LỜI NHẮN CỦA MỘT
NGƯỜI CHA
{
“
Gởi con trai của ba.
Ba vẫn định đến
ngày đoàn viên, ba sẽ nói cho con biết sự thật đời con. Nhưng chắc là khi từ
biệt cõi đời này, ba cũng không được nhìn con lần cuối! Bởi vì cái khối u ở
trong gan của ba cứ mỗi ngày một to lên, làm ba đau đớn, khó thở và kiệt sức!
Các thầy thuốc nói quanh giấu ba, nhưng ba cảm nhận được tấn bi kịch cuối đời
ba!
Người ta nói nhiều về sự liên quan giữa chất
độc “dioxin” trong thuốc diệt cỏ với căn bệnh ung thư. Trong khi chờ khoa học
xác minh thì số đông người lính thế hệ của ba đã lần lượt ra đi với đủ các căn
bệnh, trong đó không ít người mắc chứng ung thư, mặc dù lớp tuổi như ba ngày
nay chưa phải là già. Khắp dải rừng già Trường Sơn đến rừng nước mặn Duyên Hải,
chỗ nào không thấm thuốc diệt cỏ?! Ba nghe nói nó bền vững lắm! Vậy thì nó còn
tác hại đến cỏ cây, đến vật và người đến bao giờ?!
Ba thật không
muốn ràng buộc ai vào một trách nhiệm vô căn, bởi vì trong chiến tranh, hai bên
đối địch không từ bỏ một phương tiện nào có thể tiêu diệt đối phương để giành
phần thắng cho mình! Coi như ba đã ngã xuống cùng đồng đội trong chiến đấu. Có
điều ba may mắn và thỏa mãn là được sống đến ngày toàn thắng và nâng niu thành
quả ấy trong lòng.
Ba cũng nghe nói
người Mỹ rất giỏi trong công nghệ hoá chất, từ việc tìm tòi cấu trúc hoá học
đến việc cấu thành nên những hoá chất mới, thật là kỳ tích. Và cũng may mắn cho
con được tìm đến những người thầy kỳ tài như thế. Ba ước mong con học được
nhiều điều và biết đâu sẽ có những đóng góp xứng đáng cho khoa học, đem lại lợi
ích cho con người, trong đó có bà con, cô bác, đồng bào ở quê hương xứ sở của
con.
Cuộc sống thật
trớ trêu! Khi ba cầm súng chống lại những người lính xa lạ trang bị vũ khí cùng
mình đến tàn phá quê hương ba, ba không nghĩ rằng sẽ có ngày con ba cắp sách
tới cái xứ sở đầy những kho vũ khí giết người khổng lồ như thế! Đến bây giờ ba
đã hiểu ra: Nhà phát minh khoa học vớii người sử dụng thành quả của nó giống
như những người làm xiếc đứng bên hai bờ vực thẳm. Họ có thể đưa đẩy nhau băng
qua hố vực, lên tận đỉnh non cao! Và cũng có khi họ kéo nhau cùng rớt xuống đáy
vực sâu thảm hại! Có ai ngờ đâu, khi ba cùng đồng đội dìu mẹ con mê man bên vạt
sú ven bờ biển, rồi người thiếu phụ ấy trằn trọc, trăn trở trong hơi thở mong
manh, sanh ra một đứa bé trai tím ngắt, nhẽo nhèo, và cô y tá sau này là mẹ của
con cũng ngất xỉu sau cả giờ hà hơi thổi ngạt cho thằng bé thông khí phổi, tự
mình thở được bằng những tiếng khóc chào đời! Thế mà chưa đầy 20 năm sau, đứa
bé ấy – là con, đã thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, học giỏi, thi đậu
điểm cao, được tuyển chọn cho đi du học ở nơi có thể là cha mẹ sinh thành đích
thực của con đang sống!
Hãy bình tâm
nghe ba kể, con trai! Sau ngày 30/4/1975, đang từ một người chỉ huy một chi đội
xe tăng, ba được điều về phụ trách một Trạm Biên phòng vùng duyên hải. Mẹ con
cũng rời một bệnh viện ở vùng sâu theo ba về làm y tá và “chị nuôi” cho Trạm
Biên phòng. Lứa tuổi của con không thể hình dung hết những rối ren, phức tạp
của đất nước mình những năm đầu sau đó. Người ta ào ạt bỏ đất nước trốn đi. Mỗi
người một động cơ, hoàn cảnh. Nhân tâm bấn loạn! Trước kia, ba đã từng đứng
trên tháp xe tăng, hướng thẳng nòng súng vào đám địch quân hoảng loạn với lòng
căm thù tột độ! Bây giờ, đứng trên chiến hạm, ba nhìn đám người trốn chạy, hốt
hoảng, bơ phờ – vừa giận, vừa thương! Làm sao phân biệt được những tên đầu sỏ
độc ác, cố nuôi dưỡng hận thù với những người bỡ ngỡ, hoang mang trước một
tương lai vô định?! Trong tâm trạng ấy, ba mẹ đã cưu mang mẹ con người thiếu
phụ thảm thương. Những ngày đầu hồi phục, bà ngỡ ngàng, lo sợ muốn trốn đi. Cả
hai mẹ con thẫn thờ và ngờ nghệch như vậy thì làm sao vượt qua cả một rừng sú,
vẹt lầy lội và mênh mông sóng nước?! Ba mẹ cố sức dỗ dành, hứa đảm bảo sinh
mạng cho mẹ con bà. Cả trạm dành phần đường sữa bồi dưỡng hiếm hoi của mình để
nuôi thằng bé tí hon luôn đòi ăn vì mẹ nó sữa không một giọt! Dường như được
cảm hóa trước sự đối xử cởi mở, chân tình và thông cảm của những người lính
biên phòng, thiếu phụ tỏ ra tin tưởng và kể lại và vẻ chân thật cảnh người đàn
bà sa cơ, lỡ vận:
- Chồng tôi là Trung tá Quân đội Cộng hòa. Gia đình sống
ở Sàigòn vào loại khá. Khi các ông Giải phóng đánh vào, chồng tôi bỏ ngũ, tháo
chạy cùng người vợ bé, để lại hai đứa con nhỏ và tôi với cái bào thai trong bụng
sắp tới ngày sinh nở! Tôi bơ vơ, lo sợ hoang mang! Biết làm gì để sống? Và liệu
các ông có để yên?! Thôi thì một liều ba bảy cũng liều! Người ta rủ tôi bán
nhà, chung tiền mua ghe vượt biên, đến đâu cũng được! Người Mỹ chắc họ chẳng bỏ
mình! Biết đâu tôi lại tìm được chồng tôi! Vì con, ông ấy sẽ nghĩ lại, chứ nỡ
lòng nào! Lúc nguy biến, quýnh quáng, trách chi! Tàu ra khơi xa, gặp hải tặc!
Nó bắn người, cướp của, hãm hiếp đàn bà, con gái! Hai đứa con tôi – trai 6 tuổi
và gái 3 tuổi, nó quăng xuống biển! Tôi nhắm mắt lao theo các con! Mẹ con cùng
chết! Mình tôi còn sống làm gì?! Sóng nước mênh mông phiêu dạt mẹ con tôi mỗi
người một hướng! Tôi bám được một tấm ván thuyền vỡ lềnh bềnh trôi trên mặt
biển, phó mặc cho trời trăng, sóng gió! Không biết bao lâu, cổ tôi khát đắng,
cảm giác trong người khô queo. Tôi mê man, thấy mình bồng bềnh trên mây nước,
tưởng như đã được về nước Chúa!... Giờ đây, thân tôi như bọt nước, cánh bèo!
Chỉ thương thằng nhỏ này rồi nó sẽ ra sao?! Con ơi, giá con đừng ra đời, có lẽ
còn hơn?!
Trong nỗi bế
tắc, bà dường như không còn thiết sống... Thiếu phụ ngỏ ý nhờ ba mẹ đưa về
Sàigòn tìm kiếm người thân. Khi đi, bà gởi lại đứa trẻ ba tháng tuổi. Bà nói
trong nước mắt đầy tuyệt vọng:
- Tôi cảm ơn anh
chị cưu mang mẹ con tôi. Tôi giờ sống mà như chết! Chỉ tội nghiệp cho đứa nhỏ
này! Đi theo tôi, chắc nó chết thôi! Xin anh chị cứu giúp cháu dùm tôi. Sau
này, nếu Chúa rủ lòng nhân từ cho tôi qua cơn hoạn nạn, tôi sẽ trở về với cháu
và xin được đền ơn. Nếu như tôi có bề gì, cháu là con anh chị!
Bà quì phục
xuống trước mẹ cha, thổn thức...
Bà ra đi từ đó
bặt tin! Ba chắc là bà lại trôi theo những đợt sóng người di tản! Liệu bà có
qua được mọi trắc trở nơi trùng dương sóng gió để đến miền đất hứa như sự mong
mỏi ở bà?! Ba cầu cho bà được gặp may...
Đặt tên cho con
là Trùng Dương, ba mẹ có ý lưu lại một ấn tượng đặc biệt về biển khơi đối với
đời con...
Những ngày sau
năm 1975, cuộc sống còn nhiều khó khăn gay gắt. Là người lính thực sự thì dù
trong chiến tranh hay thời hậu chiến đều hứng chịu nhiều cơ cực! Là con người
lính, con đã cùng cha mẹ chia sẻ mọi nỗi khó khăn. Cũng may là con khoẻ mạnh,
mau lớn, ngoan ngoãn và ham học. Đó là nguồn động viên, an ủi của mẹ cha.
Dù sao cha mẹ
cũng ao ước có đứa con rứt ruột của mình. Mẹ mang thai ba lần đều sẩy! Lần thứ
tư, tưởng như đã được trời thương, nhưng mẹ con sanh non – sáu tháng! Đứa bé
chẳng thành nhân, èo uột, chỉ thở ngáp một hồi rồi đi ngay vào cõi lặng im! Mẹ
con thất vọng, đớn đau và choáng lịm đi trong cơn băng huyết!... Biết không thể
sống được, mẹ ôm con vào lòng, thều thào dặn ba từng lời đứt đoạn:
-
Nó... là... con... của… chúng... mình! Anh... ráng... nuôi... nó... nên
người...!
Lúc đó con mới
lên năm và vào lớp Một!
Mẹ con nhiều năm
sống ở rừng già. Ba vẫn ám ảnh bởi những cơn mưa bụi màu da cam phun ra từ bụng
chiếc máy bay là sát trên những ngọn cây vào dịp trước những mùa mưa!...
Ba về hưu sớm.
Hai cha con sống ấm êm và quấn quít với nhau trong căn nhà nhỏ ở một xóm vắng
ven đô do đơn vị cấp cho. Con mau lớn, mau khôn. Con đi học nhưng con đã biết
tìm việc vừa với sức mình, kiếm những đồng tiền ít ỏi sắm thêm sách bút phụ
cha. Ý thức tự lực trong mọi hoàn cảnh đã thành nếp sống của những người lính
chiến. Con là niềm vui, niềm tự hào của ba. Đã nhiều lần con khuyên ba nên tìm
một người bạn đời cho vui ấm gia đình. Đôi lần ba cũng nghĩ như con. Nhưng vợ
chồng nó là duyên số con ạ. Lúc mình cố công tìm, không khác chi đáy bể mò kim.
Lúc mình bảng lảng, thờ ơ thì nó ập tới lúc nào, như giông bão! “Phải duyên,
phải số đố mà chạy!”. Duyên số ở cõi đời này, với ba chỉ có mẹ con! Ba càng
thương nhớ mẹ con khôn xiết! Không ai muốn từ biệt cõi đời, nhưng ba lại thấy
nôn nao trong dạ khi nghĩ sẽ gặp mẹ con ở thế giới bên kia, y như buổi ban đầu
gặp mẹ con trong Quân y viện, bên cánh võng giữa rừng...
Con mau lớn quá
và con đang trên đường thành đạt! Tương lai con thật đẹp như mơ ! Ba không muốn
làm chuyện gì trắc trở đến bước tiến của con, nên thư này ba gởi cho một người
bạn, sẽ trao cho con đúng lúc.
Ba cầu mong con
tìm được mẹ đẻ của con, vì thật bất hạnh cho những ai không có cha mẹ ở trên
đời, cho dù họ có thành đạt đến đâu! Con hãy nói dùm là ba mẹ đã làm tròn sự ký
thác của bà. Phải chăng đấy là niềm vui, niềm an ủi cao cả của người lính
chiến.
Con giờ đã lớn
khôn, tài giỏi, đi xa, hiểu rộng. Ba chẳng thể dạy con điều gì. Nếu như con
muốn nghe ba nói lời cuối cùng thì đây là điều suy nghĩ của ba: “Con người ta
cần phải biết thoát ra khỏi sự nghèo hèn, nhưng cũng cần phải biết tránh được
những ràng buộc của sự giàu sang!
Ba
của con
Trần Tấn”
MẤY LỜI PHÂN
GIẢI:
Tôi là thầy thuốc, hồi kháng chiến đã
mấy lần mổ vết thương cho anh Trần Tấn. Sau này tôi có dịp gần gũi chăm sóc cho
anh lúc anh mắc bệnh hiểm nghèo, cho đến lúc anh qua đời. Tuy chưa phải là chỗ
bạn bè thâm giao nhưng có nhiều dịp tâm tình, tôi hiểu khá rõ về anh. Anh chết
khi anh bước vào tuổi lục tuần. Quê anh ở vùng sâu Đồng Tháp. Anh đi theo kháng
chiến từ thời niên thiếu. Anh tập kết ra Bắc lúc còn trai trẻ. Anh học qua
nhiều trường lớp huấn luyện quân sự và trở về chiến đấu ở miền Nam
khá sớm. Anh tham gia nhiều binh chủng và thuyên chuyển qua nhiều đơn vị: bộ
binh, pháo binh, cơ giới, biên phòng... Và đến khi về hưu với quân hàm trung
tá, ở một xóm nhỏ ngoại thành, tuy có tham gia Hội cựu chiến binh nhưng
không mấy người biết rõ về anh! Gia đình anh tan tác, coi như chỉ còn có mình
anh! Đời sống anh tuy không cực khổ nhưng với nhu cầu của cuộc sống hiện nay,
kể ra anh còn thiếu thốn rất nhiều, nhưng anh sống thanh thản, mặc dù tính anh
trầm tư, ít nói. Khi anh biết mình bệnh trọng không qua khỏi được, anh vẫn thản
nhiên. Anh chỉ nhờ tôi trao lại cho con anh bức thư này khi tôi thấy đúng lúc
theo nguyện vọng của anh. Với con trai, anh biên thư nhắn rằng: “Ba mỗi ngày tuổi mỗi cao, mắt kém tinh
tường, làm biếng viết thư. Nếu không nhận được thư ba thì có nghĩa là ba vẫn
bình an và luôn nghĩ tới con. Vậy con cứ yên tâm lo việc học hành”. Của giả
chẳng có bao nhiêu, anh căn dặn Hội
Cựu Chiến Binh phường những điều cần thiết và những điều này đã được
thực hiện đúng theo ý anh sau khi anh đã qua đời: Mấy triệu đồng tiết kiệm được
chuyển cho một Tòa soạn báo để góp phần cứu trợ đồng bào gặp khó. Căn
nhà cùng toàn bộ đồ đạc được giao lại cho một gia đình thương binh trong quận
đời sống còn vất vả. Ngoài chiếc bàn thờ nhỏ trong căn nhà đã sang chủ mới với
tấm hình anh mờ dần theo năm tháng, tôi chưa gặp một ai nhắc nhở về anh…
Anh đi vào sự quên lãng bình lặng như
mây trôi, nước chảy!
Về cậu Trùng Dương, tôi có gặp một lần.
Số là lâu không có tin tức cha, cậu nóng ruột, dành dụm được ít tiền, về thăm
nhà một chuyến. Nhà cũ đã đổi chủ! Người xưa không còn nữa ! Cậu tìm đến tôi.
Tôi kể hết cho cậu nghe về bệnh tình và tâm tư của người cha. Cậu lẳng lặng
ngồi nghe. Dĩ nhiên là chưa phải lúc tôi trao cho cậu bức thư theo lời ủy thác
của bạn tôi. Rõ là một thanh niên mới: to lớn, nhanh nhẹn, tinh ý, không để cảm
xúc chi phối suy tư, ít hoài niệm, thiết thực với hiện tại và hướng mạnh tới
tương lai. Quá khứ còn là điều mơ hồ đối với họ. Mấy hôm sau cậu điện chào tôi:
“Cháu qua bên ấy sớm hơn dự định. Cháu cũng còn nhiều việc cần làm!”. Tôi chúc
cậu thượng lộ bình an mà lòng
những bùi ngùi cho cậu...
Bẵng đi một thời gian, tình cờ tôi biết
tin cậu đã tốt nghiệp loại xuất sắc, lại được một Công ty lớn đỡ đầu, cấp học
bổng theo tiếp chương trình hai năm cao học. Học xong, cậu được tuyển vào làm
việc cho một Công ty Dầu khí xuyên quốc gia. Cuộc đời cậu lại liên quan
đến trùng dương, sóng nước. Không hiểu là duyên nợ hay nghiệp chướng?! Cậu đi
hầu hết năm châu bốn bể, lâu lâu về nước một lần. Cậu làm việc cật lực ! Công
việc hối hả, ít có thời gian để nghiền ngẫm, suy tư. Như mẫu một con người hiện
đại. Cậu có hẹn đến thăm tôi. Tôi chuẩn bị tinh thần trao lại cho cậu bức tâm
thư của người cha quá cố. Nhưng đến phút chót, cậu phone cho tôi xin hồi lời
hứa: “Cháu thành thật xin lỗi bác! Ông Tổng Giám Đốc của cháu đột ngột qua đây.
Cháu phải tháp tùng ông ấy! Cháu đã nhờ người xây cất mộ ba mẹ cháu. Ngày khánh
thành cháu cũng không tới được! Qua đoạn phim video, cháu chưa hài lòng nhưng
thôi, để một dịp nào!”…
Người chết như thế đã yên rồi. Bản di
bút của bạn tôi đã hơi vàng ố. Tôi cẩn thận niêm trong bọc mủ. Nhưng đến tay
người nhận lúc nào là đúng nhất? Thời gian cứ vùn vụt qua đi. Cuộc sống ào ạt
cuốn hút mọi người vào cuộc mưu sinh, vào sự lợi danh. Quá khứ chỉ còn là những
kỷ niệm vui, buồn với từng người, nó chẳng giúp gì cho hiện tại, cùng lắm nó
như một lời nhắc nhở mỗi người hôm nay nên sống thế nào. Con đường hôm nay của
cậu thênh thang rộng mở, trên đó cậu bước đi chững chạc đường hoàng. Tôi lờ mờ
cảm thấy dường như tôi với cậu khó gặp được nhau. Liệu có một dịp nào đó trong
cuộc sống gấp gáp này ?! Một ông bạn ở Hội Cựu chiến binh bảo tôi phải
gởi ngay lá thư đến cậu để cho cậu biết về nguồn cội. Nhưng tôi lại nghĩ: Cội
nguồn là cái người ta phải tìm suốt đời và mỗi ngày mỗi hiểu ra, cứ đâu ở mấy
trang thư. Đây chỉ là lời nhắn nhủ lại của một người cha.
Cho đến hôm nay, bức thư ấy tôi vẫn giữ
gìn, có hương hồn bạn tôi chứng giám...
Tuần
báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam
Số
18 – Ngày 2-5-1998
No comments:
Post a Comment