. Tôi đến thăm thầy. Ngôi nhà cũ không còn, thay
vào đó là ngôi nhà cao tầng kiến trúc tân kỳ. Tôi đi lại mấy lần để xác định
cho đúng. Cuối cùng tôi mạnh dạn bấm chuông. Một cô gái trẻ mặc bộ đồ đầm hoa
hé mắt qua một lỗ cửa nhỏ trên cánh cổng. Tôi hỏi thăm thầy giáo Thanh, cô nói
không biết rồi cài chặt ô cửa nhỏ và quay vào nhà. Tôi bồn chồn muốn biết tin
tức của thầy. Nhớ lại lời thầy tâm sự: Vợ thầy là con gái bà hàng xóm kế bên,
tôi liều gõ cửa căn nhà bên cạnh. Một bà cụ chắc đã ngoài tuổi “cổ lai hy”,
dáng còn giữ nếp cổ, mở rộng cánh cửa:
- Ông hỏi ai?
- Dạ xin phép cụ cho cháu hỏi thăm đây
có phải nhà vợ thầy giáo Thanh?
Bà cụ đon đả mời tôi vào nhà… Tôi ngồi
xuống chiếc ghế đưa hai tay đỡ chén nước bà cụ rót cho, vừa đặt xuống bàn thì
một chiếc xe gắn máy vọt qua thềm xịch đỗ giữa nhà. Người đàn ông trạc ngoài ba
mươi tuổi, tay tắt máy xe, mắt nhìn tôi chằm chằm. Vì là anh ta đeo kính mát
nên tôi không biết được ánh mắt của anh nhưng tôi vẫn cảm thấy rờn rợn và đứng
lên lễ phép cúi chào anh. Anh nhìn tôi từ đầu tới chân và đảo mắt khắp nhà rồi
quay qua trách bà cụ:
- Bà ở nhà mà ai bà cũng mở toang cửa
rước vào thì chắc sẽ có ngày đại họa!
Dù là có cảm thấy mình bị xúc phạm nhưng
tôi vẫn ngượng ngùng như người có lỗi và chắc là mặt tôi đã đỏ rừ lên! Tôi từ
tốn giải thích nguyện vọng của tôi. Anh vẫn đứng giữa nhà và trả lời cộc lốc:
- Ông Thanh là anh rể tôi… nhưng hai
người giờ đã ly thân! Bà ấy đã đi tây, mang theo cả mấy đứa con, chả hiểu có về
nữa không.
Tôi buồn rầu nhưng còn gặng hỏi một câu:
- Dường như nhà thầy Thanh ở sát bên
đây?
- Nhà ông ấy đấy, cái nhà to đó… nhưng giờ
là của em trai ông ấy! Anh ta là Phó Tiến sĩ học ở Nga, mà hình như đã bỏ khoa
học và đi buôn. Giàu lắm! Anh ta mua lại cái nhà ấy. Anh em chia nhau mỗi người
một mớ rồi là tứ tán! Hình như ông Thanh mua đất làm nhà ở cuối Ô Đống Mác, khu
Thanh Nhàn, Thanh Lương gì đó!
Tôi ngán ngẩm cúi chào rồi bước ra khỏi
cửa. Dường như có một chút động lòng trước bước đi ngập ngừng của tôi, anh ta
nói với theo:
- Anh thử ra chỗ ngã tư Chợ Hôm–Phố
Huế có quầy sách cũ, hình như ông ấy đã
về hưu và bán sách báo gì ở đó!
Như chộp được tia hy vọng, tôi quay
người lại cảm ơn anh lần nữa thì cánh cửa đã khép lại im lìm. Tôi khấp khởi đi
thẳng tới địa chỉ trên, rất mừng là đã gặp được thầy tôi.
Ngồi trong quầy sách trò chuyện hồi lâu,
thầy bảo:
- Anh vừa là học trò vừa là thủ trưởng
của tôi. Lẽ ra thì tôi phải mời anh về nhà nhưng có về thì cũng chỉ anh với tôi
thôi! Giờ tôi mời anh qua quán bên kia, ta vừa “làm” cái gì đó vừa tâm sự.
Thầy trò tôi chọn một góc sâu vắng
khách. Chai rượu làng Vân, vài đĩa đồ nhắm chúng tôi kể chuyện mình, chuyện
đời:
- Anh thì Đại tá phục viên! Tôi thì ông
giáo về hưu! Coi như chúng mình đã hết thời rồi! Cuộc đời ngắn thật! Hồi trẻ
xem sách thấy người ta nói: “Sự sống là vô tận. Cuộc sống là khoảnh khắc”,
mình không hiểu. Lúc hiểu ra thì mình đang ở cự ly cuối cùng của khoảnh khắc ấy
rồi! Anh nhớ Pautovsky không? Ông nói: “Người ta kêu gọi con người đi làm
tròn nghĩa vụ ở đời chứ không ai kêu gọi con người đi làm việc vặt”. Vậy mà
suốt đời mình chỉ toàn đi làm việc vặt! Mà cũng chưa xong!
Thầy móc cái ví từ túi ngực trong của
chiếc áo khoác, rút ra một tờ giấy, đưa cho tôi:
- Đây là thư con gái tôi từ trời tây gửi
về cho cha!
Tờ giấy khổ học sinh, chỉ viết một mặt,
chữ viết chân phương rõ ràng mà đẹp:
“Vaczava
ngày.....tháng ....năm
Bố
ơi, con nhớ bố lắm !
Ở đây đang là mùa đông. Ngoài trời đầy
tuyết nhưng trong phòng vẫn ấm mà lòng con thấy lạnh! Con thương bố lắm, bố ơi!
Bố đừng giận mẹ con nha. Dù sao thì mẹ
cũng rất lo cho các con. Bố thì luôn vì mọi người. Mẹ thì luôn vì mình. Nhưng
cả hai chẳng ai sướng cả! Mẹ bảo: Bố làm cho người khác hưởng! Trái lại, mẹ làm
thì mẹ phải được quyền hưởng đúng công lao của mẹ! Mẹ nghĩ cũng chẳng sai.
Anh Dũng tháo vát, làm được nhiều tiền
nhưng túi khi nào cũng rỗng! Có lúc mẹ và con phải chi viện cho. Mẹ có rầy thì
anh ấy bảo: “Tội gì, đời mấy chốc!”. Mẹ chỉ lắc đầu, nước mắt ngắn dài!
Con cũng không chịu thua anh Dũng nhưng
con biết phòng thân. Con có thể mời bố qua đây du lịch cả năm cũng được. Tuy
nhiên con cũng chưa định được tương lai cho mình! Bọn đàn ông bây giờ đểu lắm,
con chẳng tin ai! Chả lẽ ở đời chỉ toàn
là người xấu?! trong khi bố vẫn bảo con “Nhân chi sơ tính bản thiện!”.
Con biết là bố rất tự trọng, chẳng cần
nhờ vả vào ai. Con chi xin bố một điều: Bố cứ tin rằng trên thế gian này còn có
một đứa con gái yêu thương bố nhất đời. Nó sẽ khổ đau biết chừng nào khi nó
không giúp gì được cho người bố thương yêu của nó! Con
gửi về bố một nắm tuyết xứ người và con xin bố gửi cho con một chút nắng hanh
để sưởi ấm lòng trong những ngày đông giá.
Con thèm được nghe tiếng lá bàng khô cọ
trên mặt đường dưới cơn gió vi vút giữa phố vắng đêm đông...
Hương Giang Con gái yêu thương của bố”
Tôi kính cẩn trao lại thầy bức thư. Thầy
cẩn thận xếp nó vào ví và bỏ sâu nơi túi áo ngực phía trong. Hai thầy trò cạn
nửa chén rượu. Vị nồng ấm đậm thấm dần từ lưỡi tới cổ, bò theo thực quản xông
lên mắt cay cay. Thầy trầm ngâm:
- Thiên hạ người ta đang chửi bới lẫn
nhau! Vậy thì ở đời ai trong, ai đục? Họ coi thường khinh kỵ lẫn nhau nhưng họ
vẫn sống không thể thiếu nhau! Lịch sử là một dòng chảy không ngừng và không
bao giờ lặp lại. Không ai làm nên được lịch sử. Mỗi người chỉ có công việc giải
quyết những vấn đề của lịch sử đặt ra. Người tài ba thì biết vận dụng và khai thác
ở lịch sử để hòa trộn với cá nhân mình. Nhưng con người mãi mãi vẫn là trung
tâm của lịch sử. Con người luôn hướng thiện. Lịch sử vẫn đi lên. Tôi luôn tin
như vậy. Cũng như Copernic, trên giàn hỏa thiêu vẫn nói lời cuối cùng quyết
đoán: “Dù sao trái đất vẫn quay”! Tôi cũng có niềm tin như thế. Tất cả
mọi rác rưởi rồi sẽ bị cuốn đi!
Thầy cao tay nâng ly rượu ngang mày. Mặt
thầy nghiêm nghị. Mắt thầy quả quyết. Chiếc chân gỗ của thầy co lại đập mạnh
trên nền.
Ông chủ quán giật mình nhìn lên thấy
dáng vẻ thầy như vậy vội vã dạ ran, đứng bật dậy, tay cầm cây chổi quét lia lịa
những cọng rau, cọng rác dưới chân bàn…
Tháng
11 – 1996
* Thực binh: Những người đã quá tuổi hoặc vì lý do gì
trước đây được
tạm miễn thi hành nghĩa vụ quân sự.
No comments:
Post a Comment