DẤU TÍCH NGƯỜI XƯA
- Tôi vốn không tin
các thầy tướng số. Tôi nghĩ rằng họ đều nói dựa, gặp người cả tin rất dễ xiêu
lòng... Nhưng trong chuyện này tôi cảm thấy mơ hồ nghi hoặc giữa người sống và
người chết có mối giao cảm linh thiêng...
Anh là Giám Đốc của một Công ty lớn.
Trước kia tôi với anh là mối quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân. Bây giờ gặp lại
đã là cố nhân rồi. Hồi chiến dịch Tết Mậu Thân, anh và tôi đều còn rất trẻ. Anh
là người lính xung kích ở phía trước. Tôi là người lính phục vụ bộ đội ở phía
sau. Trường hợp của anh khó mà quên được với một người thầy thuốc...
Mấy năm nay đời sống khá lên, nhiều đơn
vị cũ hàng năm tổ chức ngày họp mặt. Thế là chúng tôi được gặp lại nhau. Dù đã
trở về đời sống dân dã lâu rồi nhưng những kỷ niệm một thời lính chiến dễ mấy
ai quên. Với tôi anh tỏ ra ân cần, vồn vã và xem ra trong tình cảm có điều sâu
nặng. Anh thường nhắc với vợ con, bạn bè những lúc gặp gỡ thân tình :
- Tôi sống được đến ngày nay là nhờ ông
thầy thuốc này đấy! Nhưng trong đời hành nghề càng lâu năm tôi càng nghiệm ra
lời nói của cổ nhân “phước chủ lộc thầy” là rất đúng. Thực ra thời chiến tranh,
anh em thương binh nặng thường khó thoát khỏi cái chết oan khiên, nhiều lúc nhớ
lại vẫn thấy nhoi nhói trong lòng...
Chúng tôi đang trong khu nhà vườn rộng
đẹp của anh. Góc kia là ngôi biệt thự xinh xắn ẩn dưới bóng cây mát rượi. Nơi
chúng tôi đứng là một vườn hoa nhỏ ở giữa nổi lên ngôi miếu thờ như là một đài
tưởng niệm kề bên hai ngôi mộ được ghép đá đỏ rực lên như hai viên hồng ngọc.
Từ trong miếu tỏa ra mùi trầm cùng với làn khói hương nghi ngút tạo nên một cảm
giác huyền linh. Anh giải thích cho tôi :
- Công trình này là tấm lòng thành của
tôi với những người chủ nhân thật sự của mảnh đất này…
Nguồn tâm sự như được khơi trào, anh kể
liền một mạch:
- Khi làm nhà ở đây vợ tôi đi xem bói.
Dù mình không mê tín nhưng lớn tuổi rồi thấy cũng nên cẩn trọng, chẳng qua là
tâm lý người ta lúc về già cũng muốn cuối đời yên ổn. Bà thầy bói lòa ở trong
một hẻm nhỏ của một đường phố đông đúc. Cánh cửa khép hờ, khách gõ nhẹ, chủ nhà
lên tiếng, cứ tự động đẩy cửa bước vào. Ngôi nhà hẹp và dài đơn sơ. Ban ngày
nhưng ánh sáng ngọn đèn ống “60” cũng chỉ đủ sáng một góc để nhận rõ một bà già
chạc bẩy mươi, dáng mảnh mai, tóc chưa bạc hết, nói giọng Bắc, răng đen, bỏm
bẻm nhai trầu. Vợ tôi khai tuổi tôi, nói hướng đất, hướng nhà và xin ý Ngài có
thuận hay không. Bà cụ vẫn ngồi trên bộ ngựa, thắp một nén nhang giơ cao lên
lầm rầm khấn vái, rồi bà cầm mấy đồng trinh cổ chập lại, nghiêng cạnh gõ “cạch
cạch” trên cái nắp cơi trầu cũ kỹ bằng đồng thau xin xỉn và reo nó xuống. Bà sờ
sờ, đếm đếm, lầm rầm... và làm đi làm lại mấy lần. Tôi lơ đãng nhìn lên tường
nhà lờ mờ những vết vôi nham nhở. Tôi chăm chắm nhìn vào một cái khung kính lớn
và căng mắt đọc... thì ra là tấm bằng danh dự của một Bà Mẹ Việt Nam ... Vợ tôi
biết ý ghé tai tôi thì thầm:
- Nhờ vậy mà người ta ngơ đi cho bà đó!
Tôi chẳng thiết tha chú ý đến những lời
nói mơ mơ hoặc hoặc đến khi vợ tôi bấm thật mạnh để tôi quay lại nghe những lời
“thần phán” của bà:
“Tuổi ấy năm nay làm nhà được. Đất ấy,
hướng ấy là tốt. Thổ công thần chủ linh thiêng phù hộ. Có khi gặp lại cố nhân!”
Và bà ứng khẩu nói theo vần:
Giáp mặt mà chẳng thấy nhau /
Để lòng tơ
tưởng Sâm Thương ngậm ngùi /
Bây giờ tay
nắm trong tay /
Bên nhau mà
vẫn xa nhau nghìn trùng!
Trên đường về tôi giữ yên lặng. Vợ tôi
vẻ thỏa mãn sùng kính lắm:
- Phải tin mình ạ! Chiếc mũ, đôi giày
còn mỗi người một số huống chi là vận mệnh một con người! Như bà thầy này được
hưởng lộc của chồng con!
Tôi nghi ngờ :
- Gặp cố nhân nào? Người mới người cũ
thiếu gì!
Vợ tôi giải thích:
- Cứ gì chỉ là người sống. Vong hồn ông
bà, cha mẹ, thân tộc phiêu diêu đây đó… Biết đâu có vị về đây độ trì cho! Tôi “chọc” vợ tôi:
- Bà ấy nói thơ kiểu “liễu trai” nghe
mùi đó mà ớn quá!
Vợ tôi cho tôi một cái “nhéo” thật đau
cảnh cáo:
- Đàn ông các người đầu óc lúc nào cũng
u ám cứ tơ tưởng nhữhg chuyện đâu đâu…
Lúc đầu tôi định cất nhà ngay đây vì nó
khuất đường nhưng sau mấy ngày san nền đào móng thì xảy ra sự cố. Tôi đang làm
việc ở cơ quan bỗng được điện kêu về gấp. Chỗ này đất đá ngổn ngang, người ta
túm tụm từng tốp rì rầm tỏ vẻ kiêng nể
lắm. Vợ tôi vẻ mặt thất sắc vừa lo vừa sợ nói như mếu:
- Gặp... cốt người!
Tôi đến nơi thấy mấy cái xương lớn chân,
tay đã được moi lên... Tôi phải đình công việc lại và đi báo với địa
phương.
Chỗ này là đất thổ cư nhưng chủ bỏ đi
đâu không ai biết, địa phương đã cấp cho hai ba người sở hữu, làm ăn không được
họ sang nhượng cho nhau. Mãi sau này mới tới tôi.
Được phép cho bốc cốt. Nghi lễ việc di
dời vợ tôi lo chu đáo, có mời cả mấy vị thầy chùa về lập đàn cầu siêu cho vong
hồn người vô chủ. Lòng tôi cứ thấy bồn chồn, hồi hộp cảm như có chuyện gì hệ trọng.
Tôi cũng tham gia vào việc thu gom hài cốt.
Không có dấu tích gì là của một ngôi mộ
cũ. Xương người và sỏi đất hòa trộn với nhau. Đến khi phát hiện được mảnh vụn
của tấm vải nilon đen kèm theo mấy sợi dây dù tôi nghĩ chắc là hài cốt chiến sĩ
mình. Vùng này nằm phía Bắc sân bay, hồi ấy là vùng tranh chấp, đặc biệt vào
dịp Tết Mậu Thân, bom, pháo đã san thành bình địa, dân phải chạy vô thành lâu
lâu mới đáo về thăm, chỉ còn có du kích len lỏi chỗ này chỗ nọ thì dù có chết
cũng mấy ai hay. Trong đất có lẫn cả gốc rễ tre đang mục. Chúng tôi moi lên
được được cái tĩnh sành rồi cả chiếc dây lưng dù Mỹ còn gắn vào đó cái bidon,
“đèn ngoéo”. Bây giờ mấy thứ ấy đã thành đồ cổ, lớp trẻ ít ai biết nữa. Tôi hồ
nghi đó là một nơi ở quen quen. Cốt được moi lên gần đầy đủ hai bộ xương người.
Tôi bủn rủn chân tay cầm lên mớ tóc đen dầy rối bời quấn vào một ống xương tay
còn vướng lại cây kẹp bằng inox... Tôi đứng đó bần thần cho đến khi người ta
đưa cho tôi chiếc ví nhỏ được bao cẩn thận gần như vẫn còn nguyên, mấy thứ bên
trong bết lại gỡ ra đều rách nát, duy có một tấm hình vẫn nhận ra vì nó được
bọc kỹ và lồng trong mấy lần túi nilon. Anh có tin được chuyện lạ gì không?
Cùng lúc anh móc ví lấy ra tấm hình cỡ 6
x 9 đã được bao ép cẩn thận. Tôi nhận ra tấm hình anh được phóng rất to treo
trong phòng khách: người lính đội mũ tai bèo, khăn rằn vắt vai, khoác khẩu AK
báng xếp với những băng đạn như lá chắn trước ngực, thật giống với khuôn mặt
phong sương của người thương binh đã đến với tôi ba mươi năm về trước. Tôi lật
qua phía sau tấm hình còn đọc được dòng chữ: Tặng người em gái Miền Nam với
lòng biết ơn và quí mến – Nguyễn Cường – Chiến sĩ GPQ!
Câu chuyện khá lạ kỳ đã hướng tôi chăm
chú lắng nghe anh kể:
-
Tấm hình này tôi chụp ở trên căn cứ sau trận càn “Attenborơ” năm 1967. Đánh ở
rừng mình bị động hoá thành chủ động. Đơn vị tôi diệt được nhiều địch mà lại ít
thương vong. Cuối năm, cả đại đội chủ công của tôi được tách ra khỏi Sư Đoàn
Thép, cùng các đơn vị khác bổ sung về thành lập một tiểu đoàn độc lập để nhận nhiệm
vụ gì quan trọng... Hành quân xuống đồng bằng, tuy bí mật mà khí thế rầm rộ vui
vẻ lắm. Bộ đội, dân công ào ạt ra chiến trường mà không biết sẽ đánh ở đâu.
Chỉ vài giờ trước khi nổ pháo lệnh tấn
công chúng tôi mới biết mục tiêu đánh chiếm là sân bay Tân Sơn Nhất. Chúng tôi
nghiên cứu vội vàng trên một sa bàn đơn sơ. Từ trong địa hình từng trung đội đi
theo du kích địa phương và trinh sát tới vị trí xuất phát và từ đó chúng tôi
tản ra tiếp cận vành đai. Trước mắt là sân bay mênh mông chói lòa ánh điện.
Chúng tôi áp sát hàng rào kẽm gai đầu tiên, chuẩn bị bộc phá sẵn sàng mở cửa.
Trong lòng ai cũng nôn nao chờ đợi phút giây trọng pháo của ta sẽ biến cái sân
bay này thành biển lửa. Chúng tôi cảm giác một sự kiện hệ trọng lắm. Đây là
trận quyết chiến cuối cùng và cái sân bay này chúng ta sẽ làm chủ sắp tới đây.
Một tiểu đoàn tăng cường của chúng tôi hơn năm trăm chiến sĩ, toàn lính thiện chiến dạn dầy trận mạc. Những
mũi tiến công khác chắc chắn còn mạnh hơn....
Từ phía nội thành vang vọng tới tiếng
súng ùng oàng cũng là lúc trái pháo lệnh đỏ rực lao vút lên trời. Chúng tôi cho
nổ bộc phá và reo hò xung phong. Cả một sân bay mênh mông ngút ngàn như thế,
mấy trăm con người tỏa ra như bị nó nuốt chửng đi. Chỉ có vài trái cối 60-80 nổ
ì oành đây đó nhưng chúng tôi cũng cứ lao lên. Địch hoàn toàn bị động nên sức
đề kháng chẳng đáng kể gì. Chúng tôi vừa đánh bộc phá vừa dùng thủ pháo mở
đường trầy trật tới gần sáng mới vào được sân bay! Máy bay nó đậu đầy trên
đường bay và cả trong nhà nhưng tiếp cận không phải dễ. Các sắc lính ở sân bay
đã gom lại và bắt đầu chống trả. Chúng tôi chia thành những phân đội nhỏ nhưng
ngỡ ngàng không biết đâu là mục tiêu chính bây giờ. B40, B41 nhằm bắn vào mấy
chiếc máy bay nhưng lúc này nó đã thành vô dụng. Các kho tàng thiết yếu quan
trọng ở đâu? Và sức phản kháng của địch cũng mạnh dần lên. Số đạn chúng tôi mang theo có hạn... Tới gần trưa
thì trực thăng chiến đấu của nó tham gia phản kích. Các tổ chiến đấu của chúng
tôi không còn hiệp đồng được với nhau và chúng tôi phải lui dần ra. Đồng đội bị
sát thương nhiều. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu được trên cái bãi trống mênh
mông đó làm sao mà tôi thoát khỏi đủ các loại đạn ở dưới đất và ở cả trên trời từ những chiếc máy bay là là sát
đất mặc sức nhả đạn xối xả xuống từng mục tiêu ngời ngời lồ lộ như bắn trên bãi
tập... Đến lúc trời sập tối, tôi bò lần vào cụm địa hình và biết mình bị thương
thì sức tôi đã kiệt. Thật may mắn gặp mấy anh du kích địa phương. Họ dìu tôi
vào một nhà dân. Tôi không còn sức để suy nghĩ gì nữa và phó mặc thân mình cho
họ, bằng như có chết cũng nhẹ nhàng thôi... Mọi người thay quần áo, chăm sóc
vết thương và cho tôi uống sữa. Tôi cảm giác như vừa thoát ra khỏi hỏa ngục và
thiếp đi...
Có tiếng người í ới và thân tôi như bị
dựng đứng lên. Tôi mở mắt thấy trời tối đen và ánh đèn pin nhấp nhoá mờ mờ bóng
người lố nhố. Người ta giằng xé tôi: Người kéo chân, người xốc nách, họ ấn tôi
xuống lòng đất thật chẳng khác nào đưa tôi xuống huyệt. Vết thương tôi bị căng
ra đau đớn. Tôi được đặt nằm trên một tấm nilon. Anh du kích dúi chiếc đèn pin
vào tay tôi dặn với:
-
Cứ nằm yên đây, chúng tôi sẽ liên hệ để chuyển về trên!
Anh ta vội vã bỏ đi... Tất cả lại trở về
bình lặng. Tôi nhắm mắt nằm yên để dằn cơn đau xuống.
Tiếng nổ ì ùng âm âm rung chuyển chỗ tôi
nằm và những hạt đất vụn rớt xuống rào rào. Tôi mở mắt ra bắt gặp một tia sáng
le lói chiếu qua kẽ nhỏ. Tôi biết là mình đang được giấu dưới một căn hầm bí
mật (HBM). Tôi cầm cây đèn pin rọi khắp chung quanh. Căn hầm có thể chứa được
bốn, năm người. Góc trong cùng để một
cái tĩnh sành thời đó người ta dùng để chứa nước mắm nhưng ở đây là để chứa đồ
phế thải. Cạnh tôi có một bình nước và chỏng chơ mấy gói mì tôm, mấy hộp thịt
bò ba lát, lăn lóc ở cửa hầm hai, ba trái lựu đạn da láng còn bóng nước
sơn. Vết thương làm tôi nhức nhói. Tôi không biết làm gì để quên đi cái đau dấm
dứt. Tôi nằm đây có khác gì nằm trong một nấm nhà mồ. Mọi người sẽ quên tôi!
Đời sẽ quên tôi! Tôi cảm thấy ngột ngạt và thèm được nhìn thấy một khoảng trời
xanh. Nếu như phải chết thì tôi sẽ ráng ngoi lên, bò ra một chỗ trống, nhìn lên
trời mà chết trong cái lồng lộng của gió đồng... Tôi cố quên đi thời gian và
chỉ biết đã hai lần từ cái lỗ thông hơi kia hắt xuống một chút ánh sáng của
trần gian. Thế có nghĩa là tôi còn sống! Tôi ngước mũi về phía đó mà hít thật
mạnh cho nở phổi ra như là tôi vẫn tập thể dục trước đây. Nhưng dần dà tôi phát
hiện làm như vậy không khí trong hầm càng thêm ngột ngạt, đầu óc tôi u tối và
nặng như chì. Tôi phải hít vào thật nhẹ và nhin nhín thở ra dè sẻn từng chút không
khí một. Tôi cứ nằm như vậy trong trạng thái chợp chờn không thức mà cũng không
ngủ hẳn. Bỗng tôi thấy có tiếng lịch kịch từ phía nắp hầm. Tôi nín thở chờ đợi.
Ánh sáng đèn pin chiếu xuống chói lòa và tiếng người con gái gọi:
- Anh gì ơi! Anh Việt cộng ơi!
Tiếng gọi nhỏ thôi nhưng làm tôi thấy
gai người vì từ trước đến nay tôi vẫn hiểu đó là tiếng gọi hằn thù từ phía đối
phương… Có người tụt xuống hầm. Ánh đèn pin loé vào mặt tôi. Tôi nhắm nghiền
mắt lại và nằm yên như chết. Người con gái lo sợ lay mạnh gọi:
- Anh Việt cộng… Anh Giải phóng ơi!
Tôi đã nhận ra người đàng mình và rên to
đáp lại:
- Ừ…! Ừ…!
Cô mừng quýnh:
- Chui cha, kêu hoài mà không đáp, tưởng
anh sao rồi chớ!
Và rối rít hỏi thăm tôi:
- Hai hôm nay bị kẹt trên phố không về
được. Lính Mỹ, lính Quốc gia lền khên đầy đường! Vùng này suốt ngày bom đạn!
Không hiểu anh ra làm sao nữa!
Tôi lo lắng hỏi:
- Cô làm sao cho tôi về đơn vị?!
- Tui đâu có biết chi! Nhà tui ở đây mà
mấy ông du kích tới đào hầm trong vườn, tui đâu có hay! Bây giờ mấy ổng bỏ đi
đâu?!
Tôi thất vọng không thể hỏi gì được nữa.
Nỗi lo cứ lớn dần lên và đè nặng trong lòng. Tôi không lo vết thương trên người
mà chỉ lo biết làm sao về được với đồng đội của tôi... Cô lôi từ trong cái giỏ
sách ra cả cuộn bông, băng, thuốc men và đồ ăn uống. Cô lui hui lau chùi vết
thương và động viên tôi:
- Từ nhỏ tới giờ tôi chưa đụng tới việc
này, có đau anh chớ rầy tui nghen!
Tôi chỉ biết cắn răng chịu đựng trước người con gái tốt bụng như thế... Xong
việc cô căn dặn:
- Đây là thuốc trụ sinh và thuốc bổ cứ
uống ngày bốn, năm lần cho chắc ăn đặng rồi anh ráng đợi đây để tôi đi kiếm mấy
ổng du kích!
Tôi ngạc nhiên:
- Thế cô không phải là người của tổ chức
à?!
- Nhà này mình má tui ở. Tui học trên
thành phố. Mấy hôm nay tui về ăn Tết với má đúng lúc mấy ông Việt cộng đánh vô
dữ quá, tui phải đem má lên phố tá túc ở nhà dì! Tôi thở dài cảm thấy rõ ràng sinh mạng mình phụ thuộc vào
người con gái này mà chưa hiểu tình cảm, chính kiến của cô với cách mạng thế
nào! Tôi thăm dò:
- Cô cho tôi lên khỏi hầm để tôi tìm về
đơn vị!
- Không được đâu! Vết thương anh nặng
lắm. Vả lại vùng này giờ hoang vắng chẳng còn ai, đủ các sắc lính lùng sục suốt
ngày, trên trời trực thăng bay rần rần kêu các anh ra đầu thú. Từ nội đô ra đây
xác Việt cộng chỗ nào cũng có, lính nó đem xe tải đi gom. Nghe nói nó vùi chung
từng hố to đùng!
Tôi bỗng thấy uất ức sôi lên, tay vơ mấy
trái lựu đạn vùng vằng:
- Cô cứ để tôi đi! Nếu chết cũng phải
mạng đổi mạng, cần gì!
- Cô nói giọng nghẹn ngào:
- Đừng thí mạng vậy! Tui hứa sẽ không bỏ
anh đâu!
Cô vuốt tấm nilon và kéo tôi nằm
xuống... Cô ra khỏi hầm!
Tôi lại nằm trơ trọi trong cái nhà mồ ấy
và nóng lòng chờ đợi vị cứu tinh là người con gái xa lạ mà mình chưa hiểu ra
sao...
Chừng hai, ba ngày cô đến cũng vào buổi
tối. Tôi đã mạnh dạn phụ giúp cô xuống hầm... Cô thay băng cho tôi và không dấu
được vẻ lo lắng:
- Vết thương như vậy mà nằm hoài trong
hầm là không được đâu! Mấy anh du kích biết ở đâu mà tìm?! Tôi an ủi cô:
- Cùng lắm là chết , có can chi! Chúng
tôi xác định chiến đấu là không tránh khỏi hy sinh rồi. Tôi chỉ mong trước khi
chết được nhìn thấy trời xanh, cây cỏ, bạn bè chứ chết trong hầm tối như tù
ngục thế này thì bức bối uất ức lắm!
- Anh yên tâm đi! Nếu không tìm được du
kích, tui sẽ đưa anh vô thành!
Tôi giật mình:
- Để làm gì?
- Trước hết là để chữa cho lành vết
thương rồi sẽ tính! - Nhưng liệu gia đình
cô có chịu... - Ba tui bị Pháp
bắn chết khi tui còn trong bụng mẹ. Anh Hai tui nghe nói có tập kết ra ngoài
Bắc. Anh Ba tui vô trong bưng. Mẹ con tui qua được cũng là nhờ ông dượng chồng
của dì tui...
Tôi mừng thầm trong bụng coi như đã tìm
về được với đồng bào, đồng đội của mình.
Hầm tối, mỗi khi ánh đèn pin loé lên tôi
chỉ thấy khuôn mặt cô nhờ nhờ trăng trắng. Tôi tự tin hẳn lên:
- Tôi tên là Cường. Cô có thể cho tôi
biết tên?
- Tui thứ Út!
- Út có thể cho tôi gọi là em?
- Chắc là tui nhỏ hơn anh!
- Tôi cũng có một người mẹ và một người
em gái còn tuổi học trò ở quê...
Tự dưng tôi nhớ đến bài thơ Người em
nhỏ và bồi hồi lên giọng:
Tôi
có người em nhỏ /
Xanh
xanh đôi hàng mi /
Môi
hồng vừa đang độ /
Chưa
biết sầu biệt ly /
Chiều
nay buồn viễn xứ /
Nhớ
người em gái xưa…
Út lộ vẻ ngạc nhiên:
- Cha! Việt cộng mà cũng rành thơ lãng
mạn ta?!
- Thế Út nghĩ Việt cộng là thế nào?
- Thật ra tôi chưa thấy họ nhưng nghe
người ta hù ngán lắm!
Tôi hỏi thân tình:
- Thế Út nghĩ Việt cộng với Giải phóng
là sao?
Cô lúng túng rồi nói thật hồn nhiên:
- Nghe nói Việt cộng thì ớn. Nghe nói
Giải phóng thì thương… Nhưng nhiều khi tôi cứ nghĩ lộn họ với nhau. Phải chăng
là một người Bắc, một người Nam, đúng hôn?
Tôi cười, chân thật nắm tay cô như người
em gái:
- Người Bắc hay người Nam đều là con
cháu Lạc Hồng. Trong hàng ngũ giải phóng có nhiều người chưa phải là Cộng sản
những tất cả cùng nhau sát cánh kề vai chiến đấu chống sự xâm lược của ngoại
bang, bảo vệ tổ quốc mình!
Và tôi xuất thần với giọng trang nghiêm
đọc một mạch bài thơ của Lý Thường Kiệt bằng cả âm Hán và âm Nôm:
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư /
Như
hà nghịch lỗ tai xâm phạm /
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư !…
(Đất nước Nam vua nước Nam ở /
Rành rành
định phận tại sách trời /
Cớ sao lũ
giặc tới xâm phạm /
Chúng bay sẽ
bị đánh tơi bời!)
Dường như bài thơ được đọc trong bối
cảnh ấy đã gây cho cô xúc động. Im lặng hồi lâu, cô nói vẻ đầy cảm xúc:
- Các anh chiến đấu có lý tưởng nên các
anh không sợ chết! Anh có biết mấy hôm nay ở thành phố nó hành quân truy lùng
bắt bớ giết chóc biết bao nhiêu. Thế mà chỉ còn lại một dúm người mà các anh
vẫn chống cự tới cùng như ở Tòa Đại sứ Mỹ, ở Bộ Tổng Tham mưu, ở Đài phát
thanh, ở Tổng Nha Cảnh sát, ở Dinh Độc lập, ở cả Sân bay gần đây nữa...
Đây là lần đầu tiên kể từ khi nổ súng
đêm Ba Mươi Tết, tôi được thông báo về tình hình chiến sự. Tôi tin lời cô nói
vì tôi căn cứ vào tương quan lực lượng ở
đơn vị của tôi. Tôi lo lắng và phẫn uất trong lòng. Cô ái ngại hỏi tôi:
- Người ta mạnh như vậy liệu các anh
đánh có lại không?
Tôi mạnh dạn và quả quyết như tự lấy lại
nghị lực cho mình và cũng là để cổ vũ cô :
- Thua keo này ta bày keo khác lo gì!
Chúng nó nhiều vũ khí tối tân thật đấy nhưng không mạnh. Sức mạnh thuộc về ta
vì ta được nhân dân ủng hộ!
Cô nghi ngờ :
- Ai ủng hộ các anh ?!
Tôi sôi nổi lắc mạnh tay cô :
- Chính em đang ủng hộ các anh. Trong
thành phố này có biết bao nhiêu người đang âm thầm giúp đỡ Quân giải phóng.
Chẳng phải trong mỗi người đều tiềm ẩn lòng yêu nước đó sao ? Rồi em xem, nhất
định là chúng ta sẽ thắng!
Tôi đã vô tình kéo cô vào cuộc và coi cô
như đồng đội của mình. Đêm hôm ấy cô ở lại căn hầm bí mật rất lâu. Trong bóng
tối dày đặc chúng tôi mải mê nói chuyện với nhau đủ thứ. Cô là sinh viên Đại
học Văn Khoa. Tôi đang học năm thứ hai Tổng hợp Văn Hà Nội. Sự tương ngộ tình
cờ làm chúng tôi quên đi những hiểm nguy. Cô hỏi rất nhiều về Miền Bắc và Chiến
khu kháng chiến. Có những điều làm tôi nóng mặt nhưng không thể trách được vì
sự chân thật và hồn nhiên của cô. Thế mới biết những lời tuyên truyền dù là bịa
đặt nhưng được nói đi nói lại nhiều lần cũng khiến người ta hồ nghi và tới mức
tin là thật. Cô hỏi :
- Nghe nói Việt cộng có đuôi thật hôn?
Tôi chọc lại cô:
- Sao em không hỏi má vì ba và hai anh
cũng là Việt cộng?!
Cô cười rúc rích và vô tình đập vào vết
thương làm tôi đau điếng. Cô căn vặn:
- Nghe nói Cộng sản là cộng hết cả, là
chung hết ráo ! Sao mà ác đức vậy ta?!
Tôi lúng túng. Thật ra những điều mình
học mới chỉ là ABC về chủ nghĩa thôi. Tôi nói thật:
- Anh không đủ khả năng giải đáp cho em
thỏa mãn nhưng có điều ai cũng thấy là những người cộng sản Việt Nam đang chiến
đấu vì độc lập và thống nhất của tổ quốc và việc đó là hợp lòng dân nên được
nhiều người ủng hộ!
Cô thắc mắc:
- Nghe nói mỗi đơn vị của các anh đều có
mấy cô hộ lý phải hôn?!
Tôi giải thích:
- Hộ lý là ở các trạm xá, các viện quân
y để chăm sóc giúp đỡ thương binh.
- Chớ không phải là họ đi theo đơn vị để
phục vụ cho các anh sao?
Tôi hiểu là người ta đã giải thích xuyên
tạc đi cái từ hộ lý. Tôi đã phải chỉnh lý lại nhiều điều. Tôi hỏi cô về phong
trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong đô thành. Cô kể rất thật thà:
- Tụi em cũng ghét Mỹ lắm và không tin
mấy ông chính quyền này đâu. Ông nào cũng nói theo giọng Mỹ. Ai nói khác đi là
nó loại liền. Đến như ông Diệm, ong Nhu thâm thù Việt cộng như thế mà ương
bướng với Mỹ nó đâu có tha! Em không vô hội kín nào nhưng thấy người ta kéo đi
biểu tình, đốt xe, xé cờ Mỹ, em cùng bạn bè rần rần đi theo. Vui lắm! Chúng nó
xịt vòi rồng, ném lựu đạn cay... mà tụi em cứ co cụm lại che chở cho nhau. Bọn
cảnh sát cũng nhẹ tay với đám nữ sinh. Con cái trong đoàn biểu tình, nhiều ba
má cũng ùn ùn kéo nhau đi tìm, sợ con mình bị đánh hay bị bắt. Có lần ba của
nhỏ bạn em thấy con gái đi đấu tranh, kêu hoài nó cũng không về, ổng chạy vô
nhà người ta mượn cây phất trần ấn vô tay viên sỹ quan cảnh sát nhờ phất cho
con nhỏ mấy roi. Y thẳng tay quất miệng la: Đàn bà con gái ở nhà lo chuyện
chồng con chớ a tòng theo bọn Việt cộng mần chi? Đám con gái tụi em đứng đó đứa
nào cũng bị vạ lây nhưng tụi em lỳ lắm. Chúng nó đổ thừa chớ bọn em có biết
Việt cộng là ai? Lúc ấy không thấy đau nhưng về nhà vết lằn mông còn đau ê ẩm cả tuần. Đến lớp gặp nhau
có đứa khóc thút thít, giờ nghĩ lại thấy tức cười và mắc cỡ...
- Vậy ra em đi biểu tình vì ham vui?
- Không hẳn vậy! Thật ra trong lòng vẫn
có điều gì ấm ức bất bình. Vậy nên khi có người kêu là mình đi liền hà !
Tiếng súng lớn nhỏ ùng oàng lẹt đẹt gần
xa kéo chúng tôi về thực cảnh lúc này. Tôi ái ngại cho cô :
- Tình hình căng thẳng quá, Út đi lại
hoài liệu có nguy hiểm hay không?
- Anh khỏi lo. Ông dượng em là Trung tá
cảnh sát, vùng này ai cũng biết. Em đi về coi sóc má em, canh chừng nhà cửa hôn
được sao?!
Dường như cô vô tư chẳng lo điều sui rủi cho mình. Cô
chỉ lo cho người khác:
- Lần này em quyết tìm bằng được tổ chức
của các anh!
Cô dặn dò tôi thật chu đáo các loại
thuốc men và mấy thứ đồ lương thực dự trữ thiết thân trước khi cô lên khỏi
hầm...
Trong lòng tôi đã cất đi được mối lo.Tôi
tin cô và tin là tôi sẽ được trở về đơn vị. Để thời gian qua đi bớt căng thẳng
nặng nề, tôi nhớ lại và ư ử hát hoặc
ngâm nga các bài thơ đã thành ấn tượng trong tôi một thời.Với tôi lúc đó chỉ có
thể hát, thơ và ngủ. Cũng may là tôi
thuộc khá nhiều thơ. Bất kể ngày đêm, có lúc bom pháo rùng rùng lay chuyển căn
hầm tưởng chừng muốn sập. Tôi phân biệt được thế nào là pháo chụp, pháo dùi.
Trái pháo chụp nổ chát chúa trên cao văng miểng rào rào chụp xuống tàn phá các
mục tiêu khơi khơi trên mặt đất. Trái pháo dùi lủi gọn hơ âm sâu vào lòng đất
lắc mình cái hự, sức ép của nó làm sập cả những hầm sâu kiên cố. Thật
tình là lúc ấy tôi sợ lỡ như có một trái pháo dùi trúng nơi đây... Tôi cảm thấy
mình còn đầy sức sống, lỡ sao thì uổng quá...
Tôi không ngờ là cô xuống hầm tôi vào
lúc ban ngày trong khi tôi đang mải mê thèm khát nhìn luồng ánh sáng lọt qua
cái lỗ thông hơi. Cô mang theo một cái túi đầy và nói ríu rít vẻ đầy phấn khởi
:
- Em tìm được tổ chức rồi và tối nay sẽ
có người tới rước anh đi!
Nỗi vui mừng chợt đến với tôi nhưng nó
cũng vụt tắt thật mau. Cô thay băng và cho tôi thay quần áo. Thấy người tôi
nóng rừng rực cô xít xoa ái ngại. Mấy hôm nay tôi âm ỉ sốt và cứ nhói nhói ở
vết thương trong khi cái bụng cứ lình bình. Tôi lảng chuyện để cô khỏi lo âu:
- Em về đây má có biết không?
- Mấy chuyện này em dấu vì má chỉ còn có
mình em. Nhưng dường như má biết. Có lúc má nhìn em thở dài than: Thời loạn
người ta muốn an phận khó quá!
Em lại tìm chuyện vui nói cho má quên đi. Rồi
cả cô và tôi đều không tìm được điều gì nói nữa. Trong sự im lặng ấy, riêng tôi
cảm thấy giờ phút chia tay thật là bịn rịn. Cô mở túi căn dặn tôi mấy lần phải
giữ gìn những thứ cần thiết bên trong.
Tôi lần trong túi áo có một cuốn sổ nhỏ trong ấy tôi kẹp tấm hình do một anh
bạn phóng viên chụp tôi sau giờ luyện tập trước lúc xuống đường. Tôi nhờ
cô rọi đèn pin và lóng ngóng ghi sau tấm hình mấy dòng này. Tôi trao tặng cô
với lời từ biệt:
Thực ra có nói lời biết ơn thì cũng
không hết mà nghe xa lạ quá.
- Không bao giờ anh quên được những ngày
này và không thể quên em!
Dường như cô có vẻ nghẹn ngào, mãi lâu
sau bình tâm cô nói nhỏ như một lời dặn dò:
- Nếu anh được về ngoài Bắc thì một dịp
nào anh nhớ nói với bà con ngoải rằng ở trong Nam này con gái không mấy người ham
Mỹ giàu đâu!
Trời sập tối khá lâu mới có người đến
đón. Tôi được kéo lên khỏi hầm. Mờ mờ trong đêm bóng người lố nhố. Mấy anh chị
dân công hối hả đặt tôi lên võng cáng và thúc nhau chạy ào ào. Tôi chỉ kịp với
lại một câu:
- Chào các đồng chí!
Rồi phải dồn sức để đối phó với những
cơn đau xóc lộn. Con đường mòn ngoằn ngoèo, gập ghềnh, thân mình cứ luôn đập
bình bịch vào cây cối hai bên và có lúc quá nửa người tôi chìm ngập trong nước
khi phải vượt qua những trắp xập xình
hoặc những con kênh. Lúc này tôi lại ước ao giá cứ được nằm yên dưới hầm, sống
chết sao cũng được có khi lại khoẻ hơn chăng. Tôi không nhớ hết bao nhiêu lâu
đêm đi, ngày giấu mình trong những cụm tràm hoặc dưới những bụi năng rậm rịt
giữa bưng. Cho đến lúc về tới trạm phẫu thuật tiền phương của anh đóng ở Ba Thu
thì sức tôi đã kiệt. Tôi tin chắc là mình sẽ bỏ xác ở xứ người nên buồn bã và
bi quan lắm!
Đã nhiều lần tôi kể với anh rằng trường
hợp như anh là đặc biệt khiến một người thầy thuốc khó quên. Anh bị một trái
M79 nổ gần. Vết thương vùng mông và lưng toe toét. Một miểng đạn găm lủng ruột
già. Vết thương dầm bùn đất hơn chục ngày sau mới tới chỗ tôi trong tình trạng
người anh choáng lạnh. Mổ bụng anh ra đầy mủ quánh đặc hôi rình, may mà nó được
gom lại bởi những quai ruột viêm dầy. Có thể là nhờ tác dụng của thuốc trụ
sinh. Vết thương hông lưng hôi thối, ròi bọ lúc nhúc. Hồi ấy chúng tôi có sáng
kiến hòa Quinine vào dung dịch muối sinh lý tự pha chế để rửa những vết thương
như thế và nhiều trường hợp thành công. Anh đã là một chứng nhân. Và tôi kết
luận :
- Anh sống được là nhờ đại hồng phúc nhà
anh!
Anh lắc đầu, chỉ vào ngôi miếu thờ và
hai ngôi mộ :
- Phải nói là nhờ đại đức của những
người này!
Chúng tôi đi vòng quanh vườn hoa nhỏ và
tôi tiếp tục lắng nghe câu chuyện của anh...
- Sau hòa bình tôi thường xuyên qua lại
sân bay. Dù lòng rất bồi hồi xúc động nhưng không thể nhận ra chiến địa xưa. Cả
khu vực bao quanh sân bay rộng lớn thế này làm sao biết được nơi mình đã đi qua
trong tình thế thật là đặc biệt. Lời bà thầy anh thấy có linh không? Tôi đã bỏ
nhiều công sức tìm kiếm nhưng vô vọng. Ngay người gốc gác ở đây cũng không biết
gì hơn. Đất này có chủ. Trong mấy chục năm chiến tranh, bao nhiêu gia đình ly
tán nhưng ở nơi địch ta lẫn lộn có ai dám nói thật người thân của mình ở nơi
đâu. Nhà này chỉ có một bà già và một cô con gái học trên thành phố, ở nhà
người dì có dượng làm sĩ quan cảnh sát, cô thường đi về thăm mẹ. Địa phương coi
như gia đình đó hai mang. Từ sau Tết Mậu Thân, khu vực này bị bom đạn
cầy sới thành bình địa, coi như vùng trắng. Làng xóm không thấy cô gái về đây
nữa. Bà mẹ ở nhà người em rồi nghe nói bà vô chùa mãi ngoài Vũng Tàu quy y đầu
Phật, từ đó bặt tin. Gia đình người em gái di tản ra nước ngoài ngay từ những
ngày đầu giải phóng. Từ ấy đến nay không thấy ai về đây tìm tông tích cũ. Chắc
là cả hai người con trai đều đã hy sinh. Phải chăng sau khi giải cứu cho tôi,
cô Út đã thành người của ta, trụ lại ở đây và trong một tình thế không may nào
đó, cô đã hy sinh dưới hầm cùng đồng đội ngay tại mảnh đất chôn nhau cắt rún
của mình. Những người kháng chiến từ thời đó đã qua mấy trào rồi đến nay không
ai xác thực được chuyện này! Tôi xin chính quyền địa phương cho được lưu táng
hài cốt họ ở ngay đây.
Hai ngôi mộ này là nơi yên nghỉ của hai
con người vừa thực vừa hư và ngôi miếu kia là nơi thờ những vong linh còn đang
phiêu dạt ở đâu. Chúng tôi kính cẩn nhớ ơn họ, tin vào sự linh thiêng của họ và
thờ họ như là các vị thổ công, thành hoàng vậy!
Tôi nhìn người bạn một thuở phong trần
tóc đã nhuốm màu sương tuyết, nét mặt anh thành kính trang nghiêm, đôi mắt lung
linh mơ màng hướng vào cõi xa xăm và từ hai ngôi mộ xinh xắn bên ngôi miếu nhỏ
kia phảng phất làn khói hương thơm ngào ngạt toát lên vẻ u trầm. Trong bóng
chiều bảng lảng, tôi cảm nghĩ cuộc đời này dù là trần thế, nó còn có một cái gì
huyền hoặc....
Tháng
7 năm 1999
No comments:
Post a Comment