NHÀ MẶT TIỀN


NHÀ MẶT TIỀN
                                       {

         Tôi là con út. Tôi có hai người anh. Khi sanh tôi thì cha tôi đã vào tuổi ngũ tuần. Vậy là mẹ tôi còn trẻ. Mẹ kém cha hơn chục tuổi. Nghe nói phương tây người ta kỵ con số 13. Nhưng với thân phận tôi thì con số 3 là xui xẻo!
Bố tôi kể lại rằng vì lấy vợ muộn nên sau khi cưới, bố cho mẹ đẻ “cấp tập” liền hai đứa. Được hai đứa con trai, bố tôi lại thèm đứa con gái nên lơi là “cảnh giác” và đã sản sinh ra tôi “vô kế hoạch”! Cái sự “vô tổ chức” của cha nhưng mẹ tôi lãnh đủ. Vì sanh hai anh tôi qúa gần nhau nên hai năm liền mẹ bị cắt danh hiệu “Lao động tiên tiến” – Đó là phần thưởng bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần duy nhất hàng năm, tuy không “nhằm nhò” gì nhưng không được thì cũng tủi! Đến cái sự ra đời liều lĩnh của tôi thì không ai chấp nhận được nữa rồi: Mẹ tôi bị cho thôi việc! Cha tôi quýnh lên! Dẫu có phải làm “đầu tắt mặt tối” cha mẹ tôi cũng cam chịu, chớ trách chi ai! Bố tôi là bộ đội, năm thì mười họa mới về nhà. Mẹ tôi mất việc, cuồng chân mà chỉ biết ngồi chơi xơi nước lã! Lấy gì nuôi con?! Tôi không hiểu cha mẹ tôi vui lên hay vất vả tới mức nào vì sự có mặt của tôi trên cõi đời này?! Tôi cũng không cảm nhận được tuổi thơ ấu của tôi sướng hay khổ nữa?! Đến nay tôi vẫn lờ mờ nhớ rằng ngày xưa cả nhà vẫn gọi tôi là “Út Choắt”, có lẽ bởi tôi còm cõi! Một niềm hạnh phúc tôi mang theo suốt đời là được cha cưng chiều hết mức. Lúc nào cha con cũng quấn quít với nhau không rứt ra được, tới mức các anh phải ganh tỵ và mẹ bực mình đã không ít lần cho tôi những “cái đét lằn mông” vô cớ!
Đang lúc bế tắc thì gặp cứu tinh. Chẳng là bố tôi từng nhiều năm chiến đấu ở Miền Nam, nay mấy chú, mấy bác đồng đội ngày xưa thông cảm, nhận cho chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ tôi là người Đàng Trong, sống ở quê nên còn nặng nếp xưa: lấy chồng thì phải theo chồng, anh bảo em sanh cho anh mấy đứa em cũng chiều lòng chớ sợ chi mô! Mẹ như cái thân cò lặn lội ra Bắc vào Nam, ngàn dặm xa mà cánh cò chẳng mỏi! Đôi lúc vui chuyện gia đình, bố nói đùa yêu: “Nhà nào hiếm muộn mà kiếm được nàng dâu như mẹ mày là đại phúc. Nái dòng đấy con!”. Lớn lên học lịch sử tôi mới hiểu ra : hàng mấy trăm năm nay, qua bao thời đại, dòng người cứ cuồn cuộn chảy từ Bắc vào Nam với nhiều nguyên cơ: chính trị, kinh tế, xã hội... Nhưng trường hợp như gia đình tôi thì chưa ai nói tới: cha mẹ tôi... mắn đẻ! Thảo nào mà ở trong này có những bác Tám, dì Chín, chú Mười, cậu Út Một – Hai – Ba ... cho đến cô Út Chót! Chắc là hết trứng?!
Bố tôi kể lại vào đầu những năm 1980, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất còn rộng mênh mông, hoang phế, cỏ mọc um tùm, lâu lâu con gà, con chuột, con mèo, con chó, con bò đụng phải trái nổ banh xác! Những dãy nhà kho trống tuyềnh toàng, mái tôn hoen rỉ. Mấy anh em có gia đình được đơn vị cho xây ngăn ra từng gian rộng thênh thang. Mấy người quen biết nhiều thì chạy ra phố xin nhà ở. Những ai cô thế củ mì thì cứ bám trụ, đất đó mặc sức tăng gia. Mấy ông bộ đội dày dạn chiến trường súng đạn dễ gì ăn được! Cha tôi khai phá hơn ngàn mét vuông mà chẳng hề hấn chi. Cha đào ao nuôi cá, thả vịt, nuôi bò, gà, trồng rau, trồng chuối... Cả gia đình tôi đã qua được thời bao cấp ngặt nghèo theo cái kiểu kinh tế “tự túc tự cấp” ấy, tuy nhọc nhằn nhưng thảnh thơi đầu óc.
Đến thời mở mang kinh tế, cấp trên có lệnh thu hồi lại đất, nhưng nghĩ đến công lao nhọc nhằn nguy hiểm của người khai phá, đơn vị ưu ái cho những ai bám trụ mở mang được diện tích gấp đôi tiêu chuẩn. Người đến đo đất là anh em cùng đơn vị và cha tôi cũng nống thêm ra mỗi bên dăm mét nữa… Đùng một cái người ta mở đường. Nhà tôi thành nhà mặt tiền quí giá. Với chiều ngang hơn chục mét, chia được thành ba lô đất đẹp. Chỉ cần bán đi một lô thôi, cha tôi cũng dư tiền xây căn nhà một trệt hai lầu đẹp đẽ. Trước đây dù có nằm mơ cả nhà tôi cũng không ai dám tơ tưởng đến. Bạn bè thân thiết nói vui: “Thánh nhân đãi khù khờ!”. Cha tôi không hề tự ái vì bản tính ông vốn hiền lành, nhiều khi như người cam phận, chỉ biết cần mẫn lo phận sự vơi Nhà nước và với vợ con. Mẹ tôi thương cha tôi cái nết ấy bởi tính mẹ cũng không thích sự ganh đua. Cha tôi thường bảo:
- Đất nước cũng như gia đình, cứ hòa bình ổn định là đại phúc!
Cha tôi là người chắc chắn. Mẹ tôi là người căn cơ. Còn một lô đất nữa, cha dựng lên ngôi nhà trệt. Cả nhà tôi ở hai lầu vẫn còn rộng chán. Bỗng dưng nhà tôi có hai mặt tiền rộng rãi giáp nhau để cho thuê...
Trước đây lam lũ, gom nhặt từng đồng chỉ đủ đắp đổi qua ngày có chi đâu mà dành dụm. Chuyện gần, chuyện xa phó mặc cho trời đất, thế sự xoay vần. Giờ đây ở nhà lầu, suốt ngày vào ra, lên xuống mấy căn phòng, ăn trắng mặc trơn, nhàn nhã mà luôn dằn vặt, chẳng biết làm gì bù vào những yêu cầu ngày một nhiều hơn. Tất cả trông vào đồng tiền thuê nhà. Lương hưu đủ để cha tôi chi phí lặt vặt cho bản thân mình. Kể ra nếu chỉ lo ăn cho năm nhân khẩu thì không đến nỗi nào, nhưng  con cái ngày một lớn. Hai anh tôi đi học xa, ráng lo được cái xe máy, nhưng người này đi, người khác phải bó chân, lại chạy vạy lo thêm chiếc nữa để còn đi việc này việc nọ cùng bao tiện nghi cần thiết đặt vào cho nó xứng với mấy căn lầu thênh thang kia nữa. Cha mẹ tôi phải động não nhiều, cứ nhăn nhăn nhó nhó, hiếm khi gia đình có được cảnh êm ấm hồn nhiên vô tư như trước. Những người thuê nhà buôn bán bình thường, giá thuê đương nhiên là thấp. Nếu họ thuê để kinh doanh những khoản mập mờ, giá thuê lời gấp mấy lần. Cha mẹ tôi lúc đầu đắn đo. Sau cha chặc lưỡi:
- Nhà mình ơ trên lầu, họ ở dưới nhà, chẳng liên  quan gì. Vả lại buôn bán có môn bài, xảy ra chuyện gì họ chịu!
Mẹ tôi cũng ừ theo…
Người ta nói thuê mở quán cà phê. Đèn mờ nhấp nháy. Nhạc rộn rã xập xình, nghe chói tai, nhức óc! Những kiểu đùa cợt, dáng đứng, dáng ngồi chướng tai, gai mắt, mẹ tôi than phiền:
- Thấy mà ghê!
Cha tôi phàn nàn với bà chủ quán, bà đáp thẳng thừng:
- Bác ơi! Nếu bán cà phê suông, em chỉ cần thuê cái vỉa hè, vài trăm ngàn là cao! Nay bác ra giá bao nhiêu, em chịu đủ! Không làm vậy sao em sống?! Nếu ông anh bà chị không chấp nhận, cho em hủy hợp đồng!
Hợp đồng sáu tháng chồng tiền ngay. Mấy chục triệu thu vào, trả lại sao đủ! Cha mẹ tôi đành chịu.
Bố cấm chúng tôi không được la cà xuống quán.
Khách tới quán ngày càng đông, đủ loại tiểu thư, công tử, dân chơi. Ăn mặc hết cơ! Lúc đầu nhìn thấy ngượng, sau rồi cũng quen. Nữ tiếp viên mặc váy ngắn, áo mỏng, không “đồ nhỏ” đứng ngồi hớ hênh. Các anh tôi tả lại rồi khúc khích cười. Mẹ tôi bảo:
- Đồ ngựa vía!
Cha tôi nói:
- Tuổi trẻ bây giờ tự do phóng khoáng!
Bà chủ quán lân la lên nhà làm quen. Bà ta có bộ ngực đồ sộ, lúc nào cũng như khoe. Nói năng vừa ngọt vừa sỗ, gợi tình mà khó giận:                                   
- Bà chị ba con rồi mà còn nõn nà, bọn đàn em phát ghen với bà mẹ trẻ! Cũng may ông anh tuy lớn tuổi mà xem ra gân cốt vẫn còn săn… Bõ cái công trèo non lội suối một đời! – Mắt bà đong đưa.
 Cha mẹ tôi nghe rồi cứ ngồi yên. Các vị thấy mình trẻ lại! Rồi dần dà cha mẹ tôi bắt chuyện với bà chủ quán, câu đi câu lại bóng gió thân tình...
Có lần một đoàn của Phường kiểm tra. Bà chủ quán chạy lên nhà mời cha tôi xuống làm lá chắn. Cha tôi là cán bộ hưu trí hiền lành, đứng đắn, ở Phường ai cũng biết. Bà chủ khéo đưa đón ngọt ngào, Phường cũng chỉ nhắc nhở rồi đi. Bà chủ quán cảm động, nắm tay cha tôi kéo sát vào người, rối rít:
- Nhờ uy tín của ông anh kết hợp với “cái phong bì”, chuyện gì rồi cũng qua thôi! – Tấm ngực đồ sộ của bà đẩy cha tôi từng bước lên cầu thang lơi lả...
Từ đấy, sáng sáng cha tôi với người anh lớn thường xuống quán bà uống cà phê, hút thuốc. Bà không chịu lấy tiền. Mẹ không muốn các anh lân la xuống quán làm gì. Anh lớn tôi lý sự :
- Cần phải biết các mánh làm ăn của họ để đề phòng!  Anh rành rẽ các cô tiếp viên, biết cả tên tục và mỹ danh từng người. Bà chủ quán cứ rỉ rả với mẹ tôi, có lần bà khuyên:
- Cái thời nghèo khổ đã qua rồi! Chủ nghĩa Xã hội là phải cao hơn Chủ nghĩa Tư bản. Mình là dân một nước Xã hội chủ nghĩa phải đẹp và sướng hơn dân của nước Tư bản mới đúng. Các anh các chị được học tập và giáo dục nhiều mà sao chậm tiến, cổ lỗ quá, bọn trẻ nó cười!
Bà dạy mẹ tôi thoa son, đánh phấn, kẻ mày, cách dưỡng da. Bà còn hứa sẽ dẫn mẹ đi massage, chỉnh hình, “tút” lại cho cơ thể thật là cân đối để người ta phải “tôn vinh người phụ nữ Việt Nam!”. Bà nói trắng trợn:
- Thằng đàn ông nào chả háo sắc! Mình mà xấu là nó dục liền ! Khi mình đẹp, nó phải bám vào mình, bảo gì nó cũng nghe theo. Đó là vũ khí ngon lành của người phụ nữ!
Mẹ tôi thay đổi dần dần...
Cha mẹ tôi không còn dấm dứt về cái quán lộn xộn ấy nữa. Thậm chí còn kết hợp với bà chủ quán “làm ăn lớn”! Quan hệ hai  bên không còn phải là giữa chủ nhà với người thuê nữa, mà đã tới mức hợp tác chung vốn làm ăn. Cha tôi cho trổ cửa ra ngõ phía sau. Tiệm cà phê được ngăn ra thành những phòng nho nhỏ, mỗi phòng hai ghế dựa sát nhau. Khách ra vào nườm nượp,  một – hai giờ khuya còn muốn ngồi thêm. Mẹ cũng thấy được những biểu hiện khác thường của cha tôi và người anh lớn. Có lần bà cảnh báo:
- Chuyện làm ăn là làm ăn nhưng nhà này vẫn phải có nền có nếp!              
Nhưng  chính bà cũng bị lôi cuốn vào chuyện làm ăn và cái nền cái nếp cũng bị phai nhạt dần đi. Bà chủ quán đã như người thân của gia đình và mọi người trong nhà đều gọi bằng cô không biết tự lúc nào. Mẹ tôi thêm vai bà chủ của mấy đầu dây hụi và cũng là bà chủ cho các cô tiếp viên vay mượn cầm đồ. Các cô lên xuống nhà tôi đêm ngày, tự nhiên trong đủ các trang phục “giầu, nghèo”, chuyện trò lả lơi:
- Tụi con mà bằng tuổi mẹ chắc là đồ bỏ! Còn mẹ thì bố hãy coi chừng, còn ngon cơm chán, chẳng kém đồ “rin”! Chỉ có điều mẹ chưa muốn mà thôi!    Các cô đưa đẩy con mắt long lanh nhìn bố và nhấp nháy nhìn qua mẹ. Mẹ tôi không thèm nhìn bố mà nhìn thẳng vào tấm gương có vẻ tự hào...
Nếp sinh hoạt trong gia đình tôi không còn căn cơ nữa. Từ sáng đến tối, ai muốn ăn gì thì ra tiệm, quán hoặc ăn đâu tùy ý. Mỗi người lo công việc theo giờ giấc của mình. Cả tháng không có được bữa ăn đoàn tụ cả nhà như hồi xưa nghèo túng. Thậm chí khi giỗ chạp hoặc có khách khứa đều tiếp đãi ở nhà hàng, gia đình tôi cũng không đủ mặt!
 Ở trường, tôi học vào loại khá và tích cực tham gia công tác đoàn thể. Những việc cha mẹ tôi làm, biết là trái khoáy nên tôi không dám mời đứa bạn nào đến nhà chơi! Tôi vốn được bố yêu chiều từ nhỏ. Bố con thường thủ thỉ vớii nhau. Bố lo cho tôi từng tí, còn tỉ mỉ hơn cả mẹ. Ngày mới bán được lô đất có tiền, bố chở tôi lên tận Sàigòn, vào tiệm kim hoàn, bố cho tôi chọn tùy ý một chiếc dây chuyền thật đẹp, chừng 2-3 chỉ. Về nhà hai bố con kín đáo dấu mẹ cả tháng trời, tới mức không chịu được nữa, tôi lôi ra khoe mẹ. Mẹ tôi giận lẩy:
- Ừ, cha mày nhiều tiền, muốn sắm cho con gái rượu cái gì mà chẳng được!
Nhưng bây giờ bố mẹ tôi tất bật tối ngày, lâu lâu chợt nhớ đến tôi, bố nói lời an ủi:
- Con muốn sắm gì, tiền trong tủ, bố cho tùy ý!
Mẹ phụ họa thêm:
- Con gái lớn rồi, mình sắm lỡ không hợp ý nó chẳng thèm dùng. Mình vừa mất tiền vừa dại!
Dường như bố mẹ nghĩ những đổi thay trong gia đình như vậy là sự thích nghi cần thiết với cuộc sống hôm nay. Riêng tôi lại thấy tủi tủi thế nào. Người anh lớn như được thả ga. Người anh kế vốn ít nói cứ lủi thủi như chiếc bóng. Tôi thành đứa lầm lì hay cáu kỉnh. Mấy cô tiếp viên lên nhà, thấy tôi hay cẳn nhẳn, các cô bình phẩm ngay trước mặt bố mẹ tôi:
- Cưng đẹp giống mẹ mà như… “bà chằn”! Con trai nó khó mê thì “chống... ề” đấy em ơi!
Tôi cự liền:
- Vậy mấy chị toe toét cười suốt đêm ngày mà đã có người nào tử tế rước về làm vợ hay chưa?!
Mấy cô giận dỗi bỏ đi. Mẹ tôi xoa dịu:
- Chỗ làm ăn của mẹ, con chớ làm họ mếch lòng!
Dường như mẹ đã thấy được điều bất thường giữa bố tôi và cô chủ quán, nhưng đấy là chốn làm ăn, mẹ phải dằn lòng. Có lần mẹ đứng trước gương soi, bố đến sát choàng vai và hôn lên má mẹ vẻ tình tứ lắm. Mẹ đẩy bố ra thật mạnh! Bố lảo đảo xuýt ngã, may mà có tôi đỡ kịp. Mẹ nghiến hai hàm răng kèn kẹt, mắt mẹ long lên:
- Dơ dáy cái thằng già dê, sức được là bao?!
Chưa bao giờ tôi thấy mẹ hỗn hào với cha như thế. Cha tôi tái mặt, lộ vẻ đắng cay, nghiêng ngả lê bước vào buồng. Mẹ vẫn chưa nguôi cơn giận, trút vào tôi những lời cay độc:
- Chúng mày rồi cũng bạc giống thằng cha! Cái đồ bất nghĩa!
Tôi chỉ còn biết ôm mặt khóc rưng rức. Tôi cảm thấy dưới chân mình, cái nền của nhà này đang rung chuyển...
Tôi kể chuyện đó với hai anh. Anh lớn tôi triết lý:
- Thời bây giờ  chả ai trung thành với ai đâu! Có tiền là có đủ mọi thứ tình. Không tiền là như con chó đói, đi đâu cũng bị người ta xua đuổi!
Anh kế tôi buồn rầu:
- Không biết ai người ta cũng lăn xả vào kiếm tiền để được cái gì?!  Anh lớn đáp liền:
- Được nhiều chứ mày. Được mọi sự khoái lạc! Được mọi sự tung hô! Được tình, được nghĩa...!
Tôi phản ứng ngay:
- Nhìn gia đình mình, anh có thấy được cái gì và mất cái gì không?
Không còn hăng hái nữa, anh nói kiểu liều đời:
- Đời người là mấy chốc? Cho mày sống đến bẩy-tám mươi mà tả tơi xơ xác thì thà sống hai ba chục năm mà huy hoàng rực rỡ còn hơn!
Anh kế tôi nói vẻ suy tư:
- Tao thấy nghèo quá thì khốn khổ. Nhà mình đã qua nghèo đói rồi, nghĩ lại mà sợ! Nhưng phải làm giàu cho lương thiện!
Ông anh lớn cười ngất:
- Phải nói là chân chính chớ! Mày xem, bố mẹ đã trải qua mấy chục năm lương thiện và chân chính rồi mà vẫn… “mốc xì”! Có thằng đếch nào bốc lên một cách chân chính và lương thiện được đâu! Đừng nghe lời tán dóc! Sắp tàn đời rồi, phải để cha mẹ tranh thủ chớp nhoáng vớt vát chút thôi. Chúng mày đừng tưởng êm đâu, nó “chốp” bây giờ!
Lời anh nói chẳng sai. Bà chủ đặt cho quán cái tên rờn rợn “Chiều hoang”! Cái tên ấy nổi danh khắp phố phường. Có người gọi “nhái” đi là quán “Chửa hoang”! Con gái nhà lành vô đó thì khó tránh điều oan nghiệt... Rồi một hôm vào lúc đêm khuya, rầm rập mấy xe Cảnh sát tới chặn hai đầu đường, bít lối hẻm sau, ập vào khám xét. Họ đuổi theo mấy cô tiếp viên ăn mặc hở hang chạy túa lên nhà tôi ẩn nấp… Mấy chục người mặt mày ủ rũ, sượng sùng, cúi gằm đầu xuống bị kéo lên xe. Bà chủ quán và cha tôi cũng bị lôi đi cùng đám người nhố nhăng bê tha ấy...
Quán “Chiều hoang” bị đóng cửa và phạt nặng. Cha tôi bị giữ trên Quận ba ngày, làm tờ trình rồi được thả về. Đoàn thể địa phương mời cha tôi đến họp để kiểm điểm. Cha tôi ỳ ra. Thế là cha bị khai trừ, không còn chỗ đứng trong một đoàn thể nào dù là cả đời cha tôi đã lăn lóc và tận tụy! Nhưng với mẹ tôi cái tai họa lớn hơn không phải là sự điếm nhục của gia đình, không phải là danh dự của con cái với các bạn bè mà là mẹ tôi... tiếc của! Hàng trăm con nợ và con hụi đã nhân cơ hội ấy “lặn” biệt tăm. Mẹ tôi mắt đỏ hoe và sưng vù, đêm ngày ra ngẩn vào ngơ...
Cú “sốc” ấy tưởng làm cha mẹ tôi tỉnh ngộ, nào ngờ các người đã như con bạc khát nước, con nghiện nhớ cơn, mụ mẫm đến thành mê muội! Mẹ bám chặt vao bà chủ quán, hy vọng lần tìm con nợ. Bà ấy lắc đầu bất lực:
- Bà chị ơi… Bọn nó như chim trời cá nước biết đâu mà tìm! Thua keo này ta bày keo khác, lo gì!
Cha tôi bén hơi cô chủ quán, xa không được. Biết cha mẹ tôi còn cay cú, bà ta bày ra cách làm ăn lớn: Rủ nhau hùn vốn thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn, “vốn ít, lời nhiều, vừa đàng hoàng, vừa danh vọng, đứa nào không nể mặt?!”. Mẹ tôi rên rỉ:
- Vốn đâu mà làm, cô ơi?!
Bà chủ quán cườimỉa mai:
- Có của trong tay phải biết làm cho nó sinh sôi nảy nở một mới thành mười, mười mới thành trăm, chớ bà chị cứ khư khư ôm nó vào lòng khác chi có con gái đẹp mà nhốt trong buồng, đến lúc quá lứa lỡ thì rồi mang bán rao cũng ế!
Cha mẹ tôi chưa hiểu ý. Bà ta chỉ vào hai căn nhà:
- Tiền bạc của cải đây này! Giờ nó là gạch, là đất, sao mình không biết biến nó thành vàng?! Mình đem nó cầm cố cho Ngân hàng, rút tiền làm vốn, lãi suất một nhưng lời mấy mươi, hoàn vốn mấy hồi!
Cha mẹ tôi phân vân suy nghĩ. Nhưng mẹ thu tiền lớn quen rồi, giờ thu cò con mấy đồng tiền nhà thì nóng ruột, lúc nào cũng như đứng ngồi trên lửa. Cha tôi cứ thậm thụt đi với cô chủ quán đó đây để tìm hiểu, thăm dò... Rồi cả cha mẹ tôi bàn bạc thế nào mà hai người đồng lòng đem căn nhà đi thế chấp để rút ra cả tỷ đồng hùn vốn với cô chủ quán, gọi thêm mấy cổ phần thành lập Công ty. Bố tôi làm Giám đốc. Mẹ tôi và cô chủ quán làm Phó Giám đốc – Người phụ trách tài – ngân! Người phụ trách kinh doanh, tiếp thị! Công ty đứng làm đại lý cho một Việt kiều nói là trưởng phòng đại diện ở Việt Nam của một Công ty lớn ở Mỹ, chuyên sản xuất kinh doanh hàng kim khí điện máy. Khốn nỗi, cha mẹ tôi có biết gì về điện máy?! Anh chàng Việt kiều cao to như Mỹ, tóc xoắn hoe hoe, kính trắng gọng vàng, mobilphone trước ngực, nói tiếng ta lơ lớ ngập ngừng:
- Không cần! Chúng tôi thiếu gì kỹ sư có giá nhất của Hoa Kỳ qua giúp việc. Chúng tôi  chỉ cần sự trung thực và cái uy tín cùng vị trí xã hội cao quý của ông bà là đảm bảo cho sự kinh doanh của chúng tôi chắc chắn thành công!
Mẹ tôi tuy là Phó Giám đốc phụ trách tài – ngân, tưởng là người giữ tay hòm chìa khoá nhưng thực ra chỉ làm một việc xuất tiền cho người ta kinh doanh – tiếp thị. Tiền thu vào lâu lâu mới có, còn là đồng tiền thu được bao nhiêu chỉ thấy số lượng trên tờ hoá đơn để lưu vào sổ sách, trong khi người ta đổ nó vào việc tiếp thị – kinh doanh: “để cho đồng tiền quay vòng càng nhanh càng tốt, phải bắt nó đổ mồ hôi thay mình chớ!” như bà chủ quán “Chiều hoang” giải thích. Cứ theo sổ sách thống kê thấy lời vào mà hoa con mắt! Nhưng tiền mẹ nắm trong tay lúc nào cũng chỉ vài chục triệu, tới trăm triệu là nhiều! Người ta còn bày ra mua chiếc xe con đời mới tốn hàng mấy trăm triệu bởi “mình làm ăn mà không hình thức thì bị coi thường, ma nó cũng chẳng thèm chơi! Trong sách dạy là “nghệ thuật”, còn mình nôm na gọi là… khôn khéo trong tiếp thị!”. Lâu lâu cũng có vài ông tây cao kều, mắt nâu, mũi lõ đến thăm cửa hàng, nói chuyện xì xồ. Cha mẹ tôi nghe được qua anh Việt kiều đại diện là máy móc ở đây toàn hệ đời mới, tối tân. Cửa  hàng làm đại lý có nhiều mặt hàng và uy tín nhất ở Việt Nam, hẹn ngày mời Ban Giám đốc Công ty qua thăm Mỹ quốc, ca ngợi bà Phó Giám Đốc đoan trang, xinh đẹp và mến khách... Mẹ tôi tủm tỉm cười duyên, đưa tay cho mấy ông tây hôn chùn chụt rất điệu đàng...
Cha tôi cùng bà Phó Giám đốc “Chiều hoang” cặp kè tối ngày trên chiếc xe con đời mới có tài xế riêng. Mẹ tôi tỏ vẻ khó chịu. Ít lâu sau Ban Giám đốc bàn giao thêm cho mẹ việc tiếp tân. Thế là khi mẹ tôi đi tiếp khách thì cha tôi với bà Phó Giám đốc “Chiều hoang” ở nhà bàn chuyện kinh doanh. Người mẹ tôi lúc nào cũng sực nức mùi nước hoa đắt tiền. Mỗi buổi đi tiếp tân về mẹ cứ ngẩn ngơ. Mẹ bỗng dưng thích nhạc. Mẹ hỏi anh tôi những đĩa nhạc thịnh hành. Cái khoản này thì anh lớn tôi rành lắm. Anh mang về cả chồng băng, đĩa mà anh gọi là “model” nhất hiện hành, anh hướng dẫn mẹ rất kỹ càng. Mẹ có vẻ say mê, chân đi lả lướt, không biết mẹ trẻ lại bao nhiêu tuổi?! Trước mặt bố tôi, đôi gót mẹ đi dập dình như muốn nhảy! Cha nhìn mẹ lắc đầu khuất phục. Mẹ nhìn cha bằng đuôi con mắt, cười hẩy mũi. Mẹ khinh bố tôi ra mặt! Một điều tệ hại trong thời buổi của chúng ta là quá trình nhập thị ồ ạt, vội vàng, người dân quê chưa có thời gian để thích nghi đầy đủ đã thành ông bà chủ chốn thị thành.
Bạn bè cũ nhìn bố mẹ tôi thán phục, có người thèm khát:
- Cha ấy trước đây “củ mì” vậy mà giờ phát thế!
- Chủ yếu là nhờ cô vợ, vừa đảm vừa xinh mới len lỏi được chốn thương trường!
Bà con họ mạc ngoài quê vào chơi, ít khi được giáp mặt cả cha với mẹ tôi nhưng khi trở về đều có quà gởi gắm và lời xin thứ lỗi. Ai cũng thông cảm nhưng lè lưỡi lắc đầu:
- Kiếm được đồng tiền cũng bạc mặt ra! Cô chú cũng cần có thời gian để dưỡng già!
Cha mẹ tôi cười gượng:
- Chừng nào còn sức là  còn phải ráng! Cũng là cho con cái cả thôi, chớ mình thì có cần gì?!
Chẳng lẽ tôi gào lên:
- Không! Các người đang giết con chỉ vì tham vọng làm giầu của các người thôi!
Đã là giấc mộng kê vàng thì rồi có lúc phải tỉnh dậy thôi. Chưa đầy hai năm, cha mẹ tôi tưởng như đã hòa nhập được vào trong giới thượng lưu thành phố – hiểu theo nghĩa là sự giàu sang và các kiểu cách phô trương. Các cổ đông lâu lâu cũng nhận được tiền lời, tuy chưa hạp với ý mình nhưng vốn mỗi cổ phần đều được báo tăng lên. Cũng là niềm tin tưởng...
Nhưng bỗng dưng bà Phó Giám đốc “Chiều hoang” biến đi đâu?! Nỗi kinh hoàng ấy đến trước với bố mẹ tôi! Thân quen mấy năm nay mà cha mẹ tôi không biết đích thực nhà bà! Năm  bẩy nơi mà cha mẹ tôi thường lui tới gặp bà đều mong đợi bà về trả tiền nhà! Quê hương bản quán nay bà nói nơi này, mai bà nói nơi khác, bà lênh đênh phiêu dạt không còn biết đích xác nơi đâu! Chuyện chồng con bà thì cha tôi đâu thèm hỏi tới! Bà đừng dính vào cái chuyện ấy càng hay! Cha mẹ tôi như người mất hồn, ngơ ngơ ngẩn ngẩn! Quan hệ làm ăn với những chỗ nào chủ yếu do bà ta chỉ vẽ. Các đối tác trực tiếp đến làm việc tại Công ty hoặc phòng thuê nơi khách sạn – nay cũng chỉ là những phòng không!…
Chừng hai, ba tháng sau, sự việc không còn bưng bít được nữa, người ta nườm nượp đến Công ty đòi thanh toán hợp đồng, rồi lan ra những người hùn vốn đòi thanh toán cổ phần, những “đại lý con” đòi thanh toán nợ... Cha mẹ tôi không biết trả lời làm sao. Có người hung hăng thuê côn đồ tới đòi xiết nợ, nếu không sẽ giết! Cha tôi hoảng loạn phải nhờ Công an tới giữ gìn an ninh, trật tự. Người ta tới tấp đâm đơn kiện. Cơ quan luật pháp tạm thời niêm phong tài sản của Công ty và cha mẹ tôi bị quản thúc tại nhà.
Sau thời gian điều tra, thụ án, Viện Kiểm soát truy tố toàn bộ Ban Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn của cha tôi với tội danh: “Lợi dụng tín nhiệm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân”. Chỉ còn có cha mẹ tôi ra tòa! Bà Phó Giám đốc “Chiều hoang” cũng là loại chim trời cá nước. Cơ quan điều tra phát lệnh truy nã bà ta nhưng trước mắt cha mẹ tôi phải dắt nhau ra vành móng ngựa! Người ta lên án lãnh đạo Công ty bằng nhiều thủ đoạn đã lừa gạt Ngân hàng và các cổ đông, quỵt nợ khách hàng, gian dối trong khai báo... đã để lại số nợ gần dăm chục tỷ! Cho dù các tài sản hiện hữu thu hoàn cũng chỉ chừng dăm ba tỷ! Bao nhiêu gia đình tan nát và điêu đứng! Cha tôi không thể chối cãi tư cách pháp nhân chủ yếu của mình, nhận cái án phạt 12 năm tù khi cha tôi bước vào tuổi 70! Mẹ tôi lãnh 4 năm tù cho hưởng án treo! Ngôi nhà lầu coi như tài sản của Công ty, bị phát mãi bồi hoàn cho các khổ chủ. Ngôi nhà trệt tuy là tài sản riêng nhưng cũng bị tịch thu phát mãi trang trải nợ nần. May mà có mấy chú bác trước kia cùng đơn vị vẫn thương cái nết của cha tôi hiền lành, cần mẫn. Trong lúc cha tôi làm ăn phát đạt, lâu lâu có tới thăm hỏi rồi đi, cha tôi vẫn giữ tình cảm quí mến chân thành, nay biết cha tôi vì hám lợi mắc mưu nên đã trình bày với địa phương kháng nghị lên Tòa “xét gia cảnh đương sự già yếu không nơi nương tựa, các con bơ vơ chưa có việc làm”, được Tòa khoan dung để lại nửa sau ngôi nhà trệt cho gia đình có nơi cư  trú. Cha tôi ở tù mới được 4 năm nhưng vì già yếu nên được đặc xá lần này. Mẹ tôi hổ nhục với bạn bè phố xóm nên ra Vũng Tàu giúp việc cho một nhà giàu! Anh lớn tôi đang học đại học, lúc sẵn tiền theo bè bạn đua đòi ăn chơi hưởng lạc rồi sa vào xì ke ma túy, khi hết tiền bị chúng gạt ra. Về nhà quen thói lười biếng và lêu lổng, lúc lên cơn nghiện thì quậy phá làm liều, địa phương đã đưa vào Trại cải tạo, vừa lao động cưỡng bức, vừa cai nghiện, chưa biết rồi có sửa được không?! Tội nghiệp người anh kế: anh ấy hiền lành, nghiêm nghị, thương cha mẹ anh em. Lúc gia đình khá giả anh ấy chẳng đam mê. Khi tai họa ập đến anh ấy đau buồn, ngượng ngập với bạn bè nên bỏ học đi kiếm việc làm nuôi mẹ, nuôi em. Mới đây anh ấy nhập vào “Đoàn Thanh niên tình nguyện” ra Côn Đảo xây dựng lâu dài. Anh ấy bảo: “Nơi nào có cần thì họ mới quý người”! Thư này anh mới gửi về – Lá thư giấy còn trắng nhưng nhiều nét mực hoen nhòe:
            Gửi em gái của anh!
Anh đồng ý với quyết định của em: theo học ngành Sư Phạm. Em vào Khoa Ngữ văn là hợp vì em chịu đọc sách, lại có cái tâm. Đấy là cái gốc của người thầy giáo, nhất là người thầy giáo dạy Văn. Anh cố gắng tằn tiện giúp em học hành. Bây giờ anh thấy mình là người có ích: vừa giúp cho mình vừa giúp cho người. Đời thật bất công: Ai sinh ra nơi rừng sâu đồng vắng thì lạc hậu! Ai sinh ra nơi đô hội phần hoa thì tiến bộ! Nào có ai chọn được cửa sinh?! Làm sao rút ngắn được cái khoảng cách oan uổng phi lý đó là biểu hiện của một xã hội văn minh. Biết đóng góp sức lực của mình ở những nơi cần thiết là thể hiện tâm đức của mỗi người. Có tài mà ở chỗ không ai cần rồi cũng thành vô dụng! Anh nghĩ tài thì ít nhiều ai cũng có, chỉ hơn nhau ở chỗ tài ấy có được dùng không?! Anh không ân hận về quyết định của mình. Anh vẫn cố gắng tự học tuy rằng rất khó nhưng có vượt qua được nó mới là điều đáng nói. Anh tin em. Cũng chẳng nên buồn vì những biến động đã qua. Suy cho cùng anh em mình cũng có lỗi: trước sự phiêu lưu của bố mẹ mà các con thụ động chẳng làm gì để cha mẹ hiểu ra. Đó là cái giá phải trả cho mỗi người trong gia đình mình! Em nên thường đi thăm anh cả và có chút quà động viên. Cầu mong cho anh ấy tỉnh ra, vẫn còn làm lại được cuộc đời. Chắc là bố đã tỉnh ra nhưng chẳng làm gì được nữa! Cứ để mẹ làm ở đó đi, trừ phi mẹ không còn sức nữa. Mẹ sẽ hiểu rằng ở đời này không có ai dại để người khác lấy đồng tiền của mình một cách dễ dàng đâu. Chúc em gái có đủ nghị lức để tự mình xây dựng đời mình –  Anh trai!”.

Người con gái ấy đang ngồi trước tôi.
Tôi biết cô trong lớp “Bồi dưỡng những người mới viết văn” của Hội Nhà văn thành phố. Các bạn văn thường cởi mở, dễ làm quen nhưng bạn gái này như cố ý tránh xa mọi người. Cô thường chọn ghế cuối, ngồi một mình, vẻ tư lự và buồn. Dáng cô không phải là người lam lũ vất vả, nét mặt già dặn và làn da hơi xạm nên tuổi cô ai đoán đều cao hơn tuổi thật. Biết cô có mấy bài đăng báo mà những nhân vật cứ trăn trở, dằn vặt trước những tai ương của  cuộc đời để hướng về cái thiện, tôi có cảm tình và muốn làm quen. Lần đầu cô hơi lúng túng, những lần sau cô khẽ gật đầu đáp lễ mà mắt để đi đâu...
Bẵng tới cả năm, nhân dịp ngày Quốc Khánh, Nhà nước có lệnh đặc xá các phạm nhân. Tôi đến trại giam Chí Hòa muốn thấy một nét riêng biệt của đời sống xã hội. Vì lỡ xe nên tôi tới muộn. Hàng mấy trăm con người đang tỏa khắp  các nẻo đường bằng đủ mọi phương tiện... Bây giờ ai cũng là công dân bình đẳng, áo quần đủ kiểu như một góc chợ đông. Nhưng không khó nhận ra những người tù mới được tự do bước về cuộc sống bình thường. Họ đều là người lớn, trẻ già đủ cả nhưng bước chân của họ có nét gì giống trẻ mới tập đi: chậm chạp, ngập ngừng, lạ lẫm và run rẫy... Song những ánh mắt thì chỉ riêng nơi này mới có: nó mờ mờ tối sáng, lạ mà quen, ngỡ ngàng, vui mừng đấy nhưng lại gợn chúg gì tăm tối, những giọt nước mắt đục đục lờ lờ còn vương vấn ở bờ mi...
Tôi nhận ra cô bạn gái đang dìu một ông già gầy nhom, tóc bạc trắng, đầu cúi xuống như không muốn ai nhìn thấy mặt mình, đôi chân run run không muốn bước. Cô gái khó khăn nặng nhọc vừa xốc ông lên, vừa kéo ông đi. Thấy tôi, cô quay về hướng khác. Chẳng câu nệ gì, tôi chạy tới phụ cô, xốc một bên nách nhẹ nhàng như nhấc bổng ông già lên. Cô gật đầu cảm ơn nhưng mắt cô nhìn xuống, vẻ chẳng cần nhờ. Chiếc xe taxi trờ tới. Chẳng ngại ngùng gì, tôi cứ làm một việc cần làm với bất cứ người nào trong hoàn cảnh ấy: Tôi mở cửa sau xe, bế thốc ông cụ lên đặt ngồi trong đó. Cô gái lúng túng, bị động. Tôi đẩy cô vào ngồi bên ông cụ và tôi lên ngồi bên anh tài xế, giục:
- Đi!
Chiếc xe chuyển bánh. Anh tài vừa tăng tốc vừa hỏi:
-Về đâu?
Tôi ấp úng, quay lại hỏi cô. Cô miễn cưỡng nói nơi cần đến. Và tôi đã làm quen với cô tại quán “Chiều hoang” một thời tai tiếng đó...
Chúng tôi đã thành đôi bạn. Cô tránh nói những chuyện về đời sống khó khăn. Cô nhất định không chịu nhận bất cứ sự giúp đỡ bằng vật chất của ai. Cô nói khiêm tốn:
- Chưa đến lúc cần nhờ!
Ngoài giờ đến trường, cô đi dạy kèm trẻ học tại mấy tư gia. Ở nhà cô nhận thêm đồ về may máy. Cô chẳng có thì giờ nào rảnh. Tôi tới nhà, cô vừa tiếp chuyện vừa làm công việc. Cha cô vật vờ lủi thủi, lặng lẽ âm thầm, suốt ngày chẳng nói một câu. Ông thường ngồi sau bếp hoặc ở góc nhà, khách tới chào, ông không đáp, coi như  khách chào ai. Dường như ông chỉ sống với một mình ông. Ông không còn liên hệ gì với cuộc đời này nữa! Tôi hỏi cô bạn:
- Có vốn viết như vậy sao không dùng nó để kiếm tiền?
Cô cười – cái cười rất hiếm ở cô, rồi nói hơi chua chát:
- Tôi vốn tài mọn lại nhát! Dùng văn chương để kiếm tiền: người kém cỏi thì chết chìm, người tài danh thì chết nổi!
Tôi cảm thấy mình có lỗi... Có lần tôi gợi ý:
- Chuyện của gia đình là một đề tài viết được!
 Cô nói giọng buồn:
- Cú stress ấy đối với tôi lớn quá, đến giờ vẫn bàng hoàng! Không tỉnh táo thì không cầm bút. Chỉ viết lúc tình cảm mình thăng bằng, không thiên lệch!
Cô động viên lại tôi:
- Chuyện nhà tôi từa tựa như câu chuyện “Cái hũ sữa bò của cô Perrette” của ông La Fontaine ấy. Anh cứ viết đi, y xì như anh đã biết, chẳng cần hư cấu gì đâu. Văn chương không phải là cách để siêu thoát, chính nó giải thoát con người khỏi những cám dỗ, ràng buộc và hệ lụy để mỗi người tự thấy mình thanh  thoát...
Với lòng quí mến người bạn gái và hiểu rằng bạn muốn gửi gắm vào đó chút tâm tư, tôi viết chuyện này coi như món quà tặng bạn...
                                     
                                                                            Tháng 9 năm 1998

No comments:

Post a Comment