NHƯ CÁNH CHIM CHIỀU
Kính tặng các chiến sĩ giao liên
Đồng Tháp Mười
{
Khi những cựu
chiến binh ngồi lại với nhau, họ là người tứ xứ, ở mọi lứa tuổi, đã dạn dày
cuộc sống, đủ các binh chủng ở khắp các chiến trường, chuyện không bao giờ hết.
Họ vui đấy buồn đấy và rất dễ xúc cảm vì mỗi câu chuyện đều gợi nhớ một thời
quá vãng.
Chị bạn đồng đội của chúng tôi đang hát.
Chị hát bài “Đường ta đi dài theo đất nước”. Dù không phải là “văn công” nhưng
chắc thời son trẻ chị hát cũng hay. Chị lên xuống đúng âm vực mặc dù giọng chị
đã rè bởi các dây thanh đới đã chùng và hay đứt đoạn vì ngắn hơi nhưng chị hát
trang nghiêm, gợi cảm. Những mái đầu bạc khẽ lung lay. Đến câu: “Những bước
chân coi khinh gian nguy”, chị hát như nói. Rồi chị lặng im, cúi đầu cầm
khăn tay chấm mắt. Chị vốn là giao liên, hẳn chị xúc động nhớ lại những tháng
ngày bước dài dẫn lối quân đi.
Ông Đại tá cao niên nhất đã từng qua ba
cuộc chiến tranh: chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên cương, trầm mặc nói như
giảng giải:
- Thời chống Pháp, những chiến sĩ đưa
đường còn được gọi là “liên lạc” hoặc “giao thông”, phần nhiều là nam giới.
Người ta quen gọi “chú liên lạc” vì ở các đơn vị thường chọn các chú nhỏ 15–17
tuổi thậm chí 13–14 tuổi. Anh “giao thông” là người đưa đường ở các địa phương.
Bọn lính các đồn bót biết họ, quyết truy lùng họ bởi họ là nỗi ám ảnh kinh
hoàng của chúng. Chẳng may bị sa vào tay giặc, họ sẽ bị phanh thây, chặt đầu
bêu trên cọc giữa ngã ba đường. Đến thời chống Mỹ, đội ngũ “giao liên” phát
triển thành bộ phận lớn nằm trong binh chủng “Thông tin liên lạc”. Lực lượng nữ
rất đông, đóng góp phần quan trọng. Tuy nhiên cũng có nơi họ được đặt dưới sự
điều hành của các cơ quan dân sự gọi là “giao bưu” nhưng nhiệm vụ không khác gì
nhau. Họ không chỉ phục vụ riêng cho các lực lượng vũ trang, họ còn là đường
dây liên kết các tổ chức trong cả một hệ thống “chiến tranh nhân dân” rộng lớn.
Công việc của họ đầy hiểm nguy mà âm thầm vất vả. Trong mọi chiến công đều có
họ, nhưng ít người biết tới. Ngày chiến thắng họ hòa vào trong các đoàn quân,
đi đầu các mũi tấn công, dẫn đường đại quân về đích.
Ông Trung tá tóc hoa râm, dáng nho nhã,
nói văn vẻ:
- Họ như những cánh chim chiều ta thường
gặp vào lúc bảng lảng hoàng hôn, dáng vẻ khi đủng đỉnh trầm tư, khi vội vàng
hối thúc. Tính cách họ dường như trái ngược: lúc nhẹ nhàng thân ái, lúc nóng
nảy lạnh lùng nhưng họ thật dũng cảm, mưu trí và quyết liệt. Trên đường hành
quân vạn nẻo không lúc nào vắng họ nhưng với một người, ta thường chỉ được gặp
một lần! Vậy mà hình ảnh của họ rất sâu đậm trong ký ức cuộc đời người lính
chiến!
Và tôi ghi lại ở đây câu chuyện của ông
trung tá kể về “những cánh chim chiều” ấy trên bưng Đồng Tháp.
Tôi
là trai Hà Nội, vào chiến trường Nam bộ khá sớm. Vùng Đồng tháp Mười
giáp ranh với Campuchia, chạy suốt từ Ba Thu – Tà Nông – Tân Lèo tới Bắc Long
An, Kiến Tường, Mỹ Tho, Kiến Phong... tôi đã đi lại nhiều lần tới mức mỗi khi
tình hình chiến sự bớt căng, tôi có thể “qua mặt” các Trạm Giao liên, rủ nhau
dăm bảy “khách đi đường” tự cắt hướng lách địch mà đi. Cán bộ, chiến sĩ ở các trạm giao liên, tôi quen biết nhiều
nhưng một đặc điểm tôi rút ra được là không thể quen với một trạm hoặc với một
người nào lâu được! Bởi lẽ rất đơn giản thôi là vơi mọi phương tiện thám sát
cực kỳ hiện đại của nền “văn minh chiến tranh” Hoa Kỳ thì khó có nơi nào qua
mắt họ! Cũng may là ở đất nước mình có một quy luật để tồn tại, như một sỹ phu
yêu nước ở thế kỷ trước đã khẳng địn: “Chừng nào nước Nam hết cỏ thì
mới hết người đánh giặc ngoại xâm!”. May sao, chúng tôi đã nghiệm ra rằng
với chất độc hóa học của Mỹ, mọi màu xanh của cỏ cây bị hủy diệt nhanh đến
không ngờ nhưng sau đó chính trên mảnh đất ấy, cây cỏ non lại mọc nhanh hơn!
Địa điểm của mỗi trạm giao liên thường
xuyên thay đổi, có khi thật táo bạo bất ngờ. Một lần, sau khi lội bì bõm gần
hết đêm trên đồng bưng mênh mông, tới một cụm tràm, mệt mỏi rã rời, mọi người
mừng thầm tưởng đã đến Trạm rồi, vậy mà anh giao liên cứ đi thoăn thoắt, lách
mình qua những thân tràm, có ai đó hỏi:
- Đến Trạm rồi sao không cho nghỉ?!
Anh giao liên vẫn vùn vụt bước đi, miệng
trả lời tỉnh queo:
- Nghỉ đây mà chết à?!
Mọi người ngao ngán lúp xúp chạy theo
anh. Qua cụm tràm rồi, đêm trăng suông giữa đồng bưng mông lung quá! Trước mặt
bát ngát một màu xanh rờn rợn bàng bạc trên sóng nước! Chân thì sắp rời ra khỏi
người mà cứ “long” mãi thì bao giờ mới lại đến được một cụm địa hình?! Có giọng
mệt mỏi, oán trách rầm rì
- Bao giờ mới tới nơi, cha nội?!
- Một đỗi nữa thôi!
Lời anh giao liên chẳng như ra lệnh mà
vẫn như thúc giục. Trời ơi! Một “đỗi” của giao liên thì vô chừng cũng chẳng
khác gì một “khúc dao quăng” ở đường rừng! Vậy mà chỉ chừng 15–20 phút thôi,
nghĩa là cách cụm địa hình khoảng vài trăm mét, chân còn ngập nước tới nửa ống
quyển thì giao liên đã đi chậm dần rồi dừng lại hỏi:
- Các đoàn kiểm tra lại xem đủ cả chưa?
Khách của giao liên gồm đủ cả già, trẻ,
gái, trai, cán bộ, chiến sĩ quân sự và
dân sự, từng tốp họp nhau lại thành đoàn. Đi trong đêm cả một chặng đường dài
đằng đẵng thì ai còn có thể kiểm tra được đội ngũ của mình?! Tự thân mỗi người
phải ráng bám nhau thôi. Một giọng đáp đại hơi gằn:
- Đủ ráo trọi rồi!
Anh giao liên giờ mới cất giọng đều đều
giải thích:
- Nói mấy chú, mấy anh chị nghe, hồi này
máy bay địch tăng cường trinh sát, ngày cả chục lần, “đầm già”, “cầu tiêu”,
“cán gáo”, “bồ nóc” quần đảo khắp bưng! Mà khúc này không thể vượt trạm được,
lộ “gồi”! Tuyệt đối bí mật, một chút sơ hở là nó kêu trực thăng “đổ giò” liền,
chết “gáo”! Lúc này dường như ai nấy đã tỉnh ra, nghĩ mà ngán! Đồng bưng trống
lốc thế này. Có vị lại hăng lên:
- Vậy hãy đi ráng qua khúc này!
Vẫn giọng đều đều, anh giao liên đáp:
- Không được! Đi một khúc nữa là tới
sông. Tàu, xuồng, bo bo của nó kiểm soát tối ngày. Dù có qua được sông thì cũng
sáng trật “gồi”, lộ “gáo”!
Cái giọng đớt âm “g” với âm “r” của
người miệt nam lộ Bốn, ven sông Vàm Cỏ, nghe đã quen, không thấy lạ. Nói rồi,
anh giao liên hỏi:
- Có ai cần hỏi gì không?
Yên lặng, anh tiếp:
- Sớm mai, trước khi phân tán, cần nghi
trang xóa mọi dấu tích. Chiều êm, tụi tui sẽ “ga” sớm để còn kịp qua sông!
Chưa hết câu, anh ta đã quay ngược lại,
bước sải ào ào. Lúc anh ngang qua, tôi hỏi:
- Đây là trạm mấy?
- T5, mai qua Z1!
Anh ta trả lời gọn lỏn và cắm cúi đi...
Chỗ
này tuy gọi là gò nhưng nơi cao nhất nước cũng xâm xấp bàn chân. Ai đã từng
nhiều lần qua các Trạm giao liên trên bưng Đồng Tháp sẽ mau chóng làm được cho
mình một chỗ nghỉ tạm qua đêm trên gò nước ấy. Đơn giản thôi, chỉ cần tém cỏ
năn khoanh lại thành một ổ vừa nằm, trải tấm nilon rộng phủ lên, nằm khoanh
tròn trong cái ổ ấy cũng có thể giải được nỗi nhọc nhằn. Vấn đề cơ bản là tấm
nilon phải thật lành lặn, không được có một lỗ châm kim.
Sớm ra, khi mặt trời còn khuất sau dặng
cây xanh xanh mờ xa, đồng bưng còn mù mờ lung linh một màu xanh xám, bóng người
thấp thoáng í ới gọi nhau, chỉnh trang lại địa hình rồi phân tán mỏng ra, mỗi
người tự tìm cho mình một chỗ “chém vè”. Khi ánh mặt trời lóe lên, cả đồng bưng
sáng trong, tĩnh lặng và hoang vắng. Tôi cùng một đồng đội “chém vè” dưới một
bụi năn cao, bên một bàu sen nước trong leo lẻo. Một nhánh cây mua khẳng khiu
lung lay vài cánh hoa tim tím. Cả một vạt sen hồng rung rinh dưới nắng sớm mai.
Những cánh sen trong đầm đã đẹp nhưng những cánh sen nhô lên trên đồng bưng
mênh mông bát ngát này nó càng có vẻ gì trinh trắng, tinh khiết, bình dị mà
thanh cao, phóng khoáng biết bao. Lời ca: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”
thật đúng. Đời người chiến sĩ gian lao, vất vả thật nhưng ít ai có được dịp may
như họ, được ngắm nhìn thiên nhiên trong cảnh tự nhiên: hoang sơ, u tịch, trinh
nguyên. Lòng người chiến sĩ bẵng quên đi những hiểm nguy đang đón đợi mình.
Chiều nhạt mờ dần. Sau một ngày căng
thẳng với cái nắng cháy trên bưng, với sự dòm ngó, rú gào, chà xát của đủ các
loại máy bay trinh sát, với cái dạ dày cồn cào do phải nín nhịn bởi một khẩu
phần ăn tối thiểu. Chúng tôi lại tụ về nơi đỉnh gò hồi hôm chờ đợi.
Người giao liên
khúc đường chiều nay không còn là anh giao liên cộc cằn đêm trước nữa. Tôi
không rõ mặt anh, cũng không biết tên anh, chỉ nhớ tới anh như thấp thoáng một
bóng người bương chải, lặn lội trong đêm trên bưng Đồng Tháp. Có khác chi một
cánh cò, cánh vạc! Cầu mong cho anh cũng được may mắn như tôi, còn trót lọt qua
cuộc chiến tranh này...
Một
người con gái vai khoác súng AK, dây lưng hông mang chùm lựu đạn, đi về hướng
chúng tôi. Cô bước nhanh, đôi chân dẻo và gọn không làm nước bắn tung theo nhịp
bước. Cô giao liên trẻ măng, chỉ chừng 16–17 tuổi. Chân vẫn còn bước mau, chưa
tới trước đám khách chúng tôi, cô đã hỏi:
- Mấy chú, mấy
anh đủ cả chưa?
Giọng cô nhỏ nhẹ mà thanh vậy mà mấy
chàng lính trẻ của tôi chẳng nể, bô bô:
- Đủ cả rồi!
Mấy giọng Bắc cố
tình nhấn mạnh âm nặng của tiếng “đủ” theo giọng miền Trung.
Vài tiếng cười giỡn nhỏ to. Một giọng
nam trung niên đưa đẩy:
- Suốt ngày
“chém vè” muốn chết, có đâu mà ấy... tụi bay!
Lại rúc rích tiếng cười…
Nét mặt cô giao liên nghiêm lại. Cả mấy
nữ khách cũng lặng thinh, nhìn đi chỗ khác.
Chà, gái đồng bưng mà hai má sáng lên
trong ánh chiều muộn, đôi mắt to, lanh lẹn và sáng rỡ. Cô nhìn thẳng vào những
ai đang nói giỡn. Im lặng! Cô nói chậm rãi, rõ ràng:
- Bữa nay qua sông, các dì chú, các anh
chị chuẩn bị hết chưa?
Với khách quen trên bưng Đồng Tháp này,
khi nói qua sông, mọi người tự biết phải làm gì. Nếu có ai chưa biết thì nội bộ
phải lo lấy cho nhau thôi.
- Mọi người có biết lội không? – Lướt
nhìn khắp đám đông, cô hỏi.
- Lội thì có đếch gì mà phải hỏi! – Một
giọng lính trẻ cộc cằn.
Cô đưa mắt qua đám lính trẻ người Bắc
của tôi, với giọng dõng dạc, rõ ràng như một lời trách nhẹ:
- “Lội” tức là “bơi” đó, mấy anh rõ
chưa?
Lại một lời trên chọc:
- Lội là lội, bơi là bơi, cho nó rõ
ràng, dứt khoát chứ em!
Vẫn nhìn thẳng vào đám lính trẻ đang
muốn bông lơn, giọng cô dịu xuống:
- Mấy anh đừng có giỡn, đã có anh chết đuối
vì chuyện bơi với lội đó! Anh nào không biết bơi phải chuẩn bị bọc nilon cho
thật tốt và lúc qua sông phải có người biết lội theo kèm!
Lời nhắc nhủ thân tình và đầy trách
nhiệm ấy như một mệnh lệnh khiến mấy chú lính trẻ lặng thinh. Cô căn dặn tiếp:
- Trên sông, tàu, xuồng địch tuần tra
liên tục, đôi lúc có cả tàu lặn nữa. Hiện đã có tổ cảnh giới trực sẵn bên sông.
Khi qua được sẽ có lệnh, mọi người phải khẩn trương qua sông nhanh, nhẹ. Qua
tới bờ bên kia phải chạy sâu cách bờ chừng 200 mét mới được dừng lại!
Lúc này ai cũng thấy căng, không còn
giỡn nữa. Mấy anh lính trẻ động viên nhau:
- Sợ đếch gì, gặp địch là đánh!
Một ông lớn tuổi nói trỏng:
- Mà gặp địch ở
giữa sông, nó trên tàu mình dưới nước đó nghen!
Một giọng trẻ mà đanh:
- Thì chết là cùng chứ đếch gì!
Im lặng… Vẫn giọng nhỏ nhẹ động viên
chúng tôi:
- Mấy anh, mấy chú cứ yên tâm. Vậy chớ
tổ cảnh giới nắm chắc lắm, có phối hợp cả với cơ sở nữa, chắc ăn ta mới qua
sông!
Dường như mọi người cũng thấy yên lòng.
Chừng khuya, tới khúc bưng cứ thoai thoải
dần, càng đi mỗi lúc ngập nước sâu hơn, ấy là dấu hiệu đã tới gần sông. Cô giao
liên ra hiệu dừng lại, và cô bước nhanh lên phía trước, rì rầm nhỏ to với mấy
chiến sĩ cảnh giới. Lát sau cô quay lại, tình cờ ngồi sát bên tôi. Mọi người đã
sẵn sàng: ba lô, trang bị gói gọn trong bọc nilon. Tôi hỏi:
- Sao, qua được chưa?
Cô nói nhỏ:
- Không hiểu sao hôm nay nó tuần tra
nhiều quá, liên tục từ chiều tới giớ?!
- Liệu qua được không? – Tôi lo lắng
hỏi.
- Cứ chờ đã, nhiều khi nó “quần” riết
rồi cũng mệt hà! Quá khuya là nó nản, gần sáng lại làm lung. Chờ lúc nó sơ hở
là ta vọt luôn!
Tôi quay lại nói với mấy chiến sĩ :
- Tranh thủ đi, chừngnào qua được, tao
kêu!
Có tiếng ai đó
làu bàu, vẻ vừa phiền trách, vừa bóng gió:
- Muỗi bỏ mẹ, ngủ sao đươc! Thủ trưởng
cứ tranh thủ đi!
Cô giao liên áp sát vào tôi hỏi:
- Anh rước mấy ảnh mới xuống à?
Tôi cảm nhận rõ hơi ấm phà bên má tôi.
Tôi thì thào đáp lại:
- Ừ, lính mới toanh, lần đầu tiên xuống
Đồng Tháp đó!
- Chết, vậy sao mấy ảnh qua sông?!
- Em yên tâm đi, đã huấn luyện trên cứ
cả rồi. Nói chung là không đến nỗi!
- Tội nghiệp, lần trước mấy ảnh liều
mạng vô cùng, qua sông cứ lội đùng đùng, lúc nước ngập tới cổ, sình lút dưới
chân, nước chảy xiết, lục bình dày đặc cuốn mấy ảnh đi luôn. Mấy ngày sau, xác
giạt vô chân cầu, bọn lính lôi lên đem phơi ra mí lộ! Cơ sở đấu tranh mãi với
bọn nó, đòi được đem xác đi chôn. Chút nữa qua sông, các anh đi một đỗi sẽ qua
cái gò có mấy nấm mồ – Mấy ảnh đó!
Tôi hỏi:
- Em mới đi giao liên à? Mấy lần trước
qua, anh không gặp?
- Giao liên thì lâu rồi, ở Xã, Huyện,
giờ mới lên Khu!
Qua chuyện trò, tôi biết cô là Út Điệp,
cha cô là Bí thư Chi bộ Xã, mới hy sinh. Tôi đã từng gặp ông vài lần trong cụm
địa hình vùng căn cứ lõm. Anh Hai là xã đội trưởng. Chị Ba là nội tuyến ở
Thành. Chị Tư là y tá Quân y huyện. Anh Năm trên An ninh Khu, được cho ra ngoài
Bắc học. Mẹ cô là cơ sở của địa phương bám ngoài mé lộ. Cô buồn rầu nhắc tới
người cha:
- Tại ổng thươngmấy thằng “lao công đào
binh” đó! Nó bị đày ải quá, lúc ta đánh mạnh, nó sợ chết chạy qua mình. Ba em
đem nó vô địa hình nuôi, ổng định giác ngộ nó theo mình. Nhưng đến khi mình bị
chà xát quá, bọn nó chịu không nổi lại nhảy ra chiêu hồi rồi đem lính về đánh điểm lập công!
Tôi hỏi:
- Sao em không vô Quân y?
- Trời, Quân y và Giao liên đều cực hà!
Mà đi giao liên ngoài lúc đưa khách là khỏe re!
- Em có buồn lính của anh không?
- Làm nghề này mà chấp nhất thì dễ đánh
lộn rồi bị kỷ luật luôn! Như làm dâu trăm họ! Đủ các loại khách. Mấy ông lớn
thì đòi hỏi giao liên phải an toàn tuyệt đối và nhanh. Đến cái thân mình cũng
đâu có chắc! Trước sau gì rồi cũng chết thôi hà! Mấy anh khách trẻ thì “bất tử”
không chừng lắm! Các ổng đã mệt rồi thì quạo lên, giao liên mà xớ rớ mấy ổng
đập liền! Mà bỏ mặc mấy ổng đâu được! Có lần một anh khách lạc, ảnh nằm phơi
đại giữa bưng, sáng ra trực thăng lên đảo, ảnh đứng sổng giữa đồng trống giương
AK lên chọi với nó. Tụi nó kêu một bầy trực thăng lên quần nát! Xác ảnh nó lấy
dây cột giòng khắp bưng rồi ra vứt ngoài mặt lộ! Anh em ngoải vô, nhiều người
chết thương quá trời! – Giọng em rầu rầu thương cảm.
Tôi ghé sát bên tai em nói nhỏ:
- Mà em cũng rất thương đó chớ?!
Có tiếng cảnh giới gọi phía trước. Cô
vọt chạy lên, chút sau quay lại:
- Vượt sông mau! Mấy chú, mấy anh lên
phía trên dòng chừng 20 mét. Mấy dì, mấy chị ở phía dưới này!
Săng sái như một người chỉ huy tháo vát,
cô ra lệnh rõ ràng, mau lẹ trong khi chân cô bước sải dài ào xuống mí sông.
Lính ta rì rầm bảo nhau tuột nốt áo
quần, vác bọc trên vai ào ào chạy theo bóng cô gái nhỏ.
Đêm tối, chỉ thấy thấp thoáng bóng người
thật gần, tiếng oàm oạp và đôi lúc cả tiếng vỗ sóng rào rào của mấy người bơi
kém. Có tiếng sặc nước của ai đó. Tiếng cô giao liên thoảng trên mặt sông:
- Nhẹ thôi, lẹ lên!
Lúc qua sông thì nam, nữ còn có bến
riêng nhưng khi tới bờ bên kia, nước cuốn, cả nam lẫn nữ có chỗ dồn cục lên
cùng một bến. Tiếng mấy chị nữ vẻ bực mình:
- Mấy anh này kỳ cục, sao cụm cả vô đây?
Có tiếng thở gấp gáp, phì phò như muốn
đứt hơi, ngoặc lại:
- Ai thèm?! Nước nó trôi chứ bộ. Mà tối
thế này có thấy mẹ gì đâu!
Cô giao liên đã qua trước tự lúc nào,
chạy dọc theo bờ thúc giục:
- Lẹ lên! Tàu địch!
Mọi người vác bọc chạy rào rào, lom
khom. Văng vẳng có tiếng máy tàu từ phía dưới sông. Tiếng máy lướt trên sóng
nước lúc một rõ, nghe vang vang tiếng lính nó thét:
- Việt cộng! Việt cộng!
Vài tràng AR 15 xen vài tiếng nổ đùng
đùng của M79… Những tia đạn đỏ lằng nhằng lẫn vài cục lửa sáng lòe trong đêm.
Mọi người nằm rạp xuống bị lê lết. Tiếng
cô giao liên bình thản
- Nó bắn hù đó! Có ai sao không?
Tiếng tàu nhỏ và xa dần. Một giọng nam ê
ẩm thốt lên:
- Cái đầu lớn vẫn còn nguyên, mà cái đầu
nhỏ của thằng em, cỏ cứa đứt rồi!
Tiếng cười rúc rích, và có ai đó đế
theo:
- Chị em nào nhặt được thì cho không
luôn!
Giờ mới thấy giọng nữ làu bàu:
- Chết mà còn cà chớn!
Qua bờ sông một quãng, mọi người tụ lại,
hổn hển xếp lại hành trang. Đâu đó vọng lại một tiếng rên nhỏ. Út Điệp lao
nhanh về phía đó. Lát sau, cô lặc lè dìu tới một người và nói như ra lệnh:
- Các đơn vị kiểm tra quân số!
Người bị thương là khách lẻ – một cán bộ
của Ban Tuyên huấn Khu được phái về chốt tiền phương. Tay
đỡ người bị thương, cô nhắc nhở mọi người:
- Hãy phân tán ra!
Tôi ở lại cùng cô. Trong đêm tối, cô
băng bó vết thương nhanh và thành thạo. Sau khi hội ý với tổ giao liên, cô quay
lại nói với tôi như nài nỉ:
- Anh Ba ơi! Khúc này đổi trạm, Z1 chỉ
có hai người lên đón: một người bám lộ, một người dẫn khách. Anh giúp em đưa
chú này về Trạm Quân y!
Thấy tình cảnh của cô bí thật, tôi quyết
định cử hai chiến sĩ theo phụ giúp cô. Mới đầu, hai cậu phản đối:
- Người của đơn vị nào phải tự lo chớ!
Cô giải thích nhẹ nhàng:
- Đúng là vậy. Nhưng đây là khách lẻ,
tụi em phải lo!
Không hiểu vì nể lời em hay là phải chấp
hành mệnh lệnh, một cậu lém lỉnh tiến đến gần em và nói:
- Thôi, vì em các anh sẵn sàng phục vụ!
Cô không phản ứng gì, lẳng lặng bỏ đi.
Chúng tôi đứng ngẩn ngơ chưa hiểu sự tình. Chút sau cô quay lại vác theo một
cây đòn làm cáng võng. Mấy chú lính như được gỡ rối, vẻ thán phục:
- Vậy chớ! Cõng em thì được chớ cõng
thương binh sao nổi!
Giờ cô mới nói động viên, giọng thật dịu
dàng:
- Mấy anh ráng giúp em chút đi!
Bước về phía tôi, cô dặn dò chia tay:
- Anh Ba cứ đi theo trạm, em sẽ gởi mấy
ảnh tới ngay thôi! Anh đi mạnh nghen!
Mấy câu sau cô nói nhỏ hơn, nghe thật
ngọt ngào.Tôi quyến luyến nắm bàn tay em bóp mạnh:
- Hẹn gặp nghen, Út Điệp!
Em nhẹ rút tay ra, thì thầm nhắc nhở :
- Anh Ba!
Súng khoác bên vai, em quay đi bước
nhanh vùn vụt theo dọc bờ sông, vội vàng giục giã:
- Đi thôi, mấy anh!
Lời cô như tan biến vào bờ lau, bụi
cỏ. Tôi sững sờ, em giục ai? hay em giục tôi?
Tôi chạy vội theo đoàn khách về xuôi,
còn kịp nghe vẳng lại lời mấy chiến sĩ của tôi:
- Đợi anh với… e… em ơ… ơi!
- Đừng bỏ anh bơ vơ lạc lõng giữa đơ…
ời...!
Sau
chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, tôi có việc về hậu cứ.
Lại theo đường dây Z1 – T5.
Bây giờ là mùa khô. Cả một đồng bưng đất
phèn khô nứt nẻ, cỏ năn khô rụi quắt queo. Trời vừa chập tối, chúng tôi đã qua
sông bằng ghe tam bản. Đến đoạn T5, vành trăng lưỡi liềm mới ở đỉnh đầu. Chúng
tôi mắc võng ngủ tản mác trong một cụm tràm. Sáng sau không còn phải phân tán
đi “chém vè” xa, nhưng để cảnh giác chúng tôi cũng rải rác ra trú bên những
công sự trong cụm địa hình…
Gần trưa, tôi lân la tới căn hầm của
Trạm. Ba chiến sĩ giao liên đang lui cui chuẩn bị bữa ăn. Tôi lên tiếng bắt
chuyện làm quen. Lạ thay, cả ba đều nói với tôi bằng giọng Bắc có pha những từ Nam
bộ. Tôi nói thân thình:
- Ủa, ra các ông lính Bắc kỳ à? Vậy mà
hồi hôm nói y hệt người Nam ?
Anh chàng lớn tuổi nhất nói dài giọng,
vẻ như hờn dỗi:
- Quân chủ lực thành quân du kích
đây! À, mà giờ đã là dân “giao bưu” rồi
chớ! Mỗi người dân là một người lính, “chiến tranh nhân dân” mà, đánh bao lâu
chẳng được!
Tôi hỏi thăm về Út Điệp. Cả ba nhìn tôi
thăm dò. Tôi chủ động nói tôi quen thân với gia đình cô ở vùng căn cứ, giờ muốn
gặp cô thăm hỏi. Một anh nói vẻ trang nghiêm:
- Nó đang nằm ngoài kia!
Tôi nhìn theo tay anh chỉ hướng ra phía
bưng, cách cụm tràm này chừng vài chục mét, một cái gò nhỏ trơ trụi, lô nhô vài
ụ đất bạc phếch màu cỏ khô: Những nấm mồ! Tôi giật mình!
- Cổ hy sinh hồi nào vậy?
Không ai đáp câu hỏi của tôi…
Tôi lặng lẽ trở lại công sự. Mấy anh em
đang ăn cơm trưa. Cơm vắt chấm với muối tiêu! Tôi ngồi xuống, nhẩn nha nhai mấy
miếng cơm mặn đắng.
Chiều nay ngược rồi. Tôi quyết định lại
quay qua Trạm hỏi rõ về cái chết của cô. Hai anh đang ngủ say dưới nắng trưa
hầm hập hắt xuống hầm. Anh chàng lớn vẻ như còn chập chờn, thao thức. Tôi đưa
ra gói thuốc Ruby, mắt anh mở to như sáng ra:
- Ôi, thèm quá!
Anh hít liền mấy hơi dài, phả ra làn
khói mỏng tăng lơ lửng trong hầm. Tôi chưa hỏi, anh đã như say, trầm trầm kể
lại với vẻ u buồn:
- Ông quen Út Điệp à? Tội nghiệp con
nhỏ, được người, được nết! Nó là chủ lực của cái Trạm này. Một năm nhà nó mất
ba người: ông già nó, anh Hai nó, rồi đến nó!
Vẫn một nhịp điệu nhỏ buồn buồn, như một
sự luyến tiếc sâu xa, anh kể cho tôi nghe về buổi chiều hôm ấy:
- Lúc khởi đầu chiến dịch, quân ta đánh
ì xèo dưới đó, vùng này cũng êm, Trạm lại chuyển vào trong cụm. Đêm nào cũng có
khách qua đường, xuôi ngược tùm lum. Trạm chỉ còn ba đứa thay nhau đưa đón. Đứa
nào đứa nấy muốn hộc hơi! Đợt ấy, con nhỏ bị sốt rét, vậy mà cứ cắt cơn là nó
lại đi chẳng hề kêu ca một lời. Có còn ai nữa đâu! Khuya hổm đưa khách về, lại
lên cơn sốt, hết rét rồi nóng hầm hập. Sẵn thuốc, tụi này cho uống, sáng ra nó
nằm thiêm thiếp. Tụi này cho uống ca nước rau má với đường, nó tỉnh dần rồi
cũng ngồi dậy đi ra vô được. Gần trưa, tôi với thằng này – anh chỉ vào một
người đang nằm, mặt quay ra hướng cửa hầm, ngoẹo đầu về một bên, da mặt đen
sạm, khó mà đoán tuổi, rủ nhau ra đìa phía đàng kia kiếm ít cá, luơn về nấu
cháo cho nó ăn. Chừng quá trưa, một chiếc “bồ nóc” từ dưới Đồng Tâm lên, đảo
một vòng rộng quanh bưng. Ông tính, khách lên xuống nườm nượp, có lúc cả đại
đội, tiểu đoàn hành quân tới sáng còn “ló đuôi” thì làm sao giữ kín được dấu
tích ở cái bưng trống lổng này! Thế là chiếc trực thăng vòng xoáy lại ngay cụm
địa hình này! Hai đứa tôi “chém vè” ngoài bưng lo quá mà cũng không làm gì
được! Nó thả một trái màu. Lúc sau, hai chiếc “cá lẹp” lên quần đảo và bắn nát
cụm tràm! Rồi một bầy “cán gáo” lên đổ quân xuống ào ào. Từ ngoài bưng, chúng
bắn như vãi đạn vào trong cụm: AR15, M79 cùng đại liên, rôc-két từ máy bay bắn
xuống. Thấy êm, chúng kéo nhau vào. Tụi này hồi hộp vô cùng! Bỗng một loạt “AK”
vang lên, bọn lính kêu la í ới chạy lùi ra xa. Súng các loại từ trực thăng và
bộ binh lại thi nhau bắn vô cụm. Lâu sau, chúng dò dẫm kéo vô. Tiếng “AK” giờ
cứ nhắp từng chặp ba phát… ba phát cầm chừng. Đạn từ ngoài bắn vô thì liên hồi
kỳ trận! Rồi chỉ còn nghe tiếng đạn của bọn lính thôi... Rồi im... Bọn lính lại
dò vô... Hồi lâu yên lặng... Bỗng thấy tiếng bọn lính la rần rần... Tụi này
chưa hiểu ra sao thì nghe nổ cái đùng! Rõ là tiếng trái nổ… Bọn này đoán được
hết rồi… Tiếng bọn lính la hoảng, kêu thét... Lâu sau, cả bầy trực thăng chở
lính bay tuốt về mé dưới... Mãi chiều tối, bọn này mới lần về Trạm. Tất cả tan
nát, tơi bời! Xác con nhỏ tanh bành! Nó ôm trái da láng cuối cùng mà ai cũng
thủ bên mình, cho nổ!
Chắc mẹ và chị cô đã biết rồi! Cái chết
thời chiến này thường lắm, ai cũng sẵn đón nhận nó đến với mình! Giờ này, ngay
cả mẹ và các chị cô liệu có còn không?
Xế chiều rồi mà nắng còn gay gắt. Chút
nữa tôi ngược về trên. Tôi ra khỏi căn hầm giấu mình dưới đám lá tràm khô quắt.
Bước chân tôi đạp trên những chiếc lá khô nghe rào rạo. Tôi đi ra bưng, hướng
về phía gò nơi Út Điệp đang nằm. Cái gò nhỏ này có tới bảy nấm mồ! Một trạm
giao liên chỉ có ba tới năm người! Những ngọn cỏ năn tàn úa quắt queo nằm rạp
trên những nấm mồ nổi lên thành từng ụ nhỏ. Không hương! Không hoa! Không mộ
chí!
Út Điệp ơi, tôi vẫn nhớ lời em: “Trước
sau gì rồi cũng chết thôi hà!”. Em đã đi trọn một đoạn đường. Con đường ấy
hôm nay anh đang đi.
Nắng chiều nhạt nhòa. Một con bướm lượn
lờ quẩn quanh trên gò mộ. Cánh bướm chập chờn, không cao, không thấp, không
gần, không xa như một cánh điệp mơ màng… Hay hồn Út Điệp?
Bướm ơi! Điệp ơi! Em đã như một cánh
bướm nhỏ nhoi tồn tại khoảnh khắc trong cảnh đời khói lửa này.
Tuần báo VĂN NGHỆ – HỘI NHÀ VĂN V.N
Số 36(1964) –
Thứ bẩy ngày 6/9/1997
(ÚT
ĐIỆP)
No comments:
Post a Comment