MỘT CHUYỆN Ở BỆNH VIỆN


MỘT CHUYỆN Ở BỆNH VIỆN
                                                                     {
           
            Cả xóm nháo nhào lên. Bà Năm vừa từ bệnh viện trở về, hớt hơ hớt hải, mếu máo như muốn kêu trời giữa cái nền nhà trống huyếch:                                      
- Tui đã biểu có sao ở vậy đi, dở dói ra làm gì để đến nỗi nhà thì tháo dỡ ngổn ngang mà cái thân ổng thì đang nằm chờ chết trong bệnh viện! Bây giờ trong túi không còn đồng bạc cắc! Năm hết tết đến rồi! Biết vay mượn ai? Biết xoay sở làm sao hở trời?!                         
Bà Năm ngồi bệt giữa đống cây đống là bừa bộn. Cả chục người lối xóm bu quanh thăm hỏi, bàn tán...
Cái xóm cư dân ấy toàn người tứ xứ. Họ gom tụ về đây cả chục năm nay. Đất thì họ vừa sang, vừa lấn chiếm, chẳng cần tìm hiểu nguồn gốc của nó ra sao. Có ai đắn đo tính toán, họ tặc lưỡi bảo nhau: Biết bao giờ người ta mới rớ tới cái xứ cùng mạt này! Mà nếu như có quy hoạch thì sẽ được đền bù! Thật không ai ngờ cái chốn này trước đây là một khu đất dở ao dở ruộng nay đã là một khu dân cư người ta lúc nhúc. Nhà thì đủ kiểu loại chả có cấp nào: Từ cái sàn gỗ dưới là lớp bùn rác, lấp xấp nước đen bốc lên mùi đặc biệt mà chỉ chủ nhà mới chịu nổi bởi cái mũi lâu ngày thành “điếc”, đến những túp lều, cái tum, cái trái, cái nhà lẹp xẹp... Lác đác có cả những ngôi nhà gạch trần lạ lẫm như một cô gái quê đeo yếm đi lạc vào bộ tộc người thời tiền cổ. Người ta gọi cái xóm ấy là: Nhà không số – Phố không tên – Người không hộ khẩu... và hàng ngàn con người ở đây dầu chẳng có ai tuyên bố tước đi cái quyền công dân của họ nhưng tự họ đều coi mình như một bầy chim  trời lạc lõng. Cái quyền con người là những gì họ không cần biết. Điều thiết thân thôi thúc họ là lo toan tất bật bữa sớm bữa chiều, đặt lưng tạm nghỉ qua đêm để sớm mai lo sao thêm được một ngày...
Ông Năm xưa vốn ở một quận ngoại đô. Nhưng cái đận khó khăn, ông đem gia đình đi kinh tế mới. Căn nhà xập xệ trong hẻm thời ấy ông sang tay được mấy chỉ đã quá là may. Lúc đó vợ chồng ông còn trẻ khoẻ với ba đứa con lít nhít nhưng đâu có phải cứ dùng sức để cậy đất lên mà ăn ngay được. Có chút vốn liếng ngày càng thâm thủng. Hồi ở thành phố thì có khổ nhưng mà không đói. Dắt nhau lên đây đất đai thì mênh mông, cỏ ngút ngàn, trần đôi tay với cái cuốc thôi, chỉ có vào vụ khoai mì là phủ phê nhưng mà đói cơm gạo. Vậy mà tình cảm vợ chồng còn lai láng nên trong đói nghèo lại sản sinh thêm hai đứa nữa. Con cái một bầy, vốn liếng chân lưng, dù cần mẫn mấy cũng không thoát khỏi cảnh nheo nhóc bần hàn. Vợ chồng con cái ông lại lục tục theo làm sóng người quay về tái định cư nơi thành phố  và rồi trôi dạt về đây.
Vợ ông đi mua đổi ve chai. Ông sắm chiếc xích lô, cha con thay nhau gò lưng ba buôỉ lần hồi qua ngày. Mấy năm nay kinh tế thị trường nở rộ, các đường phố mới mở ra, nhà cao cửa rộng, xe máy, xe ôtô đời mới các loại lúc nhúc chật đường chật phố. Cái xích lô cổ lỗ kiếm cơm bị gạt ra những khu xa vắng lại còn phải đua tranh với đội ngũ xe ôm len lách tới từng hẻm nhỏ hoặc thong dong đường trường với giá bình dân. Ngày đạp rã chân may lắm được vài cuốc, kiếm đủ tiền gạo cho mấy mạng người. Thằng con trai lớn bỏ đi làm bá nghệ ở đâu không biết. Đứa con gái kế cũng biền biệt tối ngày, kêu là hùn vốn với bạn làm ăn. Lâu lâu chúng nó ghé về vứt cho mớ tiền, mớ quần áo đồ sôn. Ông hỏi han công việc chúng chỉ ậm ờ. Ông lo lắng căn dặn chúng đừng sa đà vào những chuyện này nọ vừa khổ thân vừa mang điều tiếng. Nó cười giễu ông:         
- Nghèo xác xơ mướp mà cứ nói chuyện nhân với nghĩa!                    
Ông buồn ngậm ngùi tủi phận:                 
- Nghèo quá cũng không dạy được con!
Cái nhà tã quá rồi! Vách rách tuyềnh toàng. Cái mái đêm nằm nhìn thấy sao trời, ngày nắng xuyên chói mắt. Cái xà kia mọt mục thấy ghê, trước sau gì rồi cũng sập. Vợ con không biết lo chuyện ấy, chỉ mải mê kiếm miếng ăn. Lòng ông cứ phấp phỏng lo dại dột một lúc nào cái xà kia... Cận năm rồi, trời khô nắng, có chút tiền dành dụm thì nhín tiêu sài đi, lo cái mạng người đã. Ông quyết định sửa lại cái nhà. Vợ con ông lúc đầu không chịu, đến khi ông chỉ lên mái nhà, cái xà, cái cột... Ai nấy nín thinh. Nào ngờ ông muốn tránh tai thì gặp vạ !
Thằng con vừa giật xuống những tấm lá cuối cùng, cái xà kia hết chỗ giằng, nó vặn mình cái rắc... Ông đang đứng chênh vênh trên cái ghế phụ đỡ thằng con, chưa kịp phản ứng thì cái xà đã lao thẳng vô ngực. Ông té bổ chửng, nằm bất động. Mọi người tưởng ông chết ngay lúc đó...
Suốt đêm qua các bác sĩ hồi sức cấp cứu cho ông. Bây giờ ông đã tỉnh rồi nhưng nằm đó lờ đờ như con cá phơi mình trên cạn. Bác sĩ bảo ông bị lủng phổi, lủng tim. Nếu mổ thì nặng lắm. Trước mắt phải cần tới hàng lít máu. Cả xóm ai nghe cũng lắc đầu le lưỡi. Họ bàn vô tán ra:
- Nghe mấy người ở nước ngoài về nói chỉ mổ cắt đi cái bao tử thôi cũng mất mấy chục ngàn đô. Giờ mổ tim, mổ phổi sức mình chịu sao thấu?!                                                         
- Ở bên nước người ta tân tiến, rớ đến cái tim cái phổi còn chết ngắc. Mình mổ chắc chi đã sống, lại tiền mất tật mang ! Coi như số mệnh mình chỉ được vậy thôi!
Bà Năm vẫn ngồi bệt giữa đống cây, đống lá. Trong đầu bà nghĩ quẩn: Có tiền đâu mà mất! Mà ổng chẳng chết ngay cho. Cái con mắt ổng lờ đờ, muốn nhướng lên nhìn vợ nhìn con mà không được. Chắc ổng đau đớn lắm… Lòng bà cứ nhoi nhói thấy tội và thương ổng quá. Hôm qua te tái theo xe đưa chồng tới bệnh viện. Tiền xe mấy bà lối xóm trả dùm. Trong khi bác sĩ khám bệnh cấp cứu cho ông, cô y tá nhắc bà đóng ứng tiền viện phí. Bà moi khắp các túi chưa tới hai chục ngàn đồng tiền các loại. Cô y tá đưa cho bà tờ giấy ký nợ, bà ký đại vào, chẳng biết bao nhiêu...
Bà biểu hai đứa con lớn gom nhặt tiền lại, được năm bẩy trăm ngàn. Bà con lối xóm kẻ ít người nhiều quyên góp nữa, thêm thắt vào cũng được thòm thòm triệu bạc. Bà lật đật cùng con và mấy người lên bệnh viện...Vừa lúc người ta đẩy ông vào phòng mổ. Trên mình ông phủ tấm nệm trắng xoá. Ông đưa con mắt lừ đừ nhìn vợ con như muốn chào vĩnh biệt. Bác sĩ bảo ông bị dập tim nặng lắm, cần phải mổ ngay, chậm nữa là chết. Bà ù tai hoa mắt không biết gì nữa. Thằng con phải thay bà ký vào giấy cam đoan mổ. Người ta lại nhắc nhở đến tiền viện phí. Bà lôi ra mớ tiền. Mấy người bàn bạc chỉ đóng nửa thôi, còn để phong bì tặng riêng bác sĩ. Vừa lúc cô y tá kêu người nhà:        
- Gia đình đóng tiền mua máu !                
Bà quýnh lên rút  hết nắm tiền đưa ra:    
- Tất cả cơ nghiệp nhà tôi thu gom lại được bi nhiêu. Tùy cô tính sao thì tính!
Cô y tá chỉ dẫn cho bà:                                          
- Thôi! Giờ bác ra đóng tiền ngoài quầy, mang hoá đơn lại đây. Gia đình đông người thế này xem có ai cho máu được không ?
Tay bà cầm tờ hoá đơn, đứng túm tụm lại năm bẩy người bàn bạc. Thằng con trai bà tặc lưỡi:     
- Cho máu thì cho!                                                  
Đứa con gái đứng lảng ra xa. Mấy thằng bạn con bà bốc lên hăng hái:         
- Tui cho  đại đi cũng được!                      
Họ líu ríu bước vào phòng cô y tá trưởng đang làm việc. Bà Năm khép nép:
- Cô ơi… Chúng tôi xin cho máu ổng !   
Cô y tá lần lượt nhìn từng người: bà già ốm tong teo, mấy cậu thanh niên đầu tóc bù xù, phanh áo ngực lộ ra những chiếc xương sườn dưới lớp da nhem nhúa. Cô chỉ vào bà:
- Tụi tui lấy máu của bà rồi lại phải cấp cứu bà thôi!
Cô quay qua mấy cậu con trai:
- Mấy người này có lấy máu lại tốn thêm tiền làm đủ các thứ  xét nghiệm mà chưa chắc đã sài được đâu!
Cô suy nghĩi một chút rồi quay qua giải thích cho mọi người:
- Ông bị thương nặng lắm. Dù có qua được cuộc mổ này cũng còn phải thuốc men nhiều thứ lắm. Gia đình về ráng chạy thêm đi rồi bệnh viện hỗ trợ thêm vào!
Cô chỉ vào phía trong phòng bệnh giường nào cũng có người nằm đừ như chết:
- Bà nhìn xem kìa, ngày nào bệnh cũng đông và nặng như vậy. Mỗi người phải đóng góp tích cực phần mình. Một mình Nhà nước lo không xiết! 
Nói rồi cô lại cúi xuống lúi húi làm việc...
Mấy người ra ngoài hành lang. Bà quanh quẩn mà lòng như lửa đốt. Đứa con gái tới ngồi ghế đá chỗ vườn hoa ngước mắt nhìn trời. Đứa con trai kéo bạn xuống căn tin uống càphê, hút thuốc. Bà nghĩ mà sợ cho cái tuổi già. Cũng chỉ là vợ chồng lo xót cho nhau thôi. Con cái không bỏ nhưng thương nhiều thương ít mỗi đứa một kiểu, tùy lòng chúng nó. Nhỡ ông làm sao, có đem về thì cái nhà tơ hơ ra đó, nằm vào đâu? Tiền nong chạy chỗ nào? Mượn rồi làm sao trả được ? Họ hàng anh em không thể trông cậy  một ai!
Mà sao ca mổ này lâu thế, từ sáng tới giờ. Cứ có chiếc giường nào từ nhà mổ đẩy ra, bà Năm le te chạy tới ngó người bệnh nằm thẳng đừ, mắt nhắm nghiền không biết sống hay là chết. Trong dạ bà cứ bồn chồn nơm nớp. Sao người ta mổ nhanh vậy mà chồng bà... Bà thấy ân hận lúc ấy quýnh quáng không giữ  lại ít tiền để vào phong bì... Nước mắt bà trào ra tủi cho cái phận nghèo...
Cánh cửa phòng mổ lại mở ra. Hai ba người áo xanh, áo trắng đi kèm bên giường bệnh, mỗi người ôm những thứ đồ lỉnh kỉnh. Bà chạy theo và bà không nhận được chồng bởi những ống thở che gần hết khuôn mặt vốn đã choắt cheo của ông. Bà lo lắng hỏi:                                    
- Bác sĩ ơi ! Ông Kia...                                            
Cô y tá khẩu trang che kín mặt chỉ hở ra hai con mắt:  
- Ông Kia… Nguyễn Văn Kia  đây!                     
Ông mặc áo trắng cỡ trung niên, chắc là bác sĩ, đi chậm lại hỏi:                    
- Bà là thân nhân?                                                   
- Dạ! Thưa tui là vợ!                                               
- Bệnh nhân bị rách tim, máu tràn đầy trong ngực, chúng tôi đã khâu bít được rồi. Vô hơn một lít máu. Nhưng còn nặng lắm!                     
Chiếc giường khuất trong phòng Hồi Sức. Cánh cửa khép lại. Bà đứng mà hai chân run bắn lên:
- Trời ơi! Rách tim thì làm sao sống?!
Bà đứng lặng một hồi rồi lẩy bẩy đi kêu con gái:
- Cha mày ra rồi kìa! Bị rách tim… Chưa chắc đã sống!
Mỗi ngày bà được một lần khoác cáo áo choàng trắng rộng lùng thùng vô thăm ông nằm cách ly trong phòng lạnh. Chung quanh giường đầy máy móc. Trên người ông lòng thòng đủ các thứ ống, thứ dây. Cái máy đo tim cứ chút một lại kêu lên những tiếng pin...pin đều đều và hiện lên những  đường sáng xanh xanh vàng vàng loằng ngoằng kỳ dị. Bác sỹ, y tá ra vào xem xét vẻ đăm chiêu lắm. Bà thấy họ đo đếm ghi chép từng bịch nước tiểu chảy ra....
Hôm nay thấy mắt ông đã mở và khe khẽ chớp nhưng chắc ông chưa nhận ra bà. Nhìn vẻ mừng rỡ của bà, ông bác sĩ nói phòng hờ:                     
- Chưa đâu! Giờ thì tỉnh rồi đó nhưng vẫn có khả năng xảy ra tai biến bất ngờ không lường trước được. Phải theo dõi sát bảy ngày mà yên ổn thì hãy vui mừng!          Nét mặt bà trùng lại nhưng trong ánh mắt bà vẫn chớp chới niềm hy vọng. Bà lầm bầm cầu Trời khấn Phật phù hộ cho chồng bà tai qua nạn khỏi.
Và ánh mắt ấy tươi sáng dần lên theo mỗi một ngày qua. Lựa lúc vui chuyện, bà thăm dò cô y tá:                   
- Nằm phòng như thế này hết bao nhiêu tiền một ngày hở cô?           
- Tiền phòng thì chỉ mấy chục ngàn thôi. Còn phụ thuộc vào việc phải sử dụng đủ thứ máy móc, xét nghiệm nữa. Như ông cũng phải vài trăm!                                  
Trống ngực bà đập thình thình. Chồng bà dù có qua được cái tai ách này thì cũng phải ôm một món nợ lớn. Nhưng thôi mọi chuyện tính sau. Giờ cốt  lo cho ổng sống đã. Bà mạnh dạn nói:  
- Xin các thầy các cô cứ tận tình cứu chữa cho ông nhà tôi. Gia đình tôi sẽ ráng…
Mấy ngày qua, xem cung cách nhà bà, ai chẳng đoán được sự ráng ấy được tới đâu. Ông bác sĩ  bảo:                                    
- Bà cứ yên tâm đi, trừ phi bệnh quá nặng chúng tôi mới chịu thua thôi. Còn như ở đây người bệnh cần gì, nếu có là chúng tôi không tiếc!                                        
Nghe lời nói đó bà thấy mủi lòng, nước mắt rơm rớm.   Mỗi ngày ông Năm một tỉnh hơn. Ông đã nhận ra bà. Con mắt ông đưa đi đưa lại vẻ tươi tỉnh ra dần ra. Ông nhìn bà gật gật. Ông đã biết mình còn sống. Các máy móc quanh giường ông đã được gom lại hoặc chuyển qua giường khác. Các thứ ống gắn vào mũi vào miệng ông đã được lấy đi. Chân tay ông đã cử động co ruỗi được. Bác sĩ đến thăm bệnh cho ông không còn vẻ mặt đăm chiêu nữa. Tuy chưa đến hạn bảy ngày nhưng bà Năm đã vội tin là chồng bà sẽ sống.
Và thời khắc trông chờ thì thật là lâu nhưng  khi nó đã đi qua mới thấy nhanh như chớp mắt. Ông Năm nằm tại phòng Hồi sức đặc biệt mười ngày, rồi được chuyển trại:      - Bây giờ chắc sống rồi. Phần chúng tôi thế là xong!
Ông bác sĩ nói thật vui vẻ như bản thân ông vừa trải qua những ngày giờ nặng nề căng thẳng, lúc này mới biết chắc công việc đã hoàn thành. Bà Năm cảm động không biết nói gì hơn, hai tay bà chắp trước ngực, đầu bà cúi xuống, giọng bà run run:
- Dạ! Gia đình chúng tôi xin mang ơn các thầy các cô đã cứu sống chồng tôi và cha các cháu!
Miệng bà mếu máo không nói thêm được câu nào nữa. Ông bác sĩ tươi cười bỏ đi. Cô y tá trưởng nhắc nhở bà:
- Bây giờ là việc của bà đây! Nếu gia đình có khó khăn thì bà làm đơn xin miễn giảm và xin địa phương chứng thực vào, trình Ban Giám đốc bệnh viện xem xét cho!
Ông Năm được chuyển lên Khoa Tim mạch để theo dõi thêm. Ông đã đi lại được. Cả nhà ông không ai còn nghĩ đến cái ngày u ám nữa. Bản thân ông như từ cõi chết trở về. Nhiều lúc ông không tin được là ông còn sống đến hôm nay. Thương tổn của ông nặng nề là thế! Gia cảnh của ông gần như cùng quẫn vắt mũi bỏ vào miệng cũng không xong! Ông không quyền, không tiền, không thân, không thế, ít học, cô đơn! Ông chỉ còn một chỗ bấu víu duy nhất là trông vào tình người. Điều ấy hoàn toàn phụ thuộc vào đời. Ở nhà là bà con lối xóm. Lúc rủi ro tai họa đến đây là nhờ ở bệnh viện và thân nhân những người bệnh nằm cùng chung phòng với ông. Cả phòng này ai cũng biết bệnh của ông là trầm trọng nhất và qua những sinh hoạt ở đây, ông bà là người nghèo khó nhất. Nhưng ông bà âm thầm cam chịu, chẳng kêu ca đòi hỏi một điều chi. Nhiều người nhường xẻ xuất ăn phần quà cho ông bồi dưỡng. Có người dúi cho bà ít tiền để bà thêm thắt bồi bổ cho ông. Ông căn dặn bà:                                  
- Tiền bà con cho để đó thêm vào đóng viện phí. Người bệnh mà ai cũng rách như mình chắc là sập tiệm! Đó cũng là cách mình trả ơn lòng tốt của các bác sĩ, y tá ở đây!           Ông bà cũng không dám trông cậy vào các con. Mình là cha là mẹ để nó khổ sở, vất vả lang bạt kỳ hồ là lỗi của mình rồi.
Bà Năm nghe lời cô y tá hướng dẫn đã nhờ người làm cho một tờ đơn. Bà về nhà xin ông tổ trưởng dân phố chứng thực nhưng khi lên phường người ta không chịu xác nhận và đóng cho cái mộc với lý do gia đình ông bà không có hộ khẩu thường trú và hai đứa con lớn địa phương không quản lý được chúng làm gì. Con trai thì khai làm cả trăm thứ việc. Con gái thì nghe đồn là đi bán bia ôm. Bà không biết cậy nhờ vào ai. Bà nghẹn ngào than thở với gia đình những người bệnh xung quanh. Một cậu thanh niên xúi vô:
- Chừng nào người ta bảo ra viện thì cứ về đại đi! Không ai đứng ra giữ mình lại mà cũng chẳng ai bắt bớ bỏ tù mình!                     
Ông già cựu chiến binh trông bà vợ nằm ở góc phòng phản đối liền:                                                 - Không được! Xù kiểu ấy là không xong rồi! Nghèo cũng được hưởng tiêu chuẩn của người nghèo. Mình phải đòi bằng được! Nếu làm như vậy bỗng dưng trút mọi gánh nặng cho bệnh viện. Người ta không có lý do gì để giải trình về khoản thất thu viện phí! Và cũng có nghĩa là người ngay bao giờ cũng thiệt, kẻ cù lần lúc nào cũng vẫn nhởn nhơ!                     
Ông Năm rên rỉ:                                                      
- Người ta đã làm phúc lại còn mang tiếng về mình nữa! Vậy là người làm ơn mà ta thì trả oán đấy! Làm thế nào bây giờ hở trời?        
Cái máu nghĩa hiệp trong người lính Giải phóng quân ngày nào lại bùng lên ở người cựu chiến binh già này. Ông hăng hái như thời còn trẻ:
- Bà đưa tôi về phường của bà. Tôi sẽ gặp Hội Cựu chiến binh để nhờ can thiệp!   
Mọi người trong phòng vừa ngạc nhiên vừa khâm phục trước cái khí thế sôi nổi của ông già. Chờ ông đi khuất rồi, bà vợ ông mới chép miệng than thở  với mọi người:       
- Cái tính ổng là vậy đó, thương binh loại hai đấy nhưng gặp điều gì chướng tai gai mắt là ổng cứ đùng đùng như bom rơi đạn nổ. Con cái nó bảo: Cha ăn cơm nhà đi vác tù và hàng tổng!, ông lại quát lên: Tao vác quen rồi! Vậy mà nhờ có cái tù và ấy đã xua đi được khối quân trộm cướp!
Nhờ có nhiệt tình xông xáo của ông già cựu chiến binh mà bà Năm đã  có được tờ giấy xác định nghèo đúng theo thủ tục. Ông xục vào mọi nơi cần thiết. Ông nói bô bô:                 
- Các đồng chí! Thời buổi này không ai ngu gì tự nhận mình là giai cấp cơ bản, là người nghèo khổ đâu! Chỉ khi ra đứng trước vành móng ngựa họ mới trưng ra để trí trá thôi. Vậy mà người ta đi gõ cửa mọi nơi năn nỉ xin xác nhận sự nghèo để được chứng minh lòng thành thực thì các đồng chí lại ỷ eo. Các đồng chí nại lý là người ta không có hộ khẩu thường trú nhưng khi bầu bán gì gì thì người qua đường các đồng chí cũng bê thùng đến xin lá phiếu! Các đồng chí chê trách con cái người ta không có công việc làm lương thiện! Thử hỏi các đồng chí đã lo cho những người thất nghiệp được đến đâu rồi?! Cốt được việc cho mình, quan tâm hão đến người thì nói ai nghe! Chỉ cần các dồng chí quá bộ vài phút đến nhà người ta thì rõ hết chớ gì. Sao các đồng chí quan liêu thế?!                                                          

Hai ông bà và mấy người con líu ríu chào cảm ơn mọi người. Ông nghẹn ngào, nước mắt ròng ròng:
- Lúc mới vô viện tôi nghĩ chắc chết quá. Không chết vì thương tật cũng chết vì nghèo. Vậy là tôi vẫn sống. Đời tôi như được sanh ra tới hai lần. Lần trước là do cha mẹ sinh ra. Lần này tôi được sinh ra từ tình thương của mọi người, từ các bác sĩ  và các y tá ở đây và từ tất cả bà con cô bác...     
Bà Năm cũng mếu máo chỉ ông cựu chiến binh già:     
- Phúc đức quá! Cũng nhờ có bác đây nói vô mà gia đình tôi thoát cảnh nợ nần. Bệnh viện miễn phí cho hết cả. Phần mình đóng góp không thấm tháp gì. Giờ trở về nhà cũng khỏi cảnh màn trời chiếu đất: địa phương, bà con đã giúp thưng lại cái nhà. Gia đình tôi cái nghèo thì chưa biết bao giờ dứt được nhưng đầu năm mới này thật vui như Tết!
Ông già cựu chiến binh cười khà khà nói oang oang:   
- Việc cưu mang nhau lúc rủi ro tai họa trên thế giới người ta coi như một việc làm từ thiện và họ làm nhiệt tình sôi động lắm, huống chi mình là đồng bào một nước thì việc làm ấy phải là trách nhiệm của tất cả mọi người!                 
Hai ông bà dìu dắt nhau ra về mà chân bước ngập ngừng. Mấy đứa con ông hôm nay có vẻ bùi ngùi cảm động lắm, cử chỉ rụt rè, khoanh tay cúi đầu kính cẩn chào tất cả mọi người...
                                                               
                                                                        Tháng 4 năm 1999

No comments:

Post a Comment