NGƯỜI Ở ĐÂU BÂY GIỜ

NGƯỜI Ở ĐÂU BÂY GIỜ
                                 {

         Kể từ sau Tết Mậu Thân, Đội phẫu của chúng tôi chia thành nhiều chốt. Vị trí của mỗi chốt tùy theo yêu cầu của chiến sự và bao giờ cũng chuẩn bị sẵn vài ba điểm để di dời khi cần thiết. Có điểm rất trống trải nhưng lại tạo được yếu tố bất ngờ.
Tết 1970, sau khi quân ngụy càn lấn vùng Ba Thu – Mỏm Vẹt, chúng tôi lại len lỏi về các phum sóc, gò bụi giữa bưng. Chốt của tôi có hơn chục người đóng gần sóc Chếc (Chếc là chuối theo tiếng Khmer). Gần Tết, lính chủ lực không còn nhưng lính biệt kích lại tăng cường lùng sục. Dù không được ở với dân nhưng chúng tôi vẫn có mối liên hệ vì thế chuẩn bị cho Tết nhất cũng có đủ bánh tét, thèo lèo, rượu đế... Còn “mồi” thì không thiếu. Cả một đồng bưng mênh mông, lờ, lợp, chũm, lưới, đặt đâu mà chả có cá, rắn,  ếch, lươn. Làm đồ nhậu thì quân ta đâu phải loại xoàng. Lại có hai chiến sĩ  gái nữa, việc sẵn sàng phục vụ đồng đội là niềm vui chân thực nhiều khi đến tội nghiệp của các em.
Chiều 30 Tết ấy có vẻ êm ả lắm. Chúng tôi chỉ còn gần chục thương binh trong đó phân nửa chờ Tết xong là về thẳng đơn vị ở dưới vùng sâu, chỉ có một thương binh nặng mới mổ bụng xong. Thương binh và thầy thuốc sống chung nhau như anh em cùng đơn vị. Chúng tôi chung lo một cái Tết cho vui. Căn nhà sàn vắng vẻ ở góc khuất gần rìa bưng được cài “trái” dày đặc ở những nẻo người có thể luồn vô. Đồ nhậu nấu từ chiều còn để trong soong. Chúng tôi chờ khuya sẽ lai rai cho đến giao thừa. Mấy chiếc đèn bằng chai “alcool” cơ động được che kín đáo. Thời gian chờ đợi, người nằm người ngồi tản mác nhưng đều im lặng. Có thể mỗi người một tâm tư. Tôi nhẩm mấy lời khai xuân vừa để động viên mình và động viên đồng đội. Bỗng Xoạt!... Xoạt! – Tiếng đất ném vào nhà kèm theo mấy tiếng cú kêu. Chúng tôi nhận ra mật hiệu và chạy tới sau rào. Một tiếng người nho nhỏ đủ nghe:
- Biệt kích! – Đơn vị Trinh sát cho người tới báo!
Căng quá! Lập tức mấy chiến sỹ xách AK ra phục ở tiền duyên.
Giặc giã là chuyện bình thường, phương án xử trí đều có sẵn nhưng trong tình huống này thì bấn thật! Mấy thứ đồ tết nhất tính làm sao đây? Tiếc lắm! Chúng tôi hội ý: phân nửa ở lại cùng với số thương binh nhẹ, phân nửa chuyển thương binh ra ém ở chốt giữa bưng.
Thương binh nặng được đặt xuống một hố sâu có nắp phủ cỏ cây ngụy trang cẩn thận. Trước khi chúng tôi phủ nắp hầm, đồng chí thương binh còn đòi bằng được hai “trái  da láng” để bên mình! Chúng tôi bước đi còn văng vẳng nghe tiếng huýt sáo từ dưới hố sâu.
Chúng tôi lúng túng với mấy thứ đồ tết lỉnh kỉnh! Thôi đành giấu quanh bờ bụi! Bộ phận sơ tán chỉ mang theo mấy thứ đồ khô. Chỉ tiếc nhất là soong rắn hầm đu đủ. Luơn, ếch, cá ăn thường xuyên rồi nhưng cái món rắn thì hơi hiếm, để dành mấy buổi mới được bây nhiêu! Những con rắn bông súng bằng cườm tay, hồi chiều nhìn nó sôi sùng sục trong nồi đu đủ vàng ngầy ngậy màu cà ri ai cũng xuýt xoa mong chờ “động thổ”. Có ai đấy hỏi:
- Nồi rắn hầm đâu?
- Đây nè! – Tiếng ai trả lời từ trong bóng tối.
Vài bóng người đi về hướng đó. Tôi cũng lần theo. Khi tay tôi quờ trúng cái soong to đã mở nắp thì đã có mấy bàn tay đang loắng ngoắng ở đó rồi. Có tiếng cười rúc tích và tiếng rì rầm :
- Tranh thủ đi anh em!
Góc kia có tiếng hỏi:
- Tụi bay “chơi” luôn hà?!
Một lời đáp vội vàng:
- Trước sau gì cũng vô bụng hà. Nhỡ hỏng ăn thì uổng!
Lại thêm vài bóng đen chụm lại. Thế là cả chục bàn tay đã gặp nhau ở cái soong to rắn hầm này. Ai đó gợi ý thật sáng suốt:
- Đổ mẹ hết nước đi!
Ngay lập tức đất dưới chân tôi nhớp nháp xen lẫn tiếng cười và tiếng nhai chóp chép. Chỉ tội nghiệp hai em  gái đứng ở đầu nhà vừa than vừa giục:
- Uổng quá! Thôi, mau lên mấy anh!
Không hiểu các em giục chúng tôi ăn mau hay là rút mau đâ? Nhưng chiến sĩ ta đã giải quyết thật chắc ăn nhanh gọn...

Chúng tôi vừa lui tới mé biền thì nghe tiếng nổ “đùng” ở hướng tiền duyên, tiếp theo là đạn AR15 chiu chíu với những vệt lửa lằng nhằng trong bóng đêm cùng với tiếng la ơi ới. Bọn biệt kích đụng trái gài rồi!
Hai chiến sĩ  lẹ chân vượt lên trước tìm xuồng. Một thương binh thở hổn hển không chạy được, một chiến sĩ  quân y quẳng nồi cá xuống, cõng cậu ta đi. Chiến sĩ  gái đi bên, tay xách thùng đại liên đựng bộ đồ phẫu thuật, tay kia vội quơ lấy nồi cá, vừa lội bì bõm vừa cằn nhằn:
- Giục đi mai lấy gì ăn?!
Một thương binh đau chân, quíu giò, đi cà lết. Chiến sĩ  gái vai đeo túi thuốc, tay xách thùng đồ, tay dìu thương binh đi không nổi. Tôi ghé lưng:
- Tao cõng một đoạn!
Tôi cao hơn mét rưỡi, nặng chừng trên bốn chục kí. Cậu thương binh cao hơn tôi ít ra một cái đầu, nặng phải trên nửa tạ! Bãi năn thì dày, lội tới gối, mỗi lúc lút sâu hơn, lát sau đi không nổi, tôi động viên cậu ta:
- Lội hết nổi rồi, tao dìu vậy!
Cậu ta vừa rên rỉ vừa níu chặt hai vai như muốn đè tôi xuống. Không hiểu là tôi đã cõng, đã lôi hay đã dìu cậu ta đi! Chỉ biết khi có một chiến sĩ quay lại đón thì tôi tưởng đã đứt hơi!…
 Cả chục người trên hai chiếc ghe, chúng tôi lặng lẽ đẩy, chống, bơi và rồi cũng tới một gò nổi giữa bưng. Sau khi đã nhận chìm xuồng giấu kín, chúng tôi lên giữa gò ngồi, mệt rã rời! Lạnh! Muỗi Đồng Tháp thì hết chê! Không nhớ là chúng tôi đã ngủ gà gật qua đêm ấy trong cái ướt lạnh giữa đồng bưng lộng gió với những đàn muỗi đói đang khao khát thịt người đó ra sao nữa… Tới khi trời chạng vạng sáng, chúng tôi đã phân tán từng người tản mạn vùi mình dưới những bụi năn lúp xúp.

Lúc mặt trời bừng sáng trên khắp mặt bưng, một chiếc “bồ nóc” bay là sát ven phum rồi ra đảo ngoài bưng. Lúc sau, một chiếc trực thăng hạ xuống đầu phum bên chốc lát rồi bay thẳng về hướng đông. Chưa hiểu là chúng chi viện hậu  cần hay chuyển thương binh. Nắng tháng giêng ở đất này càng trưa càng gắt. Mỗi người một bịch gạo sấy khô là đồ ăn của “quân tiếp vụ” ngụy nhưng chúng tôi cũng có, nhâm nhi suốt ngày. Lạt miệng thì có cá kho khô. Khát thì sẵn nước bưng trong và mát. Thế mới hay bộ máy tiêu hóa của bộ đội ra khỏe thật!
Mồng một Tết, cả chục người rải rác ẩn kín dưới bưng! Không hiểu anh em ta có chạnh lòng? Riêng tôi chẳng thấy buồn, cũng chẳng chạnh lòng “cố quốc tha hương”, chỉ thấy người ngầy ngật, mơ màng, chập chờn lúc tỉnh, lúc mê dưới cái nắng xuân hầm hập này! Lúc bóng chiều đã nhạt, chúng tôi rời nơi ẩn náu, nhìn về hướng các phum sóc. Êm ả lắm! Một chiến sĩ  trèo lên cây “chùm giuộc” nhìn về “chốt”, thấy phất phơ chiếc khăn trên một cành tre –  đó là dấu hiệu báo yên. Chúng tôi lục tục kéo nhau về.
Tôi ngồi xuồng trước, hai “tay” súng AK đạn đã lên nòng…
Cả một ngày dãi nắng, giờ ngồi trên ghe, gió chiều vi vút… cảm giác người nhẹ lâng lâng. Đi theo “đường nước”, chúng tôi phải men dần qua Sóc Chếc. Thấp thoáng có bóng người. Xuồng đi chậm lại. Gần hơn, nhìn rõ bóng người vận “tà lỏn”, áo đen đi lại. Nghĩ là dân hoặc du kích lẩn quẩn về phum. Mấy người kia giơ tay vẫy vẫy. Xuồng chúng tôi hướng mũi về phía sóc. Lố nhố người đứng trên bờ. Bỗng chiến sĩ  đứng chống xuồng phía sau thắc mắc:
- Coi chừng… Dân mà sao giò trắng lốp!
Cùng lúc chiến sĩ ngồi trước thét lên:
- Lính!
Hai khẩu AK nhả đạn…
Tiếng súng vang trên đồng nước thật dữ dội. Từ bờ AR15, M79 bắn ra chiu chíu, đùng đùng. Tất cả chúng tôi lập úp xuồng và lao xuống nước lặn, lội tứ tung. Bọn lính từ bờ chống xuồng lao ra. Lại một tràng AK làm bọn lính lăn ùm xuống nước. Tranh thủ phút giây im ắng, chúng tôi lùi được xa hơn. Tiếng súng tặc tặc, đùng đùng, chiu chíu văng vãi khắp các hướng. Tôi không thể lặn xa vì cỏ năn dày quá, lại vướng cái túi đeo bên hông và khẩu súng ngắn. Tôi dìm đầu dưới đám cỏ năn nghe động tĩnh.
 Bọn biệt kích chống xuồng ra lùng sục, la lối í ới. Chúng tung lựu đạn xuống bưng, tiếng nổ “bục”… “bục” và sóng nước dềnh lên, tôi phải bịt mũi và miệng để khỏi phát ra tiếng sặc. Nhờ cỏ năn dày nên cũng đỡ nhiều...
Khi nhận ra trời đã tối, chung quanh lặng ngắt. Tôi nhô đầu khỏi mặt nước nhưng bụi năn cao quá, chẳng thấy gì. Không hiểu anh em mình có sao không? Mấy thương binh có chạy được không? Lúc này mới thấy lạnh. Tôi rét run lập cập. Càng run càng rét! Bỗng tôi nghe có tiếng lội bì bõm và tiếng người lao xao. Tiếng động mỗi lúc một gần, vẳng lên tiếng gọi:
- Anh Ba ơi!
Rõ là người gọi kềm giọng không muốn gọi to lên. Chưa hiểu ra sao, tôi lùi ra xa. Tiếng người mỗi lúc một nhiều. Tôi nghe rõ tiếng quen thuộc của một giọng nữ ngọt ngào:
- Liệu ảnh có chạy được không?
Liền đó cũng là một giọng nam quen thuộc :
- Anh Ba ơi, tụi em nè!
Tôi đứng dậy nhô người khỏi đám cỏ năn:
- Đây nè!
Mọi người mừng quýnh. Có tiếng trách:
- Vậy mà để tụi em kêu hoài, tưởng anh sao rồi chớ!
Tôi đáp:
- Tưởng tụi bay bị bắt! Có ai sao không?
- Về hết cả rồi, chỉ thiếu mình anh!
- Mấy thương binh sao? – Tôi hỏi.
Chiến sĩ  gái kể một hơi:                                                    
- Khi xuồng anh nổ súng, em quýnh quá, mấy ảnh lao ngay xuống nước, tụi em lật xuồng lao theo. Vậy mà mấy ảnh long giỏi quá, tụi em theo không kịp!
Tự nhiên tôi thấy tức, cằn nhằn:
- Vậy mà hồi hôm nó bắt tao cõng hộc hơi!
Về tới nhà anh em vui mừng ra đón. Tôi hầm hầm chỉ mặt cậu thương binh tôi đã cõng:
- Lần sau để mặc xác bay!
Cậu ta xịu mặt, mấy hôm sau còn len lét không dám lại gần tôi.
Mệt rã rời không còn thấy đói nữa, chúng tôi mỗi đứa nằm một góc.
Mỗi lần thoát chết là một lần thấy nôn nao. Một bàn tay nho nhỏ lay nhẹ vai tôi
- Anh Ba ơi! Bộ đại phẫu để trong hai thùng đại liên mất rồi! Liệu có sao không?
Lúc này tôi mới nhớ tới. Lại thêm một mối lo! Tôi nắm bàn tay nhỏ nhoi giá lạnh và nói lời an ủi:
- Thôi, nghỉ đi… Mai tính!
Tôi nắm chặt hơn như muốn cả hai bàn tay cùng ấm lên… Em run run rút bàn tay lại.

Sáng sau, chúng tôi phân tán gọn gàng, chẳng ai nghĩ  tới hôm nay vẫn còn là ngày mùng hai Tết!
Tôi vẫn lo lắng về bộ dụng cụ phẫu thuật. Với người chiến sĩ quân y, dụng cụ chuyên môn cũng như vũ khí của người lính chiến. Mất đi đồ nghề chuyên môn có nghĩa là mất khả năng chiến đấu trong khi đồng đội tin cậy ở mình. Chiến sĩ  gái kể lại cặn kẽ
- Lúc mọi người từ xuồng lao xuống, em còn quơ kịp hai thùng đồ, và kéo theo một khúc, nhưng rồi quýnh quáng, em cũng không biết để tuột ở khúc nào! –  Giọng cô lo âu như muốn khóc.
- Vậy chưa chắc đã lọt vào tay bọn nó đâu!
Một ngày trôi qua xem chừng yên ắng… Gần tối, chúng tôi liên hệ với tổ trinh sát điện đài được báo: Biệt kích đã rút về căn cứ Đức Huệ từ trưa!             
Chúng tôi quyết định cử một tổ đi tìm lại bộ đồ phẫu thuật, có cả tôi va nữ chiến sĩ đi cùng.
Xuồng cắt đường xéo qua bưng, lướt nặng nề qua bãi năn rậm rịt hướng tới chỗ đụng độ chiều qua.
Cả hai chiếc xuồng chúng tôi bỏ lại đều bị lấy đi! Không ai xác định được đường mình đã chạy. Chúng tôi mò mẫm định hướng trong đêm. Bốn người lội lõm bõm, hì hụi, quần thảo, lần mò không nản. Không ai tính đến thời gian. Cuối cùng, chúng tôi đã tìm được đồ “gia bảo”! Cả hai chiếc thùng chìm sâu dưới đáy bưng cách nơi xuồng lật không xa. Mừng khôn xiết! Trời khuya, ướt đẫm vậy mà không thấy rét. Chúng tôi kéo nhau lên xuồng, lòng nhẹ nhõm quên cả nỗi vất vả mấy ngày qua.
Đêm đầu năm, trời tối đen, chỉ vài ánh sao lung linh trên bầu trời cao vòi vọi. Xuồng chúng tôi lần theo “đường nước” đi cho nhẹ. Đường nước này thông ra đường nước lớn ven phum có lính chiều qua. Xuồng chúng tôi băng đi  giữa đường nước lớn. Bỗng một luồng sáng gắt chói lóe lên như một con lốc mạnh, xuồng chúng tôi lật úp!
Tai ù đặc, tôi chỉ thấy những đường đạn đỏ rực chằng chịt trong đêm. Bị phục kích rồi! Trái sáng soi rọi cả đồng bưng mung lung. Chúng tôi lặn, bò, chui rúc tứ tung. Khi thoát khỏi ổ hỏa lực chẳng còn biết được thời gian và phương hướng. Tôi lắng nghe động tĩnh. Có tiếng lội bì bõm và những ám hiệu thoang thoảng gọi nhau. Chúng tôi dò tìm nhau và lần gom về một hướng.
Bọn lính không còn xác định được mục tiêu nên bắn lung tung, đạn rải vung vãi khắp mặt bưng. Tiếng súng vu vơ, thưa thớt dần. Tôi nhô đầu lên mặt nước, vẳng nghe tiếng người rên. Tôi lội về hướng đó.
- Ai đó? Sao không?
Chừng nhận ra giọng nói của tôi:
- Anh Ba ơi, em bị rồi!
Tiếng người nữ rền rĩ thì thào.
Tôi băng mau tới. Đồng chí nữ bị thương ở nơi lưng. Tiếng thở phì phò từ phổi ngập nước nghe ọc ọc. Tôi lấy tay bịt chặt vết thương, vừa kéo đồng chí mình đi, vừa kêu nho nhỏ:
- Mười bị thương rồi!
Hai chiến sĩ nam lội tới. Tiếng súng đã im. Trái sáng cuối cùng đã tắt. Cả đồng bưng trở lại tối đen. Pháo địch bắn vào các cụm địa hình dọc theo phum sóc và rải ra bưng. Mờ mờ sau ánh lửa đạn thấy những cột nước dựng cao. Những mảnh đạn pháo vi vu trong đêm rơi lõm tõm, mảnh gần còn nghe tiếng lèo xèo. Chưa thể lên địa hình ngay được, chúng tôi tạm phân tán xa nhau hơn để có một khoảng cách an toàn. Đành phải đứng trơ mình ở giữa bưng này, không nơi ẩn nấp! Chẳng biết làm gì hơn, hai tay tôi thay nhau bịt chặt vết thương của người bạn gái:
- Có sao không?
Tôi còn biết hỏi câu nào khác nữa!
  - Ngộp... thở... lắm!
 Câu trả lời rứt ra từng đoạn.
Tôi động viên:
- Ráng chút đi, chờ pháo hết bắn sẽ vô bờ… Về nhà rồi tính!
Em lắc đầu, mớ tóc dài xõa tung lắc lay cuốn vào tay tôi...
Khi pháo đã ngưng, nữ chiến sĩ của tôi chỉ còn thở nhẹ. Chúng tôi thay nhau cõng bạn mình về. Ở cứ, anh em nôn nao chờ đợi. Khi truyền qua một người khác đỡ trên tay mới biết đồng chí của mình không còn thở nữa! Nữ chiến sĩ  còn lại ôm chầm lấy bạn khóc tức tưởi! Chúng tôi mỗi người ngồi lặng một nơi. Ngao ngán! Mệt mỏi! Đau xót! Đắng cay!
Dù sao cũng phải quyết định những việc cần làm. Anh em thay quần áo cho tử sĩ. Tôi lấy mảnh giấy nhỏ nắn nót ghi tên:
                        NGUYỄN THỊ MƯỜI – 22 tuổi
                    Long Mỹ – Châu Thành – Long An
                             Hy sinh ngày 5-2-1971
Một giọt nước mắt rơi nhòe trên mảnh giấy. Tôi xếp nhỏ lại cho vào chiếc lọ con, nút chặt, đặt vào lòng bàn tay người bạn gái của tôi. Đồng chí nữ không cầm lòng được nữa, ôm chặt bọc nilon xác bạn khóc lên thành tiếng làm chúng tôi tưởng như đứt ruột!
Chúng tôi hội ý: Bọn biệt kích “gài chốt” lại và chúng tôi đã đụng! Mai chúng sẽ rút thôi. Cần đề phòng phi pháo. Chiều êm, chôn cất tử sĩ xong rồi chuyển điểm luôn.
Tối hôm ấy, chúng tôi nằm quanh xác bạn.
Tảng sáng, tất cả đã sẵn sàng. Xác tử sĩ được đặt dưới hầm. Khi nắng sớm vừa làm tan đi lớp sương mỏng phủ trên bưng, hai chiếc “cá lẹp” lên bắn phá các cụm địa hình, một chiếc “cán gáo” đáp xuống phum bên chốc lát rồi vọt lên, vội vã bay đi. Bọn biệt kích đã được bốc đi.
Chiều, chúng tôi quyết định rời chốt xuống sâu. Địch nống ra thì ta áp lại. Càng lùi xa càng dễ là mục tiêu của nó. Đây là vùng ranh giới Việt Nam–Campuchia. Chúng tôi không muốn gửi xác bạn nơi xứ lạ quê người! Chúng tôi sẽ đưa đồng chí mình về yên nghỉ nơi lòng đất mẹ.
Gần hai mươi con người chỉ còn một chiếc xuồng ba lá! Thi hài tử sĩ được đặt lên xuồng, ngồi bên có mấy thương binh cùng đồ đạc, còn lại lội bộ theo sau!
Ánh chiều nhạt dần, chúng tôi cắt bưng nhằm hướng đất mẹ mà đi. Cách biên giới chừng hơn kilômét, có một gò nổi giữa bưng, chúng tôi cặp ghe lại đưa thi hài tử sĩ lên mai táng. Đất gò mùa nước nổi dễ đào, chừng hai lát xẻng là ngập nước. Thi hài đặt trong bọc nilon đặt xuống hố nước muốn ém chặt lại không dễ dàn! Đất bồi lại không đủ thành một nấm mồ. Chúng tôi bứng từng cụm cỏ phủ lên, khó nhận ra là ngôi mộ mới. Không ai còn khóc được nữa! Đứng lặng hồi lâu, sau cùng tôi cố nói to:
- Thôi, Mười nằm đây, nhớ phù hộ đồng đội bình an đến ngày toàn thắng!
Tiếng nói của tôi mất hút trong thăm thẳm hoang vắng của đồng bưng...      
Chúng tôi lặng lẽ đẩy xuồng đi. Được một khúc, tất cả cùng quay lại nhìn về gò nổi – nơi người bạn gái nằm lại một mình! Yên lặng! Chiến sĩ đứng bên tôi dường như không chịu nổi, rút khẩu súng ngắn tôi đeo bên hông, giơ cao lên trời bắn liền một mạch. Tiếng súng ngắn lẹt đẹt vang trong chiều tàn...
Gió bưng lồng lộng. Trời tối dần. Chúng tôi lội bì bõm trong bưng mênh mông. Không ai nói một lời ngoài tiếng oàm oạp của sóng nước vỗ bên mạn xuồng. Chiều mùng ba Tết, vài ngôi sao nhỏ mờ mờ nhấp nhánh trên trời cao! Có ai tin vào lời cầu khẩn của tôi: Sẽ bình yên cho mọi người trong cuộc chiến tranh này?!
Tôi bàng hoàng nhớ lại: Nếu đêm qua, đám biệt kích chờ chiếc xuồng chở chúng tôi tới đúng tầm mới cho nổ trái “mìn định hướng” thì giờ này tôi đang ở đâu đây?! Người tôi lâng lâng, nửa mình đầm trong nước nhưng hồn tôi chơi vơi.

Đời tôi, trải cả chục lần Tết ở chiến trường nhưng chưa Tết nào tôi chua xót và gian truân như vậy!
            Hằng năm, vào độ sắp xuân về, khi sớm chiều gió se se lạnh, lòng tôi lại bâng khuâng nghĩ tới những ngày qua, những kỷ niệm vô hình, vô ảnh.
Tôi ngậm  ngùi nhẩm đọc mấy câu thơ từ thời Tiểu học tôi đã thuộc lòng:
                        Những người muôn năm cũ
                        Hồn ở đâu bây giờ...
      
                                                                        Tháng 12 – 1996
                                                       Tuần báo VĂN NGHỆ – HỘI NHÀ VĂN V.N.
                                                            Số 2 (1982) Thứ bẩy ngày 10-1-1998                                                                                                      (TẾT Ở VÙNG BƯNG)    

No comments:

Post a Comment