MẸ
ĐỒNG TRINH
{
Tôi tình cờ nhận
ra chị giữa một phiên chợ đông bởi giọng nói đặc biệt nửa đàn bà nửa đàn ông
ấy. Người ấy đang quay lưng lại với tôi, như một tấm lá chắn khổng lồ. Và điệu
cười ấy, đúng rồi, không ai nghĩ nó được phát ra từ con người có bộ ngực, tấm
lưng vĩ đại thế kia : Hí…hí…hí…! – nó nhẹ mà vui, hồn nhiên rất
dễ thương… Người ấy quay lại, nụ cười chưa tắt và không lẫn vào đâu được cái
miệng nhỏ, đôi môi mỏng mọng với hai hàm răng chuột trắng bóng ấy… Không nghi
ngờ gì nữa dù đã hàng chục năm qua, tôi tiến lại gần mạnh dạn tự tin:
- Phải chị Năm Trinh?!
Đôi mắt nhỏ, dài chăm chú nhìn tôi, nó
vẫn sáng long lanh đầy sức sống… Rồi một cử động bất ngờ: chân chị xô về phía
tôi, cái cần xé trái cây đổ nghiêng, những trái xoài lăn lóc… Đôi tay hộ pháp
của chị nắm chặt vai tôi lắc lắc, vẫn giọng quen thuộc ấy thốt lên:
- Cậu Ba à?!
Người tôi đu đưa theo nhịp lắc từ đôi
tay ấy. Chắc hẳn là kỳ lắm nên những người chung quanh trố mắt nhìn cười rộ
lên…
Cuộc tương ngộ tình cờ của những người
bạn một thuở gian nan đầy những kỷ niệm vui buồn đã đưa tôi đến cuộc gặp gỡ hôm
nay.
Xứ Cái Bè này với chúng tôi một thuở đã
là nỗi ngán ngẩm dù có về thế giới bên kia vẫn nhớ! Rời khỏi những vuông trâm
bầu, những dặng bình bát thoi loi trên một biển năn và nước chỉ còn là
cái sự long và cái sự bè! Chỉ những người lính thời ấy mới hiểu
được những nỗi cơ cực, truân chuyên của hai sắc lính cứ chờn vờn , lánh né nhau
như mèo với chuột trên đồng bưng, kênh rạch sau ngày ký kết Hiệp định Paris,
bên nào cũng ra sức giành dân, lấn đất.
Bây giờ mênh mông là kênh, bát ngát là
vườn. Những bờ kênh đã là những con lộ tấp nập xe lam, xe máy . Dưới sông ồn ả
những tắc ráng, xuồng, ghe máy khẳm nặng đồ hàng đua nhau xuôi ngược. Dăm cụm
lục bình lơ thơ chơi vơi trên sóng bị đánh giạt vô bờ…
Rời bờ kênh, rẽ theo một bờ ruộng phẳng,
chiếc xe ôm vòn vọt lao thẳng vào sân nhà chị. Tiếng xe máy lạch bạch và khói
từ bô xe toả ra sặc mùi xăng khuấy động sự bình lặng của một mái nhà yên ả ẩn
bên màu xanh mượt mà của cây trái làm tôi thấy tiếc rẻ và khó chịu.
Chị Năm chạy ra vồn vã đón tôi. Theo sau
chị là một thằng bé chừng 15-17 tuổi, dáng nhỏ thó, mình trần, da đen nhẻm mà
cơ bắp vẻ rắn chắc lắm. Nó khoanh tay chào và nhìn tôi cười rụt rè nhưng vẻ
mừng rỡ như đón người thân xa cách lâu mới về. Chị Năm giới thiệu một mạch cả
hai người: Cậu Ba đấy! và: Thằng bé nhà tôi đây!
Sau mấy câu thăm hỏi, tôi xin được làm
cái việc lễ đạo thông thường là thắp nén nhang cúi đầu kính cẩn trước bàn thờ
như một sự trình diện với các vị chủ nhân đã ở cõi hư vô. Trên bàn thờ chỉ có
hai tấm hình đen trắng của ông bà già được vẽ lại. Tôi tin đó là đấng song thân
của chị. Vậy còn một người? Chả là hôm mới gặp, tôi hỏi thăm chuyện chồng con,
chị nói cho qua: Được một thằng cu và ông xã “đi” mất tiêu rồi! Tôi hiểu đơn
giản nghĩa là anh đã thành người thiên cổ, còn hỏi kỹ làm chi để gợi lại nỗi
buồn cho người đang sống, nên bây giờ tôi thắc mắc:
- Chớ anh Năm đâu?! – vì lẽ ra anh cũng
phải được chưng ngồi trên kia để ngày ngày nhận được sự nhớ thương, trân trọng của người thân. Vậy mà
chị nhanh nhẩu khoát tay chỉ qua cái trang thờ nhỏ, trên đó có hình một người
con gái trẻ và mấy bát nhang, giục tôi:
- Tất cả ở trên đó, anh vái vọng được
rồi!
Thằng bé giương mắt ngó qua chị lại ngó
qua tôi, dường như nó chưa hiểu ra một điều gì…
Ngày ấy tôi còn
trẻ lắm. Chị cũng vậy nhưng lớn hơn tôi dăm tuổi . Chị là cấp dưỡng của một cơ
quan Tuyên huấn lớn, còn tôi là lính chiến. Bộ tư lệnh tiền phương đóng kề cơ quan chị. Nhiều lần tôi đi bảo vệ các thủ
trưởng từ chiến trường về hội nghị ở vùng căn cứ. Anh em bên dân chính, đặc
biệt là các chị em thương tụi lính chúng tôi mỗi khi từ chiến trường về. Dường
như các anh chị khát khao nhớ quê hương dưới xuôi lắm mà đám lính chúng tôi thì
hằng hà những chuyện ly kỳ nóng hổi nơi chiến địa – chuyện anh hùng đau thương
căm hận cũng lắm, chuyện tào lao ba búa cũng nhiều. Có điều là lính chiến thì
cứ nói bạt mạng đôi khi nổi hứng lên nổ rôm rốp bất cần đời, khác hẳn các anh
chị ở cơ quan dân chính, đặc biệt là cơ quan tuyên huấn, mỗi lời nói ra chuẩn
mực, đúng chính sách chủ trương, lúc nào cũng bừng bừng khí thế. Ví như khi chúng
tôi chuẩn bị xuống đường hành quân ra phía trước, các anh chị động viên:
- Đi lẹ lên kẻo xuống tới nơi nó chạy
hết ráo chỉ còn lượm vỏ đồ hộp thôi!
Mà khi chúng tôi bi quan ngán ngẩm thốt
lên:
- Học tập thì thấy địch mỏng tang như lá
lúa mà thực tế ở chiến trường thì thấy nó dày cộp như da trâu!
Mấy anh lại nhẹ nhàng phân tích:
- Phải nhìn toàn cục. Địch thua cuộc
phải xuống thang nhưng rủi cho các cậu ở trúng nơi cái chân thang nó xuống! Nghe ra thì cũng có lý, bảo nhau cắn răng
trân mình chịu trận. Nhưng lúc căng quá lại chửi đổng với nhau:
- Mẹ cha nó, né chỗ nào cũng đụng chân
thang!…
Là lính cận vệ, chúng tôi dễ xáp với
cánh vệ binh rồi lân la đến bộ phận hậu cần. Mấy chị nhà bếp thật dễ làm quen.
Chẳng có việc chi ngoài thời gian căng võng ngủ, chúng tôi đi kiếm dăm bó củi
mang về, các chị chịu lắm. Được mấy chị bếp thương thì no thôi, giàu nhà kho, no nhà bếp mà. Ngay cả mấy chú,
mấy anh lớn lúc nào cũng vui vẻ, nhẹ nhàng, tình cảm với mấy chị nuôi. Chị Năm
lúc ấy tuy còn trẻ nhưng đã uy tín lắm rồi vì chị là dân cựu trào từ ngày khởi
lập cơ quan này. Theo chị kể: quê ở Mỹ Tho, thoát ly từ nhỏ, làm đủ thứ việc:
giao liên, văn phòng rồi tới chị nuôi. Chị sức vóc, tháo vát, đảm đang, lại
khéo mày mò chế biến các món ăn hợp khẩu vị quê hương, dân dã. Từ ngày cơ quan
lèo tèo chỉ có mấy người, việc trợ cấp lúc có lúc không, ngoài công việc, mọi
người còn phải lo tự túc; tới lúc cơ quan phát triển lớn ra, đủ các thứ ban bệ,
cán bộ cũng phân chia nhiều cấp, việc cung cấp đã thành chế độ. Cái nhà bếp của
chị đã thêm người phục vụ cho ba ông táo : táo to, táo vừa, táo nhỏ –
đấy là cách nói chỉ ba loại bếp : đại táo, trung táo và tiểu táo.
Mấy chú tân binh nghe nói được ăn đại táo tưởng ngon… Sau mới vỡ ra cái bếp
nhỏ chỉ mấy người ăn thôi mới ưu ái được! Chị là tổ trưởng nhà bếp, lãmh
đạo cả chục chị nuôi. Cấp trên thương muốn bồi dưỡng lên nhưng hiềm nỗi khó tìm
được người như chị để gánh vác công việc ấy và bởi chị lúc nào cũng hồn nhiên
vui vẻ chẳng thắc mắc điều chi. Chị nói : Ui da! Đã đi mần Cách mạng mà cứ so
bì sanh nạnh thì ở nhà với má còn hơn! Rồi chị cười hí… hí… hí…!
Dù là ai cũng thương mến chị nhưng bởi
tấm thân hình quá khổ nên cũng là đề tài để anh em trêu chọc. Anh em kêu chị là
cái thùng phi. Đám lính chiến kêu chị là xe tăng M41. Và đặc biệt
là bộ ngực đồ sộ và đôi mông núng niếng nó làm khổ chị và khổ cả nhiều người.
Trộm vía chị, mấy anh nói dóc với nhau:
- Đụng B52 mà được nấp dưới bộ ngực của
chị Năm thì sống khoẻ!
Đám lính Bắc thì gọi chị là Bà Triệu
Ẩu với lý do cùng một tên Trinh – bà Triệu Thị Trinh, nhưng ẩn ý khác kia!
Lúc đầu chưa hiểu ra, chị thật thà biểu:
- Mình là con cháu xa xôi sao dám so
được với Bà. Nói vậy là mắc tội lắm đó!
Có cậu lém lỉnh mập mờ tiết lộ:
- Con cháu hơn ông bà là có phúc chớ! Bà
Triệu có tám thước thôi, còn thua chị đó!
Vì thế chị đã dò ra ý nói xọc
mình. Nghe đứa nào nói đến Bà Triệu chị hăm liền:
- Coi chừng đó! Muốn bỏ đói không?!
Mấy cậu phải im re ngay.
Cánh quân y giả bộ đánh tiếng xin chị.
Ngỡ thật chị thanh minh :
-
Tui cục thịt đít bò làm sao mần được chuyên môn! Mấy anh cười rúc rích giải thích cho nhau:
- Là xin cô Năm qua mần được nhiều việc
lắm. Khi mổ xẻ giao cô đứng chắn cửa hầm bưng đèn măng xông thì một chút xíu
ánh sáng cũng không lọt được ra ngoài!… Dầu có mổ cả ngày cũng khoẻ!… Một công
đôi ba bốn việc! Lỡ thương binh nào kém chịu đau la lối, nhờ cô dỗ cho hửi
chút xíu thôi là ngợp thở liền… Có chết cũng đã đời!
Chị vừa cười hí…hí…hí vừa dứ dứ
con dao:
- Coi chừng đứt họng đó nghe !
Còn đôi mông núng niếng kia thì đã gây
ra nhiều chuyện bi hài. Có lần gùi gạo lên dốc, ai cũng oằn lưng lặc lè nhưng
chị thì cứ ro ro lấn đường vượt lên trước. Gặp tốp bộ đội hành quân đi xuống,
một anh chàng phải né tránh giáp bên đường, đã bực mình lại ngứa con mắt, anh
giơ cao tay vỗ mạnh vào mông chị phát lên tiếng đét thật to, anh thốt
lên trầm trồ : Ngon quá hen! Không hiểu là anh rầy chị lấn đường hay anh khen
ngợi cái kỳ vỹ ấy, rồi anh đi như chạy. Vậy mà chị cũng không thèm dừng chân,
chỉ ngoái đầu nhìn lại mắng : Đồ mắc dịch! Tiếng cười hí…hí…hí… của chị hòa trong các kiểu cười
xuôi dài theo dốc. Vì nó ngon như vậy nên đã làm chết lắm anh hùng!
Nhiều chuyện còn mơ hồ nhưng chuyện này là có thực : Chả là công việc của chị
bao giơ cũng thức dậy sớm trước mọi người. Một hôm tình cờ có ai dậy sớm, không
hiểu người ấy xuống bếp có việc chi. Chị Năm đang lúi húi nhóm bếp bỗng cảm
thấy có sự gì là lạ phía sau, chị quay lại, hốt hoảng hỏi hơi lớn giọng nên có
người nghe được:
- Ai đó? Úi… Có việc chi vậy chú ?!
Giọng ai thì thào run rẩy:
- Năm … mần… chi… vậy?
Rồi người đó bỏ đi luôn.
Vậy mà chuyện ấy cũng loang ra. Mấy
thằng quỷ sứ gặp chị, thay vì lời chào, nó hỏi chỏng: Năm mần chi vậy? làm chị
đỏ mặt lên. Lúc đầu chuyện còn xầm xì, sau rồi đến tai mấy chú, mấy anh trên…
Rồi cơ quan vắng bóng một người, hỏi ra đã xuống chiến trường công tác!
Chiến tranh kéo dài mãi. Chiến trường
ngày một rộng ra. Chị và tôi đi ngược hướng nhau. Là lính chiến chúng tôi đi
hút mãi xuống vùng sâu trong khi khối cơ quan cứ lùi dần tít lên biên giới. Bao
nhiêu biến cố. Bao nhiêu con người.
Thới gian như một dòng sông trôi xa dần
những kỉ niệm. Chuyện xưa , người xưa đã là dĩ vãng. Quá khứ ngày càng chìm sâu
trong tiềm thức. Cuộc sống hiện tại ngổn ngang, bề bộn, hối hả, xô bồ khác chi một
vũng nước trong, mười dòng nước đục, một trăm người tục, một chục người thanh.
Người xưa tình cờ gặp lại bất chợt nhớ về quá khứ. Tôi cảm thấy lòng thật vui
và thanh thản khi về đây thăm chị. Ngôi
nhà ngói xinh xắn. Đồ đạc trong nhà không cầu kỳ sang trọng nhưng cũng đủ những
vật dụng cần thiết cho một cuộc sống giản dị hôm nay. Chị Năm tóc đã thưa và
nhiều sợi bạc. Thân hình chị đẫy đà hơn nhưng không còn vẻ chắc nịch đầy hấp
dẫn hồi nào. Chị vẫn cười hí…hí…hí… nhưng đôi mắt nheo nheo và những nét nhăn
kéo dài mãi hai bên đuôi mắt. Có một vết thẹo lớn lẹm bên cằm phải làm khác đi
nét mặt của chị, tôi không tiện hỏi vì còn giữ ý. Với người phụ nữ dù trẻ hay
già không nên nhắc đến các dấu tật lộ diện của người ta. Nhưng chị lại di tay
trên đó và giải thích cho tôi:
- Hồi sau này ở cứ, nó đánh B52 quá
trời. Đơn vị di chuyển như đèn cù. Dấu tích của nó đây! Vậy cũng còn hên! Chị ngước nhìn đồng hồ , giật mình
đứng dậy chạy ra phía vườn sau nhà, lát sau chị quay vô, một tay giơ cao chiếc
lồng có con chim gáy, một tay kéo vai thằng bé, ngon ngọt dỗ dành:
- Trễ giờ rồi! Đến lớp đi con, để đây má
canh chừng cho!
Thằng bé miễn cưỡng làm theo lời chị, nó đưa
mắt liếc nhìn tôi có vẻ như chào. Chị đi theo nó ra đến cổng…
Ngoài vườn xanh màu lá. Tiếng con chim
cu gáy văng vẳng lửng lơ. Tôi thèm được sống yên ả như vậy quá… Chị Năm bước vô
than thở :
- Nó ham chơi lắm! Mười mấy tuổi dầu mà
như con nít! Nói ngọt nó chịu nghe chứ xử nặng là nó chai lì, mình thua thôi!
Chị ngồi xuống kể tôi nghe về lai lịch
thằng con.
- Chồng con gì đâu anh! Nó là con nuôi
đấy! Hổm xe hàng tôi bal, tới chợ trễ quá hà. Người ta đông thiệt là
đông. Mấy sọt hàng của tôi thẩy xuống, đám lóc nhóc bám như ruồi, có mười con
mắt cũng coi không hết! Mình nhìn chỗ này, chỗ kia nó chớp. Miệng la, tay
giữ muốn chết. Tôi vừa kịp nhận ra thằng
thò tay vô sọt thì chúng ù té chạy, mỗi đứa tay nào cũng nắm trái xoài. Tôi
rượt theo. Chúng chạy nhanh và lách như chuột. Có một thằng nhỏ hai tay ôm
trước ngực nên chạy chậm hơn. Tôi nắm được áo nó giật lại. Cùng lúc ấy một chú
cảnh sát kịp chạy tới giúp tôi. Chú ấy nắm tóc thằng nhỏ lôi đi. Nó gồng hai
chân chống lại. Đầu nó cúi gục xuống mà hai tay khư khư ôm ngực. Tôi nắm tay
giữ lại để nó khỏi bị lôi đi thì tay nó
rời ra, mấy trái xoài từ trong áo rớt xuống. Nó không còn chống chọi gì nữa. Nó
ngước cái đầu bù xù nhìn tôi. Mặt nó nhăn nhúm. Miệng nó méo xẹo. Đôi mắt nó
vừa sợ sệt, vừa đau khổ. Tựa như một luồng điện găm vào mắt tôi, cảm như tim
mình thót lại. Hai tay tôi nắm vai giữ thằng nhỏ và nói với chú cảnh sát : Thôi, xin
chú tha cho nó… Để đó cho tôi! Tôi là khổ chủ đã xin bãi nại. Chú cảnh sát cho
nó cái bợp tai kèm theo lời cảnh cáo: Tụi mày là chuyên nghiệp rồi. Lần sau bắt
được tao cho đi trại! Thằng nhỏ đứng lọt thỏm trong lòng tôi, đầu nó gục xuống.
Tôi ngồi xuống, lượm mấy trái xoài đặt trong vạt áo nó, ấn hai tay nó chùm lên
và biểu: Thôi, đi đi con. Lần sau chớ dại! Thằng bé đứng trân, ngước nhìn tôi
ngơ ngác. Mấy bạn hàng khuyên tôi: Bọn này là hết thương nổi rồi! Tôi quay ra
lu bu với mấy sọt hàng…
Cái chuyện mỗi khi xuống hàng bọn nhóc
bu lại chôm chỉa là thường, chợ nào cũng vậy. Của mình phải lo mà giữ . Ít lâu
sau, tôi đang mải nói chuyện với mấy người bạn hàng, không để mắt trông. Bỗng
có ai nắm áo tôi giật mạnh và nhắc nhở: Dì Hai kìa! Tôi quay qua kịp xua đi mấy
đứa vừa giơ tay định chớp hàng tôi và nhận ra thằng bé hôm rồi. Tôi cảm ơn nó:
Chà! Cưng giỏi quá ta! và nhặt hai trái xoài ấn vào tay nó. Nó lắc đầu, đặt lại
hai trái xoài vô sọt, len lét bỏ đi. Tôi đang lúi húi bán hàng thì nghe tiếng
người la lối: Nó làm chi mà tụi bay đánh nó dữ vậy? Tụi bay bất nhân ác đức quá
ta! Tôi nhìn qua bên đường, thằng bé đang bị mấy đứa thi nhau đấm đá. Biết rõ
nguồn cơn, tôi vọt qua, gỡ thằng bé ra khỏi tay bọn nó. Thằng bé rũ rượi, không
khóc, không la. Tôi muốn điên lên, vớ được khúc cây, rượt đuổi. Tấm thân tôi bồ
tượng thế này, lại trong cơn giận giữ, chắc là khiếp lắm. Bọn nó chạy túa đi
nhưng còn giơ tay hăm dọa: Phản phé là chết đó con! Khôn hồn thì biến khỏi nơi
đây, kẻo mất mạng đó nghe!… Tôi kéo thằng bé đi theo mình suốt buổi chợ. Trưa,
tôi biểu nó cùng ăn nhưng nó không chịu, chắc là nó sợ! Xế chiều, hàng hết, tôi
dọn dẹp để đón xe về. Thằng bé đứng ngẩn ngơ, lo lắng. Tôi hỏi: Giờ con về đâu?
Nó đứng im. Nhà con ở đâu? Nó lắc đầu. Ba má con đâu? Nó cúi đầu xuống thấp!
Tôi ngồi xuống muốn hỏi thêm thì thấy nước mắt nó rơi ra. Tôi không biết làm gì
bây giờ. Để nó ở đây thì sẽ không sống nổi với đám trẻ kia đâu. Trên xe người
ta đang hối. Tôi đành biểu nó: Hay theo về nhà dì ở qua ít bữa, được không? Nó
không đáp lại. Tiếng còi xe thúc gấp. Tôi chạy lên xe và kéo nó theo.
Về đây, tôi nghỉ mấy buổi chợ để canh
chừng nó, mua sắm cho nó mấy bộ đồ, cho nó đi cắt tóc thấy lộ ra cái thẹo bự mà
nó không biết vì sao. Ngày ngày biểu nó tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng thấy
cũng dễ thương. Mấy ngày đầu nó không chịu nói gì nhưng rồi cũng bắt chuyện
tôi. Nó không nhà cửa, không biết quê quán ở đâu, không biết cha mẹ là ai. Nó
biểu má đem nó ra chợ rồi biến đi đâu! Không hiểu nó lạc hay là con mẹ đem bỏ
nó! Nó biểu ba má nó hay đánh chửi nhau vì ba nó hay say xỉn. Nó lớn lên ở xó
chợ đầu đường từ đấy. Nó cũng không nhớ là bao nhiêu năm. Đến tuổi nó cũng
không biết là bao . Nó biểu ba má nó lúc kêu nó là cu tý, lúc là cu
mẹo. Tôi đồ chừng nó là tuổi mẹo. Vậy là lúc về với tôi nó mười một
tuổi, mà đẹt như đứa lên bảy lên tám à! Thấy cảnh nó mà thương quá đi! Đêm đêm
nằm bên tôi, nó kể toàn những chuyện chôm chỉa, bị người ta đuổi đánh, bị mấy
đứa lớn ăn hiếp, cướp giựt, bị đói khát… mà dường như nó coi đó là chuyện bình
thường, không cảm thấy gì là đau khổ, tủi hờn. Mình nghe thấy nó tội nghiệp mà
nẫu ruột. Có lần chuyện mãi, nó ngủ thiếp đi. Đến khuya, gió đồng thổi qua cửa
sổ làm thằng bé tỉnh giấc, nó nằm áp sát vào tôi. Tay
nó rờ lên mặt tôi… đến cái thẹo này – chị chỉ vào cái thẹo nơi cằm phải, nó
biểu: Má cũng có cái thẹo vậy nè! Đến nay tôi cũng không hiểu sao lúc ấy tôi
thương nó quá, mới bật dậy nói: Con vẫn chưa nhận ra má hay sao? Tay nó ấn mạnh vào cái thẹo này làm tôi đau nhói, nước
mắt trào ra, tôi ôm chặt nó vào lòng, tay tôi đụng cái thẹo nơi thái dương của
nó, tôi thấy xót xa và trào lên nỗi uất ức, nghẹn ngào: Tổ cha cái thằng đàn
ông ăn ở bạc đức với vợ con. Hai cái thẹo này là bởi trong cơn say xỉn nó đập
vô đầu má và con! Không thể ở được với hạng người như vậy, má dắt con đi và để
lạc mất con! Nó ôm chằm lấy tôi hỏi lại: Vậy sao bấy lâu má không nói? Nó vừa
dụi đầu vào ngực tôi khóc nức nở, vừa oán trách: Má để con bơ vơ bấy lâu mà
không tìm? Chợ nào con cũng tới đó kiếm ăn! Tội nghiệp lắm anh à! Tự dưng trời
xui đất khiến thế nào mà tôi buột miệng nói ra những lời như vậy, chớ tôi đâu
có định nói rỡn chơi. Bây giờ thì lỡ trớn rồi. Không thể đẩy thằng bé về cuộc
đời lang thang bờ bụi nữa. Tôi thấy trách nhiệm của mình lớn quá. Tôi cứ ôm
chặt nó vỗ về, năn nỉ: Bao lâu nay má đi tìm con. Vậy là Trời Phật còn thương
má con mình. Con ơi con, từ nay má con mình có nhau, không bao giờ xa nữa! Cả
hai mẹ con cứ ôm nhau khóc tức tưởi hoài. Khóc mỗi lúc một to như để trút đi nỗi
cô quạnh bấy nay. Ở giữa vườn rộng , đồng vắng thế này, dù có khóc lớn cũng
không ai biết…
Từ đấy nó quấn quít với tôi , không chút
nghi ngờ gì hết. Và cũng từ đấy tôi cảm thấy mình được làm mẹ thật rồi. Cảm ơn
Trời Phật mang đến cho tôi một đứa con!
Giọng chị đầy xúc cảm. Những giọt nước
mắt lăn xuống hai gò má chị cũng không cần giấu đi. Tôi cảm động lắm dường như
đang được chứng kiến chuyện thực ấy xảy ra…
Khi bình tâm lại, chị kể tiếp:
- Nó sống hoang lâu rồi nên thời gian
đầu rắn mắc khó dạy lắm . Một lần tôi phát hiện dưới đống lá dừa ở vườn sau là
cả một mớ tùm lum những đồ nó chôm chỉa ở đâu về. Lúc đó tôi mới vỡ lẽ vì sao
bấy lâu nay bọn trẻ quanh đây cứ xa lánh nó. Tôi biểu nó lấy đồ của ai hãy đem
trả cho người ta. Nó nhất định không chịu. Tôi phải kêu mấy người quanh đây tới
xem nhận đồ của mình, tôi trả lại và nói lời xin lỗi. Nó cằn nhằn: Có của không
biết giữ, trả lại là may lắm đó, việc chi phải xin lỗi ai! Tôi giảng giải phân
tích cho nó, nó chưa hiểu ra, còn cãi: Của dư để mất nhằm nhò gì! Nó không sợ
đòn đâu anh ạ. Mình giận đập mấy cái ăn nhằm gì với những đòn nó từng chịu, lại
càng làm cho nó xa mình. Có lần tôi thử giấu đi những đồ nó thích rồi kêu lên
là mất để nó tiếc của và nhân đấy liên hệ cho nó những người bị mất của cũng xót
xa như thế nào. Nhưng nó phản ứng khác. Nó ấm ức hăm: Để cho coi! Chắc là nó sẽ
trả thù bằng cách đi chôm chỉa lại còn dữ hơn! Tôi phải đưa đồ ra và nói cho nó
rõ. Nó có nghe nhưng sửa thì chậm lắm. Bà con xóm ấp dù có thương nhưng vẫn
trách cứ, cho rằng mình cưng chiều và binh con. Rầu lắm anh ạ! Nghĩ hoài, rồi
tôi giả đau, bỏ ăn mấy ngày, làm như bị bệnh nặng lắm, nằm liệt giường chờ
chết. Thằng bé quýnh lên. Tôi bảo đời tôi chưa bao giờ bị tủi hổ với bà con xóm
ấp như thế này, cũng chỉ vì nó thôi. Tôi mà chết đi, cái nhà này bà con làng
xóm xây trường học, con lại bơ vơ thì mẹ chết không nhắm mắt! Nó sợ lắm, khóc
tức tưởi, hai mắt xưng vù, nó biểu tôi đừng chết rồi biểu gì nó cũng nghe, nó
sẽ không bao giờ lấy đồ của ai nữa. Nước
mắt tôi cứ trào ra. Hai mẹ con ôm nhau khóc…
Từ
đấy nó bớt đi nhiều, tai tiếng nhạt dần, nó hòa nhập được vào bọn trẻ ở
đây. Dần dà tôi xin cho nó đến trường. Mười mấy tuổi mới vào lớp Một. Cũng may
là ở vùng quê, trẻ học trễ nhiều, thầy cô còn mong có thêm trò nữa. Tôi phải nói
với bà con thân quen coi nó như con ruột của tôi, chớ nói điều chi làm nó nản
lòng. Người lớn đều thương cảnh ngộ của nó và cũng muốn vun đắp cho tôi. Chỉ có
bọn trẻ con lúc cãi lộn nhau lại biểu tôi nhặt nó từ bãi rác về. Nó dễ tủi thân
lắm, về nhà lại sụt sùi hỏi tôi chuyện đó có thiệt không. Tôi phải thanh minh
cho nó rằng bọn trẻ con làm sao biết được chuyện người lớn mà nói phá. Tôi
biểu: Nếu không phải là con mình thì má rước về làm chi cho cực. Má ở vậy một
mình có sướng thân không?! Nó tin là thật. Nếu có đứa nào trêu chọc nó, tôi đến
nhà méc ba má chúng ngay. Mọi chuyện từ đấy êm xuôi. Nó thật sự coi tôi là mẹ
và tôi coi nó như con thiệt của mình.
Nói một hơi, chị ngồi yên như nghĩ điều
gì, rồi chị thở dài nói như để động viên mình:
- Nhưng còn mệt lắm anh ơi!
Tính khí nó nhiều khi bất tử không chừng lắm. Mình phải lựa lúc cứng, lúc mềm,
lúc nghiêm, lúc dịu để uốn nắn răn dạy nó.
Không khí tĩnh lặng quá. Tôi nghe rõ
tiếng chị thở nặng nhọc. Tôi nhìn những vết nhăn trên trán chị mới thấy dấu ấn sâu
đậm của tuổi già. Tôi biết ngày xưa chị đã có nhiều cơ hội để thành người mẹ
nhưng không hiểu sao chị cứ mê mải, miệt mài. Câu chuyện xoay qua nhũng người
cùng thời với chị: người còn, người mất, người sướng, người khổ và không ít
người vẫn sống cô quả, độc thân. Chị nói chậm rãi, vừa nói vừa suy tư như đang
nhớ lại từng người:
- Hồi còn ở chiến khu, con gái có giá
lắm. Nếu còn chiến tranh chắc đứa nào cũng có chồng. Hòa bình, trở về quê, về
thành, các ông mặc sức, toàn cô trẻ đẹp. Con gái tụi tôi thì mặt mày xanh lét,
bịnh lên bịnh xuống rồi còn lại dồn thêm những nỗi lo chẳng khác gì đàn bà. Anh
biết không, về thành thì cái nghề chị nuôi của tôi là vô dụng. Đầu bếp tây, tàu
thiếu gì. Người ta mới biểu mình đi học. Lớn tuổi rồi, đầu óc đặc quánh, chữ nhét
không vô. Về cơ quan thì ba phe bảy phái, người ta bon chen nhà cửa, tiện nghi,
tiền tài, quan tước, thấy nó lộn xộn và nản làm sao! Thôi, về làm dân quách cho
rồi! Mình còn sức tự lập nuôi thân. Lúc ấy ba má tôi già quá rồi, con cái đứa
chết, đứa còn thì cũng bộn rộn đó đây, để các cụ lọ mọ thân già là mình có tội.
Thôi, việc nước giờ thiếu gì người, để mình rảnh rang về lo vệc nhà cũng được! Tôi nói đùa cho chị vui lên:
- Tự hồi ấy chị ở gần mặt trời
quá mà tình yêu thì kị nhất là cái ánh nắng gay gắt của mặt trời!
Chị cười hí… hí… hí…
- Ừa, thì cũng chỉ vì công việc thành ra
mình ở cái thế dưới thì xa ngán mà trên gần nhưng cũng … hổng dám đâu! Thấy chị đang cởi mở tôi đánh bạo hỏi
lại câu chuyện đã thành bia miệng một thời. Nét mặt chị chuyển sắc buồn, chị
nói chậm rãi nhẩn nha:
- Thiệt tội! Suy cho cùng cũng chỉ là
chuyện đời thường tình vậy thôi, chớ bây giờ còn quá xá cỡ! Vậy mà cũng thành
chuyện râm ran, rầm rĩ đến nỗi một người phải ra đi! Nghe nói về xuôi, qua lộ
đụng biệt kích, thế là tan tác không còn hay tin gì nữa ráo!
Câu chuyện của chị không chỉ vào ai. Mấy
mươi năm rồi chị vẫn còn giấu kín tên một người trong phút giây lỡ làng không
tự chủ được mình. Tôi thấy mắt chị chớp chớp và quay đi đưa tay quẹt ngang hai
gò má. Tôi cùng chia sẻ mối xúc động này với chị. Chúng tôi cùng suy nghĩ về
một quá khứ bi hùng. Rồi chị đứng lên nặng nề đi về phía trang thờ nhỏ, đốt mấy
nén nhang kính cẩn cúi đầu vái lạy, tay chị run run cắm từng nén trên mỗi bát
nhang. Chị giải thích cho tôi:
- Đây là nơi thờ các vong hồn liệt sĩ.
Đứa em gái tôi hi sinh tại đây lúc nó mười bảy tuổi và bao nhiêu bạn bè, đồng
chí!
Tôi đứng lên làm theo chị vì tôi hiểu
rằng người mà chúng tôi vừa nhắc tới cũng có ở đây.
Chị quay sang tôi :
- Hôm qua anh hỏi chồng tôi làm cho
thằng bé ngạc nhiên lắm đó. Nó không bao giờ nhắc tới cha. Hạng người đó dù
sống hay chết cũng không ai ngĩ tới làm chi!
Chị có vẻ giận! Tôi thấy hối hận và may
thay con chim trong lồng gù gù trầm trầm cất lên giọng thổ và con chim ngòai
vườn lanh lảnh đáp lại giọng kim…
Trên đường tiễn
tôi ra về, chị nói như chia sẻ niềm vui với người bạn cũ:
- Tôi vậy là được rồi. Chỉ cầu Trời Phật
cho mưa thuận gió hoà, ruộng vườn tươi tốt, cho mình có sức khỏe là vượt qua
hết. Tôi sẽ ráng nuôi thằng bé nên người!
Tôi nắm chặt tay chị hồi lâu như muốn
chia sẻ với chị cả niềm vui và những nỗi lo…
Chiếc xe lam lạch bạch chuyển bánh. Khói
xe đen đặc, bụi mù. Bóng mẹ con chị đứng nơi đầu xóm lúc tỏ, lúc mờ: đứa bé nhỏ
thó nép bên người mẹ đẫy đà vững trãi. Tôi bỗng nhớ Mẹ Đồng Trinh xưa sinh ra
Chúa Hài Đồng bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần nhưng đã có sứ thần của Thiên
Chúa đến giao cho ông Giuse sứ mạng cưu mang mẹ con bà. Bây giờ chị Năm đưa tay
đón nhận đứa bé từ trong hoang bụi! Một thân chị phải lo toan, tần tảo, nhọc
nhằn. Liệu nó có nên Người?
Chị là Mẹ Đồng Trinh !
Tháng
03 năm 2001
No comments:
Post a Comment