NGÀN NĂM BIA MIỆNG!
Người ta đang mượn danh “tư duy
mới”, đánh lộn sòng tôn vinh, đặt tên
đường, tên trường cho mấy kẻ từng hợp tác đắc lực cho ngoại bang, thậm chí còn
lập đền thờ, dựng tượng và ca ngợi hành vi phản dân hại nước làm lẫn lộn chính
tà trong khi nhà trường dạy học trò lòng
yêu nước là đạo đức cao nhất của một công dân.
Thoáng đã hơn
chục năm, chúng tôi mới gặp lại nhau. Lão cả rồi! Ông thanh minh:
-
Lâu không gặp chú cũng nhớ đấy. Nhưng sông sâu, ghe phà cách trở. Giờ có cây
cầu mới, chui cha là đẹp! Tui đi khánh thành cầu rồi vọt lên thành phố… Đã cái
bụng qúa chừng!
Hai tay giơ lên hai giỏ quà:
- Đây là quà của ngày quê hương gian khổ
– là mấy mụn măng… Và đây là quà quê hương đổi mới – là mấy trái bưởi da xanh
lai tạo mỡ màng.
Tôi đỡ mấy mụn măng mạnh tông mà vui
trong bụng. Măng tươi, ăn sống ngọt không thua củ sắn (củ đậu):
- Ngày ấy không phải cái gì cũng khổ cả
đâu. Khối cái bây giờ kiếm đỏ con mắt không ra.
Cách nay hơn 40 năm, tôi mới qúa tuổi
đôi mươi. Ở rừng xuống đồng bằng, thấy người có râu là kêu chú, xưng cháu
nghiêm chỉnh lắm. Và ông kêu lại chúng tôi là mấy chú, xưng qua ngọt
sớt. Thân tình rồi mới dám hỏi tuổi, thì ra chú mới ngoài băm nhưng để
qua mắt giặc, chú phải giả già đi… Lâu dần nhập vai, lính cả hai bên đều ngán
ông già hay lý sự, chửi ngọt nghe lọt tai mà
nhức hòn rái! Lúc lai rai vui vẻ, định kêu chú bằng anh nhưng
nhìn đứa con gái lớn ở tuổi trăng tròn, ngoài giờ học, vô vuông giúp ba việc
đồng, chúng tôi nghĩ tôn anh là chú cũng chẳng thiệt vì được nhận lại tiếng anh
ngọt ngào của bé Hai thương qúa. Vậy là chúng tôi đều kêu nhau bằng chú, cùng
ngầm hiểu ông vai chú lớn và tôi vai chú em. Tôi thiệt lòng qúy và tin ở chú
mọi sự. Chú cũng thương tôi đầy bụng và bỏ qua cho nhiều chuyện. Nhiều kỷ niệm
mà thời gian càng qua đi càng thấy là vô giá.
Giá như bé Hai còn sống, cuộc đời tôi
biết đâu đã khác. Cái chết của Bé phần nào cũng do tôi. Chẳng là đội phẫu thuật
dã chiến của tôi ẩn trong địa hình. Bé từ chợ vô đồng, thường giúp chúng tôi
mua thuốc ngoài thành về. Dân quen lính, lính quen dân, dễ dàng qua mắt. Một
lần, Bé chuyển hàng vô, qua bót Vàm, không may có thằng thượng sỹ Mỹ mới về làm
cố vấn ở đây. Thấy gái trẻ, nó ngoắc vô. Cô bé rồ máy cho ghe lướt nhanh qua.
Thằng Mỹ giật khẩu AR15 từ tay tên đồn trưởng lia liền hết băng đạn. Chiếc ghe
lật úp xuống kinh, trong tiếng máy xặc nước, dòng máu đỏ loang ra…
Ông già từ đồng về, mò xác con, chở
thẳng lên bót. Tên đồn trưởng người cùng xã, chỉ thằng Mỹ:
- Ai biểu ông cố vấn ngoắc, con nhỏ
không vô!
Ông già cự laị :
- Nếu ông đồn trưởng ngoắc, con tui
không vô là lỗi ở nó! Còn giống quỷ kia, nó ngoắc vợ con ông… có dại vô không?
Đàn bà con gái vào tay lũ ấy sẽ lãnh điều chi, ông biết qúa đi rồi!
- Nó bắn, sao ông cự tui?
- Các ông đóng đồn bót là để bảo vệ dân
chớ sao lại đem trứng mà gởi cho ác vậy?
- Tui mà cản nó thì mạng tui chẳng còn!
- Nó chỉ là thằng thượng sỹ. Ông là sỹ
quan, Trung úy quân đội Việt Nam
cộng hòa, mà sao sợ nó?
- Nó quyền hơn cha mình chớ nói bạn bè
đồng minh đồng mẽo gì! Cả nhà ông Diệm, nó chỉ ngoắc một ngón tay là sạch ráo!
Chẳng có cái lý phải nào với những loại
người này. Người mình mất đành chịu thôi…
Tôi thương em và nỗi đau cứ ngấm ngầm
mãi. Gia đình coi cái chết của Bé Hai như là một sự không may và tình cảm với
chúng tôi vẫn nặng. Càng đau hơn khi đất nước hòa bình thống nhất, chúng tôi
làm thủ tục xin truy phong liệt sỹ cho em mà không được. Ông cán bộ chính sách
bảo: Có vậy mà hưởng liệt sỹ thì xã này, huyện này, tỉnh này hàng tỷ! Tôi buồn
nhưng tự an ủi: Nhờ có hàng tỷ tỷ người hy sinh âm thầm như thế ở đất nước này,
mới có hôm nay.
Ngày hòa bình, cử chỉ ăn mừng đầu tiên
của chú là mài con dao thiệt bén, dọn sạch bộ râu rễ tre đi. Bà xã coi cái mặt
chồng phẳng lỳ, láng o, cằn nhằn:
- Đàn ông không râu... kỳ hợm!
Ông tợp cạn ly rượu, cười khà:
- Vì thằng giặc nó bắt tui sớm già, bà
cũng phải già sớm theo tui. Giờ tui được trẻ lại thì bà cũng phải nghĩ làm sao
chớ!
Bà vợ “hứ!” nhìn ông… Rồi cũng xuôi.
Bây giờ ở tuổi bát tuần, râu tóc trắng
như mây, da mồi, quắc thước. Xem chừng tôi còn thua ông. Tuy ít gặp nhưng lòng
vẫn nghĩ về nhau như trước.
Chúng tôi hàn huyên nhiều chuyện. Chú
biểu cánh già nói chuyện vui thôi, chẳng sống đời ở kiếp mãi được, chi bằng vui
cho khoẻ. Cuộc đời là của lớp trẻ, chúng khôn hơn mình nhiều... Mà vòng vo sao
lại đụng vô cái chuyện… lúc đầu tưởng là bâng quơ, nhưng càng nói càng buồn,
muốn lảng đi không được.
- Nhân đây tui hỏi chú chuyện này... có
lạ không?
Đấy là mào đầu câu chuyện về mấy bức
tượng người ta đang muốn dựng lên ở xứ cù lao dừa nổi tiếng của đồng bằng Nam
bộ.
- Không dưng hạ bệ, giờ lại dựng lên! Bà
con tui chỉ biết cười… Thiệt tình là cười đấy mà không biết vui hay buồn? Người
nhà quê chúng tôi ít học. Nghe người nói ý này, ý khác… Mà người xưa thì khuất
lâu rồi, người nay lại bảo nói có sách, mách có chứng hẳn hoi, làm rối tung
lên! Chú được học, lại ở thành phố quen nhiều, hiểu rộng. Vậy ý chú sao?
Việc này đâu khó. Người xưa đã thành
thiên cổ hết nhưng chứng tích rành rành đầy trong sử sách. Biết sơ còn cảm khái
thương tình. Nhưng càng đọc càng như bươi ra cái thây chưa phân huỷ hết! Vậy mà
giành cái lý phải lại chẳng dễ chút nào vì những tiếng nói có gang có thép lại
đâm hông. Thế mới là đời! Suy nghĩ mãi, tôi hỏi chú :
- Chắc là chú đã đọc hết những gì người
ta viết trên báo rồi?
- Tui đâu có sức đọc hết các báo chớ.
Tình cờ thằng cháu nội mang về tờ Văn nghệ thành phố. Đọc rồi,
bám riết xem sao. Mà hỏi thiệt chú chớ nhà báo có dám… nói láo ăn tiền không?
- Chuyện khác thì không dám chắc. Nhưng
chuyện này mà nói láo thì trước tiên ông chủ báo phải ra hầu toà và mất chức là
cái chắc.
- Ừa… Càng đọc càng thấy tức ứa gan!
- Ở tuổi chú là rành Pháp, rành Mỹ lắm.
Trước đây chú coi họ là gì?
- Chú hỏi kỳ! Nó ở đâu tới chiếm đất
mình, bắn giết dân mình thì là giặc chớ là gì? Giặc Tàu rồi đến giặc Tây. Cớ
sao các chú đi đánh nó? Cớ sao bà con tui hết lòng ủng hộ đàng mình? Bộ ngu cả
sao?
- Thế chú gọi những người theo giặc là
gì?
- Trừ số người bó buộc phải sống theo
thời ra, không nói làm chi. Nếu không có bọn người đắc lực dò la, chỉ chọc, dụ
ngọt chán rồi hù dọa, lại bày mưu, giúp kế thì thằng giặc dễ gì ở được xứ này.
Đám đó gọi là quân bán nước, lũ tay sai, kẻ Việt gian chớ là gì nữa?
- Đáng buồn là người ta đang muốn dựng
tượng mấy người ấy đấy!
- Chú nói thiệt không? Người ta biểu mấy
người này có học, có tài lắm mà?
- Tội manh tâm bán rẻ tổ quốc không kẻ
nào dám nhận. Đương thời đã chẳng ai ưa, còn để tai tiếng mãi cho hậu thế. Kẻ
có học có tài, miệng mới biết phun ra nọc độc làm mờ mắt thế gian, che đi cái
gan thỏ, cái tà tâm của họ!
- Sao tui nghe nói người ta họp khoa
học, nói rằng đó là những nhà văn hóa, có công lớn với quốc gia, dân tộc, đáng
được dựng tượng tôn vinh?
- Kể ra thì cũng có tài… Nhưng cái công
không đáng gì so với cái họa lớn họ gây ra
cho dân cho nước mình! Xét công, xét tội là phải xem từ đó.
- Có ông cán bộ giải thích vì thế ta
không kêu là danh nhân… Coi như ta dựng tượng nhà văn hóa, được chớ sao?
Nếu đúng đó là lời từ một ông cán bộ nào
đó nói ra thì thật là buồn! Nhưng nói sao để ông chú của tôi đây hiểu được,
thật không dễ chút nào. Mà tôi cũng chẳng phải là người được học căn cơ từ
những trường lý luận nhà nghề danh giá. Tôi nói đại, ưng bụng hay không tùy
chú:
- Thực ra danh nhân với nhà văn hóa
không khác gì nhau. Họ đều là những người có tài, có đức, có công làm cho nước
thịnh dân cường. Họ hành xử theo đạo trời và hợp lòng người. Có khác nhau là
công đức ai dày mỏng hơn thôi. Còn những kẻ dù tài mấy đi nhưng làm nhục quốc
thể, bán rẻ tổ tiên, coi thường đạo lý thì không thể gọi là danh nhân hay nhà
văn hóa được. Bụng họ đặc chữ đấy nhưng vẫn là tiểu nhân. Dù họ có vinh hoa phú
qúy thì cũng chỉ là phường giá áo túi cơm thôi.
- Thế họ có nổi tiếng thiệt không?
- Có người nổi tiếng nghĩa hiệp. Có
người nổi tiếng bất nhân. Chẳng lẽ vì nổi tiếng mà người ta dựng tượng Hitler,
Tần Thủy Hoàng, Lê Chiêu Thống?
- Ông nói gà, bà nói vịt. Dân chúng tui
biết nghe ai?
- Không phải đến bây giờ người ta mới
làm khoa học. Lúc sinh thời, ông Tiến sỹ ấy bị vua Tự Đức quở trách nặng lắm,
thậm chí còn bị tuyên án tử. Đến đời vua con do người Pháp dựng lên thì phải
làm theo ý của người Pháp, phục chức cho ông ta. Còn ông kia, dù khoác trên
mình cái áo chùng tu hoặc thay vào bộ phẩm phục đại quan hay làm thầy dạy học,
viết sách… nhất nhất đều làm mật thám cho Tây! Dân ta gọi là “đồ phản phúc”
trong khi quan Tây khen “tận tụy trung thành với nước Pháp”. Khi chết, cả hai
người đều được đội lính danh dự Pháp bồng súng chào, có dàn kèn đồng thổi khi
hạ quan vùi thây dưới đất và bắn súng tống tiễn hồn về thượng giới, uy nghiêm
chỉnh chện lắm. Rồi lại được đúc tượng đồng, lấy tên trường, tên đường để tưởng
thưởng cho cái công tận tụy giúp ngoại bang khai hóa xứ này.
- Ừa… Nếu không có công to với nước đại
Pháp thực dân, sao được vậy? Ắt phải làm cho nước mẹ mình khốn khổ, là mang tội
đại bất hiếu chớ sao!
- Sinh thời Bác Hồ, đã có Hội nghị khoa
học xem xét cẩn trọng chuyện này, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học danh
tiếng và những vị lãnh đạo uy tín, đức độ và đầy trách nhiệm. Một người quan
trọng thời đó còn đến bây giờ là nhà cách mạng Trần Văn Giàu...
- Ông Sáu Giàu chớ ai! Người Lục tỉnh
quá rành. Thời trẻ, xin ông già cho qua Pháp học sẽ giành hai bằng Tiến sỹ. Vậy
mà bỏ dở sự học đi làm cách mạng, hết tù đảo lại tù rừng mà gan lỳ tướng quân
lắm. Ra tù cúi đầu tạ tội bất hiếu với cha, ông già cho qua, lúc nước loạn biết
lấy trung thay hiếu là đại nghĩa!
- Dạ, cụ là bậc thầy tài năng đức độ.
Những gì xảy ra ở xứ Nam
bộ này cụ rành như sáu câu vọng cổ. Giờ gần trăm tuổi rồi, sức tuy yếu nhưng
còn tỉnh, cụ bảo: “Chuyện này đã bàn nát nước, công khai, lý tình cân nhắc, coi
như đã chốt lại rồi, còn bới ra làm chi nữa”!
- Cha dạy học, con đốt sách là thế đấy!
Thời nào cũng có… Thế những người đó là ai?
- Toàn là học giả cả đấy!
- Thời này chẳng biết ai học giả, ai học
thiệt! Mấy ông tui biết, chỉ thấy cắp cặp đi họp thay vì cắp sách đi học, đùng
một cái khai có hai ba bằng đại học xịn! Xem ra thời nay có máy học thay người,
sướng qúa. Còn tụi tui ngày xưa học đại, nghĩ tới cái bằng cấp như chuyện trên
trời! Coi bộ mấy ông học giả này cũng nổi tiếng dữ ha?
- Nhìn bằng cấp và chức sắc của họ khối
người lé con mắt!
- Thời nay chẳng biết sao. Tui đọc báo
thấy có mấy nhà tỷ phú cũng đi lừa hàng chục tỷ Đô. Mà những người có dư tiền
của giao cho người khác đâu phải tay vừa, dễ dụ? Thì ra kiếm cái bằng dễ chừng
nào, dễ lừa được người mà cũng dễ bị người lừa!
- Người xưa nói Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài, vận vào mọi thời đều đúng. Nhưng đấy là chuyện của người ta…
Nói ra không ít người nhột, chẳng thèm chơi với mình đâu. Như ở ta, họ cứ
trương cái tượng lên thì chú tính sao?
- Thì đành chịu chớ sao! Cái quyền trong
tay kẻ có lực mà.
- Nhưng bụng chú nghĩ sao?
- Nếu những lời góp ý đó là đúng, thì
tui tin người ta sẽ suy nghĩ lại. Chẳng vội vàng gì. Tại sao mấy tỉnh bên cũng
dựng tượng những ông Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân… cả nước
phấn khởi đồng tình, thì ta phải nghĩ lại xem. Chẳng lẽ họ phá mình sao? Người
xứ tui nhất nhân tâm lắm chớ, không ăn ở hai lòng đâu. Chuyện này, chính tui mục
sở thị từ thời còn niên thiếu…
Ông già tợp miếng nước, mắt nhìn xa xăm,
chậm rãi như kể chuyện cổ tích:
- Ngày Cách mạng mùa thu tưởng xa
mà gần, vì tui vẫn nghĩ như nó xảy ra mới hôm nào. Xứ Nam bộ này chỉ được hưởng độc lập
chưa đầy tháng thì quân Pháp đã chiếm lại Sài Gòn, rồi đánh lan ra các tỉnh.
Đánh đến đâu, chúng lập ngay chính quyền tay sai đến đấy. Thời nào chẳng có kẻ
sẵn sàng theo giặc. Đã có tiếng, lại có miếng. Nhưng đó là hạng người nào? Chắc
chắn không phải là những người hiền lương tử tế hoặc là những người có học mà
cương thường khảng khái. Ở huyện quê tui lúc ấy có ông Lâm Thiên Tứ, nhà giàu
lắm, hồi trẻ du tây học, mang về cái bằng tú tài nhưng ông chỉ để trong tủ chơi
thôi, không ra làm quan chức gì. Bà con miệt vườn tín nhiệm lắm vì ông rành
luật pháp, hay bênh vực đồng bào. Tên quan Pháp chủ tỉnh kêu ông lên, giao cho
ông chức quận trưởng để lấy uy cho cái chính quyền ngụy tạo. Ông lắc đầu. Nhiều
lần dụ dỗ không được, chúng giao cho đồn binh đóng ở huyện bắt ông và người con
trai lớn là Lâm Thiên Trường, trói hai cha con vào cọc giữa chợ huyện và ra tối
hậu thư: Một là nhận làm quận trưởng! Hai là bắn bỏ cả hai cha con! Ông Tứ thà
chết với con chớ nhất định không chịu làm tay sai cho giặc!
Ông già ngậm ngùi, không cần giấu hai
dòng lệ tuôn ra. Tôi chia sẻ cùng ông. Giọng ông rành rọt:
- Người miệt vườn tui là thế đấy!
Ông chiêu ngụm nước như nuốt đi cục
giận:
- Đấy mới là tấm gương để cho lớp hậu
sinh lớn lên mà học! Còn thiếu gì những tấm gương sáng láng. Xứ tui tướng lĩnh,
văn nhân đâu ít? Mà trách chi dưới tỉnh… Tui nghe nói ngay giữa thành phố Hồ
Chí Minh đây cũng đã lấy tên một ông gán làm tên đường, tên trường? Lại thuê
được một ông thầy có tiếng, có danh, làm Hiệu trưởng mới độc chớ! Người này làm
được, người khác cũng làm theo. Vậy lỗi ấy bởi ai?
- Bây giờ người ta muốn hòa hợp.
- Mới đây thôi, tên trưởng bót Vàm ấy –
chú nhớ chớ, ở Mỹ về thăm quê. Hắn đi qua cổng bộ ngó lơ, tui kêu vô nhà, mời
nước. Hắn giả đò xin thắp nén nhang lên bàn thờ, ông bà tui hắn biết, nhưng là
để có cớ thắp nén nhang trước tấm hình con Bé Hai. Nói chuyện một hồi, hắn
biểu: “Xa quê mới biết thế nào là quê, chớ không nói ra được. Giá như làm được
nhiều điều tốt cho quê nhà thì hay qúa. Nhưng bây giờ lực bất tòng tâm, có về
quê cũng chẳng làm gì được, càng buồn. Thôi đành gởi xác xứ người”! Tui hỏi:
“Sao nghe bên ấy mấy ông dựng lại cờ vàng ba sọc quyết về phục quốc?”. Hắn
biểu: “Phục hận chớ phục quốc gì! Kể ra thì cũng không ít người còn hận nhưng
chỉ đánh võ mồm thôi, sắp theo ông bà rồi nói gì con cháu cũng chẳng thèm nghe
huống chi người dưng!”. Nghĩ cũng tội. Đau đớn gì cũng qua rồi. Còn hờn oán
nhau làm chi nữa. Nhưng hòa hợp là phải thiệt lòng. Ai đem cục mồi ra nhử là đồ
vô lương! Ai ham cục mồi như con cá đói rồi sẽ mắc câu! Không bền lâu được. Hòa
hợp là để cho quê hương mình khá lên, cho tình làng nghĩa xóm đằm thắm hơn, cho
lẽ phải càng sáng ra, chớ đâu để cho vàng-thau, trắng-đen lẫn lộn…
- Người ta còn đòi đổi mới nhiều thứ kỳ
lắm! Ngay cái gọi là yêu nước cũng nghĩ theo kiểu mới… Đánh giặc bảo vệ quê
hương chưa chắc đã là cần thiết! Theo giặc mà gọi là hợp tác để khỏi chết chóc,
có cơ làm giàu, biết đâu là sáng suốt!... Anh nào cũng lý sự sùi bọt mép, chẳng
chịu ai.
Ông già đỏ mặt lên nhưng mau đằm lại:
- Nhà nghèo mới biết con có hiếu.
Nước loạn mới biết tôi trung. Lọt hom rồi mới biết thân cá nằm trong rọ! Có
ai dại nuôi con cá bự đâu? Họa là ba con cá sặc màu mè, được thả vô chậu nuôi
chơi qua ngày. Người ta lúc hoạn nạn mới biết rõ ai lòng nông sâu, ai chính, ai
tà, ai tốt, ai xấu, ai dũng, ai hèn… Còn cái lúc yên bình, thằng nào mạnh mồm
nói dóc, lại có tí của chìa ra, khối đứa hùa theo! Đời tui thấy rõ từ các ông
bạn Tàu, bạn Pháp, bạn Nhật tới bạn Mỹ rồi! Chú biết, cảnh nhà tui neo đơn,
không ai cầm súng theo bên nào, mà con tui vẫn chết!
Ông già ứa nước mắt ra. Nhớ chuyện xa
xưa, lòng tôi cũng không cầm được. Giọng ông trùng xuống:
- Ai mới gì thì mới, tui vẫn cũ mèm. Tui
biểu con cháu điều gì thấy là mình sai thì sửa, chứ đổi mới cái gì? Chú xem như
cái vườn của tui hồi các chú đóng quân ở đó, không dưng nghe người ta xúi, mình
bỏ công đào lên làm đìa nuôi tôm. Tưởng hay thành dở! Thằng khôn chẳng chịu
theo, đã không nhọc sức lại có vốn cho mình mượn, làm lại từ đầu… Đồng tiền có
chân đấy, nó chỉ chạy đến với kẻ khôn thôi. Không ai dụ được nó đâu. Chỉ có
người mới bị đồng tiền dụ thôi. Cũng như chuyện mấy cái tượng này…
Tôi cùng một ý với ông:
- Giá như ai đó bỏ tiền bỏ của ra đúc
tượng vàng, tượng bạc gì cũng được, đem trưng trong vườn, trong vuông hoặc
trong nhà thờ gia tộc họ đi. Ai nghe danh muốn xem mặt rành tên mặc sức đến.
Ông vừa lòng ngay:
- Ông bà ta nói: Làm thầy phải chính tâm
mới dạy được người. Làm quan phải nghĩa khí mới che chở được cho dân. Mấy người
không có được hai điều ấy thì có gì vinh để tôn lên? Không dưng lấy tiền của
dân, dựng người lên thành tượng, tượng hóa thành người. Người thiệt người giả
ngày ngày ngó lơ nhau, khó coi qúa! Người chết rồi là thoát tục, muốn được siêu
thoát. Chỉ người sống mới ham hố ganh đua… Coi chừng làm khổ người ta!
Tôi nói để ông đỡ nặng lòng:
- Dù sao đấy mới chỉ là ý muốn của người
này, người nọ. Phải chờ hạ hồi phân giải.
Nét mặt ông tươi lên:
- Nói vậy thôi chớ có người say thì còn
có người tỉnh, còn có người trên sáng suốt. Tui nghe nói cả nước ra sức học tập
tấm gương Cụ Hồ. Tui già rồi, học không vô, nói ra không được. Nhưng tui chắc
một điều: Bác Hồ là người Việt Nam
yêu nước nhất! Học Bác nhiều thứ thì khó lắm, mà trước hết là học tấm lòng hết
mình vì nước vì dân, được tới đâu là phúc nhà phúc nước tới đó. Sẽ không ai cậy
quyền thế hà hiếp bức ép nhau, không ai tham của người lấy làm của mình, không
ai được đặc quyền đặc lợi, là mọi người sẽ tin nhau, thương nhau chớ gì? Dân
tình được yên ổn, đất nước hòa bình là tui sướng nhất. Chú văn hay chữ tốt làm
sao nói ra dùm tui điều đó.
Tôi hứa với ông:
- Tốt nhất là tôi viết i xì câu chuyện
hôm nay. Còn có đăng hay không là tùy ông chủ báo. Và kết chuyện ra sao lại là
quyền của các vị cao hơn.
Chú cháu tôi chia tay nhau bịn rịn mà hể
hả, đều mong rằng những ngày cuối đời còn được thấy nhiều sự đổi thay tốt đẹp
trên quê hương, đất nước.
Tượng người –
Người tượng
Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
Số 53 ngày 15 tháng 3 năm 2009
No comments:
Post a Comment