GIỮA
TRƯỜNG SƠN TÌM CHỒNG
Cuối con đường mòn Hồ Chí Minh, cũng có một địa danh
gọi là Ngã ba biên giới nhưng thực ra là vùng giáp ranh giữa tỉnh Moldolkiri của Campuchia với
Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngọn núi Gun Lak và Nâm Nung như vị thần thiêng
của bộ tộc M’Nông sống lâu đời ở đó. Nơi ấy cũng là nguồn của những con suối
chảy đi nhiều ngả. Đất cũng như người, không có nước thì không sống được. Người
già M’Nông kể rằng, từ thuở khai thiên lập địa, Giàng Jut dựng trụ đo trời, trụ
cao qúa, phải có những giây giằng, nhưng cũng không chống nổi. Trụ gãy, còn lại
chân là núi cao, ngửa mỏi cổ vẫn chưa nhìn thấy đỉnh. Giây giằng rớt xuống
thành những con suối như Dak Hut, Dak Dam, Dak Nông, Dak Tík, Dak Lung, Dak
Mil, Dak R’Lấp… đổ về sông Sêrêpok chảy qua Biển Hồ và sông Bé, sông Đồng Nai
chảy ra biển Đông. Ông tổ M’Nông có nhiều vợ. Sau khi ông chết, mỗi bà dắt con
ra ở riêng, thành các thị tộc người M’Nông Pré, M’Nông Noong, M’Nông Roong,
M’Nông Sêtô, M’Nông Prưn, M’Nông Bih, M’Nông Ching, M’Nông Êgar… đều quần tụ
quanh những dòng suối đó. Núi Nâm Nung bốn mùa mây phủ như sương. Dưới chân
núi, nhiều dấu tích của tổ tiên người M’Nông còn để lại. Như suối Dak Vi, nước
lúc nào cũng đục trắng, vì vợ con ông tổ tới đây vo gạo (Trước đây nghĩ rằng
suối chảy qua địa tầng đất sét trắng. Sau phát hiện vùng này là mỏ bauxit khổng
lồ). Lưng núi, một mảng đất truồi trơ màu đỏ sậm, là nương rãy của cụ tổ ngày
xưa. Một trảng thông vốn là nương trồng cây thuốc. Đặc biệt một cây đa cổ thụ,
tán lá xum xuê với những rễ cây tủa xuống, đêm ngày râm ran tiếng chim kêu vượn
hú, là nơi bà tổ ngày ngày ngồi đấy ru con.
Những thứ thiết yếu cho đời sống đều được coi như
những vật linh thiêng gọi là giàng: giàng paơ (lúa), giàng dak
(nước), giàng un (lửa), giàng pri (rừng). Mùa khô, ra rừng phát
rẫy bỏ hạt để đó. Về nhà nằm mơ thấy được ngủ với gái là tốt, thấy nước lũ về
là xấu lắm. Đất rừng mênh mông nhưng các buôn tự giới hạn cho mình, không bao
giờ có sự buôn này xâm phạm đất rừng của buôn kia.
Người M’Nông rất kín chuyện. Không thích ai thì
không tiếp. Một cành cây treo ngược trước cửa là không muốn cho khách lạ bước
vào nhà. Những ngày kiêng kỵ, không tiếp xúc với người ngoài. Tuy nhiên rất có
bụng thương người. Khách từ phương xa tới, không biết tục lệ địa phương, đến
hỏi xin thứ gì, người ta quăng ra thứ đó và bỏ đi. Người có nhu cầu biết ý cứ
việc nhận lấy. Muốn hỏi điều gì, người ta quay mặt đi mà trả lời, kèm theo câu
nói bâng quơ: Ta nói cho cái cây của rừng, con nai của núi, con
chim của giàng nghe thôi… Nhưng người nghe được giải đáp về điều mình cần biết.
Lính Sài Gòn đã bỏ chạy khỏi những đồn bót quan
trọng từ bao lâu nay án ngự một vùng biên cương hiểm yếu này. Vậy mà bây giờ,
giữa nơi thâm sơn cùng cốc ấy, bộ đội sao mà đông thế? Chúng nó giăng võng, ăn
ngủ ngoài rừng, lúc con gà mới hát đã nghe chúng nó gọi nhau ríu rít như chim.
Khi vào nhà, chủ, khách nói bằng miệng thì ít, nói bằng tay bằng mắt thì nhiều,
cười đến chảy nước mắt ra. Chỉ có một kôn bu ur (đứa con gái) mà sao mặt nó buồn như lúc trời sắp
tối. Mấy chị, mấy mẹ thương lắm, kêu nó vào nhà cho ngủ, hỏi:
- Bạ mày hằn? (mày đi đâu?)
Nhưng nó không biết tiếng mình, hỏi gì cũng lắc
đầu, có khi nó khóc. Kôn bu klô (đứa con trai) bảo:
- Ur
han rôkh sai! (vợ đi tìm
chồng).
Mọi người lại càng thương.
Bộ đội cũng ít biết về cô gái. Chỉ biết cô ta người
Hà Nội, có chồng vào Nam
chiến đấu và bặt tin sau một thời gian. Cô xung phong vào đoàn cán bộ y tế đi B
để tìm chồng. Mới tới binh trạm đầu của tuyến phía nam, cô bị ngã sái chân,
phải vào nằm viện cả tháng trời. Bác sỹ bảo cô không có khả năng hành quân
đường trường và cấp giấy chứng nhận cho cô trở lại hậu phương. Thời gian nằm
trong bệnh viện và chờ đợi ở trạm thu dung cho cô vỡ ra chỉ có ở những nơi đó
mới dễ dò ra dấu vết của chồng. Tình cờ gặp một giao liên, xem địa chỉ hòm thư,
anh ta buồn bã bảo:
- Đây là đơn vị của tôi… Coi như bị xóa sổ rồi! Tôi
chính là người khiêng cậu Nhân Trí ra khỏi trận địa và đưa vào viện quân y. Cậu
ấy chỉ bị sức ép bom thôi. Nhưng bây giờ nhập vào đơn vị nào, đi ra hay đi vào
cũng không biết nữa.
Yên Thịnh càng quyết tâm đi theo bộ đội ra mặt trận
tìm chồng. Cô quyết định gặp đơn vị bộ đội nào đi vào phía nam là cô bám theo.
Với tờ giấy thông hành đi vào Ông Cụ và tờ giấy chứng thương, cô thật tình trình bày
cảnh ngộ của mình:
- Chúng em mới cưới nhau chưa được bao lâu thì anh
ấy và đứa em trai ruột của em được gọi đi B. Hai anh em ở chung đơn vị. Thời
gian đầu anh ấy gửi thư về nhà đều lắm. Nhưng rồi bặt tin luôn. Sau đó gia đính
nhận được giấy báo tử của đứa em! Bây giờ em không biết anh ấy còn sống hay đã
chết. Về nhà thui thủi một mình trong tâm trạng hy vọng thì ít, tuyệt vọng thì
nhiều, em không sống nổi. Chi bằng cứ đi ra phía trước, không làm được việc lớn
thì làm việc nhỏ và còn hy vọng. Lỡ có chết giữa nơi bom đạn hay nơi rừng sâu
suối dữ em cũng cam lòng.
Để một người lạ nhập vào đội ngũ hành quân không
dễ. Nhưng trước cảnh ấy, bộ đội dễ mủi lòng, cứ dấu ém chuyện đi ở các cấp tiểu
đội, trung đội hay là đại đội. Cấp trên lỡ có biết thì cứ nói như một khách đi
đường giao liên, tình cờ cho theo qúa giang một chặng đường. Tuy nhiên làm sao
có được sự đồng nhất ở mọi người, cô phải sống trong tâm trạng phập phồng lo
lắng. Không ít lần cô phải nhập vào đoàn khác hoặc vì đơn vị nọ hành quân rẽ
ngang đường.
Anh lính tân binh Ngô Văn Xuân bỏ dở chương trình
đại học, gia nhập đoàn quân giải phóng thẳng tiến vào Nam . Trong anh còn nguyên âm hưởng
từ trong giảng đường những câu chuyện tình đã thành cổ tích hạnh phúc hoặc bi
thương. Anh có những bài thơ vừa đi đường vừa sáng tác với bút danh Tầm Xuân.
Đồng đội chê cái tên yếu như con gái nhưng anh giải thích:
- Hoa thường đồng nghĩa với mùa xuân. Người ta dễ
lầm tưởng có hoa là mùa xuân đến với mình. Duy chỉ một thứ hoa đồng nội ấy nhắc
con nhà nông chúng tôi mùa xuân mãi phải đi tìm.
Nhân chuyện này, anh rung cảm làm bài thơ Giữa
Trường Sơn tìm chồng
Trường
Sơn mưa bom bão lửa
Núi
cao xơ xác cây rừng
Bơ
vơ một người thiếu phụ
Gót
mòn rướm máu dặm dài
Ngẩn
ngơ nhìn đoàn quân bước
Thẫn
thờ mắt lệ tìm ai ?
Chồng
em ra đi từ đó
Mỏi
mòn trông một cánh thư !
Bằn
bặt năm chờ tháng đợi
Sao
anh đi mãi không về ?
Em
tin rằng anh không chết
Vì
em một dạ đợi chờ !
Em
tin anh không hàng giặc
Bởi
anh không biết sống hèn !
Em
tin anh không đào tẩu
Bởi
anh không chịu nhục đâu !
Em
tin anh đang chiến đấu
Không
rời đồng đội tuyến đầu !
Suốt
đời anh vẫn yêu em
Sẽ
về khi tan bóng giặc
Vợ
chồng em mãi gần nhau !
Các
anh cho em cùng bước
Thẳng
ra phía trước tuyến đầu…
Gặp
chồng em tặng nụ hôn
Lau
sạch mồ hôi khói súng
Vá
lành chiếc áo tả tơi
Chăm
từng nắm cơm hạt muối
Em
vui sống chết cùng chồng !
Nàng
Mạnh Khương xưa tìm chồng
Bơ
vơ Vạn lý trường thành
Áo
bông chàng ơi… chống rét
Cho
lòng thiếp đỡ tái tê…
Tủi
phận mò kim đáy bể
Thôi
đành thân gửi vực sâu !
Minh trinh thiên thu phiến
thạch
Hóa
người thiếu phụ hôm nay
Lặn
lội Trường Sơn tìm chồng
Chung
lưng đánh giặc giữ nước
Tới
ngày thống nhất non sông.
Cây
trời che em mưa nắng
Đá
mềm nâng gót chân em
Cùng
em ca khúc quân hành
Bài thơ là một đề tài bàn tán rôm rả trên đường
hành quân. Có người bảo là thơ binh vận. Nhưng không ai nỡ bỏ rơi người thiếu
phụ đáng thương ấy nữa.
Nghị quyết trung ương
“Quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất” được triển khai xuống
toàn thể các cơ quan Quân-Dân-Chính-Đảng. Trong bối cảnh này ai cũng cảm thấy
như là điều phải đến, không bất ngờ cập rập như dạo tết Mậu thân.
Con lộ 14 xuyên Đông dương dẫn thẳng về cửa ngõ bắc
Sài Gòn. Các đơn vị bộ binh Quân giải phóng tập kết ở mấy buôn căn cứ
địa đầu này, học tập phối thuộc với binh chủng xe tăng thiết giáp ẩn trong rừng
già, tiến hành trận đánh tổng lực giành thắng lợi cuối cùng. Sau khi triển khai
phương án tác chiến cho cán bộ, Trung đoàn trưởng Hoàng Tuấn trực tiếp xuống
từng đơn vị kiểm tra và động viên chiến sỹ:
- Lần này ta tổ chức chiến đấu trong đội hình các
binh chủng hợp thành hành tiến với quy mô lớn trên toàn chiến dịch. Chiến
trường rộng lại đòi hỏi vận động khẩn trương và hợp đồng chiến đấu chặt chẽ
nhịp nhàng, khi cần phải kịp thời tạo thành những mũi nhọn chọc thẳng vào sào
huyệt trung tâm của giặc. Lực lượng ta về quân số và hỏa lực được tăng cường đủ
mạnh nhưng cán bộ chiến sỹ phải có quyết tâm cao và tinh thần dũng cảm chiến
đấu, dám hy sinh giành thắng lợi trong từng trận đánh. Ưu thế của giặc là phi
pháo nhưng lúc này bị hạn chế nhiều và các đồng chí nhớ rằng: Ta đi giặc chưa
chắc đã biết. Biết chưa chắc đã đánh. Đánh chưa chắc đã trúng. Trúng chưa chắc
đã chết. Và nếu có chết là hy sinh vì Tổ quốc – Cái chết ấy thật vinh dự tự
hào! Hành quân trong đội hình lớn việc giữ bí mật là khó thì các đồng chí càng
phải đề cao tinh thần cảnh giác.
Đơn vị cảm thấy không kham nổi người bạn đường đặc
biệt nữa vì phải lệ thuộc vào đơn vị khác và kỷ luật của họ chắc chắn là chặt
chẽ. Nhưng cô gái tỏ ra quyết tâm mạnh mẽ:
- Các anh đã giúp em thì giúp cho chót đi! Em có
cách để không ai phát hiện ra được đâu.
Cô ghé vào tai anh Tiểu đội trưởng thì thầm. Anh ta
nhảy dựng lên vỗ tay hưởng ứng:
- Em gái thông minh qúa! Tuyệt vời!
Ngay chiều hôm ấy, Yên Thịnh ngồi trên tảng đá bên
bờ suối vắng, có người cảnh giới hai đầu, để cho anh Tiểu đội trưởng khéo tay
tỉa đi bộ tóc. Tay kéo anh như thợ mà run rẩy
ngập ngừng:
- Bộ tóc con gái đen dày đẹp quá thế này!
- Em chẳng tiếc đâu! Để nó làm gì? Anh cứ tỉa đi!
Tiểu đội trưởng cắt xong bộ tóc mà mồ hôi chảy ròng
ròng.
Khi đội mũ xùm xụp với bộ quần áo nam giới dù rộng
thùng thình, túi cứu thương lẵng nhẵng bên hông và cái ba lô chùm kín sau lưng,
nếu không để ý cũng khó mà phát hiện ra đó là cô gái.
Đơn vị tiến công ở đội hình thê đội hai. Mỗi tiểu đội bộ binh
ngồi trên một chiếc Môlôtôva chở kèm khí tài chiến đấu, bám theo xe tăng đi
phía trước. Đường rộng, xe hành quân cấp tốc theo đà chiến dịch. Lúc đầu thấy
sướng. Nhưng sau sóc lộn ruột lên, lính bộ binh hiểu ra hành quân bằng đôi chân
mới thật là sướng vì chẳng phụ thuộc vào ai. Khi dừng lại nơi tạm nghỉ, cô gái
nhanh chân chạy về chỗ đội hình bộ binh để khỏi bị lộ ra mình. Khi có lệnh hành
quân, cô nhảy vội lên xe ngồi xen vào giữa, vừa đỡ xóc và kín đáo. Cứ thế, cô
theo bộ đội đặt chân tới cửa ngõ Sài Gòn.
Các đơn vị bộ binh được lệnh tản xuống, bám sát xe
tăng. Mỗi tiểu đội ngồi bám chặt hai bên thành xe để khi cần triển khai chiến
đấu kịp thời. Lính bộ binh như bị hành rã người ra, chỉ muốn nhảy xuống khỏi xe
thôi. Tiểu đội trưởng Thành lúng túng không biết giải quyết trường hợp cụ thể
này ra sao. Cô gái biểu lộ quyết tâm :
- Xin các anh cho em được làm người lính cùng sống chết
để giải phóng Sài Gòn. Nếu còn sống, nhất định em sẽ tìm được chồng em. Nếu
phải chết, em cũng cam lòng làm một người chiến sỹ vô danh!
Lúc này không thể để cô lại giữa một vùng giải
phóng lướt qua hỗn độn địch nhiều, ta ít thế này. Tiểu đội trưởng suy tính làm
sao thuyết phục được mấy anh lính xe tăng cho cô ngồi vào thùng xe.
Mỗi xe tăng biên chế năm người: một lái chính, một
phụ lái, một thợ sửa xe, một xạ thủ và một tiếp đạn. Cố gắng ém thêm một người
nữa vào cũng được, nhưng vấn đề là sức phụ nữ có chịu được không.
Đơn vị nhận lệnh đánh vào yếu khu Trảng Bom. Trung
đội trưởng xe tăng đến từng xe nhắc nhở bộ binh cùng phối hợp nhịp nhàng. Thấy
một anh lính nhỏ bé cứ lúng túng trèo lên trượt xuống dù có đồng đội kéo lên.
Nhân Trí vừa tới đó, tay phụ đẩy đít anh lính bộ binh yếu ớt ấy lên vừa thét
thật to trong tiếng động cơ xe nổ ầm ầm:
- Lính gì mà õng ẹo như con gái!
Cả thân hình người lính ấy ngã vật ra khiến anh
phải nhanh tay đỡ lấy. Chiếc mũ tai bèo rơi xuống đất, lộ rõ ra khuôn mặt. Anh ta thất
thần thõng tay xuống nhưng rồi lại kịp ôm chặt tấm thân ấy vào lòng, lay mạnh,
hét lên:
- Yên Thịnh! Yên Thịnh! Có đúng là em không?
Cô gái run rẩy trong tay anh, chưa nói được gì. Anh
tiểu đội trưởng bộ binh nhanh trí nhảy xuống, nhấc bổng cô gái lên giao cho mấy
đồng đội ngồi trên xe, và thét vào tai anh trung đội trưởng xe tăng:
- Đừng để lộ ra mà hỏng việc… Cô ấy đi tìm chồng!
Nhân Trí kịp hiểu ra, vội nhảy theo lên, bế người
con gái ấn vào thùng xe, nói vọng vào:
- Đây là vợ tôi!
Anh quay sang nói với các chiến sỹ bộ binh, giọng
nhỏ hơn:
- Cảm ơn các đồng chí! Tôi không biết là chuyện
thật hay mơ nữa?
Những đồng đội trong xe hiểu ra chuyện đều lặng lẽ
đồng tình với Trung đội trưởng của mình. Nhân Trí chạy về vị trí chiến đấu, vẫy
tay thét lớn:
- Tiến!
Yên Thịnh trong tư thế nửa ngồi nửa nằm, mơ màng
không tin vào chuyện xảy ra. Trong cái xóc lộn và hơi nóng hầm hập lẫn với
tiếng đạn réo, người hét mà dường như thân xác, tâm trí không là của cô nữa.
Nước mắt cô đầm đìa làm cho những người lính trong cảnh sắt lửa này cắn chặt
răng im lặng.
Yên Thịnh dần tỉnh lại, cô nghe tiếng anh trưởng xe
hét thật to lên:
- Đây là thị trấn Hố Nai. Dân hay địch mà đông thế?
Xe rú ga thật lớn mà vẫn đứng yên tại chỗ. Cô ngồi
lên, nghển cồ nhìn theo người lái. Phía ngoài người ta đông lắm đứng cản mũi
xe. Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, lẫn vào số mặc áo lính, đầu trần, tay
chỉ trỏ la hét những gì dáng vẻ hung hăng lắm. Tiểu đội trưởng Thành chen tới
trước mũi xe, nói những gì nhưng đám đông càng lấn tới xô đẩy khiến anh ngã dúi
dụi. Anh giơ cao khẩu súng AK lên bắn chỉ thiên. Trong khói súng, Yên Thịnh
thấy anh Thành ôm ngực ngã ngửa ra, chiếc áo đẫm máu. Cô gào lên và gục xuống!
Tiếng quát tháo của những chiến sỹ trong xe, tiếng người ta náo loạn ngoài kia,
tiếng rú ga khủng khiếp mà chiếc xe không chuyển động càng rung mạnh lên, lay
thức cô tỉnh lại. Cô nghe rõ tiếng ai đó gào lên ngay trên tháp xe, vừa kêu
gọi, răn đe, vừa ra mệnh lệnh:
- Đồng bào chú ý! Quân giải phóng chỉ đánh
đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai phản dân hại nước. Ai cản đường Quân
giải phóng là chống lại tổ quốc và nhân dân, sẽ bị trừng trị. Các đồng chí!
Hãy phân biệt rõ địch-ta. Quyết không để bị cản bước tiến quân về giải phóng
Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước!
Những chiếc xe tăng như thoát ra khỏi cơn giao
động, rọi đèn thật sáng và rú ga thật lớn cùng nhích dần tiến lên, đồng thời
những nòng súng đại liên, đại bác hạ tầm bắn thị uy. Đám đông chạy tán loạn,
tiếng la khóc chìm trong tiếng súng. Bộ binh tản khai, trừng trị thẳng thừng
những kẻ ngoan cố cản bước đường tiến quân. Đám người nháo nhào chạy lẩn đi
khắp chốn. Những tiếng ồn lắng xuống, tan đi nhanh chóng. Vất vả lắm các chiến
sỹ bộ binh mới theo kịp xe tiến lên.
Khi đoàn xe vượt qua dãy phố xá thì tản ra, dừng
lại. Vẻ mặt mỗi cán bộ chiến sỹ đều tỏ ra căng thẳng. Họ đau đớn đi gom xác
đồng đội đã hy sinh trong thế tiến công mà sức đề kháng của kẻ địch đã tan rã
hoàn toàn. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu những người lính dù
từng trải và dày dạn mới trải qua. Họ đóng dã chiến bên ngoài thị trấn. Không
ai muốn ăn mặc dù trong bụng rỗng không. Họ chỉ khát nước thôi. Nhưng trong
tình cảnh này nước lã trong chum vại và giếng nước nhà dân cũng không ai dám
uống.
Khi bộ phận thu gom thương binh, tử sỹ mang xác Tiểu
đội trưởng Thành đi, Yên Thịnh thẫn thờ không muốn rời ra. Anh là người quyết
tâm bảo vệ, che chở cho cô được đi theo đơn vị đến hôm nay. Nhân Trí cũng không
biết nói gì để an ủi vợ. Chính trị viên tiểu đoàn và một cán bộ địa phương đến
từng xe an ủi, động viên chiến sỹ:
- Đây là nơi tập trung những người công giáo phía
Bắc di cư. Họ bị xuyên tạc về bộ đội giải phóng, đã trở thành căn cứ an toàn
của địch từ bấy lâu nay. Các đồng chí phải bình tĩnh và kiên nhẫn. Không được
vi phạm chính sách dân vận và tuyệt đối không được manh động. Chỉ có thời gian
mới giúp đồng bào nhận ra sự thật.
Sửng sốt nhận ra có một chiến sỹ gái trong đơn vị,
anh hỏi lớn:
- Tiểu đội trưởng đâu?
Bộ đội đứng yên nhìn nhau. Cô gái bước tới đứng
trước người chỉ huy:
- Báo cáo... Anh Thành hy sinh rồi ạ!
Hai tay cô bưng mặt, nghẹn ngào:
- Có gì xin thủ trưởng cứ kỷ luật em đi… Em không
làm gì cản trở công việc của các anh đâu!
Người cán bộ chỉ huy càng ngạc nhiên, nhìn sang
trung đội trưởng tăng:
- Đồng chí có biết chuyện này không?
- Báo cáo… có biết! Nhưng là mãi sau lúc đơn vị đã
triển khai đội hình chiến đấu! Không ngờ…
Chính trị viên càng ngạc nhiên hơn nữa khi nhà thơ
Tầm Xuân lên tiếng:
- Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân đấy, thủ trưởng ơi!
Chúng tôi xin bảo lãnh cô ấy. Đảm bảo sẽ không ảnh hưởng gì tới sự hoàn thành
nhiệm vụ của đơn vị đâu!
Vừa lúc có liên lạc chạy tới nói gì với chính trị
viên. Trước khi bước vội đi, anh còn gay gắt :
- Lệnh Tổng công kích toàn chiến dịch. Không
được chậm trễ. Vi phạm kỷ luật chiến trường là coi chừng phải ra trước Tòa án
binh mặt trận đấy!
Tuyến phòng thủ Hố Nai đã bị đập tan, tuy nhiên đám
tàn quân địch còn lẩn trốn trà trộn trong dân, lẻ tẻ đánh trộm cũng gây thiệt
hại nhưng không thể làm bộ đội ngừng bước tiến. Đơn vị nhận được lệnh khẩn
trương phối hợp tiến công toàn chiến dịch, để lại cho đơn vị sau và địa phương
giải quyết chiến trường.
Bộ đội trong đội hình hành tiến.
Chiến sự diễn ra giằng co quyết liệt ở ngã ba Tam
Hiệp và đơn vị mau chóng vượt qua thị xã Biên Hòa. Hai chiếc xe tăng M41 của
địch bị bắn cháy nằm cản giữa đường, trung đội của Nhân Trí được lệnh ủi gạt
chúng sang một bên để lấy đường tiến quân. Lúc này, trên lộ Một nườm nượp xe
của các mũi hội quân dồn về, vừa vui náo nức vừa hồi hộp. Hình ảnh các đồng đội
hy sinh vừa qua thoáng hiện ra. Ở tuyến phòng thủ vành đai mà địch đã phản ứng
dữ dội, liệu vào tận sào huyệt phản ứng của chúng sẽ thế nào? Hiểu được tâm
trạng của bộ đội, Chính trị viên tiểu đoàn xuống từng trung đội động viên:
- Quân Mỹ đã rút chạy. Quân ngụy hoang mang cực độ
và tan rã nhanh chóng. Giờ chiến thắng đã đến gần. Các gọng kìm đã xiết chặt và
sẽ bóp nát hang ổ cuối cùng của địch. Các đồng chí! Vì thắng lợi cuối cùng,
chúng ta sẵn sàng hy sinh tất cả! Không sức mạnh nào cản được bước tiến của đại
quân ta. Cùng
lúc với chi khu Dầu Tiếng và thị xã An Lộc ở phía tây-bắc Sài Gòn. Các lộ 13,
14, 20, 22 tiến thẳng về Sài Gòn đã bỏ ngỏ. Trong khi Thiệu ra lệnh cho Sư 18
quyết tử thủ bảo vệ lá chắn thép Xuân Lộc thì Quân giải phóng đột
ngột thay đổi ý đồ chiến thuật, một mặt giữ vững trận địa kìm chân đối phương,
cùng lúc các mũi tiến công chuyển hướng đánh bọc ra phía sau, chiếm ngã ba Dầu
Giây, uy hiếp yếu khu Long Thành – Trảng Bom và thành phố Biên Hòa. Lá chắn
Xuân Lộc chơ vơ ngoài vòng đai phòng thủ Sài Gòn!
Từ miền Trung cho tới đồng
bằng Nam Bộ, mỗi ngày hừng hực vang lên lời tuyên bố của Ủy ban cách
mạng các tỉnh
tiếp nhau thông báo với đồng bào cả nước chính quyền nơi ấy đã hoàn toàn nằm
trong tay những người yêu nước, phát đi lời kêu gọi khoan hồng với những người
vì hoàn cảnh cá chậu chim lồng mà phải làm việc hoặc đi lính tay sai cho ngoại
bang, nay thực tâm hối cải quay về với tổ quốc và nhân dân.
Tin Thiệu cùng viên Thủ tướng của y trốn chạy sang
Đài Loan càng củng cố niềm tin mà ông Ba già đã nói ra. Sỹ quan, binh lính Sài
Gòn công khai chửi khắp mọi nơi:
- Hắn là thằng nắm nhiều quyền và hưởng nhiều lợi
nhất, từng nỏ mồm tuyên bố: Nếu Mỹ không tiếp tục chiến đấu ở đây thì chúng tôi
chiến đấu một mình cho đến khi hết phương tiện rồi chúng tôi chết! Bây giờ máy bay, xe
pháo, súng đạn… vẫn còn đầy nhưng những thằng trùm đều theo nhau cao chạy xa
bay hết ráo!
Ông giáo thông tin:
- Phóng viên hãng AFP mới di tản khẩn cấp bằng trực
thăng Mỹ về cho biết quân Khmer đỏ đã tràn ngập Phnompenh và tàn sát không
thương tiếc những ai liên quan tới chính quyền cũ. Cựu thủ tướng Sirik Matak
không chịu di tản theo lời mời của Mỹ. Hắn đã từng học ở Sài Gòn nhiều năm và
có không ít bạn bè ở đây mà cũng trong đám đầu sỏ tàn sát kiều bào mình bên đó.
Nhưng nói thật vô tư, cũng là kẻ lừa thầy phản bạn nhưng y còn biết giữ chút
liêm sỷ cuối cùng hơn các vị nguyên thủ cái quốc gia Việt Nam cộng hòa
này!
Ông đưa ra mảnh giấy phôtô bức thư của Sirik Matak
gửi cho viên đại sứ Mỹ ở Phnompênh vào giờ phút chót:
“… Tôi hết sức thành thật cảm ơn ông về đề nghị
đưa tôi đến tự do. Tôi không bao giờ tin rằng vào lúc này, ông cũng
như đất nước vĩ đại của ông lại có cái cảm nghĩ rằng mình đã bỏ rơi một dân tộc
đã chọn tự do!
Chúng tôi cần sự bảo vệ của các ông nhưng các ông đã từ chối! Chúng tôi không thể làm gì trước tình thế
này! Rất tiếc thay, tôi không thể rời nơi đây một cách hèn nhát. Nhưng hãy khắc ghi rằng nếu tôi chết ngay ở
nơi này, tại đất nước mà tôi yêu dấu thì cũng chẳng thành vấn đề vì rằng tất cả
chúng ta sinh ra đều tử biệt. Tôi chỉ mắc mỗi sai lầm là đã tin các ông”!
Ông Ba kết luận:
- Đấy là bài học cay đắng thảm thương cho những kẻ
đặt lợi ích cá nhân lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Khi nhận ra đã lỡ
gửi trứng cho ác rồi thì dù sống hay chết đều bị bia miệng liệt vào hàng
phản dân hại nước – bất nghĩa bất trung!
Ông nhìn bạn vẻ đầy tự tin, đặt ra câu hỏi:
- Trong tình thế này, còn quan lính nào có tinh
thần chiến đấu nữa chăng? Kẻ nào liều mạng chỉ là tự sát! Nhân dân ta đã, đang
và sẽ ủng hộ Quân giải phóng. Một chính thể phản lại lợi ích của quốc gia dân
tộc sẽ tan nhanh như bọt sà phòng! Sài Gòn
không sụp đổ mà đứng dậy tự hào!
Ông giáo gật đầu tươi nét mặt biểu ý đồng tình:
- Chắc đây là buổi họp cuối cùng của lưỡng viện vì
như buổi chợ chiều rã đám. Chỉ lơ thơ còn chừng phân nửa, ai cũng nhấp nhổm như
ngồi trên đống lửa nghe mấy ông tướng kể nỗi tuyệt vọng về chiến sự. Đám tàn
quân như hổ vô đầu, chắc có làm được chuyện gì không? Tàn cuộc rồi mới nặn ra
cái nghị quyết trao quyền Tổng Thống cho ông Minh lớn, dù trong bụng ai
cũng thấy đã là qúa muộn. Ông tướng đàn anh không thích Mỹ, từng lưu vong và bị
đẩy về hưu sớm, nay đứng ra lãnh cái sứ mạng bi thảm vào phút chót của một
chính quyền do người ngoại chủng dựng nên. Viên đại sứ Pháp gợi ý làm trung
gian nhờ một quốc gia lớn có nhiều ảnh hưởng gỡ ra thế bí, ông ta chán chường
từ chối: “Suốt đời tôi đã làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ đều chuốc lấy thất bại.
Bây giờ tôi không thể làm tay sai cho ai nữa để chống lại nhân dân và tổ quốc
của tôi”! Bước ra
khỏi phòng họp, lại một loạt tướng lãnh với nghị viên linh lỉnh theo kế tẩu
vi thượng sách! Vậy mà trong buổi lễ bàn giao quyền lực, lão già qúa háo
danh, bị phế truất còn muốn bày trò nghi thức có kèn trống tống tiễn cho oai!
Hay là tiếc rẻ không được da ngựa bọc thây… già để lưu danh thiên cổ? Cuộc bàn giao thật
chán phèo, buồn tẻ vì người giao nói suông vài câu kèm theo lời mai mỉa: “Nhiệm vụ của
Đại tướng rất nặng nề”! Hàm ý chắc gì anh đã làm được hơn tôi? Và người nhận là ôm vào cả một
cơ đồ đổ nát thảm thương mà không biết phải làm gì vì phía bên kia coi chính
quyền này đã là một con số không thật sự.
Ông Ba hỏi:
- Anh nghĩ sao về bộ sậu mới này?
- Các nhân vật chủ chốt đều là những chính khách có
vai vế tiếng tăm và ảnh hưởng lớn, từng tham chính với thái độ ôn hòa. Tướng
Dương Văn Minh tỏ thái độ bất hợp tác với Mỹ từ lâu. Ông đã thẳng thừng từ chối
món tiền cọc một triệu Dollar của người Mỹ, biến cuộc bàu cử Tổng Thống Việt
Nam cộng hoà năm 1971 thành trò độc diễn vô duyên, làm nền dân chủ Mỹ bẽ
bàng và vai Tổng Thống của Thiệu như một tên hề trơ trẽn lố lăng. Luật sư
Nguyễn Văn Huyền là người lịch thiệp, tuy là công giáo nhưng không thuộc phái
cực đoan, ông đã nhiều lần cãi bênh vực cho những người yêu nước trước tòa.
Giáo sư Luật khoa Vũ Văn Mẫu từng hai lần cạo trọc đầu tỏ thái độ công khai
phản đối khi Diệm đàn áp những người Phật tử và khi Thiệu chống phá hiệp định Paris . Họ là những trí
thức tiêu biểu có uy tín, lớn tuổi và từng trải qua sự thăng trầm của đất nước.
Không phải họ không thấy cái thế trứng để đầu đẳng giữa cơn loạn đả này đâu. Họ có thiện tâm,
thiện chí.
- Con thuyền mục đáy đến lúc nát vỡ rồi, nhất định
chìm thôi, Trời cũng không cứu nổi! Ta ghi nhận tinh thần dân tộc trong họ vẫn
có thể đóng góp cho đất nước.
Ông Ba già nói giọng nhỏ đi nhưng nhấn từng ý
như truyền đạt một quyết tâm:
- Lời Bác dạy thật là ứng nghiệm: Đánh cho Mỹ
cút. Đánh cho ngụy nhào! Quân Mỹ cuốn xéo hết đi, quân ngụy làm sao trụ nổi? Đã đến lúc giải
giáp các lực lượng quân đội và cảnh sát tay sai, giải tán ngụy quyền Sài Gòn!
Chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân!
Trận mưa gió lớn và sấm rền chớp giật như báo trước
vận mạng của chính quyền đã đến ngày tận số. Cuối ngày, kết thúc cơn mưa là một
trận dội bom gậy ông lại đập lưng ông của một phi đội năm
chiếc A37 mới lọt vào tay Quân giải phóng ở miền Trung. Sân bay Tân Sơn Nhất
ngùn ngụt lửa khói, tanh bành thân xác hàng chục chiếc máy bay. Tiếp theo một
đêm pháo kích. Không chiếc máy bay nào có thể cất cánh hoặc bén mảng tới sân
bay nữa trong khi trên bản đồ chiến sự đã hình thành năm mũi tiến quân của Quân
giải phóng đang khép chặt Sài Gòn.
Ông Ba già căn dặn:
- Lúc này anh cố tìm cách tiếp cận với những người
trong nội các mới. Chắc chắn không phải chỉ có một mình anh đâu. Nhưng mỗi
người một việc, cố gắng tác động để trước hết họ khỏi bị ám ảnh bởi một sự trả
thù mà bọn CIA và đám phản động trong khối tôn giáo dựng lên, đồng thời khơi
dậy lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trong mỗi con người. Tất nhiên cần hạn
chế tối đa những phản ứng qúa khích có thể gây thiệt hại đáng tiếc cho cả hai
bên.
Ngày 26 tháng Tư, đơn vị được phổ biến lệnh trên cho
mở màn Chiến dịch Hồ Chí
Minh – trận đánh
cuối cùng tiến thẳng vào trung tâm sào huyệt của Mỹ-ngụy, hoàn thành nhiệm vụ
lịch sử giải phóng miền Nam .
Quanh Sài Gòn, các ngả đường từ các hướng Bắc, Tây
Bắc, Đông, Đông Nam và Tây Nam
những dòng xe, dòng người ào ào nhắm về một mục tiêu.
Một ngày sau khi nhậm chức, tân Tổng Thống chỉ có
thể chủ động làm được một việc có ý nghĩa lịch sử là gửi thông điệp cho đại sứ
Mỹ cùng lúc với tân Thủ tướng công báo trên đài phát thanh, chính thức yêu cầu
toàn bộ người Mỹ còn lại phải rời khỏi Sài Gòn trong 24 tiếng đồng hồ! Một đội
quân viễn chinh bị những người yêu nước đuổi đi là chuyện thường tình. Nhưng
chuyện có một không hai trong lịch sử mà không ai nghĩ tới là một đội quân xâm
lược nhà nghề hùng hậu đến thế vào giờ phút chót phải rời khỏi Việt Nam trong
tình cảnh trớ trêu bị chính người cùng hội cùng thuyền xua đuổi vỗ mặt quyết
liệt vội vàng như thế!
Người Mỹ đã thực hiện kế hoạch di tản gấp hơn sáu
ngàn người còn lại từ ngày Thiệu nhả ra cái ngai quyền lực được họ ấn ngồi vào.
Coi như cuộc chiến tranh do người Mỹ tự làm điêu đứng chính mình đến đây chấm
dứt. Ngày đêm, những chuyến máy bay vận tải chở đầy người di tản nối nhau cất
cánh rời sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng họ cũng không ngờ tình hình diễn ra xấu
nhanh như thế. Trong khi sân bay thành vô dụng thì cái trát tống khứ cấp thời
của người bạn từng đầu gối tay ấp thật qúa phũ phàng! Toà Bạch Ốc lập tức ra
lệnh thiết lập một cầu hàng không đặc biệt từ các bãi đậu dã chiến kín đáo là
những khoảng trống hoặc sân thượng của mấy dinh thự công sở ngay giữa lòng
thành phố tới hạm đội Bảy áp sát ngoài khơi. Khắp Sài Gòn vang lên những tín
hiệu đặc biệt riêng khẩn cấp cho những người Mỹ và một số nhân vật cộm cán ở
Sài Gòn có mặt ngay tại các điểm tập trung ngầm giao hẹn trước để kịp thời được
bốc đi bằng những chuyến máy bay trực thăng Chinook khổng lồ.
Đêm trước ngày nội các ra mắt quốc dân, ông giáo
lẫn trong số dân biểu không di tản, theo tướng Minh vào trú tại dinh Tổng
Thống. Mọi người tản ra các phòng, từng nhóm ngồi, nằm tạm bợ, không ai ngủ
được.
Một đám lính mặc đồ dã chiến, đạn quấn cùng mình,
lăm lăm tay súng như sẵn sàng nhả đạn, xông thẳng vào dinh mà không ai dám cản.
Viên sỹ quan tiến đến trước Tổng Thống, dậm chân chào theo đúng phép nhà binh,
giọng đầy bức xúc:
- Trình Đại tướng Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa.
Xin ngài cho chúng tôi được tử thủ bảo vệ Sài Gòn!
Hàng trăm con mắt dồn vào ngài tân Tổng Thống.
Không ngờ vị Đại tướng cao to thường ngày oai vệ là thế mà trong giờ phút định
mệnh này lại tỏ ra xúc động tưởng như là mềm yếu. Ông bước tới đặt tay lên vai
viên sỹ quan vẫn trong tư thế nghiêm chờ lệnh. Giọng ông nhỏ nhẹ thân tình như
muốn trên dưới cùng chia sẻ với nhau nỗi khó lúc này: -
Cảm ơn các em! Là người lính, qua biết thế nào là thắng là bại. Nhưng
muộn quá rồi! Phải làm gì để anh em binh sỹ và nhân dân không phải đổ thêm máu
ra vô ích và giữ cho thành phố Sài Gòn này không đổ nát!
Bao nhiêu tiếng thở dài do bị dồn nén lại cùng trút
ra như một luồng gió làm dịu đi bầu không khí căng thẳng trong phòng dù không
ai kịp nghĩ là điềm lành hay dữ nữa. Mấy người lính chúi nòng súng xuống cúi
đầu lầm lũi bước ra.
Vào lúc khuya, một đám người nhốn nháo chạy ra sân
cỏ trước dinh có đỗ hai chiếc phi cơ trực thăng dành riêng cho Tổng Thống. Họ
vội vã mà kín đáo, rồi tiếng động cơ gầm lên, hai chiếc chuyên cơ lao thẳng vào
đêm tối. Mọi người nhìn nhau muốn hỏi một điều gì. Viên sỹ quan tùy tùng trong
dinh giải thích:
- Tổng Thống cho phép phi công di tản. Còn ổng thì
ở lại!
Có người mừng vì hy vọng vẫn còn được người che
chở. Có người tỏ ra nuối tiếc vì không biết trước nên chậm chân lỡ cuộc.
Lúc hừng đông ngày cuối tháng Chúa Phục sinh, viên
Toàn quyền Martin tay ôm chiếc cặp chứa lá cờ quốc thể, tay ôm con chó cưng
buồn bã và cay đắng leo lên chiếc trực thăng riêng trên sân thượng tòa sứ quán,
có đám Thủy quân lục chiến súng trên tay sẵn sàng loại bỏ bất kỳ ai liều
mạng bám theo. Cuộc rút chạy của những tên xâm lược Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt
Nam diễn ra như thế, mặc xác hàng ngàn người Việt Nam bán mình cho họ dù được
ưu tiên lọt vào khuôn viên tòa đại sứ với lời hứa sẽ không bỏ lại một ai! Và
ngoài bến cảng Bạch Đằng, quang cảnh còn thảm thiết hơn: cơ man nào người chìm
trong những tiếng kêu la, khóc lóc, chửi thề, nguyền rủa… với những bộ mặt
hoang mang, thất vọng, oán hờn nhìn theo những con tàu oằn lưng rẽ sóng chạy
tít ra khơi như chiếc lá bay về phía chân trời!
Ông giáo Phú chợt nhớ tới câu nói lịch sử của
Napoléon Bonaparte bên bờ sông Vistule năm nào: Từ vinh quang đến lố bịch chỉ một bước
thôi! Ấy là sau
trận Borodino trước cửa ngõ Moscow, mặc dù Cutudốp phải rút quân về Tula nhưng
Bonaparte vẫn phải vội vàng kéo đám hùng binh hổ tướng tháo chạy khỏi nước Nga
giữa mùa đông tuyết giá hoang tàn, để diễn ra bao cảnh thảm thương!
Qua phút xúc cảm xuất thần, ông giáo giật mình trở
về thực tại: Đã không còn náo loạn tiếng máy bay trên trời nhưng trên đường phố
Sài Gòn những tiếng thắng xe ghê rợn rít lên đây đó trước những người bị bỏ rơi
thất thần, hốt hoảng trong bước đường cùng lẫn với một đội quân thừa cơ cướp
bóc và đi hôi của ở các tiệm vàng, cửa hàng, các nhà giàu, các công sở, các
dinh thự của người nước ngoài bỏ trống. Trong lúc hỗn loạn như thế mà không
thấy bóng dáng viên cảnh sát nào. Đám lính bị bỏ rơi đã nhanh chóng biến thành
lũ nặc nô hung hăng công khai cướp bóc. Người thành phố càng hoang mang rối
loạn nghe đủ các tin đồn về một cuộc tắm máu trả thù sắp tới.
Tưởng là ngày hoàng đạo thì mọi chuyện đều êm đẹp
nhưng ngay từ buổi sớm, trước tình thế vô phương cứu vãn, nội các mới hình
thành dở dang, chỉ còn cách ra tuyên bố sẵn sàng bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách
mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng thời, tướng đại diện Tổng tham mưu
quân đội Sài Gòn ra lệnh cho các sỹ quan và binh sỹ chấp hành lệnh ngưng bắn
ngay tại chỗ. Một nội các rã rời lèo tèo không quân, không tướng, không ai công
nhận, ngồi chờ một biến cố phi thường đang ập tới mà chưa biết họa phúc thế
nào!
Năm
mũi tiến của Quân giải phóng đã hợp quân ở các điểm địa đầu nhằm vào các
mục tiêu trọng yếu giữa nội đô. Đoàn tăng hòa vào đoàn xe dằng dặc nối nhau
trên Quốc lộ Một đổ vào thành phố.
Phía trước là một chiếc cầu, mặt đường bị cày xới,
chỗ đỏ quạch, chỗ nám đen khói đạn. Một cô gái bận bộ đồ bà ba đen, khăn rằn,
nón tai bèo, khoác súng AK, tay đeo băng đỏ, tay giơ ngang ra lá cờ Mặt trận
vẫy vẫy. Nhân Trí ra hiệu cho xe dừng lại, hét to lên:
- Đây là đâu?
- Cầu Rạch Chiếc!... Kế là cầu Sài Gòn… vừa ngơi
tiếng súng!… Chạy tới ngã tư lớn, quẹo trái… Qua cầu Thị Nghè… Thẳng miết tới
dinh Độc Lập!
Nhân Trí chỉ những người đang lúi húi trên bờ, lặn
ngụp dưới sông, cảnh giác:
- Những ai đang làm gì dưới hai bên chân cầu kia?
Giọng cô gái lạc đi:
- Mấy anh Giải phóng và du kích đang tìm tử
sỹ... Hai hôm rồi ở đây đánh lớn. Sớm nay nó mới bỏ chạy đi!
Chiếc xe hồng hộc phun làn khói đen đặc giận giữ
lao đi, thoáng đã nhập vào dòng xe hối hả.
Cầu Sài Gòn còn vương khói súng. Xác xe tăng trên
cầu. Xác tàu chiến dưới sông. Mấy chiến sỹ đặc công có người còn băng trắng
trên đầu, trên mình… nằm phục hai bên đường giương súng trong tư thế sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ đoàn xe. Mấy chiến sỹ đánh đu dưới thành cầu kiểm tra xem có
mìn gài. Mặt đường đầy những súng bộ binh Mỹ, mũ nón, áo quần, giày dép lính
ngụy tung tóe. Thấp thoáng những bóng người mình trần, quần cụt, chân đất hớt
hải chạy tụt vào những bụi cây, con hẻm và những ngôi nhà… Những trận ác chiến
hôm trước, hôm nay quyết liệt giành giật từng chiếc cầu, điểm yếu. Dù sao đó
cũng chỉ là sự chống trả của lũ rắn mất đầu, rã rời trước sức tiến công ào ạt
của Quân giải phóng trên mọi nẻo đường tiến vào thành phố.
Khi ổ đề kháng cuối cùng trên cầu Thị Nghè bị đập
tan, xe của các đơn vị đan xen nhau chiếm lĩnh các vị trí được giao.
Đường phố vắng tanh. Nhà nhà đóng cửa. Những người
lính ngồi trong tháp xe hay bám bên thành xe trong tư thế chiến đấu với tâm
trạng vừa căng thẳng vừa hồi hộp, không hiểu phản ứng của dân chúng thế nào.
Trong khuôn viên dinh Độc
lập người ta hỗn độn không ai kiểm soát được ai. Lính tráng đã được lệnh tập
trung vũ khí, đề phòng một sự phản ứng cùng đường có thể gây nguy hại cho biết
bao sinh mạng. Người bồn chồn, bứt rứt. Người rũ rượi ủ ê. Đám lính cởi trần
nằm ngồi ngả ngốn ở các gốc cây không biết phải làm gì. Đám chính khách mặt mày
sầu não, quần áo dù cố kéo cho thẳng nhưng vẫn nhàu nhĩ sau cả một đêm không
ngủ và từ chiều hôm qua chưa có chút gì vào bụng. Có một số người lăng xăng vào
ra như đang trông đợi. Ông giáo Phú nghĩ trong số những người hiện diện ở đây
chắc chắn có không ít người đàng mình. Nhưng họ là ai? Ông lẳng lặng theo dõi,
vẫn không bộc lộ mình ra. Lúc này, mỗi người nghĩ tới thân phận mình sẽ sao đây
chứ không ai nghĩ tới anh này đối lập hay anh kia trung lập. Có người tỏ ra ân
hận sao trù trừ trong khi trước đó có thể lo thoát sớm đi. Chính ông giáo Phú
cũng thấy phập phồng, không hiểu rõ tâm trạng của mình ra sao nữa. Mừng thì có
mừng. Nhưng vẫn có chút gì gờn gợn.
Khi tốp xe tăng lạ có in hình ngôi sao năm cánh lao
tới ủi sập cánh cổng tiến vào sân. Có mấy người cầm súng, giương lá cờ nửa
xanh, nửa đỏ có ngôi sao vàng ở giữa chạy vào thì ông như một cậu học trò không
kìm được mình nữa, nhảy tưng lên, chạy ùa ra đón những chiến sỹ Quân giải
phóng. Ông không
biết từ đâu mình lại có lá cờ như thế trên tay và ông chạy ngược ra phía cổng.
Một chàng thanh niên xịch đỗ chiếc xe gắn máy sát lại. Ông nhảy vội ngồi sau xe
và giơ cao ngọn cờ lên vẫy vẫy trong khi người thanh niên vừa phóng vù vù, vừa
hét thật to:
- Quân giải phóng chiếm dinh Độc Lập rồi!
Một già, một trẻ cứ như bay trên đường phố thông
báo tin thắng lợi cuối cùng.
Cùng lúc các mũi tiến quân đã lao vào nhanh chóng
chiếm lĩnh sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh
biệt khu thủ đô, Tổng Nha cảnh sát…
Phố xá nhốn nháo lên. Người chạy bộ, người chạy xe
tấp nập và mỗi lúc một đông hơn. Đoàn xe Quân giải phóng hành tiến chậm
dần, có chỗ dồn lại. Bộ đội đứng trên xe, nhảy xuống đường cũng hét vang lên:
- Giải phóng Sài Gòn! Giải phóng miền Nam !
Các tiếng súng lớn, súng nhỏ nổ liên hồi. Lúc đầu
có người sợ qúa chạy ngược vào nhà. Nhưng sau rồi nghe vui như pháo tết. Người
ta lại túa ra đường đông hơn.
Trên một chiếc xe tăng, anh lính trẻ măng, mặt tươi
rói, giơ cao khẩu AK khua khua trên đầu. Anh ta hét lớn lên những lời thơ ứng
khẩu:
Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỷ hai mươi
Đứng hiên ngang trên tuyến đầu chống Mỹ
Có Việt Nam anh dũng tuyệt vời !
Việt Nam
ta độc lập thống nhất rồi !
Bao nhiêu người bu lại quanh xe. Họ vỗ tay hoan hô
nhiệt liệt. Nhiều chàng trai, cô gái đề nghị anh nói đi nói lại nhiều lần để họ
nhập tâm vì trong lúc bất thần thế này không có gì để ghi chép lại. Lần đầu
tiên người dân thành phố được nghe những lời ngợi ca hào tráng về một tổ quốc
Việt Nam
mà trước đây họ chỉ nghĩ tới những khốn khổ tang thương. Và cũng lần đầu tiên
không ít người nhận ra mình là một bộ phận của dân tộc ấy, của tổ quốc ấy đáng
tự hào đến thế.
Đang lúc phấn chấn, anh lính trẻ vươn người, ưỡn
ngực, giơ cao hai tay lên, ngửa mặt nhìn trời và hét thật to:
Hòa bình – Hạnh phúc – Ấm no
Cho CON NGƯỜI Sung sướng –
Tự do!
Tiếng súng các loại cứ vang lên trong nỗi hân hoan
chiến thắng để một phút người ta quên đi lẫn trong đó có cả những tiếng súng
hận thù. Anh lính trẻ bỗng buông rơi cây súng, tay ôm ngực ngã chúi xuống
đường.
Mọi người lại xô nhau bỏ chạy. Bộ đội tản ra trên
đường. Nòng súng tăng hạ xuống nhắm về các ngôi nhà chung quanh. Trung đội
trưởng Nhân Trí hét lên:
- Các đồng chí! Phải nhằm đúng đối tượng mà bắn.
Đừng bắn lầm chết dân!
Nhưng đối tượng ở đâu? Nó đang lẩn khuất đâu đây?
Mấy nòng súng đại bác, đại liên quay vòng như điên mà không dám phát hỏa. Mấy
tay súng bộ binh chỉ dám giận dữ bắn chỉ thiên. Yên Thịnh từ trong tháp xe nhảy
xuống ôm xác nhà thơ trẻ khóc oà lên từng hồi.
Lệnh hành tiến tiếp.
Một chiếc xe com măng ca trờ tới. Mấy chiến sỹ
khiêng xác đồng đội lên xe. Yên Thịnh không chịu rời xa người bạn hồn nhiên
thân thiết ấy. Chiếc xe phải vất vả lắm mới tách ra khỏi đám đông người bùi
ngùi, xụt xịt trước cái chết của người chiến sỹ trong giờ chiến thắng.
Chiếc xe chở tử sỹ về đến trạm quân y dã chiến đúng
lúc mọi người đang túm tụm nghe đài Sài Gòn phát lời của Tổng Thống Dương Văn
Minh kêu gọi quân đội cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng. Tiếp ngay đó, lời vị đại
diện Quân giải phóng đanh thép, long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã
được giải phóng, chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của đội quân tay sai và
giải thể chính quyền do ngoại bang ngụy tạo kể từ giờ phút lịch sử này.
Trong khi mọi người nhảy lên vỗ tay reo mừng hoặc
ôm nhau khóc khóc cười cười thì Yên Thịnh hai tay bưng mặt, càng khóc nức nở
hơn.
Lúc đó vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.
30 năm ngày thống nhất đất nước
No comments:
Post a Comment