MƯA CAO
NGUYÊN
{
Tôi lên cao nguyên M’Nông vào dịp lễ cầu
mưa.
Trong đầu tôi cứ lởn vởn đôi mắt tròn vo
trong vắt của con trâu niên thiếu đứng bất động, hếch mũi và nghển cổ lên ngẩn
ngơ nghe người hát bài tế nó. Bài hát tiếng Pu Noong cổ, già làng dịch ý nghe
lõm bõm. Bàn tay âu yếm vuốt lên đầu cổ con vật, giọng bà già run rảy thiết tha
kể công nó giúp người: Trâu ơi, ta với người là bạn bè thân thiết / Người giúp ta nhiều việc nặng quanh năm /
Bụng ta đầy những hạt cơm hạt bắp là nhờ ngươi đó / Có ngọn lửa đuổi đi con ma
lạnh là cũng nhờ người… Đến khi đầu của nó đặt chỏng chơ trên cái bàn cúng
bên ánh lửa của khối củi lớn bập bùng, đôi mắt ấy còn lim dim mơ màng mê đắm
nghe người kể công tích của mình: Nay bon ta cần cái nước / Người về
xin Giàng làm mưa xuống / Để cái cây không chết khát, con thú được chạy nhảy
trong rừng, con chim được hót cho người già nghe, trẻ con được cười, con trai
con gái được thương nhau… Tôi hiểu vì sao đi vào cái chết mà đôi mắt con
trâu non vẫn mở to và trong veo như thế .
Cao nguyên, trập trùng đồi núi trập
trùng mây. Những cơn mưa chợt tới giăng giăng xối xả mịt mùng trời đất rồi chợt
tạnh để đồi núi lại sáng trưng lên dưới ánh nắng lung linh. Cây lá tươi xanh
trên nền đất đỏ au. Những bông muồng và cúc qùy vàng như những cánh bướm chờn
vờn giữa màu xanh ngằn ngặt bao la.
Từ trụ sở xã Đak Kha ra, già làng Y’Nhim
dặn trước:
- Giàng cho cái nước rồi. Nắng
mưa đều tốt. Cứ biết trời tạnh ráo là đi thôi. Cán bộ yên cái bụng, con bé
H’Len này chạy xe giỏi lắm !
Đường cao nguyên dốc đứng trùng trùng.
Xe đạp thành của nợ. Trên đường chỉ có ô tô và xe máy lưu thông. Không thấy ai
đi bộ đường trường, họa hoằn mới gặp bóng người rẽ ngang vào nương. Nhiều con
đường trải nhựa phẳng phiu, dù quanh co nhưng xe chạy bon bon, vù vù gió. Tuy
nhiên vẫn còn nhiều đường mới san, mưa xuống, đất badan bở tơi, nhão nhoẹt, xe
nhấn ga như voi rống hổ gầm mà vẫn như bò, muốn thót tim lo sự cố xảy ra giữa
đường rừng mênh mông hoe hoắt vắng thì không biết tính sao.
Ngày kháng chiến, những cô giao liên người
tộc, mình trần, dẫn đường cho bộ đội còn còng lưng gùi nặng củ mì,
khoai, bắp tiếp vận cho thương binh nữa. Bây giờ cũng cô giao liên người tộc,
áo phông đỏ chói, chở cán bộ về các bon xa bằng xe gắn máy. Lòng tôi phơi phới
vui vui, không tưởng được sự đổi thay đến thế.
Qua một con dốc, H’Len vui vẻ bảo tôi:
- Đây là dốc FULRO… Ngày trước qua đây
sợ lắm! Đường này rồi trải nhựa. Cán bộ huyện nói ở đây có cái mỏ gì to lắm .
Tôi giật mình nhìn quanh, không khác gì
những con đường đồi dốc chúng tôi đã đi qua. Những mái nhà chênh vênh trên
những quả đồi đang khai phá và qui hoạch trồng các loại cây công nghiệp. Tôi
chưa hình dung nổi khi mỏ boxít ở đây có trữ lượng vào loại lớn nhất thế
giới được khai thác thì giao thông và đời sống người dân thay đổi tới mức độ
nào.
Tôi đang miên man suy nghĩ thì H’Len
dừng xe giữa lưng chừng đồi dốc:
- Bãi đá dưới kia!
Theo ngón tay cô chỉ, dưới chân đồi là
một sân bóng nhỏ dường như bị bỏ không vì chỉ có một bên gôn với hai cái
cột xiêu vẹo, kế đó là một khoảnh ruộng hoang. Trời đã về chiều. Tôi phân vân
lưỡng lự. H’Len lấy cớ đứng trên sườn đồi coi xe, lắc đầu quầy quậy, ánh mắt
muốn bảo tôi chỉ nên đứng đây nhìn cho biết thôi. Dường như có một lẽ gì bí ẩn
trong cô. Câu chuyện đêm qua già làng kể khiến tôi tò mò muốn biết bãi đá ấy ra
sao:
- Cả những người già đã chết lâu rồi và
những người già còn sống đều không ai biết sự tích xa xưa nữa là sao. Cái hang
ở kề bên đó nghe nói là hầm mộ. Ai cũng sợ, không dám tới gần nên tuy không xa
đường mà hoang rậm lắm. Ngày thằng tây Mét lên đây bắt vợ và bốn người con gái
của Mbâ Trang Lơng đem về đồn hãm hại rồi chặt chân tay ném ra rừng lúc mưa gió
đầy trời đất. Dân bon chỉ tìm được xác Mệ Lơng và ba người con gái, đưa
về nằm ở chân núi Nâm D’rôn. Còn xác chị lớn H’Trang bị nước cuốn trôi đi đâu
mất. Thằng K’fu là lính cận vệ của Mbâ Trang Lơng, thương nàng lắm. Nó bỏ đi
theo cái suối, qua bao cánh rừng, mất nhiều ngày lắm, đến bãi đá này. Giàng
dak (nước) gội rửa sạch và đưa nàng H’Trang nằm lên một phiến đá phẳng như
sàn nhà. Thằng K’fu ngồi bên người yêu khóc mãi, đến lúc nước mắt nó đỏ quánh
như những dòng máu rơi xuống phiến đá, sủi bọt bốc khói lên, khoét thành những
hốc tròn sâu hoắm… Khi lũ bon tìm thấy, hai đứa nằm sát bên nhau như
đang ngủ say. Mbâ Trang Lơng đem thầy mo và nghĩa binh tới đây, lấy sàn đá làm
bàn, cắm cờ trên những hốc đá, cúng tế, thề trả thù cho các con và cho dân bon
bị thằng tây sát hại rồi mang xác hai đứa vào táng trong hầm mộ. Khi Mbâ Trang
Lơng bị kẻ phản chỉ cho thằng tây đem lính về vây, ông và bà vợ kế chống cự tới
cùng. Chúng bắt được cả hai người ở bon Bu Par, giết đi. Từ đó, nơi ấy
trở thành chốn thâm u thiêng liêng ít người dám đến. Ở đấy có con rắn to lắm,
người nói nó màu trắng, người bảo nó màu xanh, không biết một con hay là một
cặp mà ai cũng sợ…
Sự tích ấy mê hoặc làm tôi không quản
ngại gì.
Đứng trên cao nhìn xuống tưởng gần nhưng
tụt được tới chân đồi đã thấy hơi thở cả ra tai. Muốn leo lên còn khó hơn. Tôi
lò dò qua bãi bóng. Nước lấp xấp, càng đi càng lún. Tôi cố sải dài bước chân.
Mãi rồi cũng qua đám ruộng hoang. Lại lội lúp xúp một quãng xa, nước ngập sâu
hơn. Phóng mắt nhìn không thấy bãi đá đâu ngoài một mặt bằng lơ thơ cỏ lác nhô
lên trên ruộng nước mà người tôi tưởng đang bở ra, hết đi cái háo hấc của kẻ tò
mò… Bỗng tôi nhận ra một phiến đá lấp xấp dưới mặt nước. Tôi bước lên thấy nó
phẳng phiu. Dưới chân xác lá lững lờ. Tôi bẻ một cành cây nhỏ, dò dẫm, lò mò
lội tới… Lại một phiến đá nữa lớn hơn. Tôi lấy tay quờ quạng xoa xoa thấy nhẵn
như mặt hòn đá cuội. Dường như là một dòng suối chảy qua đây. Tôi nhón từng
bước một, nước càng sâu làm tôi ngần ngại chưa biết nên bước đi nữa hay lùi lại
thì chân đụng vào tảng đá khác ngập bủm dưới sâu. Tôi nhún người bước lên. Nước
suối mùa này đục. Đất đồi đỏ như thế kia mà. Chân trần, tôi lần lần, di di…
Tảng đá khoảng bằng chiếc chiếu, phẳng lỳ, đụng mấy cái lỗ tròn tròn, ngón chân
cái của tôi lọt xuống còn thấy rộng mà chưa chạm đáy. Nhớ đến lời kể về bàn đá
với những hốc do dòng nước mắt hận thù của người con trai đau khổ bị mất bạn
tình khiến tôi thấy nhợn, vội thụt ngón chân lại và co chân lên. Chắc đây là bãi
đá, mùa khô nó mới nổi lên. Nhìn nước chảy thành dòng, tôi không dám liều lĩnh
dò đi xa hơn nữa, chỉ nghển cổ hướng về phía chân đồi đây kia hòng thấy cửa cái
hầm mộ nhưng chỉ là đám cây cao vút rậm rì của một dẻo rừng già còn lại chắn
ngay trước mắt. Một mình giữa chốn hoang địa linh thiêng, tôi bỗng thấy mình bé
nhỏ lại như đứa trẻ thơ, cái gì cũng sợ. Lòng tôi hơi hoang mang. Vừa lúc nghe
tiếng hú gọi từ lưng đồi phía sau vọng xuống. Tuy không phân biệt được âm thanh
nhưng tôi cứ tin rằng đích thị đó là tiếng hú gọi của H’Len để tôi mau mau rời
khỏi nơi này. Dù chưa thỏa chí tò mò về bãi đá nhưng tôi tự hài lòng thế cũng
là tạm đủ.
Tôi vừa đi vừa chạy vừa bò mà cảm như
đường đến với H’Len đằng đẵng quá. H’Len nhìn tôi với ánh mắt vừa mừng vừa
thương. Thế mà cô lại hỏi dồn:
- Cán bộ có làm gì bậy bạ không?
Câu hỏi lạ nhưng tôi còn phải thở nên
cũng chưa đáp lại. Không để tôi kịp nghỉ, cô chỉ đám mây sà thấp ở ngọn đồi
phía bên:
- Chạy mau may thoát cơn mưa này. Giàng
mặt trời đang xuống núi rồi!
Xe tới giữa một con dốc thì mưa ập
xuống. Dường như những hạt mưa trên cao nguyên to nặng và lạnh lẽo hơn. Lưng và
vai tôi buốt rát. Tôi chỉ ngôi nhà mái ngói của một trang trại sau rặng thông
gần ngã ba đường, ý muốn bảo H’Len vào đó tránh mưa nhưng cô lắc đầu lia lịa,
tay rồ ga cho xe phóng ào ào vừa nói lớn để át tiếng mưa rơi:
- Sợ lắm! Sợ lắm!
May chỉ là cơn mưa của một bóng mây nhỏ
thôi. Nó như trò đùa của một đứa trẻ ẩn trong mây đưa cái bình hương sen nước
tưới xuống thành một vệt dài dọc tới chân trời.
Chúng tôi nghỉ ở Nhà Văn hóa xã. Tôi cứ
thắc mắc về câu hỏi lạ của H’Len và vẻ sợ hãi của cô không muốn vào nơi nghỉ
tránh mưa. Với ánh mắt thật thà, cô nói như cầu mong một sự lành cho tôi:
- H’Len thật cái bụng đấy. Cán bộ không
làm chuyện gì để Giàng giận chớ?
Và H’Len kể về nỗi sợ hãi của mình:
- Ngày lâu lắm rồi, lúc H’Len chưa có
thằng chồng, chưa có đứa con, H’Len còn đi học, cũng có lần dắt trâu bò ra đấy.
Nhà ấy là của cha thằng Son. Nó ở dưới thành phố, nghỉ hè, theo cha lên đây
chơi. Nó già hơn mình, đẹp trai, hát hay lắm. Có đêm nó rủ đám con trai con gái
trong bon vào trại nhà nó đốt lửa, hát nhảy vui lắm. Nhìn nó cầm cây đàn thùng
có dây, vừa hát vừa uốn éo cái người, tiếng đàn nghe thật vui. Nó bạo lắm,
không sợ gì, đi đâu cũng mang cây súng săn, viên đạn bắn ra chết liền mấy con
chim, đàn ông trong bon ai cũng ham. Nhiều khi thấy nó đem về mấy con chim con
thú. Đứa nào trong bon muốn thì nó cũng cho. Một hôm nó đi săn tới đây, cũng để
xe ở chỗ mình đứng đấy. Nó rủ mấy đứa mình đưa vào xem bãi đá. Chúng mình chỉ
dám đến đó thôi. Một mình nó đi vào phía cửa rừng, chỗ có hầm mộ ấy. Lũ mình
nghe có tiếng súng đì đòm. Khi trở ra, tay xách một con chim, nó nói thấy con
rắn trắng to bò nhanh vào phía hầm mộ rậm rịt nhiều cây gai, tao bắn liền mấy
phát. Nó lại bảo để hôm nào rủ đám bạn dưới thành phố lên, mượn người dọn sạch
tới cửa hang, vào xem trong ấy có gì. Lũ mình chỉ biết nhìn nhau thôi, già làng
bảo chưa ai dám đến gần cửa hang đâu. Nó ném con chim xuống và ngồi giữa cái
bàn đá to. Lũ mình bảo đấy là bàn thờ và chỉ cho nó xem những lỗ Ông cắm cờ
cúng tế. Nó cười chê lũ mình dễ tin, nước mắt chi mà khoan lủng đá? Nó chúi mũi
súng xuống bắn vào bàn đá bên kia, chỉ thấy tóe lửa ra thôi. Nó lại bảo thần
linh ở đâu mà sợ? Và nó chĩa súng vào phía cửa hang bắn đoàng… đoàng. Lũ trẻ bỏ
chạy ra xa. Nó nằm xuống, cười hơ hớ, mặt ngửa nhìn trời, dang rộng chân tay và
kêu mình lại. Mình sợ quá chạy theo lũ bạn…
Từ bãi đá ra thấy lũ mình đứng ở chân
đồi, nó cầm con chim hua lên, ném cho và trêu chọc : Lũ mày bỏ đi làm tao sợ
quá khóc rống lên, nước mắt trào đầy các hốc đá mà chẳng thấy gì… Không tin vào
đấy mà xem! Lũ mình biết nó làm điều bậy bạ rồi, sợ lắm. Giàng sẽ trừng
phạt cả lũ đấy!
Sáng ra, Giàng mặt trời vừa trèo
lên tới đỉnh đồi kia, ngọn cây vừa ráo nước nhưng con đường dốc trơn khó đi
lắm, đã nghe người bon mách nhau thằng Son chết rồi! Mình sợ run lên. Người già
kể rằng nó đi săn về gần tới nhà, thấy con rắn to nằm ngay giữa đường. Nó nhảy
xuống, dựng xe, giơ bá súng lên dộng xuống. Con rắn cong mình né được. Nó nhảy
tới chặn đường, dộng thẳng xuống đầu con rắn. Nó dộng mạnh quá làm động kíp nổ,
viên đạn bắn thẳng vào mặt nó. Người trong nhà nghe tiếng súng chạy ra còn thấy
nó nằm úp sấp đè lên con rắn xanh cuốn quanh người nó. Đầu rắn vươn lên bổ bổ, cái
miệng đỏ lòm phun phè phè dữ tợn rồi trườn vào rặng thông biến mất!
Đêm ấy có trận mưa to dài lắm, sấm ầm ầm, chớp
sáng đồi sáng thung như là Giàng nổi giận. Mình khóc vì thương nó quá,
kể chuyện lũ mình dẫn nó vào bãi thiêng. Người già nghe cũng sợ, bảo kẻ nào
muốn hại thần linh bằng giáo thì chết vì giáo, bằng súng thì chết vì súng, bằng
lời độc địa thì chết vì lời độc địa!
Từ đó mỗi khi qua đấy, H’Len phải chạy
thật nhanh, không dám nhìn lại nữa.
Câu chuyện bán tín bán nghi làm suốt đêm
tôi không ngủ được. Đầu thế kỷ trước, Mbâ Trang Lơng là vị tù trưởng lãnh đạo người
tộc cao nguyên chống Pháp quyết liệt, nghĩa binh của ông có người còn sống.
Nhưng bãi đá ấy xưa lắm, với cái hầm mộ huyền bí kia có liên quan gì với nhau
không? Cái chết của thằng Son và con rắn ấy là sự ngẫu nhiên hay có điều gì bí
ẩn? Con rắn trắng với con rắn xanh có dính gì tới sự tích ấy không?
Tôi đem chuyện hỏi người bạn văn có
trang trại ở đây. Ông bảo:
- Cái chết của cậu bé ngỗ ngược ấy là có
thật. Ở rừng, loài rắn chỗ nào không có. Nơi tranh tối tranh sáng mà chỉ nhìn
thoáng qua trong lúc thất thần, thật khó nhận rõ con rắn màu gì. Nhưng là rắn độc
loại nào đều có thể gây nên cái chết cho bất kỳ ai. Sau tai họa mất đứa con
trai độc nhất, ông bố nhờ tôi sang tay cái trang trại cho người khác.
Tôi phải giấu kín chuyện ấy đi để người ta không lo cái dớp. Người tộc
cũng kín chuyện lắm nên có ai biết cũng chỉ mù mờ, càng thêm bí hiểm, nghĩ là
có chuyện rắn thần. Tuy nhiên tôi cũng chẳng nói không mà cũng không nói có.
Tốt nhất là đừng làm gì động tới điều mà nhiều người đã coi như một cõi thiêng!
DƯỚI
CHÂN DÃY NAM
NUNG
Nhiều tác giả
NXB Hội Nhà văn TPHCM – 2008
TÀI HOA TRẺ số 484 ngày 08/8/2007
No comments:
Post a Comment