MƯA
MIỀN TÂY
{
Thu Vân như một áng mây
vấn
vương nỗi nhớ suốt đời tôi…
Với miền Tây, tôi mang nặng món nợ
ân tình thời trai trẻ đặc biệt với một người con gái. Bây giờ xuống miền Tây
khi tuổi đã về chiều. Dấu tích người xưa nhạt nhoà theo năm tháng mong gì gặp
lại…
Tôi đi trên đường phố Tây Đô nghe trong
gió chiều lồng lộng, se lạnh hơi nước của dòng sông mênh mông cuồn cuộn và
tiếng sóng vỗ chát chao trăn trở đôi bờ gợi trong tôi nỗi nhớ bâng khuâng…
Cơn mưa miền Tây đổ ập xuống bất chợt
cho dù tôi kịp giạt vào mái hiên nhưng những hạt mưa mọng nước vỡ tung ra trên
vai áo cũng đủ làm cho tôi thấm lạnh. Mưa ào ạt, sầm sập, xối xả… Bỗng chốc con đường đã như một dòng sông nhỏ,
từ đó tung toé lên muôn vàn hạt nước bị gió thổi tung lên thành những màn bụi
nước hắt vào đám người đang ẩn dưới hiên. Cái lạnh từ da thịt thấm vào tâm can,
lòng tôi dâng lên nỗi buồn thương vô cớ…
Mấy đứa trẻ con đang thỏa thích dầm
trong mưa bỗng hét toáng lên. Một người đàn bà lớn tuổi đeo chiếc can
nhựa, tay huơ lên nắm lá cây, chân cao chân thấp bước lê như chạy ra giữa
đường. Bà đặt chiếc can xuống bên mớ lá, cởi phăng áo ra, để mặc tấm
thân trần trụi, hai tay dang rộng nâng chiếc áo lên hứng nước mưa! Khi chiếc áo
ướt đầm trên tay, bà cúi xuống chăm chút vo nó lại và vắt thành dòng nước chảy
vào “can”… Bà cứ lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác như một người thợ cần
mẫn trong dây truyền sản xuất. Mưa càng lúc càng lớn. Người đàn bà cứ miệt mài mê
mải làm một việc “dở người” như thế. Đám trẻ con chụm lại nô đùa với nhau không
còn để ý tới bà. Những người trú mưa lúc đầu thấy lạ còn dõi xem và kháo nhau
cười nhưng rồi cũng chán chẳng thiết gì tới người “điên” ấy nữa cùng với đám
trẻ con kia. Mưa vẫn rơi như thác đổ… Nhưng miệng can chừng ấy thì biết
đến bao giờ cho đầy hở trời?! Vậy mà người đàn bà dường như không sốt ruột,
trái hẳn với những bước chân khó khăn nặng nhọc, nét mặt bà lộ vẻ mừng vui lắm.
Dường như bà còn ca nữa nhưng tiếng gió giật mưa ào ào vun vút át đi tiếng của
người đàn bà mảnh mai yếu ớt đơn độc giữa trời. Ngấn nước trong chiếc can
nhích lên chậm chạp vô tư không chút động lòng trước tấm thân trần gầy guộc kia
dầm dãi trong mưa…
Tôi rét run lên, mắt tối sầm lại nhưng
vẫn ráng căng ra… Trước mắt tôi là một trời mù mây và mưa giăng giăng, lờ mờ
dáng một người con gái mình trần dang tay nâng chiếc áo, ngửa mặt lên trời rồi
lại cúi xuống lom khom chăm chỉ chắt chiu hứng dòng nước chảy ra từ chiếc áo mà
không chút quản ngại cho mình…
Thời tuổi hai mươi, tôi là lính đặc
công nước, chiến đấu ở vùng duyên hải cực nam. Ngày giặc Mỹ phá hoại Hiệp
định Paris, đem máy bay B52 ào ạt trút bom vào Thủ đô Hà Nội, toàn quân phát
động một chiến dịch tấn công trả thù cho đồng bào ta bị sát hại. Đơn vị của
chúng tôi quyết tâm đánh chìm tàu chiến địch. Để tạo thế bất ngờ, chúng tôi chủ
động đánh địch mãi ngoài khơi xa. Cụm đảo Nam Du có vị trí quan trọng ở vùng
biển phía Nam, ngày xưa Nguyễn Ánh cùng đám bại binh khi chạy trốn quân Tây Sơn
từng lấy đó làm nơi ẩn náu. Cụm đảo gồm
21 hòn to nhỏ, với đất liền nó vừa gần lại vừa đủ xa từ dăm
kilômét tới cả trăm kilômét. Có đảo toàn những tre gai. Có đảo là những ngọn
đồi thấp lô xô trống trải. Nhưng cũng có đảo núi hon kỳ vỹ và hiểm trở. Bấy giờ
tàu hải quân Mỹ kiểm soát chặt chẽ vùng biển này, chủ quan tin rằng quân ta
không thể nào vươn ra tới đó. Dựa vào dân, một tổ ba người chúng tôi được đưa
ra ém quân tại một hòn cùng với khối thuốc nổ cần thiết. Số dân cư trú
ngoài đảo thưa thớt lắm và bị giặc kiểm soát gắt gao. Tuy nhiên đa phần đồng
bào vốn là những người lương thiện, tránh nơi bom lửa, từ đất liền lánh ra đây,
sống bằng nghề chài lưới và sẵn lòng
giúp đỡ Quân Giải phóng.
Sau những ngày vất vả tiếp cận điều
nghiên, chúng tôi đã thực hiện được lời hứa của mình: Chiếc giang thuyền chỉ
huy mới từ Cửa Hậu chạy ra. Bọn lính sau những ngày cơ động dã chiến mệt mỏi,
tưởng về hậu cứ an toàn nên lơ là chểnh mảng. Trong đêm tối mênh mông của biển
vang lên tiếng nổ trầm đục của khối thuốc nổ định giờ, một khối lửa bốc lên rồi
toả lan ra lấp lánh chợp chờn nhảy múa trên mặt nước. Chiếc tàu chìm nhấn xuống
đáy đại dương cả một trung đội Thủy quân lục chiến vừa đi gây tội ác trở về!
Lập
tức các hòn đảo chung quanh hứng chịu phản ứng áp đảo điên cuồng bằng những
tràng pháo kích dồn dập liên tục suốt đêm tới sáng. Anh em chúng tôi thất tán.
Tôi bị nhiều mảnh pháo găm khắp người mà may sao không chết! Suốt ngày hôm sau,
ngay từ lúc mặt trời chưa mọc cho đến khi mặt biển lấp lánh ánh đèn từ các
chiến hạm, tàu thuyền, đủ loại tàu chiến lớn nhỏ có cả bày trực thăng yểm trợ
quần quanh các đảo, nã rốc-két, pháo tiểu, đại liên 12ly8 nát nhừ các điểm mà
nó nghi ngờ, đổ quân lục soát truy xét các xóm chài tưởng như ăn tươi nuốt sống
ngay kẻ giáng tai họa xuống đầu chúng đêm qua.
Đã hai ngày đêm, tôi luồn lách theo các
lùm cây, vách đá vào sâu trong núi. Đến lúc này thì tôi kiệt sức. Hai ngày
không ăn không uống, các vết thương trên mình tôi tự cứu sơ sài tấy lên nhức
nhói. Tôi lả người đi… Mở mắt ra, cảm giác như tôi vừa từ địa ngục trở về. Ánh
mặt trời chói chang chiếu qua các kẽ lá mà tưởng như mắt nổ hoa. Đầu tôi ong
ong mụ mẫm nặng trĩu như cục đá tảng không sao điều khiển được. Ruột gan bứt
rứt nóng ran lên nhưng khốn khổ nhất là cái khát. Cổ như cháy bỏng. Môi khô cứng
rộp lên, tôi đưa lưỡi ra thì cả lưỡi và môi rát rạt, nhói lên, rướm máu. Tôi
nằm đấy, đi dần vào trạng thái hôn mê: Tôi thấy người nhẹ hẫng bồng bềnh xoay
tít như bị hút vào một hố đen thăm thẳm và cái thân xác nằm đây không còn liên
hệ với mình… Chợt nghe văng vẳng như gần như xa tiếng gọi: Anh Việt cộng ơi…
Anh Việt cộng!… và người tôi bị lay động mạnh. Tôi trở về với chính thân
xác của mình nặng nề đau đớn và nhận ra có ai đó ngồi bên. Tôi ráng nhích bàn
tay chỉ vào đôi môi xin nước uống. Nhưng chỉ có sự lặng thinh! Chờ mãi tôi lại
thỉu đi, mơ hồ nghe tiếng sụt sùi rên rỉ: Chết tôi rồi!… Trời đất ơi!… Lấy nước
đâu ra?!… Thân thể tôi lại nổi trôi… nhẹ hẫng… bồng bềnh… Bỗng tôi cảm thấy mát
dịu như có ai tưới nước lên người, cái đầu dịu hẳn, có gì ướt ướt ở môi, ở
lưỡi, cổ họng bớt nóng ran như ống khói lò… Tôi mở được mắt và nhận ra trận mưa
lớn đang ào ào trút xuống bù đắp cho nỗi khát bỏng của tôi. Tôi đưa lưỡi dài ra
quét lia lịa không muốn cho một giọt nước nào chảy đi phí hoài và cùng lúc nhận
ra một người con gái đang lúng túng loay hoay tìm cách di chuyển tôi đi: Nằm
chịu mưa thế này thì chết mất thôi! Tôi cố gắng chuyển động thân mình phụ giúp
người ấy lê lết kéo tôi tới cái chòi lá dưới một tán cây rậm lắm. Đã tỉnh táo
hơn, tôi tự ngồi dựa được vào gốc cây, ngửa mặt lên thấy trời mưa to lắm, sầm
sập, ào ào. Tôi cuống quýt ú ớ lên thành tiếng: Nước!… Nước!… Cô gái quýnh lên,
loay hoay không biết làm gì… Bỗng cô cởi phăng chiếc áo đang mặc trên người,
chạy ra chỗ trống, giơ hai tay lên dang rộng nó ra hứng nước rồi cầm chiếc áo
ướt sũng trao cho tôi. Tôi đón lấy, nắm chặt trong tay, đưa ngay vào miệng, hít
hà những dòng nước chảy ra từ chiếc áo ngọt ngào như là sữa mẹ, như thứ nước
thần tăng lực diệu kỳ… Cứ mình trần như thế, cô chạy đi chạy lại chăm sóc, lau
rửa cho tôi. Tôi không cảm thấy đau đớn nữa vì trời mưa to gió lạnh hay vì
người tôi tê dại đi rồi? Xong việc, cô ngồi xuống, nhìn tôi rồi lại nhìn trời
suy nghĩ. Mưa to gió lớn quá, tôi chưa
đủ sức nói lên điều gì, lim dim đôi mắt vì cảm thấy trong người khoan
khoái. Chợt cô vụt đứng dậy chạy đi đâu? Tôi choàng mở mắt ngơ ngác nhìn quanh…
Lúc sau trở lại, lễ mễ bê cái tĩnh sành, phăng phăng chạy ra giữa mưa, lại dùng
áo mình hứng nước và vắt thành dòng cho chảy vào trong tĩnh… Tấm thân trần ấy cứ
đầm mãi trong mưa và gió, miệt mài mê mải… Trận mưa ấy thật to và kéo dài lắm
giống trận mưa này… Tôi mơ màng giữa hư và thực…
Khi những người trú mưa và xe cộ lục tục
túa ra đường tôi mới bừng tỉnh lại. Mấy thằng bé chạy giạt lên hè gọi nhau í
ới. Tôi nắm tay giữ một đứa lại, ghé vào tai nó hỏi:
- Bà ấy tên gì?
- Mây… mưa!
Nó giật khỏi tay tôi, chạy vụt đi.
Một thằng răng sún toét miệng ra cười,
nhìn tôi trêu chọc. Tôi hướng về nó hỏi:
- Có biết bà ấy ca gì không?
Hai tay nó làm điệu như ôm cái gì trước
bụng lắc lư và gân cái cổ lên nhái mấy lời ca cổ: “Em vắt áo em dành nước
cho anh ngày mai đỡ… khát! Để cho người em thương em qúy có ngày về lại… nước
thiên… đàng”… Rồi nó nhập ngay vào đám trẻ như một bầy chim ồn ào ríu rít
vụt bay đi để lại mình tôi ngơ ngẩn. Tôi nhìn ngược xuôi khắp phố mà không thấy
bóng người đàn bà ấy ở đâu. Tôi đi loanh quanh một hồi rồi ngập ngừng bước sang
bên kia đường, hướng tới chỗ bà ấy từ đó chạy ra. Đấy là một quán cơm. Dù bụng
không đói nhưng tôi kiếm cớ làm một khách hàng để dò hỏi về bà.
- Cổ tên Mây nhưng mỗi khi trời mưa to
lại nổi tật tắm mưa hứng nước như thế đó nên mới thành danh ấy, cả thành
phố này ai cũng biết. Có người biểu cổ khùng nhưng hiền khô dễ thương lắm. Nhà
nào có công việc cần người phụ giúp thường kêu tới, cứ làm cùi cụi, bao giờ hết
việc mới thôi… mà ít nói lắm, có la cũng không thèm giận, cho ăn thế nào cũng
được, trả công bao nhiêu cũng gật nên bị nhiều người lợi dụng, tội nghiệp lắm…
Nhà ở dưới xóm chài bên bờ sông cuối chợ kia!
Tôi vẫn nhớ lúc người con gái ngập ngừng
khi tôi hỏi tên cô: Anh cứ kêu em là… Vân đi!… Cũng như khi cha cô lưỡng
lự trả lời: Tui thứ Hai tên… Hận!… Những người dân tha phương ra đây vì
nhiều lý do, thường dấu kín gốc tích của mình. Tôi đã được Trời cứu, được người
thương nên thoát nạn! Khi cơn mưa to hôm ấy dứt thì trời sập tối rồi. Ngày ở
biển dài lắm: mặt trời mọc sớm và lặn muộn. Sau khi nhai nắm lá dịt vào những
vết thương trên mình tôi, chỉ nơi dấu tĩnh nước, gom mớ lá và mấy thứ trái cây
rừng lại, cô ân cần dặn dò tỉ mỉ: Ba em bịnh mấy hôm rày. Em đi hái thuốc, giờ
phải về ngay. Đây là lá thuốc trị sưng đau hay lắm đó. Anh ăn tạm mấy thứ trái
này cho đỡ đói bụng đi. Sớm mai em sẽ mang đồ ăn lên! Như một áng mây trôi,
bóng cô mờ sau những khóm cây, khe đá…
Không bao giờ tôi gặp lại cô nữa dù chỉ
một lần! Người con gái ấy hiện ra chốc lát cứu mệnh cho tôi rồi bỏ đi mất hút!
Miền Tây, một chiều thu, một trận mưa thần, một tấm lòng sơn nữ tên Vân đã là
dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi không phai nhòa được.
Một ngày… Rồi hai ngày… Tôi mong chờ cô
như ngày bé mong mẹ đi chợ sao mãi chưa về. Nhờ có nắm lá như là thứ thuốc tiên
mà sự nhức nhối nơi các vết thương giảm đi nhiều. Mấy thứ trái rừng ăn vào làm
cho bụng cứ cồn cào cuồn cuộn nổi lên. Thứ nước mưa trong tĩnh có lẫn mùi nước
mắm, mùi mồ hôi người con gái là thứ nước thơm ngon bổ ich nhất trong đời tôi
chỉ được hưởng có một lần. Tôi đã lần mò
tự đi được và ngong ngóng chờ đợi trong tâm trạng vừa hy vọng vừa thất vọng. Lẽ
nào em nỡ bỏ tôi?!
Ngày thứ ba, một người đàn ông tìm đến…
“Tui là ba con nhỏ. Nó từ trong núi ra thì bị bắt! Bọn lính đánh đập dữ lắm
nhưng nó chỉ nói là đi hái lá thuốc cho cha, mắc mưa kẹt lại nên về trễ nhưng
tụi nó không tin. Tui ốm yếu vậy mà cũng bị nó khảo tra hù dọa rồi lôi con nhỏ về Bộ Chỉ huy hành quân để tra xét về
vụ chiếc tàu mới bị đánh chìm. Lừa lúc bọn lính không để ý, con tui biểu có người đằng mình ở đây cần tiếp tế”!
Ông chưa già nhưng nét mặt khó đoán tuổi. Tôi qua được bước gian lao là nhờ sự
cứu giúp của ông. Mỗi lần ông tới chỉ thoáng chút thôi nên chẳng hỏi han gì
được ngoài việc khẩn khoản nhờ ông làm sao cho tôi về được đất liền.
Khi tôi bình phục, ông bí mật gửi tôi
theo một chiếc tàu buôn mắm về bờ. Nước mắm Hòn ngon không thua nước mắm Phú
Quốc đâu. Tôi chỉ được ghé qua nhà ông chờ tàu một lúc thôi. Căn nhà đơn sơ
nhưng gọn gàng sạch sẽ, tuy rộng nhưng thành chật chội vì dãy mái nước
to đùng. Ông giải thích: Nước ở đây quý như nước thánh! Mùa mưa phải trữ lại để
mùa khô có mà sài khỏi phải mua nước từ đất liền chở ra, giá như cứa cổ! Ngoài
khơi xa kia còn hòn Giếng từ hồi vua Gia Long ở đó, nước trong ngon lắm,
là chỗ dựa của bạn chài khi lâm nạn. Nhà vắng hoe, chỉ có mình ông. Tôi không
dám nhắc tới cô con gái mà chỉ hỏi thăm người nội tướng. Giọng ông buồn mênh
mang: Tui lẩn trốn hoài. Bả ở nhà bị o ép quá không chịu được phải ở với
người ta. Tui đem con nhỏ ra đây cả chục năm rồi. Bây giờ nó bị đày ra nhà lao
Phú Quốc! Người ta hối thật gấp, lập cập không kịp chào ông, tôi xuống tàu và
bị ấn ngồi thu lu giữa đống tĩnh nước mắm Hòn chở vào bán trong đất liền…
Ngày hoà bình, tôi rời quân ngũ, về quê,
đi học, ra trường, lấy vợ, nuôi con và lu bu với những công việc bộn bề, đến
bây giờ mới có dịp trở lại miền Tây. Hôm nay là sự tình cờ hay là cơ trời dun
dủi? Nhưng có phải là em – người con gái ấy?!
Tôi tìm đến tận nơi người đàn bà cư trú.
Cửa nhà khép hờ dầu vắng chủ. Tôi không dám tự tiện bước vào. Tôi tà mà vào mấy
nhà bên hỏi thăm sự thể. Hàng xóm ai cũng thương cô:
- Ở đây toàn người tứ xứ. Khi chúng tôi
đến đã có cha con cô rồi nhưng không biết họ tới tự lúc nào. Cái chắc không
phải người miệt này vì đây vốn là đất hoang, tàu nhà binh đậu nghẹt, người ta
mới tụ về từ sau ngày giải phóng. Ông già được lắm, ai khó gì cũng giúp nhưng u
trầm, ít nói, thường uống rượu một mình, quen gọi là ông Hai. Khi cần phân biệt
với ai thì người ta kèm tên cô con gái – ông Hai mây mưa! Lúc ông
già còn sống, cô ít ra khỏi nhà ngoài khi đi hái lá thuốc hoặc trời mưa lớn,
sau nhà lu mái thiếu gì nhưng cổ vẫn ra
giữa trời, cởi áo hứng nước mưa dành cho ai đó… Làm sao biết được cô có khùng
không?! Lúc thương con quá, ông già than thở: “Nó ở tù ra mang theo cái tật
ở chân mà lúc nào trong đầu cũng chỉ lo người nhà Trời chết vì đau và khát”!…
Nhưng ở tù bên nào thì không ai biết. Tuy vậy cô chẳng hại ai mà còn giúp cha
làm nhiều điều phước. Từ ngày ổng chết, cô thường lên phố chợ phụ việc khi có
ai cần. Ở đây mọi người tối ngày chúi vào lo miếng ăn thôi...
Tôi tự lý giải cho mình: Một thời đã qua
rồi, ông còn mang hận điều chi nữa? và khấp khởi chờ trong hy vọng…
Hôm nay trời không mưa, cô Mây đeo cái can
toòng teng bên hông với nắm lá trên tay trở về lúc trời tối đã lâu. Tôi đứng
ngoài sân sáng nhờ có ánh trăng. Đợi cho ngọn
nến trong nhà cháy lên chập chờn tôi mới bước vào và nói to lên:
- Chào cô Vân!
Cô nhìn tôi ngơ ngác.
- Bác Hai… Hận mất bao lâu rồi?
Đôi mắt cô thăm thẳm vô hồn, lắc đầu như
không hiểu lời tôi nói.
Tôi mạnh dạn tiến tới gần, nói to hơn:
- Cô từng ở ngoài Hòn?
Cô nhăn mặt lắc đầu.
Tôi nâng lên một bàn tay cô lắc mạnh:
- Cô còn nhớ trận mưa to trên núi và cô
đã cứu một người thoát chết?
Cô giật tay lại lùi xa ra, nhìn tôi trân
trân.
Tôi cúi xuống, hai tay nâng lên một cái
tĩnh nặng ôm vào lòng, gợi nhớ bóng hình xưa trong câu ca cổ nhưng cô vội la
toáng lên, xông tới giằng lại, đôi mắt toé lửa, giận giữ nhìn tôi như tên kẻ
cướp! Tôi sượng sùng nhìn quanh khắp nhà: căn nhà nhỏ nhưng gọn gàng sạch sẽ.
Trên tấm vách ván thưng không thấy tấm hình nào! Đồ đạc không có gì đặc biệt
ngoài mớ quần áo treo ở cuối giường, mấy cái nồi con và chén dĩa xếp trong cái
rổ nhựa, chỏng chơ một mớ lá cây với cái bếp đất đặt ở một góc nhà, còn là la
liệt những tĩnh sành, can nhựa, chai to lọ lớn xếp thành hàng lối…
Thất vọng, không biết làm gì nữa, trước
lúc quay ra tôi đành loay hoay móc ví, lấy ra xấp tiền, bước tới trân trọng đặt
vào tay cô. Tôi chưa kịp nói thì cô đã hốt hoảng giật tay lại, kêu lên Úi!…
Úi!… vùng chạy ra sân. Tôi luýnh quýnh vội bước theo và hơi chột dạ. Cũng
may là có đông người ta túm tụm đứng ở ngoài sân nhìn vào. Mấy người tranh nhau
nói:
- Ổng cho tiền, lấy đi chớ… Hổng sợ!
- Người ta thiệt bụng giúp mình, cớ chi
không lấy?!
Nhưng cô cứ nguây nguẩy lắc đầu và khoát
tay lia lịa…
Tôi ngơ ngẩn quẩn quanh lưu luyến bên
người đàn bà kỳ dị đáng thương, đáng trọng này và cố tìm ra trong ký ức mơ hồ
một nét nào của cô Vân nhân hậu ngày xưa…
Nhìn quanh, thấy một bà già hiền hậu ngó
tới ngó lui, nâng tay bà, đặt số tiền vào lòng tay: “Bác giùm con”… và tôi bước
vội.
Từ biệt cô, từ biệt xóm chài, từ biệt
miền Tây sông nước mà lòng tôi u ẩn vấn vương… Chẳng lẽ trên đời này lại có sự
trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ đến thế hay sao?
- Không! Vân ơi… em chính là Mây… Em mới
là người nhà Trời thực sự!
Trong tôi trào lên niềm mong ước làm
được gì cho cô tỉnh lại…
Nếu còn ở tuổi ấu thơ, tôi sẽ mong được
gặp ông Bụt, ông Tiên để chỉ xin một điều ước ấy…
Bán nguyệt san TÀI HOA TRẺ
Số 337 ngày 13/10/2004
No comments:
Post a Comment