NGƯỜI CỦA MỘT THỜI - TRANG 1

NGƯỜI CỦA MỘT THỜI
                                       (CHUYỆN  MỘT GIA ĐÌNH)        
                                                   {

                                                                       Với lòng cảm phục lớp người
                                                                        thế hệ “thành đồng tổ quốc.

         Ai cũng nói xã Lương Hoà này thay đổi nhanh lắm. Mấy mươi năm khói lửa chiến chinh, mới ngày nào yên tiếng súng mà nay đã chen kín những nhà mái tôn, mái ngói, tường xây, sân lát gạch tàu. Người đâu sanh mau dữ vậy ? Kẻ bỏ xứ đi xa giờ trở lại quê nhà, người xưa có thể nhận ra nhưng về ngõ xóm nhà mình thì lạc lối ! Lòng kẻ viễn du không khỏi bồi hồi, bâng khuâng, vui buồn lẫn lộn. Thế cho nên ngôi nhà cổ duy nhất còn lại ở ngay cái ấp thoi loi mí biền mới là điều kỳ lạ. Thật ra gọi là cổ cũng chỉ còn ở bộ xương của nó thôi : Những cây cột cái và những dãy cột con đen bóng vẫn gan lì đứng trụ với những chốt, mộng khít khao trên những phiến đá xanh mốc các cỡ làm chân táng. Người ta có cảm giác vừa khâm phục vừa xót xa khi nhìn những vết đạn cào xước, băm vằm đây đó trên những thân cột y như những vết sẹo hằn sâu trên thân thể con người. Còn tấm áo khoác ngoài của nó hẳn là không đương nổi với sự tàn phá của thời gian và thế cuộc, chắc đã thay sửa nhiều lần và bây giờ được đổi mới bằng những lớp tôn sóng ngói đỏ au. Những viên ngói âm dương cong cong xưa cũ được dồn lại ở mái trước nếp nhà ngang làm người ta vương vấn hoài niệm về một cái gì mộc mạc chân quê một thời đã qua không trở lại! Vách nhà bằng ván thưng nay đã là tường xây quét sơn nước sáng tươi… Một sự giao hoà cũ mới cảm như khúc tân cổ giao duyên vừa xa xưa lại vừa mới mẻ.
Dù sao khi qua cổng với hàng rào duối già nhăn nheo, mốc thếch chen lẫn với những cây gòn cao to lừng lững, rồi cái sân lát gạch tàu đỏ au để bước vô nhà, ngửa mặt nhìn lên nóc nhà cao vòi vọi với những bộ kèo, xà dọc, xà ngang giằng vào những cây cột sừng sững uy nghi bóng lịm nước gỗ của những cây sao, lim, căm xe… đứng tấn trên những viên đá tảng, lòng người không khỏi có cảm giác bâng khuâng nuối tiếc…
Căn nhà mênh mông đó dường như chỉ để thờ. Gian chính giữa ngự chiếc tủ thờ lớn được chăm sóc kỹ càng, nổi bóng lên những hình uốn lượn con rồng, con phụng. Qua làn khói hương nghi ngút mờ mờ như mây, tấm vải điều phủ trên chiếc ngai thờ như nơi an ngự của các anh linh tiên tổ. Bên trái cũng là một tủ kệ thờ dài, đặt trang trọng tám tấm hình khổ lớn, đủ cả người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà. Tám tấm hình mà có chín bát nhang (?) lúc nào cũng lung linh những đốm lửa đỏ khiến người ta có cảm giác những người kia vừa gần, vừa xa, vừa hư, vừa thực. Bên phải là nơi tiếp khách với chiếc bàn dài trên đó gọn gàng bộ ấm chén lúc nào cũng sạch bong. Trên tường treo ba tấm hình khổ lớn ba người đàn bà trong đó có hai bà già và một bà trọng tuổi, thấp hơn là bốn khuôn mặt tươi trẻ của hai người con trai và hai người con gái. Hai cửa ngách nhỏ che tấm mành trúc : Một bên là đứa bé cưỡi trâu, thổi sáo, thả diều. Một bên là cô gái với chiếc nón nghiêng, khăn rằn phơ phất, hai tay uyển chuyển chèo ghe trong cảnh sông nước mênh mang. Sau tấm mành che ấy là hậu phòng nơi sinh hoạt gia đình.       
Tôi ngạc nhiên, tròn mắt, hết nhìn hai bà già trên ảnh lại nhìn hai bà già đang lặng lẽ ngồi đây: Một bà chân quê, chất phác. Một bà phong thái còn mang nét kiêu sa của một thời xuân sắc. Vậy mà hai bà là chị em ruột lại cũng là hai chị em dâu. Cả hai bà đều từng qua những ngày dài bão tố gian truân và cùng chịu cảnh goá bụa từ tuổi xuân thì. Hai chị em dù trải qua một thời quá khứ khác nhau nhưng cùng chịu nỗi đau chung và giờ đây cùng sống trong một ngôi nhà. Hai bà là mái che cho sự hợp đoàn của lớp con và cháu. Hơn thế nữa, hai bà còn là chứng nhân cho cả mấy thế hệ từng sống ở đây. Hai bà như một nhà kho ngổn ngang chồng chất những kỷ niệm về những người thân yêu, về quê hương làng xóm. Chả thế mà dân chúng trong vùng, với lòng kính trọng, đặt danh là Nhà bảo tàng di tích chiến tranhhai bà già lịch sử. Với người gốc gác nơi đây, hai bà biết rành cả thứ và tên tới thời ông cố, ông sơ nhưng không mấy ai biết được tên thực của hai bà. Họ chỉ kêu hai bà theo thứ thôi – bà Tám, bà Mười. Khi cần rõ cho khỏi lẫn với những bà Tám, bà Mười khác quanh đây, người ta kêu lén là bà Tám Rầu và bà Mười Nghệ sỹ. Cái danh bà Tám Rầu có từ hồi nào, khi muốn chia sẻ nỗi lòng với ai, bà thường mở đầu bằng lời than thân phận rầu thúi ruột! Lúc vui bà kể cho lớp trẻ nghe rằng: Thời xưa, cha mẹ sanh con đều kêu theo thứ chớ sống chết có cần khai sanh, khai tử chi đâu mà bày chuyện đặt tên. Đến khi lớn, người ta mới thêm vào cái nét riêng của từng người, rồi thành tên chết, ví như Hai Đen, Ba Ốm, Tư Mập, Năm Ròm, Sáu Lù, Tư Cao, Ba Lùn, Hai Cà lăm, Bảy Cà lết, Út Đẹt… Bà Mười lớn lên coi ngồ ngộ nên kêu là Mười Ngộ, riết rồi thành danh. Hồi trước, có mấy người trên thành phố về hỏi thăm nhà Nghệ sĩ ưu tú Thu Nguyệt, bà con ấp xóm lơ ngơ xớ rớ, dần ra mới biết một thời bà Mười từng là diễn viên múa nổi danh ở nhiều đoàn văn công lớn.
Bà trọng tuổi chính là người con duy nhất còn lại trong sáu người con của bà Tám Rầu. Nhiều người lớp tuổi của bà còn đây, biết rõ tên bà là Tư Trông nhưng lớp trẻ kêu theo biệt danh là Tư Ăng ten vì mọi chuyện nhân tình thế sự cho đến những chuyện trời trăng mây nước bà rành như sáu câu vọng cổ. Qua bà Tư, hai bà già lịch sử biết được những biến đổi chung quanh và xóm ấp biết hai bà già đáng kính ấy vẫn còn. Dù sao thì bóng dáng tuổi tác đã trùm lên bà và bà đang lẫn vào hai cái bóng già nua của mẹ và dì.
Lâu lâu có mấy cô cậu trên phố phường về đem theo sự nhộn nhịp và những món quà thành thị làm ngôi nhà vui lên ít hôm rồi lại đâu vào đấy: trầm lắng im lìm với ba bóng già thấp thoáng.
Đã như một người thân thiết, mỗi lần về thăm các bà, trước khi lan man kể cho nhau nghe hàng trăm thứ chuyện về mình, về đời, ông nhà văn thắp nhang vái vọng gia tiên và những người quá cố như một lời chào kính cẩn về sự hiện diện của mình. Tôi cũng làm theo.… Thấy tôi cứ tần ngần, quanh quẩn ở trang thờ nhỏ, đôi lúc kín đáo ngắm nhìn tấm hình những người quá cố mơ hồ, bí ẩn mà lòng thắc mắc… Lựa lúc lãng chuyện, tôi đến bên ông hỏi nhỏ...
Cũng là dịp cho tôi được làm thân, ông nói với bà con gái:                                         
- Cô Tư  à! Để bạn nhỏ này làm quen với nhà mình đi!
Tôi chột dạ vì bị bất ngờ, dụt dè đưa tay bà nắm bước theo và được bà chỉ ảnh từng người giới thiệu:            
- Đây là ba tui – thứ Hai! – người đàn ông mặc áo bà ba không cài nút cổ.              
- Đây là chú Tư, cũng là dượng lớn của tui! – một sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm đại uý, mũ mão cân đai tề chỉnh.                                                        
- Đây là anh Hai tui! – một khuôn mặt khắc khổ, mặn mòi, áo nón rằn ri dã chiến, vai gắn hai bông mai bạc, cấp trung uý quân đội Sài Gòn.                        
- Đây là anh Ba tui! – một người trẻ tuổi, vẻ rắn rỏi, đầu đội nón nỉ, vai mang sắc cốt, cổ cuốn khăn rằn – hình ảnh người chỉ huy du kích.                             
 - Đây là chồng tui! – một người trai trẻ, nét mặt học sinh, mũ tai bèo, áo tô châu, ve áo mang quân hàm thượng sĩ – rõ là một anh lính Bắc trong đội ngũ Quân giải phóng miền Nam
Kề bên là một bát nhang không có hình, bà giải thích:
- Đây là đồng đội của chồng tui… Hai người cùng hy sinh một lúc, một nơi!          
Trước ba tấm hình mấy người niên thiếu trẻ thơ, bà Tư trầm giọng xuống:               
- Đây là mấy đứa em tui : Bé Năm! Thằng Sáu! Và Nhỏ Út – Nó chết tội lắm, lúc còn nhỏ xíu! – Bà Tư quay đi, giấu cơn xúc cảm.                                                      
Tôi ngước nhìn quanh tường rồi nhìn lại tấm hình người anh lớn. Bà Tư chừng hiểu ý, giải thích:                    
- Anh Hai tui chỉ còn một tấm hình đó thôi hà! Tui biểu mấy đứa nhỏ đem lên thành phố truyền thần lại, sửa cho ảnh mặc bộ đồ lớn, mang về, bà già biểu trông lạ hoắc, chưa từng thấy nó mặc bộ đồ này. Can cớ gì? Anh em con cháu mình, trưng ở nhà mình thì phải thiệt. Sống vào thời đó, vận bộ đồ lên người có phải theo ý mình lựa chọn được đâu! Người ta sống thì phân biệt oán hờn thù hận lẫn nhau nhưng chết là siêu thoát. Tha thứ hay hận thù là tùy ở người  sống thôi.
Thấy tôi chăm chú lắng nghe, bà Tư nói tiếp một hơi:
- Bao nhiêu những bằng danh dự, những kỷ vật gì gì… đều cất trong tủ kìa! Dì Mười tui biểu nhà mình trước sao sau vậy: thanh bạch, phong quang! Mỗi người trước sau sống theo nếp nhà, giữ trọn lòng trong, làm tùy sức, hưởng tùy tài, không dựa dẫm vào ai. Chỉ biết trưng khoe điều hay mà giấu đi điều dở là cách sống của kẻ tiểu nhân. Để vậy mà lòng mình thanh thản!
Trên đường về tự dưng tôi ít nói, có điều chi vui chỉ gượng cười thôi.
Ở đầu hồi nhà bà Tám, cũng như nhiều nhà ở đồng bằng Nam bộ, có những mái (lu) chứa đầy nước mưa. Ông nhà văn biểu hồi xưa người ta thường bỏ vào đó một trái bí đao. Để cả năm trời, trái bí rữa ra lắng dưới đáy, nhìn vào thấy nước trong khe! Những ngày nắng gắt, múc một gáo dừa đầy nước, uống ực một hơi, ngọt và mát lịm… Ngửa mặt nhìn trời cao trong xanh, hứng ngọn gió đồng, uống vào lòng nước của trời, trái của đất thấy tâm dạ lâng lâng quyện với hồn quê… Những âm thanh rì rầm của lòng mình và của lòng người rất thật.
Địa chỉ ấy cuốn hút tôi, đưa tôi gắn kết với gia đình bà Tám. Bỗng dưng tôi được coi như thành viên của gia đình và quen thuộc từng gốc cây, bờ kênh, con rạch cũng như nhiều bà con lớn nhỏ vùng quê Lương Hòa này mà với tôi không chỉ là một địa danh, hơn nữa đã như điều ước được sống lương thiệnhòa ái. Dù là hôm xưa, hôm nay, mỗi người trong gia đình này nối kết thành thiên chuyện dài dài.
Thiệt tình là tôi không dám nghĩ tới chuyện viết văn chớ chưa dám nói có một lúc nào nảy ra ý nghĩ dại dột được làm một nhà văn. Để cảm ơn tấm lòng nhân hậu của các bà cùng những tình cảm thân ái hòa  đồng của các anh chị trong nhà, tôi ghi lại những dòng cảm xúc chân thực về những con người của một thời đã qua như ông bà cha mẹ tôi, như bác nhà văn già mà tôi rất quý trọng và liều gởi bác coi.
“Vì cô bạn nhỏ nói rằng rất quý trọng tôi và tôi rất trân trọng tình cảm đó. Sau khi bàn được thuận ý cô, khúc “Nhật ký tìm chồng” và đoạn băng ghi âm cuộc “Hội ngộ âm dương” của bà Mười thì để riêng ra coi như tư liệu dành cho người cần tham khảo. Còn là không thêm bớt một chữ, một câu, chuyển y xì tới bà con vào dịp ngày lễ trọng. Cũng vì cô bạn nhỏ nhút nhát không có cái “ý nghĩ dại dột được làm một nhà văn” nên tôi chiều ý cô luôn, trình ra bạn đọc câu chuyện này gọi là Người của một thời”. 
                       
XIN NGƯỜI TA ĐỪNG GIẾT TRẺ THƠ :

            Người chết rồi không thêm tuổi nữa. Những người chết trẻ mãi vẫn là những chàng trai, cô gái đang độ hoa niên, những bé thơ tội nghiệp.
Tính theo năm sinh thì Út Hận thuộc lớp cô, dì của tôi nhưng Út đã dừng lại khi tuổi vừa tròn số chục nên tôi được gọi là bé Út.
Ở khu vườn sau nhà, trong số gần chục ngôi mộ đều giống nhau cả về khuôn mẫu và diện tích nhưng ai tới thăm nơi đây cũng bùi ngùi dừng lại rất lâu trước tấm mộ chí :       
                                               
                                             HUỲNH THỊ HẬN
                                                   – Sanh 1958 –
                              Chết ngày 10-5-1968 do đạn pháo Mỹ

có gắn kèm tấm hình một bé gái tươi xinh, đôi má lúm đồng tiền, nụ cười tự nhiên hồn hậu, chiếc nón che đầu, tay cắp cặp sách, tay cầm sợi dây dắt con trâu đang ngon lành gặm cỏ bên lề lộ lớn.
Với bà Tám, cả chục cái tang, cả chục nỗi đau, không nỗi đau nào giống nỗi đau nào. Nhưng nỗi đau ngày con bé Út chết bất đắc kỳ tử bên bờ ruộng mí biền cứ xót xa nhoi nhói trong lòng. Đến bây giờ không còn nhớ tuổi đời mình nữa mà mỗi khi nhắc đến, đôi mắt bà lại như dòng suối chảy ra những giọt nước mắt nặng nề. Dòng suối ấy như mạch nước ngầm không bao giờ cạn.
- Thời ấy chiến tranh, ở vùng quê bom đạn này mấy ai có dịp chụp hình đâu. Đó là một buổi chiều, ông thầy giáo đi đâu ngoài lộ, gặp lúc nhỏ tan học về, thấy con trâu nhà thả xổng đang chúi đầu gặm cỏ nơi bờ ruộng nó chạy tới dắt trâu về. Sẵn máy trong tay, không hiểu sao ông thầy kêu nó dừng lại và bấm máy… Sau hôm nó chết, ông thầy xuống viếng, đem theo tấm hình này. Cả đời nó chỉ được chụp hình có một lần. Con trâu cũng vậy. Nào ngờ cả hai đứa chết cùng một lúc!
Cô bé ngộ thiệt. Giá như còn được sống, ít ra cô cũng là một thôn nữ  làm say lòng lắm chàng trai. Nhưng thân phận con người thời tao loạn, đâu có kể chi già trẻ, lớn bé, gái trai, khác chi là hạt bụi, là chiếc lá giữa cơn gió lớn… Cái tên Hận cũng như một nghiệp chướng đeo vào bé từ thuở lọt lòng. Hơn mười năm mang tiếng có chồng nhưng vợ chồng gặp nhau đều trong những hoàn cảnh khác thường. Tên mỗi đứa con đã nói thay nỗi hoài mong của người vợ trẻ. Một thời gian ngắn ngủi thoáng qua, rồi là một sự cách xa đầy đọa đớn đau của cả vợ lẫn chồng. Sau ngày có cái hiệp định Gieo neo (Genève) ấy, ngày vui ngắn ngủn, ông Hai lại bị bắt vì tội yêu nước, đi theo kháng chiến chống giặc ngoại xâm! Ngày trước, cũng là sự xa cách, ông lại ở nơi mũi tên hòn đạn mà lòng bà vẫn khấp khởi mong một ngày vợ chồng xum họp hân hoan. Bây giờ dẫu nói đã có hoà bình mà vẫn chưa ngơi tiếng súng. Người người nháo nhác nhìn trước ngó sau, lủi chui lánh né, rủi ai sơ sẩy sa vào những cuộc truy càn ráp bố như chồng bà thì bị bắt bớ tù đầy. Ông Hai bị đầy ải qua năm bẩy trại tù nơi đất liền, nơi hải đảo. Thương chồng, bà Hai chắt chiu, dành dụm, chạy chọt đi thăm chồng năm lần bẩy lượt. Vợ chồng nhìn nhau qua hàng song sắt, qua rào kẽm gai, mặt mày quắt queo chai sạm mà miệng vẫn ráng tạo một nụ cười héo hắt khi trong lòng rầu thúi ruột. Tay trao cho chồng lon thịt ram mặn, hũ tép đồng rim, bịch mắm ruốc, gói lóc khô… và nhận từ nhau những lời nhắn vội run run trong ánh mắt đầy xót thương, đau khổ:                                           
- Má nó ráng lo cho xấp nhỏ ở nhà!                                 
- Ba nó ráng giữ mình!
Vậy mà qua được mấy năm lận đận trông đợi nhớ thương, đến một ngày ông trở về như cái xác không hồn! Ông nhìn vợ con buồn rầu, ân hận, ăn năn, tủi hổ. Dường như ông không còn điều gì để nói với vợ con, nói với mọi người. Bà không dám hỏi chồng nhưng rồi dần cũng nhận ra. Thời buổi này muốn sống đã khó mà muốn chết cũng không dễ dàng đâu. Buồn lắm! Thương lắm! Hận lắm!… Vậy mà nó cô đúc lại để hiển hiện thành con bé nhỏ nhoi này! Còn trong bụng mẹ, con bé đã nhận ra những tủi hờn lắng đọng sâu xa là thế. Vậy mà nó vẫn lớn lên và đẹp lạ lùng. Những lần chợt nhìn con, bà Tám giật mình mơ hồ lo lắng : Mai rồi thành con gái mà đẹp lồ lộ ra dễ tai ương lắm. Không Trời phạt cũng Đời hành... Con bé đam mê múa hát. Thời ấy đâu có những bài hát riêng cho con nít. Những bài ca tân nhạc thường lả lướt, nhảm nhí, người chốn đồng quê nghe thấy khó vô. Nó nghe lỏm người ta ca cổ mà ca theo. Khi cái ladô phát ra những lời ca của Út Trà Ôn, Thanh Sang, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Lệ Thuỷ, Thanh Nga… là nó như bị hút hồn, đố ai lôi nó rời ra được. Giọng nó lanh lảnh, trong veo theo gió quấn quít vào những rặng dừa nước mí biền kia. Bà Tám không quên lúc nó cất giọng rầu rầu đau khổ ngả mấy câu vọng cổ: … Má ơi! Khoa thi này không đỗ con chờ khoa thi khác / Mất một người mẹ thân yêu thì dù đốt đuốc khắp thế gian cũng không sao tìm ra một đấng… sinh… thành !
Bà Tám mắng yêu con:                                          
- Tao đã chết đâu mà mày khóc sầu não thế?
Nó nghiêng ngó cười làm lành và chạy đến ôm chầm lấy bà lắc lư nghiêng ngả như thể bà có muốn ra đi nó cũng một lòng níu lại.
Vậy mà nó lại ra đi sớm thế trước bà, ở ngay bờ ruộng ngoài kia!
Bà nhớ rõ lắm, đấy là dạo tháng năm sau tết Mậu Thân, súng đạn tưởng đã im ắng rồi bỗng lại rộ lên. Dưới đất súng lớn súng bé ì ùng. Trên trời máy bay phản lực, trực thăng rầm rĩ. Lòng bà nôn nao. Hôm ấy trời sáng gắt lắm rồi, con bé giành dắt trâu ra bờ ruộng mí biền, bà vẫn để mắt canh chừng, tai bà còn nghe rõ nó hát véo von : Hò ơi!… Dòng sông chảy xiết… mái chèo… thuyền đi trên sông Vàm cỏ đông… nước chảy… ơ… ngược dòng… Bài hát quen thuộc nó vẫn hát lóm theo đài ngoài kia và bao giờ nó cũng chỉ hát một khúc tới câu … lệ rơi… chứa… chan… giống như lúc xuống xề của ba câu vọng cổ. Bom đạn thế này, bấy lâu nay bà đâu dám cho nó theo trâu vô mãi trong bưng… Vậy mà bà tá hoả lên khi đột nhiên một chập pháo bầy chụp xuống. Cả nhà chưa ai kịp vô hầm, đứng chết trân tại chỗ. Trong khói bụi mịt mù bà chỉ còn nghe tiếng con trâu hộc lên. Bà hốt hoảng gọi con :
- Út!… Út ơi!… – và te tái chạy ra mí biền. Con bà nằm gục xuống như một đống thịt nhày nhụa máu bên con trâu nằm phơi cái bụng đỏ lòm và phì phì những hơi thở dốc. Bà ôm chầm lấy con và thét lên đau đớn:                               
- Ối trời đất ơi! Chúng nó giết chết con tôi rồi!
Người ta chất xác ba người lớn, bé lên ghe hè nhau chở ra cái bót Ngã ba ngoài lộ. Người ta tru chéo chỉ trời vạch đất oán chửi quân tàn ác bất nhân:                                   
- Các ông bắn đui vậy, Việt cộng đâu không thấy, chỉ chết dân thôi!                                    
Quan lính trong đồn đun đẩy nhau ra đối đáp xoa dịu bà con:
- Đấy là cụm pháo Mỹ ở Bình Đức nó chơi dàn nhạc Tân tây lan đó!
Dàn nhạc Tân tây lan: hai mươi bốn họng súng, mỗi khi bắn cùng khởi đề một lúc.                        - Mỹ với mấy ông một thầy một trò, một đồng một cốt, hè nhau giết ráo trọi dân rồi các ông ở với ai?            
- Thằng Mỹ nó nghi ai là nó bắn đại à… Đến tụi tui nó cũng chẳng từ đâu! 
- Vậy thì đồng minh với độc lập mần chi? Hèn chi Việt cộng họ kêu các ông là ngụy!                   - Mấy người nói đặc giọng cộng sản, chết còn kêu chi?
- Vậy là các ông đẩy mọi người đi theo cộng sản. Cả mấy mươi triệu dân miền Nam này đi theo Việt cộng, chỉ trừ mấy người bám đít Mỹ thôi!          
Một chiếc trực thăng lạch bạch đáp xuống chặn ngay giữa lộ. Mấy thằng Mỹ trắng, Mỹ đen từ trong máy bay nhảy xuống, ngó nghiêng nhìn mấy cái xác nằm phơi giữa lộ rồi xồng xộc kéo vô đồn. Chút sau thằng đồn trưởng trèo lên lô cốt, cầm loa máy hét phóng ra:
- Quân lực America biểu rằng : Vùng này là vùng Việt cộng, quân lực Đồng minh không bảo đảm an toàn cho dân được!                                                 
Mọi người thi nhau la toáng lên:                          
- Các ông đứng trên lô cốt nhìn vô thấy bà con làm trong đồng! Từ trong đồng nhìn ra thấy cây cờ ba xọc phất phơ! Lính trong đồn ăn nhậu la hét um xùm, dân nghe rõ! Vậy mà các ông biểu là đất của Việt cộng thì các ông còn chỗ đâu mà ở?                       
- Chúng tôi còn nhà cửa, ruộng vườn, kéo nhau ra lộ ở lấy gì mà ăn? Con gái không lấy Mỹ thì cũng đứng đường! Con trai không đi lính thì làm mặc rô, trộm cướp! Còn người già, con nít làm gì sống? Vậy là chết ráo cả sao?
Cự nự cãi lộn nhau chán chẳng nhằm nhò gì. Nó là cường quyền, có quân quả, gươm súng hùng hùng hổ hổ. Mình là dân, chỉ có cái lưỡi với hai bàn tay trắng thôi, làm gì được nó… Bà con lại mang xác về… Xót xa… Đau đớn…
Hôm chôn nó ở đây, ông Hai đưa cả cái đầu trâu xuống huyệt:
- Để cho nó có bầu có bạn. Nó thương con trâu lắm !
Vậy mà lâu lâu đám lính, tề xã, bình định, phượng hoàng… còn hầm hè:               
- Ghi trên bia mộ vậy là xúi giục mọi người chống Mỹ!
Năm trước, có một đoàn cựu chiến binh Mỹ qua thăm chiến trường xưa. Họ không nhận ra nơi chiến địa ngày nào. Làng mạc đông vui, nhà cửa san sát, đồng ruộng bát ngát xanh tươi. Nghe danh bà Mười Nghệ sỹ tài sắc một thời, lại đã từng ở bên kia chiến tuyến đối địch, họ xin được gặp. Nghe bà kể lại những ngày len rừng lội suối tới từng đơn vị phục vụ bộ đội, động viên tinh thần chiến sỹ vượt qua ác liệt hiểm nguy đánh giặc giữ nhà, giữ nước, những ngày bà bị đầy ải và đấu tranh quyết liệt trong tù… Một ông xúc động nói:                   
- Trước đây tôi nghĩ các nữ du kích Việt cộng trong rừng sâu đại loại cũng như những nữ thổ dân ở trong rừng rậm Amazon bên nước chúng tôi… Chắc là thời con gái bà đẹp lắm!                            Bà đưa ông ra thăm nghĩa trang nhỏ của gia đình. Tám ngôi mộ. Tám con người lớn bé nằm ngang một hàng. Làm người mà họ không được sống trọn đời! Tất cả đều bị cắt ngang cuộc sống vì bom đạn của chiến tranh, mỗi người mỗi cảnh. Ông cảm động lắm. Ông đứng nghiêm, thành kính cúi gập đầu rất lâu trước những ngôi mộ đầy bí ẩn. Nhưng trước mộ của bé Hận thì ông không cầm lòng được nữa. Ông quì gối, dang hai tay ôm thành mộ, đầu gục xuống, nước mắt rơi lã chã. Lúc đứng lên, quay qua bà Mười, giọng ông run run :
- Chiến tranh là khủng bố!                        
Bà Mười nghiêm sắc mặt quay bước vào nhà. Bà trang trọng thắp nhang trước di hình những người thân đã khuất. Giọng bà nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, rứt khoát như không ai lay chuyển được ý của bà:                                    
- Đúng, cuộc chiến tranh do người Mỹ gây ra ở Việt Nam là khủng bố! Nhưng cuộc chiến tranh của chúng tôi chống lại các ông là cần thiết để bảo vệ phẩm giá của chúng tôi! Trước đó, cuộc chiến tranh của người Pháp ở Việt Nam cũng là khủng bố ! Cuộc chiến tranh của người Nhật cũng vậy! Xa hơn nữa, dân tộc chúng tôi từng chịu nhiều cuộc chiến tranh khủng bố của những thế lực tham vọng mọi thời! Và để tự vệ, chúng tôi phải chống lại. Đó là những cuộc chiến tranh tự vệ – giải phóng mình thoát khỏi sự nhục nhã của mọi hình thức nô lệ. Giải phóng cho cả những tư tưởng nhân văn của nhân loại không bị lợi dụng và bôi nhọ nữa. Trong cuộc chiến đấu ấy, chúng tôi có những người tử tiết và có không ít những nạn nhân. Chính những kẻ khủng bố đã gây ra thảm cảnh đau thương này!                
Ông cựu chiến binh già người Mỹ tươi nét mặt, nắm chặt tay bà lắc lắc, bập bẹ lơ lớ mấy câu tiếng Việt:
- Xin lỗi! Xin lỗi! Cám ơn! Cám ơn!
Và khi chia tay,  ông mong mỏi một ngày tái ngộ:
- See you again! Please!
Mười tuổi! Bé Út Hận đã phải khoác lên người những oan nghiệt trái ngang của cuộc đời và rồi chết gục ai oán bên con trâu nơi bờ ruộng! Con đường đi xa nhất của bé là ra khỏi cổng ấp, dọc theo mí lộ tới trường làng và vượt qua rặng tre sau nhà ra tới mí biền kia để dừng mãi đó! Bé chỉ ước mơ được sống bình yên với má, được thảnh thơi cắp sách tới trường, được thoải mái vui với con trâu, được yên tĩnh ngồi bên chiếc ladô nghe lỏm mấy câu ca tân, cổ rồi hát vang lên lúc vắng người ở trong nhà hoặc ở ngoài đồng…
Mười tuổi! Tôi đã được đi xa thật là xa, khắp cả nước mình, bằng mọi phương tiện trên bộ, trên nước, trên không! Có lần từ trên trời nhìn xuống, tôi thấy nhiều vạt đồi lỗ chỗ những hồ nước nhỏ to bị che khuất bởi những rừng cây bạt ngàn, tôi nghĩ tới những cuộc du ngoạn sinh thái, được câu cá thú vị với đám bạn bè nhưng hỏi ra mới biết đó là dấu tích của những hố bom khủng khiếp một thời! Tôi lớn lên ít đòi hỏi gì ở cha mẹ vì những nhu cầu cần thiết cho đời sống của tôi có sẵn hết rồi. Tôi thường mơ mộng về một tương lai xa vời. Cha mẹ thương tôi hay mơ ước viển vông, rồi đời sẽ khổ. Nhưng mỗi khi đến thăm Út Hận nằm yên với con trâu dưới rặng tre này, lòng tôi nao nao nhớ về một em bé Nhật chết vì bom nguyên tử ngày nào… Những em chết không còn lớn nữa!… Mãi mãi là bé thơ, đi gõ cửa mọi nhà xin cho em chữ ký làm quà / để người ta không giết trẻ thơ / cho con trẻ được quyền ăn kẹo!… Tôi suy nghĩ về mình, về gia đình, về những người chung quanh và tôi cảm thấy phải làm một điều gì thiết thực.
Tôi gắn bó và thường về với hai bà, với dì Tư Ăng-ten, với một chốn quê bình lặng phảng phất hơi hướng cổ xưa mộc mạc và linh thiêng là như thế.                                                                     

CHA  VÀ  CON :                                                                                                                 

Ông Hai Huỳnh Võ chết vào độ tuổi ngũ tuần. Cái tên Võ cũng là người ta thêm vào rồi thành danh luôn và cũng là danh tánh trong giấy tờ, sổ bộ. Hai người con ông : anh Hai Thương và anh Ba Nhơ, cùng chết một ngày với ông, đều còn trong lứa tuổi hai mươi.
Cuộc đời ông Hai thật đoạn trường. Tuổi trẻ ông sống sôi nổi đầy nghĩa khí mà lúc về chiều đời ông đầy những trái ngang và cái chết của cha con ông thật bi thương thảm thiết. Trong nghĩa phu thê ông gởi trọn tình thương sâu nặng mà lúc trai tráng vợ chồng lại xa cách dài một dòng sông và lúc được ở bên nhau thì tóc ông nhuốm đầy nắng bạc vì lòng ông chất chứa bao uất hận dầy vò.
Cũng như những chàng trai quê thời đó, 9-10 tuổi đầu mới bỏ cây viết lông với mấy câu Hán tự loằng ngoằng, cắp sách đi học đánh vần và cầm bút sắt viết mấy câu tiếng Phú lang sa và mấy câu quốc ngữ . Ông học vài ba năm để biết đọc tờ báo, tờ yết cáo, thảo được tờ đơn cớ, làm rành mấy phép tính cộng, trừ, nhân, chia… Cậu trai mới lớn nhỏ thó, săn chắc và hiếu động coi việc học chữ vậy là đủ rồi. Cậu bỏ học, theo bạn bè qua xã bên tìm thầy học võ. Cha cậu là ông Hương Quản coi việc trị an làng xóm. Ông Hương có học ít chữ nho nhưng nho học đã đến lúc bỏ đi, còn tây học trật ruộc chẳng ra gì. Tuy là chức sắc trong xã ấp nhưng ông cũng không ưa mấy thằng mắt xanh mũi lõ nên dù  nhà đủ khả năng cho con lên trường quận, trường tỉnh học nhưng thằng nhỏ nó không ham thì ông cũng chẳng ép nó làm gì. Vả lại nó đi học võ ông cũng thấy ưng trong bụng. Thời buổi nhố nhăng, người sống lẫn với sói hoang thế này, cho con đi học võ cũng là trước để hộ thân lỡ bị hiếp đáp bức bách thì phòng vệ, sau là mình mạnh mẽ thì cũng có thể đỡ được cho người.
Ông thầy Năm nổi tiếng một vùng không chỉ là võ nghệ cao cường mà tính ông cương trực và khí tiết nên người đời đặt danh là thầy Năm Hớn, ý chỉ thầy nghĩa khí như Hớn Minh thuở trước. Muốn nhập môn thầy không phải dễ. Ngày đầu xớ rớ tới, ông khoát tay như xua bầy vịt. Cậu nào tự ái nổi xung bỏ đi liền – thiếu chi người tài giỏi trên đời, cầu cạnh mần chi! Mấy cậu trì len lét đứng coi. Cả tháng trời còn vài ba cậu, ông vẫy tay lại hỏi:              
- Coi chừng ham mấy thứ này! Học để mần chi?
Mỗi cậu trả lời một phách. Có cậu nói học để phòng thân. Có cậu biểu học để trị mấy thằng phách lối… Ông thầy cởi trần, tóc bới củ hành dựng ngược trên đầu, ngồi giữa sân nhâm nhi ly rượu, giọng thầy rắn rỏi, rành rẽ, sắt đanh như dao chém đá:                       
- Để phòng thân thì cần có một nghề thật giỏi, nhất nghệ tinh – nhất thân vinh, lo được cho mình, cho cả gia đình. Mấy thằng phách lối chỉ là tiểu nhân, bận tâm sức về đám vô lại đó chỉ là tiểu khí. Học võ là để rèn cho mình thêm chí khí đặng đứng vững được ở đời. Cổ nhân đã dậy khí kỵ hung. Học võ mà để phô sức mạnh của mình ra dọa đời là rước họa vào thân!
My cu nghe ngán ngm, lui dn. Ch còn li cu con ông Hương Qun lúc y còm rom. Ông thy thu cu nhp môn.
C năm tri, ông thy không dy cho miếng võ nào. Cu Hai vn cn cù nhn ni ph vic cùng hai cô con gái ông thy: cô Tám, cô Mười. Nhng lúc rnh ri, ba anh em trm đng xem thy truyn dy các môn sinh và h hn nhiên lén hc nhng đường quyn, thế võ ri t ôn luyn vi nhau. Thi thong bt gp, thy cũng không rày, ch nhc nh hc trò:
- Trai thời trung hiếu làm đầu – Quay qua con gái, ông nói nhỏ:… Gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình!
Nhưng rồi ông lại thở dài, ngửa mặt lên trời than vãn :
- Làm phận gái phải giữ tiết hạnh với kẻ bất nghĩa thật uổng đời! Làm thân trai mà trung với u vương càng đắc tội!
Dần dà anh Hai thành đệ tử ruột của thầy và cũng là người anh tin cẩn của hai cô em gái.
Lâu lâu có mấy ông Ba Tàu, khi là thầy lang, khi là thầy mãi võ tới thăm thầy Năm Hớn, ở lại ít ngày, có khi cả tháng. Các thầy cùng bốc thuốc, ôn luyện côn quyền, bên ly rượu trầm ngâm, rì rầm tâm sự . Ba anh em không dám tò  mò vào chuyện của mấy thầy, bảo nhau chăm lo cho các thầy bữa ăn, giấc ngủ. Anh Hai học được nghề võ và biết chút ít nghề thuốc cũng là từ đó.
Một ngày giữa tháng, trời về khuya, một vầng trăng trên trời, một thầy ngồi giữa sân, ly rượu lúc nào cũng long lanh sóng sánh trên tay, bên thầy một cây giáo dài, một cây đàn kìm. Thầy ngồi như thế không nhớ tự bao giờ và cũng không biết tới bao giờ. Bạn thầy lâu nay không tới. Thầy linh cảm điều gì u ám. Các môn sinh thầy cho xuất thế. Thầy càng cô đơn. Thương thầy, ba anh em lân la tới ngồi bên. Anh Hai đánh bạo hỏi:                                              
- Sao lâu nay thầy buồn dữ đa?                
Thầy nhấp ly rượu, mắt nhìn xa xăm, giọng thầy run run già khác thường:              
- Cổ nhân nói: Kẻ trượng phu ngẩng lên không hổ với Trời, cúi xuống không thẹn với Đất, ấy là lòng mãn nguyện! Ta ngước lên nhìn Trời thấy đầu tăm tối, cúi xuống nhìn đời đầy cảnh nhiễu nhương! Trí hèn, tài hẹp, có chút võ dõng không biết mần chi đành nhắm mắt đưa chân lúc nước non chìm nổi, bầy đàn tan tác thì lòng vui sao được?    
Thế sự xoay vần như cây chong chóng. Một thằng mũi dài, da trắng đã như cái ách giữa đàng. Lại thêm thằng mũi tẹt, da vàng choàng cái gông lên cổ. Hàng đoàn người bị xâu dây kẽm vào tay, dồn xuống tàu chở ra nhấn chìm ngoài biển khơi. Lớp lớp trai tráng bị ép cầm súng qua bên Xiêm La đỡ đạn. Bây giờ thế giới đánh nhau loạn xạ, bom đạn dội cả tới đây, dân tình điêu linh thống khổ. Ông nâng cây đàn tròn như mặt trăng nhẹ ấp vào lòng, ngước nhìn trời mắt long lanh ngấn lệ, vịn tay đàn bấm vuốt hai dây buông nên mấy cung rền rĩ nỉ non, giọng khàn khàn nghẹn ngào cất lời khúc Dạ cổ hoài lang:
- Từ là từ phu tướng / Bảo kiếm sắc phong lên đàng / Vào ra luống trông tin chàng / Năm ơ canh mơ màng / Em luống trông tin chàng / Ôi gan vàng quặn đau…  í a…    
Mùa gió chướng càng khuya càng lạnh. Bóng trăng lúc tỏ lúc mờ. Bóng thầy nghiêng ngả trên sân. Tiếng đàn, tiếng hát gợi nhớ cái gì thân yêu xa xưa đã mất sao mà não nuột. Cái lạnh, cái buồn vẩn vơ lây sang mấy người niên thiếu…
Bỗng từ các lùm cây, khóm chuối lay động xôn xao. Thầy như đã dự cảm điều chẳng lành, quăng cây đàn ra xa, quơ cây mác, đứng bật dậy. Tay chống mác, tay khoát các con lui, ông quay mặt ra ngõ quát đĩnh đạc như viên võ tướng:                     
- Cái nhục vong quốc là nỗi đau lớn nhất của kẻ trượng phu. Ta không thể sống như loài cầm thú!           
Cùng lúc ấy hàng chục bóng đen lùi lũi lao ra, nách thước tay dao ào ào xông tới. Ông thầy vung cây giáo tít mù, loang loáng dưới trăng. Những bóng đen la hoảng chạy dạt ra. Bỗng một giọng tây ồm ồm hung hãn : Haut la main! (Giơ tay lên!). Ông thầy võ giơ cây giáo lao thẳng vào cái bóng đen to lớn ấy. Tiếng  Ố… Ố… Ồ… Ồ… rống lên cùng lúc hàng loạt tiếng nổ và lửa đạn toé sáng… Ông thầy loạng choạng đầu chúi xuống, tay cắm mũi giáo xuống đất, tỳ người trên thân giáo, không chịu ngã ra. Mấy anh em xô tới vực thầy đứng lên bên xác thằng Tây nằm sóng xoài lênh láng máu.
Hai cô gái bị giam giữ  ít ngày rồi được thả về. Anh Hai bị tù đày, khảo tra mấy tháng trời. Nhờ sự chạy chọt và chỗ dựa của ông Hương Quản, anh mới được tha ra. Ngôi nhà bị thiêu cháy rụi. Ông thầy Năm Hớn được bà con táng ngay giữa sân nhà – nơi ông thường ngồi buồn vui thế sự và cũng là nơi ông trụ đứng lúc lìa đời. Anh Hai thường qua lại thăm nom, giúp đỡ hai cô em gái con thầy. Tháng qua, năm tới, ông Hương Quản cảm nhận tấm lòng tiết nghĩa của con nên đứng ra tác thành con trai mình với cô Tám con ông thầy võ được thành gia thất dù rằng với gia thế ấy, ông có thể làm bạn sui gia với những gia đình khá giả trong vùng.
Anh Hai ở bên nhà vợ, chăm lo hương khói cho thầy. Anh cũng tụ hợp bạn bè truyền nghề võ. Lúc này anh mới mang máng hiểu rằng thầy mình có tham gia cái Hội Thiên Địa gì đó của mấy người Tàu. Cái hội đầu ngô mình sở ấy đã làm cho chí bình sanh của thầy mai một! Anh Hai dần dà hiểu ra được nỗi bất đắc chí của thầy. Nhưng thế sự ngày càng rối rắm, ruột gan anh như mối tơ vò, cũng như thầy, anh gởi lòng vào đường quyền mũi kiếm.

Thấm thoắt ngày qua tháng lại, đôi vợ chồng trẻ sanh thằng cu Thương. Khi cu Thương biết bập bẹ kêu Ba… Ba… Má… Má… thì cả tổng này người ta rần rần kéo nhau đi giành chính quyền. Thằng Pháp nằm bẹp lền khên trong các nhà tù. Thằng Nhật như rắn mất đầu ném súng chạy te tua. Mấy lá cờ tam sắc, cờ chấm đỏ biến đâu bặt tăm bặt dạng. Giờ đây ngợp trời cờ đỏ sao vàng, cờ vàng sao đỏ phấp phới tung bay trông mát mắt. Anh Hai dẫn đầu một toán trai tráng hăm hở mang giáo, mác, phảng, tầm vông… ào ào kéo nhau lên quận, sục vào các đồn bót lục lạo kiếm súng, đạn , găm, lê… Vớ được khẩu mút và cây kiếm Nhật, súng khoác trên vai, hông đeo lúc lắc cây kiếm dài lê thê, anh Hai như người chỉ huy trẻ trung oai phong lẫm liệt. Đội quân của anh được điều lên tỉnh, tình cờ gặp người bạn từng là môn sinh của thầy, giao cho anh cây cờ nền vàng sao đỏ to đùng. Anh Hai giương nó lên cao, cả đoàn kéo nhau đi vòng vo quanh phố thị. Anh Hai bỗng trở thành người chỉ huy xông xáo. Anh bạn vốn con nhà giầu, theo học võ ít lâu, gia đình kêu về bắt lên Sài Gòn học chữ, giờ anh là cán bộ Việt Minh ở tỉnh này. Là Thanh niên tiền phong, anh Hai cũng ở trong tổ chức Việt Minh.
Thằng Nhật vừa cuốn xéo về nước thì thằng Pháp ỷ thế Đồng minh Anh quốc gây chiến lại. Chiến sự từ Sài Gòn mau chóng lan ra các tỉnh. Anh Hai thành người chỉ huy một Đội Vệ binh cộng hòa của tỉnh, đánh giặc tưng bừng. Một hôm anh bạn đến gặp biểu anh:                    
- Ê Hai! Mày vô Dân chủ với tao đi!                               
- Đã Tiền phong rồi, Dân chủ mần chi nữa? – Anh trả lời gọn hơ.                                         
- Không! Tiền phong là của hết ráo thanh niên. Dân chủ là Đảng của những người như tao với mày, già trẻ bất kể, mà dám tranh đấu cho quyền lợi của mình là được.
- Vô Dân chủ có còn trong Việt Minh không? – Anh hỏi lại.                                       
- Ngon quá đi chớ! Trong Việt Minh có cả Dân chủ, Cộng sản, Thanh niên, Nông hội, Công hội, Phật Thích Ca, Chúa Jésus, Phạm Công Tắc, Huỳnh Phú Sổ… miễn là cùng mục đích đánh ngoại xâm giành độc lập thôi. Bình đẳng ráo!                                               
- Dân chủ với Cộng sản khác gì nhau?   
Anh bạn nắm hai vai anh lắc lắc:                         
- Dân chủ là của những người hữu sản. Cộng sản là của những người vô sản không có gì ráo trọi. Như mày vô Dân chủ được rồi!                        
Anh Hai gật đầu ra ý hiểu.                         
Mấy ngày sau, anh bạn kêu anh đến một phòng trống tuyềnh toàng, có vài ba anh nữa, nghiêm trang tuyên bố:      
- Trong điều kiện đặc biệt vì chiến tranh, không thể tập trung đông đủ làm lễ kết nạp được. Tôi thay mặt tỉnh đảng bộ tuyên bố kết nạp đồng chí Hai Võ tức Huỳnh Võ từ nay chính thức là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam !
Anh Hai trên mình đầy vũ khí, đứng nghiêm, trang trọng chấp nhận sự kết nạp ấy. Anh cảm thấy trách nhiệm của mình nhiều hơn và sức mạnh của mình cũng lớn hơn. Mọi người bắt chặt tay anh rồi tản ra về.
Thế là cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã thật sự cuốn hút anh Hai. Lâu lâu tiện dịp anh ghé về thăm vợ. Lại có thêm cu Nhớ. Nó ra đời thế nào anh không hay. Nhưng một kỷ niệm về Đảng thì anh nhớ mãi. Những năm đầu chống Pháp, gian khổ thiếu thốn rất nhiều nhưng anh em vẫn hợp đoàn xôm tụ lắm. Một hôm có cán bộ của Kỳ bộ Việt Minh về Khu tuyên truyền, nói về trường kỳ kháng chiến. Những thanh niên của Dân chủCộng sản được tập trung đứng làm hàng rào danh dự. Vũ khí tạp pín lù thì cũng được, trông càng vui mắt. Nhưng trang phục tùm lum : người quần phăng, áo bà ba; người áo sơ mi, quần lửng; người quần tà lỏn, cởi trần – mới cũ đủ loại: tầu tầu, mốc thếch, trắng xác, đen thùi; đầu trần, nón nhà binh, dân sự đủ kiểu; người đi giầy, bốt, dép lê, chân đất thoải mái. Trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy đành vậy thôi, ai trách mần chi. Nhưng nhìn đội quân danh dự mà như vậy thì ô hợp quá! Giờ hành lễ tới nơi rồi! Anh Hai được giao chỉ huy, nghĩ ra một kế: Chúng ta là quân du kích, cũng không khác gì quân Lam sơn tụ nghĩa thuở xưa – mình trần, chân đất mà đồng lòng chống giặc ngoại xâm! Vậy là đứng dưới chân kỳ đài hôm ấy có một đội quân danh dự đặc biệt khác thường : ai cũng quần tà lỏn, mình trần, chân đất, đầu quấn khăn rằn, người khoác tôm xông, người đeo bá đỏ, người mang kiếm, người đeo lê, người vác tầm vông, người giơ cây phảng… Lịch sử quân sự thế giới xưa nay chưa từng có đội quân nào như thế. Vậy mà làm xôn xao xáo động lòng người. Các diễn giả nói hùng hồn hấp dẫn, khán giả nín thinh nghe rồi ào ào hưởng ứng. Đại diện Đảng Dân chủ là ông bác sỹ con ông Hội đồng đại điền chủ giàu cả lục tỉnh biết tiếng. Đại diện Đảng Cộng sản là ông người xứ Nghệ, cựu tù Côn đảo, từng tranh biện hùng hồn trước toà án thực dân. Diễn giả nói xong, xuống bắt tay, ôm hôn từng chiến sỹ danh dự trong tiếng vỗ tay vang trời, tiếng cười dậy đất và nhiều người trào nước mắt.
Cuộc kháng chiến kéo dài, anh Hai điểm quanh thấy những đảng viên Dân chủ ngày càng vắng bóng. Có người thấy anh trì, khuyên qua nhập Cộng sản cho rồi. Nhưng anh nghĩ đã theo ai thì phải một lòng trước sao sau vậy. Đảng nào mục đích cũng là hợp sức nhau lại đánh giặc ngoại xâm, mang lại độc lập cho dân nước chớ đâu phải là chuyện ham vui.
Anh đang từ  cương vị chỉ huy một đại đội chiến đấu, được điều qua làm công tác tài chánh của tỉnh vì anh có học hành chút đỉnh. Kháng chiến cần, anh dốc sức, dốc lòng. Việc nhà có vợ anh lo. Bé Trông, bé Chờ ra đời trong những ngày tháng ấy…                                                                                                                  
Khi có Hiệp định Genève, được phân ở lại ông thấy mừng. Mục tiêu sắp đến rồi! Lại về với xóm làng, đồng ruộng, người thân, lòng vẫn hướng về đồng đội chờ ngày hội ngộ trong cảnh dân nước thanh bình  độc lập. Em trai ông – Huỳnh Tư, vào bộ đội sau anh, đảng viên cộng sản, trong đoàn quân tập kết. Em vợ ông – cô Mười, trốn nhà đi theo đoàn nữ cứu thương, giờ cũng xuống tầu ra Bắc. Ông Hai nghĩ việc mình ở lại là hợp cả lý, tình. Ông Hương Quản mất rồi. Ông đem vợ con về ở nhà mình. Cu Hòa ra đời trong những ngày đầu hòa bình yên ổn ấy.
Nhưng sự yên vui đâu có được lâu.
Khi đã trấn áp xong các phe phái chống đối và truất phế được Bảo Đại rồi, chính quyền Ngô Đình Diệm quay qua đàn áp những người theo kháng chiến. Đấy là thời kỳ gieo neo của họ. Gia đình ông Hai bị liệt vào hàng nguy hiểm, trước cửa nhà có treo tấm biển đen, chữ trắng: Gia đình cộng sản! Ông bị quản thúc và thường xuyên bị kêu đi học lớp cải huấn làm ông mệt mỏi. Ông sống lương thiện, chỉ lo làm ăn chớ có chống đối ai đâu! Nhưng người ta không cho yên. Người ta muốn tẩy ra khỏi não những cái gì ông bị nhiễm từ thời đi kháng chiến. Người ta muốn ông phải nhận những việc làm đó là sai. Ông không chịu. Mấy tên xã ấp, hồi đó nó biến đi đâu, bây giờ trở về phách lối trù ém, đặt điều cho ông đủ chuyện. Ông ráng nín nhịn cho qua nhưng họ lại cho là ông ngoan cố âm thầm ăn cơm quốc gia – thờ ma cộng sản. Họ đưa ông đi trại tập trung cải huấn đằng đẵng mấy năm trời. Ở đấy ông gặp nhiều người quen biết từ thời lặn lội ở chiến khu. Mỗi người một tâm tư không dám lộ ra. Lòng dạ ai tự người nấy biết. Người nào cương chính, nếu không chết thê thảm thì cũng bị đày lên rừng, ra đảo khó có ngày về. Người nào yên phận thì phải nói sái lòng mình để rồi có sống thì cũng trong tâm trạng u uất dày vò chẳng dám nhìn ai. Một số ít người đang tâm làm trái đạo lý thì bị dồn ép phải làm những việc bất nhân, tàn ác không khác kẻ vô lương.
Viên trung uý người Huế trẻ măng, dáng thư sinh nho nhã, giọng ngọt như lưỡi dao bén rủ rỉ với ông:            
- Gia đình ông khá giả, hàng chức sắc trong làng, sao không yên phận lại theo Cộng sản?           
- Tôi không phải Cộng sản, tôi là Dân chủ!       
- Thì Việt Minh với Cộng sản là một đó thôi!    
- Không, Việt Minh tập hợp tất cả những người yêu nước chống ngoại xâm!            
- Thiếu gì cách chống ngoại xâm. Ngô Tổng Thống đâu cần theo kháng chiến mà vẫn đẩy đi được cả người Pháp với ông vua bù nhìn Bảo Đại đấy thôi! Ngài một lúc đánh đổ cả hai kẻ thù là Đế quốc và Phong kiến đó!
- Người Pháp đi thì có người Mỹ đến!     
- Mình là nước nhỏ phải dựa vào nước lớn chớ. Như cây leo mà không bám vào cây cổ thụ thì sao vươn lên được!                                                                    
Ông Hai làm thinh. Viên sỹ quan tâm lý chiến lại giảng tiếp:                                     
- Làm gì cũng để cho có ấm no yên ổn là được rồi. Cụ Hồ chả bảo : Độc lập mà không có tự do hạnh phúc thì đấu tranh giành độc lập làm gì đó thôi! Miền Nam mình phải dựa vào khối Thế giới tự do đứng đầu là Mỹ, cũng như miền Bắc phải dựa vào khối Cộng sản do Nga xô và Trung cộng đứng đầu. Sao các ông lại kêu chúng tôi là tay sai, là chư hầu chớ? Nay mai có tổng tuyển cử tự do, Cụ Hồ hay Cụ Ngô đắc cử thì cả tôi và ông, cả miền Nam, miền Bắc đều sống trong một quốc gia độc lập. Sao chúng ta lại không hợp tác trước với nhau đi?
Ông vẫn làm thinh. Viên trung uý cho ông về suy nghĩ tiếp… Rồi y cứ ngọt nhạt:             
- Chúng tôi biết ông không cố ý chống chúng tôi đâu. Những người cộng sản họ ương bướng vì họ làm theo chỉ thị, nghị quyết của Đảng họ. Còn Đảng ông có chỉ thị nghị quyết gì cho các ông không? Vậy hà cớ chi ông phải làm theo họ? Ông còn câu nệ gì mà không ly khai Đảng Cộng sản?
- Nhưng tôi có vô Đảng Cộng sản bao giờ đâu mà phải ly khai!
Viên trung uý gật đầu cười nhạt:                          
- Vậy chỉ cần ông thừa nhận ông không phải Cộng sản là được rồi!              
Ông gật đầu. Viên trung uý trẻ tươi lên, chìa tờ giấy ra cho ông ghi vào chữ : Tôi không phải là Cộng sản! và ký vào. Sự thật đúng là như thế mà sao tay ông cứ run bắn lên… Ông được chuyển ngay về trại khác.
Sáng sau, các trại viên ấy rục rịch chuẩn bị ra chào cờ. Ông cáo đau đầu nằm giấu mình một xó. Vẫn viên trung uý ấy phân tích cho ông:                                                        
- Lá cờ chẳng qua chỉ là mảnh vải, ai muốn tô kết thế nào tuỳ ý. Nhưng nó tượng trưng cho một quốc gia. Ngoài Bắc có lá cờ nền đỏ sao vàng thì ở trong Nam có lá cờ nền vàng sọc đỏ. Chừng nào hai miền thống nhất thì cả tôi và ông đều chào chung một lá cờ màu gì, mấy sao, mấy vạch là tuỳ theo lúc đó. Người thức thời phải hiểu vậy. Chớ có chấp nhất, tỏ ra thiển cận hẹp hòi chỉ tự mình hành hạ mình thôi. Vả lại bây giờ ông có muốn quay về trại cũ, các đồng chí của ông cũng không ai chấp nhận nữa đâu!…
Rồi một buổi sáng, các bạn tù thấy người tù Huỳnh Võ lủi trong đám người đứng giữa sân cúi đầu chào lá cờ ba sọc!
Ngay lập tức, ông nghe được trong hàng ngũ lính xì xầm:                                           
- Một cán bộ trung kiên, ngoan cố cấp tỉnh đã quy hàng!                                
Số bạn tù hiểu được lòng ông bắn lời nhắn nhủ:           
- Anh mắc bẫy bọn tâm lý chiến rồi! Bây giờ nhân dân trông vào Đảng. Những người Cộng sản luôn đi đầu đấu tranh cho Tổ quốc Việt Nam hòa  bình, thống nhất và độc lập. Trong thực tế có không ít người tuy chưa đứng trong hàng ngũ của Đảng nhưng họ vẫn sát cánh cùng Đảng chiến đấu cho mục tiêu cao cả ấy. Bấy lâu nay anh vẫn tỏ rõ khí phách kiên cường trước kẻ thù không khác gì một đảng viên Cộng sản chân chính. Bây giờ anh tách ra khỏi Đảng cũng đồng nghĩa là anh từ bỏ mục tiêu bấy lâu nay theo đuổi!  
Ông rũ người xuống tưởng như ông không còn gượng lên được nữa. Ông đã tự tách mình ra khỏi đội ngũ của ông! Ông nghĩ tới thầy Năm Hớn – người thầy nhập môn với tấm lòng u uất trước nỗi đau nhân sinh thế sự và cái chết hiên ngang của con nhà võ trước quân thù.
Ông trở về nhà với niềm đau, nỗi hận không biết chia sẻ cùng ai.

Tấm biển cách ly trước cổng đã được gỡ bỏ mà nhà ông vẫn vắng lạnh, người đi qua cổng vẫn bước vội như sợ một điều gì. Vợ con ông cảm nhận được sự rẻ rúng 

ĐỌC TIẾP

No comments:

Post a Comment