HỒN BIỂN
{
Trận bão ở xứ
biển này từ năm ngoái đến nay vẫn để lại những hậu quả nặng nề. Những mất mát
về nhà cửa, thuyền bè hồi phục lại chưa được bao nhiêu nhưng dần dà rồi cũng bù
đắp được. Nhưng mất mát về người thì vĩnh viễn, nó để lại những thương đau càng
lâu càng thấm, làm con người mòn mỏi và có gì bù đắp sự trống vắng trong cõi
tâm linh?! Những đau thương cho tâm hồn con trẻ còn lớn biết nhường nào, nó là
mãi mãi và đã kết thành tiếng vọng đến muôn đời sau...
Tôi đi dọc theo bờ biển vào một chiều êm
ả. Những con thuyền phơi mình trên bãi cát im lìm như muốn ngủ sớm sau một ngày
vất vả. Những ngư dân cặm cụi thu gom lưới cá, đồ nghề... cúi đầu lặng lẽ về
xóm chài kia sau rặng phi lao...
Chỉ có mình tôi đi lang thang trong bóng
chiều tà ven biển. Sau dãy núi kia chói lên ánh vàng của mặt trời đang hấp hối.
Trước mắt tôi là một ghềnh đá cheo leo đang mờ tối. Người ta có cảm giác nó như
những bậc thang đi lên cho người từ dưới biển và đi xuống cho người từ rặng núi
kia bước ra biển cả. Gió biển vi vu. Tôi càng đến gần ghềnh đá, gió biển càng
như đọng lại ở góc này, gió chui luồn vào các kẽ đá hun hút, phát lên những âm
thanh rờn rợn. Sóng biển vỗ vào ghềnh đá, lại xô ra, làn gió khác lại dồn tới
nghe vang lên những tiếng “oa... oa… a... a...” như tiếng khóc hay tiếng gọi từ
đâu vọng tới?! Tôi có cảm giác hơi rờn rợn! Bóng chiều ở biển bao giờ cũng dài
nhưng một khi bóng tối đã bảng lảng thì sẽ sập xuống rất nhanh. Bầu trời cao
rộng bao la ngăn ngắt một màu tím sậm. Bãi biển vắng tanh đang dần tối. Tôi
định quay về bên bãi bờ kia, đằng sau rặng phi lao với xóm chài im ắng bỗng
giật mình nhìn thấy bên mô đá thấp lè tè như mọc lên từ bãi cát, thấp thoáng
một bóng người. Bóng đen lom khom, vật vờ lay động theo chiều gió. Tôi tự trấn
an mình và đi tới. Tôi nghe sụt sùi tiếng khóc. Bước lại gần, tôi nhận ra một
người đàn bà ngồi rũ rượi như choàng ôm chồng đá nhỏ, miệng tỉ tê, nỉ non những
lời ai oán! Bà ta không biết có một người lạ đứng bên mình. Tôi thấy mủi lòng,
cảm thương trước thân phận người đàn bà đơn chiếc, khổ đau trước thiên nhiên
bao la đầy bí ẩn. Tôi ngồi xuống bên bà, an ủi:
- Trời tối rồi! Biển vắng, sao còn ở
đây? Bà có chuyện gì?
Người đàn bà ngước nhìn tôi, dường như
không còn cảm xúc. Trời tối lan man hòa vào khuôn mặt u ám, tôi không đoán nổi
tuổi bà. Gương mặt gầy guộc, thân mình xác xơ, tiều tụy, bà nói nhẹ như hơi
thở, tôi phải ghé sát mới nghe được lời bà:
- Đây là đứa con gái đầu lòng của tôi -
con bé Tý! Nó mới lên mười! Từ ngày cha nó đi biển không về, chiều nào nó cũng
ra đây mong ngóng. Dòng dã mấy tháng trời, nó đợi, nó chờ! Rồi nó không thể đợi
chờ được nữa, một mình nó đi ra biển tìm cha...
Bà không nói được nữa và nấc lên nghẹn
ngào. Gió biển chiều hôm đã lạnh dần. Bà chỉ phong phanh bộ quần áo mỏng, tôi
khuyên bà cùng tôi về xóm. Bà đi theo tôi lặng lẽ, xiêu vẹo như cái bóng vật
vờ. Gió biển lay động rặng phi lao nghe xào xạc...
Cái xóm chài nghèo đây rồi, tù mù trong
ánh đèn dầu leo lét, thấp thoáng bóng người trong nhà, âm thầm, lặng lẽ, lâu
lâu phát lên một tiếng động nhỏ rồi lại chìm sâu ngay vào bóng đêm đen… Cả xóm
vẻ mệt mỏi, nhọc nhằn như ngủ lịm đi khi bóng chiều mới tắt.
Tôi ở lại xóm biển này ba ngày, chỉ có
hai đêm tôi được ngồi nói chuyện với những người đàn ông, đàn bà trong xóm. Ban
ngày, mặt trời bao giờ cũng đến sớm nhất với người dân miệt biển. Đàn ông vạn
chài chuẩn bị ra khơi. Đàn bà hoặc đi chợ sớm, hoặc ra đồng cói. Cả một ngày người
đi vất vả, người ở nhà lo lắng đợi chờ trong sự quần quật để sinh nhanh. Chiều
xuống, họ hối hả thu về những mẻ lưới nặng nhẹ tùy vào sự rủi may mà họ tin là
do đấng tối cao công minh ban phát! Họ ăn uống, sinh hoạt vội vàng trong ánh
sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu nho nhỏ. Người no nê, mệt nhọc tắt đèn ngủ sớm.
Người đói lòng hoặc u uất lo toan cũng tắt đèn và nằm trằn trọc chờ vào ngày
mai trời yên, bể lặng, cầu thần linh cho cá đầy khoang...
Tôi hỏi chuyện về ngôi mộ nhỏ bên ghềnh
đá ngoài kia. Chị chủ nhà làm dấu thánh:
- Giê su ma! Lạy chúa tôi! Con nhỏ chết
thiêng lắm đó! Đức mẹ lòng lành vô cùng đã cho nó được đội tên Người, giờ lại
gọi nó về nước Thiên đàng, đêm ngày hầu hạ bên Người!
Bằng giọng u uẩn của người ngoan đạo,
chị kể cho tôi nghe về cuộc đời của đứa bé đã để lại phần xác bên bờ cát xám
ven ghềnh, hay đó là một kiếp người lênh đênh chìm nổi ngoài khơi, đêm đêm giạt
vào tránh gió sương trong một mái nhà lụp xụp chông chênh mà gió vẫn không thôi
tìm họ...
Người đàn bà tôi gặp chiều hôm bên ghềnh
đá ven bờ biển ấy mới ngoài ba mươi tuổi. Chị sinh vào năm con trâu nên được
cha mẹ đặt tên là Sửu. Thời con gái, cô từng là một nữ dân quân khoẻ mạnh, mặn
mòi. Rồi duyên số đã kết cô với anh thương binh tên Mạnh. Anh chỉ còn một tay
trái. Cánh tay phải anh đã gửi lại ở một miền rừng núi nơi xứ lạ quê người.
Cuộc sống bắt tay trái của anh phải làm thêm phần việc của bên tay phải. Một
cánh tay anh chèo chống một gia đình. Người vợ khoẻ mạnh, hiền lành chỉ biết
nghe lời chồng như nghe lời Chúa phán bảo và chị đã đem đến cho anh hai niềm
vui bất tận: một đứa con gái và một đứa con trai, chênh nhau năm tuổi: con Tý,
thằng Thìn. Anh vẫn gọi đùa chúng là: con Chuột nhắt và con Rồng biển!
Thời thơ trẻ, nhà nghèo, anh chỉ biết
làm mà chẳng được chơi. Tuổi thanh niên, lớn lên trong mịt mù khói lửa chiến
tranh, anh từ biệt quê nghèo lăn vào nơi mưa bom bão đạn. Với anh, thoát một
trận ác chiến cũng như thoát được một cơn bão biển khi con thuyền nhỏ mỏng manh
của anh chơi vơi chao đảo ngoài khơi! Giã từ đời lính với tấm thân thương tật,
trở lại làng quê vẫn xơ xác, tiêu điều! Con người anh gầy yếu, hom hem, chỉ
mang một cánh tay thôi cũng không đi thẳng được, cứ phải vẹo về bên trái! Đời
người dân chài nghèo chẳng thọ! Bố mẹ anh đều chết trẻ! Anh phải thay cha mẹ
nuôi đứa em trai còn niên thiếu. Đã là người thì dù nghèo, trai gái vẫn cứ lớn
lên, dù đói khổ nhưng họ vẫn là sức trẻ. Họ thấy cuộc đời trống vắng và người
con trai, con gái tự tìm đến với nhau cứ như rễ cây tự tìm về hướng đất có mạch
nước ngầm âm ỉ chảy. Anh
Mạnh, chị Sửu quen nhau trên bãi biển quê hương này. Thuở ấu thơ, họ gọi nhau
là “mày”, “tao”… Có khi họ cãi vã, đánh lộn nhau vì một cái vỏ sò! Nhưng lớn
lên, gặp nhau họ không dám nói! Ngừơi con gái quay đi. Người con trai đã bước
qua rồi còn ngoái cổ ngơ ngẩn nhìn theo. Gọi là họ yêu nhau, chưa hẳn, vì đã
bao giờ họ thổ lộ tâm tình?! Nhưng nói họ “phải lòng” nhau thì rất đúng. Cả hai
tấm lòng trai gái trong vắt như nắng biển sớm mai ấy đụng nhau, rung rinh lay
động, xốn xang đợi chờ… Việc ông chú anh thay mặt họ tộc đánh tiếng với bên nhà
gái chỉ như là sự đánh động cho cánh cửa lòng người con gái đang hé mở chờ
ai... Và anh đã bước thẳng vào cõi lòng của chị. Họ quấn quít với nhau. Họ âm
thầm cùng nhau chịu đựng với vẻ nhẫn nhục trước mọi biến cố của cuộc đời. Họ
sanh con đẻ cái cho nhau và họ quỳ phục cảm ơn Đức Thánh Thần đã ban cho họ cái
ân huệ thiêng liêng ấy. Họ quý con như quý Đức Chúa Lời vì chúng được tạo nên
từ mẩu xương thịt của Người. Họ sống vì con và chết cũng vì con...
Cái Tý đẹt người, giống như con chuột
nhắt mà nó rất tinh khôn. Nó thương cha, thương mẹ, thương em. Thằng cu Thìn
được cả nhà cưng chiều, nhiều khi nó ỷ thế lấn lướt cả con chị gái: nó thẳng
tay đấm chị! Con bé Tý gầy còn nhom sẵn sàng đưa lưng cho thằng em đấm đến mỏi
tay! Thằng bé lại lăn ra ăn vạ! Con chị loắt choắt sẵn sàng còng lưng cõng
thằng em nhong nhong ra rặng phi lao bên bờ biển chờ cha... Nó thương mẹ tới
mức mẹ làm việc gì nó cũng phải nhúng tay vào phụ giúp. Mười tuổi đầu nó đã
biết nấu cơm, kho cá, nấu canh; nó biết chuốt cói và đem ra phơi ngoài nắng; nó
biết làm như người lớn: phân loại các cọng cói tốt, xấu để đan thành những túi
xách hoặc đem bán cho người dệt chiếu; nó biết giặt và vá lại tấm lưới chài cho
bố đi biển ngày mai... Không có nó, mẹ nó sẽ vất vả hơn nhiều. Nó tự giác tìm
việc mà làm. Khi không biết phải làm việc gì, nó lại hỏi mẹ giao việc cho nó
làm thêm. Mẹ thương nó, nhiều khi nhắc nhở nó học hành nhưng nó ý thức được
rằng đời người chài nghèo thì học chẳng bao nhiêu. Nó chỉ học khi nó cảm thấy
thật sự không có việc gì làm. Lên mười tuổi, nó mới học lớp hai nhưng cũng
chẳng ai chê trách và nó cũng chẳng bận tâm vì nó cũng chẳng hơn gì mấy đứa nhỏ
bảy tám tuổi đầu. Nếu nó không lo giúp bố mẹ thì làm sao cáng nổi cả một gia
đình năm miệng ăn này?! Bố rất thương nó, biết là nó chịu nhọc nhằn, nhẫn nhục.
Những lúc thằng cu Thìn hỗn quá mức với chị, bố nó cũng thẳng tay cho thằng cu
mấy roi quắn đít dù nó là thằng cháu đích tôn độc nhất trong dòng họ! Lúc đó
con bé Tý lại ôm chặt lấy thằng em mà nựng, mà xin. Nó rất thương bố mà cũng sợ
bố vô cùng, mỗi khi nó nhìn cái cánh tay phải của bố cụt lủn, lắc lay trong khi
cái cánh tay trái gồng lên làm việc, ruột gan nó như có ai vò! Khi âu yếm bố,
nó mân mê mỏm cụt cánh tay và hỏi với giọng xót xa:
- Bố ơi, bố có đau không?!
Bao giờ nó cũng tìm cách đỡ đần cho bố
nhưng chẳng được nhiều vì công việc của bố thì đến mẹ cũng khó làm thay được.
Những ngày lưới nặng, khoang đầy, bố muốn có chén rượu giải khuây, dù tối trời
nó không ngần ngại xách chai chạy ra đầu xóm, vừa chạy nó vừa ngoái lại phía
sau, run run trong lòng! Ở cái xóm nghèo chống chếnh này, chẳng có trộm cướp
nào ngó tới, nhưng nó sợ ma, sợ quỷ là những bóng vô hình mà người ta hay đưa
ra hù dọa. Nó chưa biết cuộc đời của bố đã chịu những khổ cực gian truân như
thế nào nhưng nó thấy bố quần quật, lăn lóc hết ngày lại ngày với tấm lưới, con
thuyền và cái nhà này, trong đầu óc trẻ thơ, nó chưa hề nghĩ tới chuyện nếu có
một ngày ngôi nhà này vắng bố...
Sáng hôm ấy, bầu trời cao trong như mọi ngày,
vài ngôi sao mờ mờ lấp láy. Trên bãi cát, các con thuyền như đã lại sức sau một
đêm được ngủ ngon lành, người ta đẩy nó đầm mình xuống nước, giăng buồm nhộn
nhịp ra khơi. Trên bờ, người lớn, trẻ con đứng nhìn theo “con nốc” quen thuộc
nhà mình. Mấy chiếc thúng cột bên mạn thuyền nhìn xa xa giống như những con rùa
nhỏ le te...
Con bé Tý vác chiếc dầm chạy lon ton bên
bố. Chú Khoẻ nó đang chuẩn bị trên thuyền. Con bé vừa chạy vừa nắm tay bố, buột
miệng dặn một câu:
- Thế nào bố cũng phải về với con, bố nhé!
Bạn chài ai cũng dị đoan! Nghe con dặn
gở bất thường, anh Mạnh giật lấy chiếc dầm cắp vào nách bên phải, tay trái gạt
nhẹ con bé, cau có nạt:
- Sao cái con này lạ vậy?!
Con bé ngã ngồi bệt trên bãi cát. Không
hề giận bố, nó vùng đứng dậy, chạy quấn quýt theo cha:
- Bố ơi, bố nhớ về với mẹ con con, bố
nhé!
Anh hầm hầm lội xăm xăm xuống biển và
nhảy lên chiếc thúng, bơi ra chiếc nốc có chú em đang đứng đợi. Anh làu bàu:
- Đi! Mẹ khỉ! Con với cái!
Chú em chẳng hiểu chuyện gì, căng buồm
rời bến. Con thuyền từ từ rồi lướt thẳng ra khơi. Anh nhìn lại bờ, cái “con
chuột nhắt” bé tí teo vẫn đứng đó nhìn theo anh vẫy vẫy. Bàn tay nhỏ xíu như
chiếc lá bay bay trên một cọng cây khẳng khiu, mềm yếu. Lòng anh dịu xuống, xót
xa, hối hận nhìn con cho tới khi cái bóng nhỏ ấy mờ dần trên đường viền bãi
cát, anh quay mặt ra hướng biển khơi bát ngát, thở dài:
- Ôi! Con trẻ, nó đã biết gì!
Trời ngả về chiều, lúc ánh nắng hắt rặng
phi lao trên bờ ngả dài ra phía biển, đám trẻ con lác đác rủ nhau ra bãi biển
chơi rồi chờ đón người thân từ ngoài khơi trở về...
Trời bắt đầu trở gió. Gió từ ngoài khơi
ào ào thổi về kéo theo những cơn sóng nước dềnh cao tràn sâu trên bãi cát. Gió
vù vù như ném cát rào rào lên ngọn phi lao. Ngoài khơi kia mây nước giăng giăng
tựa bức thành xám ngoét. Mọi người hốt hoảng nháo nhào. Người lớn la hét, nhớn
nhác đi tìm lũ trẻ kéo nó về nhà, miệng mếu máo mà nước mắt đầm đìa nhìn ra
hướng biển khơi cầu khẩn:
- Lạy Đức Chúa Cha ở trên trời! Lạy Đức
Mẹ Đồng Trinh! Lạy Đức Chúa con lòng lành vô cùng! Hãy cứu vớt chồng con và
thuyền bè tai qua nạn khỏi!
Ở ngoài khơi, lúc chiều gần nhạt nắng,
anh Mạnh bảo người em gom lưới trở về. Nhìn vào khoang cá bạc, mặt anh tươi
rói. Anh muốn mau quay về với con bé Tý, ôm nó vào lòng, xoa dịu nỗi buồn của
nó vì cơn giận hoảng sáng nay.
- Tội nghiệp con bé! - Anh muốn tự trách
mình!
Bỗng anh thấy gió biển như mạnh dần lên,
da anh gai gai lạnh. Anh hướng nhìn ra phía xa khơi, mây đen phủ kín chân trời,
rồi mây gom lại rất nhanh như hình thành một bọc nước khổng lồ. Gió càng mạnh,
càng to, bọc nước càng sà xuống thấp. Trên mặt biển ran lên tiếng la thét hoảng
loạn của các bạn chài. Anh chột dạ nghĩ tới “cái điềm” buổi sáng hôm nay! Anh
hốt hoảng giục người em nổ máy và anh giăng buồm căng gió hướng chạy vào bờ...
Nhưng sức nào đọ được với sức trời?!
Bọc nước vỡ tung, đổ ập xuống!
Sóng biển cuồn cuộn dâng cao tưởng như
rồng cuốn! rồng phun! Nước mây mù mịt! Không ai còn thấy một cánh buồm nào trên
biển! Người em lạc giọng thét lên với người anh như bất lực:
- Chết mất anh Mạnh ơi!
Một tay rút dây buồm, anh dặn với người
em:
- Mày phải bám chặt nốc nghe chưa?! Hai
anh em phải còn một đứa! Một
cơn sóng cao ngất nâng thuyền lên chạm tầng mây. Trong khoảnh khắc một ý nghĩ
vụt tới trong đầu anh:
- Ngày ấy đã tới rồi!
Anh nhìn về phía sau khoang, người em
đang nằm ẹp xuống ôm lấy mạn thuyền. Một tay anh ghì chặt cột buồm… Cơn sóng
lớn nhồi con thuyền xuống đáy! Lại một con sóng nữa… sóng nữa nối tiếp nhau dồn
dập… Không còn nhìn thấy gì khác ngoài sóng nước dập dềnh dưới những con thác
nước và gió biển rú gào...
Đêm ấy cả xóm chài nháo nhác! Đèn đuốc
như bóng ma chơi bập bùng dọc theo bờ biển. Không một chiếc thuyền nào trở về!
Chưa một người bạn chài nào từ ngoài khơi vào được tới bờ! Tiếng kêu, khóc, cầu
xin Chúa rủ lòng thương râm ran cả xóm. Ai cũng hốt hoảng, khổ đau, lo sợ,
không ai an ủi được ai...
Chị Sửu trong đám người đuốc đèn đang
tìm kiếm người thân bên bờ biển. Con bé Tý cõng thằng cu Thìn quanh ra, quanh
vào khắp từ trong nhà ra đến ngoài sân. Thằng cu ngủ ngặt ngẽo trên lưng con
chị đang lo lắng, bồn chồn! Tâm trí con bé như để trên trời, nó chỉ còn biết
khẩn cầu Đức Mẹ! Chân nó như bước theo
ai ra phía rặng phi lao ngoài bờ biển. Nó đi thẫn thờ… Con “chuột nhắt” cõng
con “rồng biển” trên lưng, bước cao, bước thấp! Trong bóng đêm chập chờn ánh
lửa, không ai để ý tới nó, nó cũng chẳng để ý tới ai. Mắt nó hướng lên bầu trời
đen kịt, mong Đức Mẹ nhìn thấy chị em nó bơ vơ mà rủ lòng thương, miệng nó lầm
rầm lời hát nguyện cầu Đức Mẹ: “Mẹ ơi! Trên trần gian con chưa thấy ai đến
nhờ cậy mà Mẹ không thương giúp. Mẹ ơi, con biết rằng tình Mẹ rất bao la, luôn
dõi nhìn từng nhịp bước con thơ. Mẹ là nguồn cậy trông cho người khát vọng. Mẹ
là niềm tin cho người lữ thứ. Mẹ là nguồn vui cho người buồn đau. Mẹ là nghỉ
ngơi cho người đơn côi...”.
Mấy ngày sau, lác đác dăm người bạn chài
trong xóm trở về. Ai nấy mặt mày lơ láo, vô hồn! Có người trở về trên chiếc
thuyền trống rỗng, tả tơi! Có người trở về bằng con đường đất từ miệt trong ra,
từ miệt ngoài vào, đầu trần, chân đất, mặt mày hốc hác, áo quần nhếch nhác như
mượn của ai, được sống qua ngày nhờ vào lòng nhân hậu của người tứ xứ! Có người
được sóng đưa dạt vào bờ đã trở thành hình nhân bất động, thi thể trương
phềnh... Dọc bờ biển, tiếng khóc như ri, hương trầm nghi ngút và vẫn lạnh tanh
mùi tử khí... Hàng tháng trời, người sống, người chết trở về bằng những nẻo
đường như vậy. Còn những ai chưa về, họ sống? chết ở đâu?! Cha và chú con bé Tý
cũng trong số ấy...
Mái nhà tranh của con bé Tý ủ ê, vắng
lặng như một nấm mồ, chỉ thấy bóng người thấp thoáng, thờ thẫn, lặng im, ngay
cả thằng cu Thìn cũng không dám mè nheo, õng ẹo. Con bé Tý không tin là cha nó
đã chết. Ngày còn đi đánh giặc, bom đạn đã chẳng làm gì được bố! Cuộc sống hàng
ngày trăm thứ chuyện, chỉ một cánh tay cha nó cũng xong! Bố bơi giỏi lắm, đã có
lần bố với cả bầy cá heo lượn lờ mãi ngoài xa, cả xóm này lớn, bé, gái, trai
đứng trong bờ vỗ tay, la hét ầm ầm, thán phục! Cha nó hiền lành, ít nói, với ai
cũng cười, chưa to tiếng với ai, chẳng rượu trà say xỉn đánh vợ, chửi con. Chỉ
có hôm đó cha giận, lỗi là tại nó!… Đức Chúa lời lòng lành vô cùng. Người
thương cha con lắm!… Có lẽ cha nó trôi dạt tới một miệt nào xa lắm! Có khi
cha nó đang ở một hòn đảo nào mãi tít
ngoài khơi! Đúng rồi! Nó tin như vậy. Một người như bố, Đức Chúa Lời không thể
nào bắt tội.
Đêm hôm qua, sau giờ cầu kinh, mẹ nó
lạnh toát cả người nằm vật ra như chết. Thằng cu Thìn i ỉ cả ngày đòi ăn, giờ
đói mệt nằm lịm bên cạnh mẹ. Con bé Tý hốt hoảng bung cửa chạy qua nhà hàng
xóm. Trời tối đen, mấy con đom đóm chập chờn cao, thấp… Nó run… Nó sợ… Nhưng
kìa, bố đứng đó, ngay giữa sân nhà, cánh tay phải lủng lẳng, cánh tay trái vẫy
nó lại gần. Nó chạy đến, bố nó tuy chân không bước mà cứ như người đang đứng
trên thuyền trôi đi, trôi đi, đến cửa nhà bà Gái hàng xóm lấp ló ánh đèn, bố nó
biến mất, nó chạy tọt vào nhà:
- Bà ơi! Bố cháu đâu? Mẹ cháu làm sao
ấy?
Nó nhìn quanh quất trong nhà.
Bà hàng xóm rối rít, dắt tay nó chạy
băng vào bóng đêm. Nó vừa chạy vừa ngoái đầu lại tìm xem bố nó có còn quanh
quẩn đâu đây…
Cả bố và chú nó đi mấy tháng nay vẫn
chưa trở về. Con bé Tý bỏ học, ở nhà trông thằng cu Thìn và làm giúp mẹ mọi
việc trong nhà. Chiều chiều, khi mẹ nó ở nhà, nó lại cắp cái rổ đi ra biển. Nó
mót nhặt những con cá, con sò người ta để rơi rớt lại, mang về nhà, có khi cũng
được bữa ăn. Nó đi vơ vẩn trên bãi biển. Nó đi tít mãi đến ghềnh đá này. Nó
ngồi trên mỏm đá, nhìn ra khơi xa. Tự nhiên nỗi nhớ bố trào dâng không thể nén
được, nó khóc rống lên:
- Hu hu! Bố ơi! Con nhớ bố lắm! Bố về
với con!
Nước mắt nó đầm đìa và nhòa nhòa trước
mắt, xa xa nơi đầu gềnh, nó thấy chiếc nốc quen lắm, cánh buồm to nâu nâu, cánh
buồm nhỏ xanh xanh. Đúng chiếc nốc nhà mình! Và bên kia cột buồm, một người
đứng đó, cánh tay phải lủng lẳng ngo ngoe, cánh tay trái giơ lên vẫy vẫy! Đúng
bố rồi, nó lên tiếng gọi:
- Bố ơi con ở đây! Vào đây với con!
Không kìm mình được nữa, nó nhảy ào
xuống biển. Nước biển lạnh làm nó tỉnh ra, trước mặt nó biển mênh mông mờ tối.
Nó quay vào bờ và chạy về nhà, vừa chạy nó vừa khóc:
- Mẹ ơi! Sao bố không về với con?!
Bãi biển tối đen, rộng dài, vắng lặng.
Nó lại như thấy bóng người. Nó đi thẳng tới! Giê su ma! Lạy Chúa tôi! Bố đây
rồi! Giống y như buổi sáng ngày hôm ấy: nách phải cặp cây dầm, tay trái giơ lên
vẫy vẫy… Nó chạy theo gọi:
- Bố ơi! Chờ con với!
Nhưng bố nó cứ như trôi, khi nhanh khi
chậm về hướng xóm. Nó chạy theo cha hết cả bãi cát dài, tới rặng phi lao đầu
xóm thấy xao xác tiếng người, loáng thoáng bóng người từ xóm chạy ra và tiếng
mẹ nó hớt hải gọi con:
- Tý ơi! Tý!
Nó bàng hoàng đứng đó, không nhìn thấy
cha đâu nữa… vừa lúc mẹ nó chạy tới ôm chầm lấy con, tức tưởi:
- Giê su ma! Con đứng đây làm gì? Trời
tối thế này! Lỡ con có chuyện gì thì làm sao mẹ sống được?! - Mẹ nắm tay dắt nó
về nhà.
Đêm đó nó nằm lọt trong lòng mẹ. Nó nghĩ
tới bố nên không sao ngủ được. Nó biết mẹ vẫn còn thao thức. Nó thù thì hỏi:
- Mẹ ơi! Mẹ có làm gì để bố giận không?
Mẹ nó giật mình hỏi lại:
- Sao con hỏi thế?
- Con biết là bố vẫn còn sống, con đã
nhìn thấy bố rõ ràng!
- Không đâu con, bố thương mẹ con mình
lắm! Chúa bắt vậy thì bố phải chịu thôi!
- Hay là bố đã giận con? Hôm ấy tự
dưng con dặn bố phải về với mẹ con mình,
bố nổi cáu và đẩy con ngã ngồi trên bãi cát! Đúng là con đã làm cho bố giận
rồi! Hu! Hu! Con xin lỗi bố! Mẹ ơi! Con sẽ đi tìm bố về đây cho mẹ, cho em!
Mẹ nó an ủi:
- Không đâu, con gái tội nghiệp của mẹ!
Bố nghĩ là con nói điều gở nên bố giận
con! Đến khi bão tố nổi lên, bố sẽ hối hận vì đó là điềm con báo trước! Bố ân
hận lắm nên về tìm con! Bố sẽ luôn ở bên con, phù trợ cho con!
- Nhà mình không thể nào vắng bố. Không
có bố mẹ con mình sống làm sao? Không có bố cái nhà này không còn là nhà nữa!
Mẹ nó chẳng biết nói gì hơn vì điều nó
nghĩ đúng như điều mẹ nghĩ trong đầu! Mẹ ôm chặt nó vào lòng, thổn thức! Nó
thiêm thiếp trong lòng mẹ… Nó thấy nó đang quỳ trước Đức Mẹ Đồng Trinh – người
đã cho nó đội danh và cưu mang nó đến hôm nay: -
Lạy Đức Mẹ lòng lành vô cùng, người có sẵn sàng tha thứ cho bố con không?! –
Đức Mẹ hiền từ, nhìn đứa bé con tội nghiệp, Người hé nụ cười an ủi! Nó lại quỳ
dưới chân Chúa Cứu Thế:
- Lạy Chúa lòng lành vô cùng, xin người
cứu vớt cha con! – Đức Chúa khổ nạn, chân tay vẫn đính chặt vào mấy chiếc đinh
trên cây thánh giá. Người nghẹo đầu nhìn đứa bé đau thương… Nó lầm bầm mấy câu,
mẹ nó nghe rõ từng lời:
- Người như bố thì đấng Thánh Thần trên
trời, mục đồng, con chiên của Chúa trên đời, ai chẳng xót thương! Con sẽ đi tìm
bố về đây...
Mẹ nó xót xa ghì chặt nó vào lòng:
- Ngủ đi con gái khổ hạnh của mẹ ơi! Lúc
này bố đang vui vẻ trên nước Chúa rồi! Chỉ có mẹ con mình đang chịu khổ nạn mà thôi! Ngủ đi
ngày mai còn giúp mẹ! Có Chúa Cứu Thế cùng chia khổ nạn với mẹ con mình! Ráng
đi rồi khổ nạn sẽ qua! Đức Chúa Lời lòng lành vô cùng! A men!...
Đúng một trăm ngày kể từ buổi tai họa
đau thương ấy chụp lên cái xóm chài nhỏ nghèo nàn khốn khổ này. Bạn chài hôm
nay nghỉ ra khơi. Hầu như nhà nào cũng râm ran lời kinh cầu nguyện. Chiều nay
gần như cả xóm đổ ra bãi biển sau lễ cầu nguyện ở nhà thờ. Người người dõi nhìn
ra khơi xa, hướng vọng linh hồn người
thân đã gởi mình giữa trập trùng sóng nước. Nỗi đau thương như lặn vào trong,
thấm vào xương tủy. Người ta không khóc tỉ tê hay nỉ non kể lể. Nét mặt mọi
người u ẩn như mang trong mình một khối thương đau lớn, cùng lắm có vài tiếng
sụt sùi, đôi mắt đỏ hoe như bị cơn đau giằng xé. Chị Sửu như người mất hồn, ngơ
ngẩn vào ra. Con bé Tý hiểu được nỗi đau thương của mẹ lớn biết chừng nào. Nó
siêng năng, cần mẫn, cặm cụi trông em, giúp mẹ cả ngày nhưng trong lòng nó bùng
lên ý chí quyết ra đi tìm bố về đây. Nó nhất định tin rằng người như bố không
thể nào chết được! Bố ở ngoài đảo đây thôi, cũng không xa lắm, vẫn nhớ thương
mẹ con nó và vẫn về đây vào những lúc mẹ con nó buồn khổ nhất. Chắc là chú Khoẻ
làm sao rồi! Mấy lần nó chỉ nhìn thấy bố một mình buồn thiu trên chiếc nốc đó
thôi! Đúng là bố mải tìm chú Khoẻ vì bố vẫn thương chú sớm mồ côi. Nó sẽ năn
nỉ, khóc lóc, cầu xin bố hãy về nhà. Nhà mà không có bố thì cũng không còn là
nhà nữa! Rồi nó cùng với bố, hai cha con đi tìm chú Khoẻ...
Chiều hôm nay bể lặng, gió yên. Ba mẹ
con san sẻ mâm cơm đạm bạc hòa với nước mắt nghẹn ngào. Rồi mẹ nó bế em đi nghỉ
sớm. Nó biết mẹ nó khóc thầm vì lòng mẹ
nó không bao giờ nguôi nhớ bố! Mẹ nằm đó: mòn mỏi, võ vàng! Đứa em gầy còm xanh
xao nằm bên cạnh mẹ! Hai hàng nước mắt nó chảy dòng dòng, nó cắn chặt môi để
không bất lên thành tiếng khóc! Nó lặng lẽ dọn dẹp trong ngoài. Khi trời sập
tối, nó khép cửa nhẹ nhàng và lẳng lặng đi ra rặng phi lao. Bố đã đứng chờ nó
tự lúc nào. Bên nách phải cặp chặt cây dầm. Cánh tay trái giơ lên vẫy vẫy. Bố
như trôi lửng lơ trên cát, bổng trầm, gần xa. Nó chạy theo cha… Một người trong
xóm từ bãi biển về muộn, thấy nó hớt hải chạy ra phỉa biển, lên tiếng hỏi:
- Trời tối rồi, con bé Tý chạy ra bãi
biển làm gì?
Nó như chẳng nghe thấy, mải mê chạy theo
bố nó. Người nọ đi về trong xóm… Bố nó cứ lơ lửng, dập dềnh trôi ra ghềnh đá,
nó càng mải miết chạy theo… Mau lên! Bố đã leo lên chiếc nốc quen thuộc của nhà
neo ở đầu ghềnh! Chân nó đã ngập dần trong nước biển! Nó gào lên muốn khóc:
- Cho con đi với, bố ơi!
Bố nó lặng lẽ giương buồm, con thuyền
chuyển động. Nó đang đứng nơi nước nước biển ngập sâu tới bụng. Bố đang đứng
bên cột buồm trên chiếc nốc kia. Trời tối mà sao trên nốc sáng thế, một thứ
sáng xanh kỳ lạ. Con thuyền của bố dập dềnh ở đó như chờ đợi nó. Nó luýnh quýnh
chạy lên bờ, nhìn quanh quất như cầu cứu... A! Có chiếc thúng của ai để đây,
sẵn cả mái dầm! Chẳng cần suy nghĩ, nó chạy ào tới, ném cây dầm vào trong lòng
thúng và cố sức lôi xuống nước. Nhất định nó phải cặp được chiếc nốc của nhà,
để lên với bố. Bố sẽ phải về thôi. Nó nhảy ào lên chiếc thúng, chiếc thúng
chành nghiêng, nó ngồi khựng lại, tay cầm cây dầm nó đẩy, nó bơi. Nó ráng bơi
nhanh cho kịp với thuyền của bố. Từ trong bóng tối nơi ghềnh đá có tiếng người
vọng hỏi:
- Ai mà giờ này còn lõm bõm trên thúng chưa
về?
Nó cứ lẳng lặng chèo đi. Chắc ai đó là
người cuối cùng của xóm chài này ở bãi biển về muộn chiều nay. Nó bơi, bơi mãi!
Đằng trước kia, chiếc thuyền của bố cứ dập dềnh khi chậm, khi nhanh!
- Chờ con với, bố ơi!
Hai tay nó nhấn mạnh cây dầm. Thuyền của
bố vẫn không chậm lại. Hai cha con vẫn cách nhau một khoảng xa xa như thế!
- Nếu bố không chịu chờ con, con sẽ theo
bố tới tận đảo nơi bố ở! – Nó sải cây dầm ra xa và kéo về thật mạnh. Cái thúng
quay quay… Nó ngồi lại và chỉnh cây dầm… Nó đã thấy mỏi đôi tay, nhưng nó vẫn
ráng... Rồi hai tay nó đã mỏi nhừ…
Mặt biển đen đặc. Gió biển ào ào. Nó rã
rời đôi tay! Chiếc dầm rơi xuống nước. Nó muốn khóc mà không sao khóc được nữa,
nó thấy rát nơi cổ… Mà thuyền của bố sao sáng thế, ánh sáng xanh xanh cứ lấp la
lấp lánh! Bố ngồi đó, lặng thinh! -
Bố ơi! Bố mà biết mẹ khổ đau, em còm cõi thế nào, bố chẳng thể ngồi yên như thế
được đâu!
Nó dùng đôi tay như hai chiếc lá bơi
bơi. Sóng biển dập dềnh. Chiếc thúng quay vòng. Phía xa xa kia có mấy ánh lửa
bập bùng. Hay là mẹ đốt đuốc đi tìm nó?
- Mẹ ơi! Bố ở đây!
Xa quá rồi, dù nó gào, mẹ gọi cũng chẳng ai
nghe được… Quần áo nó ướt sũng! Người nó lạnh run! Cổ nó khô cháy! Mắt nó nổ
hoa! Con thuyền của bố cứ lững lờ trước mắt! Nó cúi rạp người xuống, cố sải dài
hai tay bơi cho mạnh... Bỗng mắt nó tối sầm, nó gục đầu xuống nước, chiếc thúng
chao nghiêng và cả thân mình nó nhào xuống biển! Nó tỉnh người ra vì toàn thân
lạnh cứng. Chân nó đụng tới đất, nó dướn thẳng người lên và hít vào thật mạnh.
Có cái gì chẹn ngang nơi cổ, ngực nó như nổ tung ra, đầu nó ong ong nhức
nhối... Trong khoảnh khắc, nó thấy mình nhẹ tênh như đã trút bỏ đi cái thân xác
bé nhỏ nặng nề của con bé Tý 10 tuổi đầu sớm mồ côi bố...
Nghe văng vẳng bài Thánh ca với tiếng
đàn du dương ngây ngất như ở Nhà Thờ: “Mang thân phận lưu đày, ưu hoài năm
tháng nguôi ngoai. Đêm lại đêm nhớ quê nhà, ngày lại ngày nuốt châu sa...”,
nó từ từ mở mắt và bừng tỉnh dậy trước ánh sáng chói lòa rực rỡ của cây cầu
vồng ngũ sắc, trên đó hai cha con đang dắt nhau đi... A...!A...! Nó đã được lên
nước Thiên đàng hầu Chúa! Nó thấy lòng nhẹ nhõm thênh thênh và quên đi tất cả
những đau khổ, dày vò cùng chiếc thúng kia đang lênh đênh giữa biển khơi đầy
sóng gió. Không gian mênh mang vang vang tiếng hát của dàn đồng ca trinh nữ. Nó
cất cao giọng hòa vào dàn hợp xướng cùng các tiểu đồng: “...Ai cho hồn con
đôi cánh, tung bay về nơi cung Thánh, đến cùng Thiên Chúa yêu thương, cõi lòng
nhẹ mối sầu vương…”.
Suốt đêm qua cả xóm thức cùng mẹ nó. Họ
cuống quýt đốt đèn đuốc đi tìm nó tới ghềnh đá này. Nhưng đêm tối, biết nó ở
đâu?! Người ta chỉ biết kêu, gào! Mẹ nó thì rũ rượi...
Sáng sớm tinh mơ, người ta thấy chiếc
thúng nhỏ lênh đênh bên ghềnh đá, cây dầm nổi lềnh bềnh ở mãi ngoài xa. Người
ta giăng lưới,mò, tìm... cho mãi xế chiều mới thấy xác con bé Tý kẹt vào bờ đá
đầu ghềnh, nửa nổi, nửa chìm...
Cả xóm chài bàn nhau : Nó bé mà sống
khôn, chết thiêng… Thôi, cứ để nó nằm bên ghềnh đá này cho nó lúc nào cũng
ngóng ra biển chờ cha, để cha nó biết mà tìm đến nó!… Người ta ghép những tảng
đá lỗ chỗ vết hà thành một nấm mồ nho nhỏ, ai không để ý tưởng như một khối đá
tự nhiên nhô lên từ lòng đất...
Người trong xóm
kể cho nhau nghe nhiều chuyện mơ hồ không ai xác định thực hư. Những bạn chài
đi biển về lúc chiều muộn quả quyết rằng nhiều lần họ gặp những bóng người kỳ
lạ: có lúc là đứa bé gái đi lang thang thơ thẩn trên bãi biển, mặt hướng ra
khơi xa thăm thẳm mịt mùng, lâu lâu nó cúi xuống dường như là nhặt lên con cua,
con ốc; có lúc là người đàn ông với cánh tay phải lủng lẳng lắc lư đứng nơi ghềnh
đá ngơ ngẩn nhìn về phía xóm. Vài người bạo dạn đi đến thì những bóng ấy bảng
lảng gần xa khiến ai cũng nao lòng nản ý. Ông Trùm đạo già cả đáng kính ở xóm
trong giảng giải:
- Nhà ấy ăn ở hiền lành nhân hậu, chắc
là cả hai cha con đã giáp mặt Chúa nơi nước Thiên đàng. Đây chỉ là cái khí cốt
linh thiêng còn vương vấn lại!
Bạn chài trước lúc ra khơi đều thắp một
nén nhang trên nấm mồ nhỏ ấy, miệng lầm rầm lời khấn cầu an.
Ghềnh đá ấy với xóm chài này đã trở
thành chốn thiêng liêng vừa thương, vừa sợ.
Vì tôi xa lạ mới tới xứ này nên chiều
hôm đó mới dám ở lại muộn nơi ghềnh đá ấy...
Tháng 8/1997
CHỊ TÔI (NXB Thanh niên – 2000)
No comments:
Post a Comment