CHUYẾN TẦU ĐIỆN CUỐI CÙNG
{
Ngày ấy vừa tốt
nghiệp bậc Trung học phổ thông, tôi nhận được hai tờ giấy gọi nhập ngũ và vào
đại học. Bấy giờ lửa chiến tranh ngùn ngụt ở miền Nam đã lan ra toàn miền Bắc. Lòng
người nôn nao. Không ai cảm thấy sẽ được yên thân một khi đất nước gặp họa xâm
lăng. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh huống chi là đấng nam nhi. Xếp bút nghiên
theo việc đao cung, với lứa trẻ chúng tôi thời ấy là chuyện bình thường.
Mới mười tám tuổi, tôi còn lạ lẫm với
tình yêu mặc dù ở lớp tôi là một cây văn nghệ và có nhiều bạn gái. Bạn bè trai
gái chúng tôi thường xưng hô với nhau cậu – tớ. Với bạn thân thiết hơn chúng
tôi gọi tên nhau và ngôi thứ nhất xưng mình. Mình với Xuân, với Nga, với Mai,
với Hà, với Yến... Nhưng mình chưa là của riêng ai và cũng chưa ai là của riêng
mình. Tôi nhanh và khoẻ nên được chọn vào lính Đặc công. Trường huấn luyện
chúng tôi ở trên miền sơn cước. Để thành một người lính đặc công thực thụ phải
qua nhiều khổ luyện. Ban ngày học lý luận, tập tành thể lực và các miếng võ
chuyên dùng. Ban đêm là lúc kiểm tra và thử thách mình. Thành bại sống chết là
đây. Ngoài những giờ trong thời khắc biểu, chúng tôi ngủ lăn ngủ lóc. Đặt mình
xuống là ngáy khò khò. Muốn kêu dậy trực ban phải mang còi rúc bên tai. Đôi lúc
có chút thì giờ rỗi rãi lại thoáng nhớ về thành phố quê hương với bao kỷ niệm
ngọt ngào trong gia đình và với bạn bè. Nhưng những hình bóng ấy mờ nhòa ngay
về nỗi bồn chồn lo lắng cho những người thân ngày ngày vất vả, bương bả nơi sơ
tán, lo nhà cửa phố phường tan nát dưới đạn bom. Chúng tôi lao vào rèn luyện và
nôn nóng mong chóng đến ngày xuất xưởng để ra tay đánh cho chúng nó tơi
bời.
Ngày mãn khoá, tôi được xếp vào loại
khá. Cấp trên muốn giữ tôi ở lại làm trợ giáo huấn luyện nhưng tôi một mực đòi
ra tiền tuyến. Mười lăm ngày phép trước khi lên đường làm nhiệm vụ, tôi về thăm
nhà. Cha mẹ tôi sơ tán về quê. Mấy em nhỏ đi học sơ tán theo trường. Ở nhà chỉ
còn anh chị tôi vừa làm việc vừa là tự vệ cơ quan. Bạn bè tôi mỗi người mỗi
ngả. Có người đã ra mặt trận. Có người cặm cụi trên những giảng đường tre lá ở
rừng sâu. Thành phố vắng vẻ, những con đường rộng thênh thang, ngày năm bẩy lần
còi hụ báo động máy bay xâm phạm vùng trời phía đông, phía tây, phía nam, phía
bắc...
Thường buổi sớm tôi đạp xe về thăm cha
mẹ, chiều lại đạp xe ra thành phố, chẳng để làm gì nhưng nghĩ tới ngày xa nó
tôi thấy lòng cứ nôn nao, cồn cào. Những ngày chuyển đông trời Hà Nội khô và
hanh, cơn gió heo heo dứt ra những chiếc lá vàng cuối cùng rơi bay lả tả. Chiếc
lá bàng khô cong chạm mặt đường còn bị gió kéo lê đi vang lên âm thanh khô khốc
và não nuột cứ ngân đọng mãi trong lòng tôi. Trên chiếc xe đạp cà khổ, tôi đi
lang thang vòng vo quanh các phố phường. Bây giờ tôi mới cảm thấy những gốc
cây, đường phố, mái nhà này gắn bó máu thịt với tôi. Vậy mà tôi sắp phải dứt nó
ra đi. Bỗng dưng tôi lẩm nhẩm vừa ngâm vừa đọc bài thơ Đất nước:… Những phố
dài xao xác hơi may / Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá
rơi đầy…
Khúc phố Hàng Khay thật ngắn, quanh năm
bóng cây trùm kín tưởng như đi trong một hang dài. Mặt nước Hồ Gươm xanh rêu
lăn tăn những con sóng nhỏ. Chiếc tầu điện cổ lỗ già nua như con lạc đà ỳ ạch
cần mẫn mang trên lưng nó cả tấn hàng... người. Tiếng chuông leng keng... leng
keng… của nó phát ra đều đều không trẻ, không già mà sao vô tư siêng năng đến
thế. Leng keng... leng keng… Đừng khen... đừng khen… – Tôi già rồi, cần khen gì
nữa! Keng keng… keng keng... Chen được… thì chen! – Sức tôi có thế, chịu được
thì lên!… Leng keng… Leng keng… Keng keng… keng keng… Tiếng xe điện giục giã
hối hả vang vang trên đường. Tôi phóng xe bám theo con tầu điện, bỗng nhớ đến
con cuốn chiếu màu nâu đỏ cuống quýt chạy trên giường khi mấy anh em tôi bò vây
quanh nó... Tiếng bánh xe điện nghiến trên đường ray mòn vẹt cứ đều đều lạch
xạch... lạch xạch... át đi tiếng loa cảnh giới. Và đến khi tiếng còi cấp báo hú
lên inh ỏi cùng lúc với tiếng súng đủ loại ầm ầm... ùng oàng… tặc tặc... đùng
đùng... thì con tàu khựng lại. Người ta chạy túa ra nhảy xuống các hố cá nhân
dọc bên đường hoặc nấp dưới các mái hiên nhà. Tôi vứt xe trên hè phố, nhanh
chân nhảy xuống hố và kéo tấm nắp xi măng định che kín lại thì một bà bụng mang
dạ chửa lạch bạch chạy đến nói không ra hơi:
- Chết tôi rồi… Chết tôi rồi!
Bà quỵ xuống ngay bên miệng cái hố tôi
đang đứng.
Tiếng súng dồn dập hơn chen lẫn với
tiếng còi gay gắt quyết liệt hơn. Tôi nhảy vọt lên khỏi hố nhấc bổng bà lên và
đặt xuống thay chỗ của tôi. Mảnh đạn rơi lộp bộp, lõm bõm trên mặt đường và
trên mặt hồ. Tôi kéo nắp đậy trên chiếc hố và lao vội tới nép sát vào cụm gốc
cây to ven hồ. Vừa lúc một tiếng nổ chát chúa ngay bên kia đường kèm theo tiếng
rào rào sập đổ. Bụi khói mù mịt một quãng đường. Một người chạy chúi xuống như
muốn ngã, miệng phát lên không rõ là tiếng khóc hay tiếng kêu: A!… A!…A!… Tôi
hét lên:
- Nép vào đây!…
Người đó lao vụt tới ôm chầm lấy tôi run
rẩy và nức nở… Tiếng bom, tiếng đạn, tiếng máy bay náo loạn cả bầu trời. Lạch
xạch... lõm bõm... vẫn là những mảnh đạn rơi vãi quanh đây. Người ấy co rúm
lại, chúi đầu và nép sát người vào tôi hơn. Tôi choàng tay ôm chặt cúi đầu phủ
che cho người đó. Dường như đã bình tĩnh lại, tiếng thở hào hển nhẹ dần và đều
hơn, hơi ấm từ người ấy phả sang và tôi nhận ra trong vòng tay mình là một
người phụ nữ. Tiếng máy bay vẫn gầm rú. Tiếng đạn nổ vẫn ỳ ùng. Người phụ nữ
vẫn nép chặt vào tôi với sự yên tâm đã được chở che. Có lẽ bộ quân phục màu cỏ
úa trên người tôi đã là niềm tin tưởng của cô và cũng là nguồn sức mạnh vô tư
nghĩa hiệp của tôi. Cho đến khi những tiếng ồn ào ầm ỹ bớt đi, người phụ nữ ấy
ngước nhìn lên nhưng rồi lại gục đầu ngay xuống. Chúng tôi đã kịp nhận ra nhau
đều còn rất trẻ. Cô gái dụi dụi trên vai tôi và tôi nghe lời cô thủ thỉ ngượng
ngùng:
- Em... sợ quá!
Tôi phân vân tự hỏi: Cô sợ đạn bom hay
cô sợ tôi – một anh lính trẻ? Tôi đứng y nguyên như vậy và muốn nín thở để khỏi
lay động đến người cô dù chỉ là một chút mong manh. Khi tiếng còi báo yên lanh
lảnh vang lên, cô đứng thẳng người lại. Hai chúng tôi mặt giáp mặt nhau.
Trời vừa sập tối. Hà Nội không đèn. Trên
khuôn mặt nhờn nhợt trăng trắng tôi nhận ra đôi mắt cô còn ngấn lệ, nhưng nó
long lanh, đằm thắm vương chút lo âu. Chúng tôi lặng nhìn nhau. Cô đặt tay trên
vai tôi thân thiết. Tôi vẫn đứng ngây người. Giọng cô êm ái dịu dàng:
- Anh là bộ đội?
Tôi sẽ gật đầu. Không nghĩ gì hết. Tôi
chỉ thấy đôi mắt ấy sao đen mà sáng thế… Lát sau tôi nói lời từ biệt:
- Anh sắp đi xa!
Vừa lúc tiếng chuông tàu điện leng
keng... leng keng... vang lên như hối thúc. Hai tay cô níu vai kéo người tôi
xuống và đột nhiên cố áp sát mặt tôi, một làn môi lướt nhanh trên má, một
thoáng hương ngọt ngào từ hơi thở người con gái thoảng qua. Tôi chưa kịp nhận
ra một điều kỳ diệu chợt đến với mình thì cô đã vùng chạy theo con tàu gửi lại
một lời:
- Chào... anh!…
Sau phút bàng hoàng, tôi đâm bổ ra lề
đường lấy xe đuổi theo cô. Con tàu chạy như ma đuổi. Cô gái lật đật chạy theo.
Tôi áp xe sát bên cô:
- Lên đây!
Cô nhảy thật gọn lên phía sau xe. Tôi gò
lưng đạp. Cô vỗ vỗ vào tôi giục giã:
- Chuyến tàu điện cuối cùng. Em phải vào
trường kẻo lỡ!
Chiếc xe cà tàng của tôi phải mang trên
mình nó hai người trẻ trung chắc là quá sức. Tôi dồn hết lực xuống đôi chân để
đuổi kịp con tàu nên không nói được câu nào. Hết phố Hàng Gai. Hết phố Hàng
Bông, kịp tới chỗ tàu tránh đầu đường Nguyễn Thái Học. Chiếc xe của tôi giáp
được con tàu đúng lúc nó từ từ chuyển bánh. Cô gái nhảy vội xuống đường vừa kịp
níu tay vịn nhảy lên. Tôi phóng xe kè bên. Trên tàu người ta chật cứng! Hai tay
bám trên tay vịn, chân vẫn đứng ở bậc thang lên xuống, cô ngoái đầu lại nhìn
tôi và hét to lên:
- Chúc anh... bình... an nhé!
Tôi lo lắng gào lên:
- Khéo... nhé! Khéo... nhé!
Con tàu vòn vọt vượt qua. Tôi còn lẽo
đẽo theo sau con tàu chạy vào Cầu Giấy một đoạn xa.
Tôi vòng xe trở lại đi ngược chiều
về phía Bờ Hồ. Người tôi lâng lâng.
Đường phố tối om. Bóng người nhập nhoạng và tất tả. Tôi tìm lại về gốc cây lúc
chiều. Bỗng nhớ tới cái hố có người đàn bà mang thai xuống ẩn. Tôi nhấc nắp hố
lên nhìn xuống tối đen. Tôi thò chân xuống khoắng: Trống không! Tôi dắt xe tới
gốc cây và ngồi trên bờ cỏ, cố nhớ lại những gì đã xảy ra ở nơi này chiều nay.
Một người con gái trẻ gục vào vai tôi không biết bao lâu. Một nụ hôn đầu đời
của người con gái cho tôi lướt nhẹ và nhanh như gió thoảng tưởng còn vương vất
bên tôi một vị thơm nồng… Tôi ngất ngây sờ lên vai, sờ lên má mình...
Trời đầy sao. Có một ngôi sao tỏ lắm, cứ
lấp la lấp láy. Lính Đặc công cũng được học nhìn sao định hướng. Ngôi sao sáng
rỡ ràng và lấp láy kia là sao Kim – Nó là sao Hôm ở phía tây buổi chiều, là sao
Mai ở phía đông buổi sớm. Nó là Ngôi sao ban chiều rạo rực với người đang yêu.
Nó là ngôi sao Khuê vằng vặc soi bên cửa sổ với tuổi học trò… và lúc này, bên
bờ hồ Hoàn Kiếm, một mình ngồi trên bờ cỏ, tôi có cảm giác như ngôi sao ấy rớt
xuống vai tôi một thoáng chiều nay...
Tôi xa thành phố thân yêu với sự lưu
luyến nhớ thương và nỗi buồn vời vợi nghĩ về một ánh mắt, một nụ hôn và một
ngôi sao như thế...
Lính đặc công chúng tôi thường đi mây về
gió, sống chui lủi không ai biết ở đâu, chết vùi dập không biết ở chỗ nào. Trải
bao năm tháng, tôi đã là người chỉ huy một đơn vị đặc công có tiếng. Mật khẩu
trước giờ chiến đấu cho anh em dù có thay đổi nhưng vẫn chỉ là một ngôi sao ấy:
Kim... tinh, Sao... Kim, Sao... Hôm, Sao... Mai, Sao... Khuê, Sao… ban chiều!
Với tôi nó tượng trưng cho một ánh mắt vừa cụ thể lại vừa mơ hồ mà suốt đời tôi
không thể nào quên.
Ngày Hànội bị B52 đánh phá, chúng tôi
xin được đánh một kho xăng: Chúng bay đổ lửa ở quê ta thì ở đây lửa sẽ thiêu
cháy tụi bay! Đêm bôn tập tiếp cận mục tiêu, trong giờ phút chờ đợi hiệp đồng,
tôi ngước nhìn trời cao. Ngôi sao Hôm sáng rỡ. Lòng tôi xốn xao xót xa nhớ về
thành phố quê hương. Ngôi sao càng nhìn càng sáng, như là nó đang lấp láy với
tôi. Có phải là ánh mắt ấy ngày nào? Thoáng chút bâng khuâng. Tôi thanh thản
chờ hiệu lệnh. Khi tiếng súng đồng loạt nổ, ngọn lửa phừng lên ngùn ngụt. Khói
xăng cuồn cuộn phủ đen một góc trời. Bên ánh lửa hừng hực, vùn vụt tỏ mờ bóng
đồng đội chạy ra phía hàng rào. Một bồn xăng gần phía tôi phát nổ và tôi bị
cuốn phăng đi theo làn hơi thổi mạnh. Tôi tỉnh dậy thấy mình tả tơi nằm trên
bụi năng lác gần sông. Tiếng pháo, tiếng đạn nổ ùng oàng. Ngọn lửa càng bốc cao
phừng phực... Tôi nghe tiếng lội bì bõm phía bờ sông. Tôi bò lê ẩn mình vào chỗ
khuất. Bước chân kia dừng lại. Tôi nghe tiếng hỏi nhỏ đầu câu mật khẩu:
- Sao…
Tôi vui mừng ghép lại câu sau:
- Kim !
Chúng tôi ôm choàng lấy nhau:
- Sao Kim đây! Sao Kim đây!
Mừng chiến thắng, mừng đồng đội bình an.
Tôi ngước nhìn lên trời… Ngôi sao kia như sà thấp xuống và càng sáng rực lên,
nó lấp la lấp lánh như cười sau những cuộn khói đen ngùn ngụt. Sao Kim đây! Sao
Mai đây! Trời sắp sáng rồi… Chúng tôi muốn reo lên nhưng phải nén lại cùng nhau
rút về căn cứ trong ánh lửa bập bùng dưới đất và ánh sáng xanh vằng vặc của sao
Mai trên trời. Tôi buột miệng lập bập ngâm nga mấy câu thơ của Nguyễn Đình Thi:
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh / Soi sáng đường chiến sĩ dưới đèo mây /
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh / Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây…
Chúng tôi trần trụi chỉ có một manh quần
lót, sương gió và dãi dầu sông nước suốt đêm, lúc này mới thấy lạnh run
người...
Sau hòa bình, tôi
mang nhiều thương tật, được cấp trên cho về học ở trường Đại học Quân Y. Bến xe
điện Bờ Hồ là nơi mấy năm trời tôi thường lên xuống. Dầu biết là lớp người cũ
đã qua rồi, nhưng mỗi lúc chờ đợi tàu ở đây tôi vẫn thấp thỏm bồi hồi, mong mỏi
có phép lạ nào cho tôi gặp lại người xưa. Tôi vẫn nhớ như in đôi mắt ấy, cho dù
bất chợt gặp ở một hành tinh nào xa lạ tôi vẫn nhận ra. Một cụm gốc kềnh càng
với những nhánh cây to xù vẫn còn nguyên đấy. Tôi không cảm nhận được nó có già
hơn chút nào không vì thân nó vẫn nghênh ngang và xù xì như thế. Bây giờ tôi
mới biết nó là cây Lộc vừng. Vào mùa xuân cây xanh um mơn mởn mượt mà. Nó trổ
hoa hai vụ xuân thu. Lúc ấy trên trời dưới nước xanh rờn, đỏ rực...
Vào một chiều êm ả, tôi mải mê ngắm
những cánh hoa tàn rụng xuống hợp lại thành một tấm thảm đỏ bồng bềnh trên mặt
nước, lòng man mác hoài vọng về một ký ức xa xăm... Chợt nghe một giọng nữ trầm
trồ:
- Hoa cây gì mà kỳ lạ thế?
Tôi bừng tỉnh ngước lên. Một cô gái trẻ
nhìn thảm hoa rồi lại nhìn tôi. Cô cảm thán trước vẻ đẹp lạ kỳ hay cô muốn hỏi?
Chẳng ngại ngần chi tôi nói thao thao:
- Đây là cây lộc vừng! Lá nó giống lá
cây sung nhưng láng chứ không sần sùi, lá non có thể ăn như rau sống. Người ta
thường trồng nó bên bờ ao cho mát và cũng để giữ bờ. Không biết cây này bao
nhiêu tuổi nhưng ít ra nó cũng đã sống cả trăm năm. Quanh Bờ Hồ này bao nhiêu
cây có hoa sắc đỏ nhưng lộc vừng có vẻ đẹp riêng. Những cánh hoa của nó xếp
ngang hai bên dọc theo một cuống dài ở giữa, từ xa nom giống những tràng pháo
tép rực rỡ dưới nền trời xanh ngằn ngặt và soi đỏ một góc hồ xanh lục. Trong
cơn mưa rào xối xả, những chùm hoa ấy đung đưa chao đảo trên những cành lá tươi
xanh mềm dẻo như bay như lượn và mặt nước hồ xôn xao lay động hệt như có ai
đang giũ tấm lụa đào…
Cô lắng nghe chăm chú. Tôi chỉ cái thân
cây to tướng nói tiếp vẻ hơi bí ẩn:
- Và chỗ này có thể làm nơi tránh tên
rơi đạn lạc một khi… bí quá!
Cô nhìn tôi thán phục:
- Anh học Khoa Sinh, Khoa Văn hay Khoa
Nghệ thuật sân khấu đấy?
Tôi trả lời bâng quơ:
- Những gì thiết thân cần hiểu rõ!
- Vậy cây lộc vừng này có kỷ niệm đặc
biệt lắm với anh?
Chúng tôi bắt chuyện với nhau tự nhiên
và thoải mái. Tôi tò mò hỏi tên cô. Cô ngần ngừ rồi trả lời tinh nghịch: - Thì anh cứ gọi em là… Lộc vừng đi!
Mải chuyện, chúng tôi tới bến tàu hơi
trễ! Chuyến tàu điện Cầu Giấy bắt đầu chuyển động. Cô gái lo lắng và cuống
quýt. Dù không đi cùng một tuyến đường nhưng tôi cũng vượt nhảy lên, kịp nắm
tay cô kéo mạnh:
- Lẹ lên! Lộc Vừng!
Trên tàu người ta chen chúc. Bằng mánh
riêng thời lính chiến, tôi len lỏi lấn chiếm được chỗ cho cô và cả cho tôi. Mọi
người nhìn chúng tôi vẻ ngạc nhiên. Để tránh những con mắt ấy, chúng tôi mặt
giáp mặt nhìn nhau… Tôi nao nao trong lòng: Đôi mắt em sao đen mà sáng thế?
Chúng tôi quen nhau từ đấy.
Rồi chúng tôi yêu nhau.
Bây giờ nàng đã là vợ của tôi với ba đứa
con là hoa là trái của mối tình khởi đầu từ đôi mắt ấy bên gốc cây Lộc vừng
này.
Vì mưu sinh, gia đình tôi vào sống ở phía
Nam
nhưng Hà Nội lúc nào cũng thao thức trong tôi. Mỗi khi về thăm quê, tôi không
thể không đến Bờ Hồ, đến bên cây lộc vừng ấy. Giờ đây không còn vết tích của
con tàu điện ngày xưa nữa. Tôi cứ quanh quẩn lang thang từ gốc cây đó đến bến
tàu điện trước kia vẫn nhìn qua quán bánh tôm Tộ Béo. Tôi đi đi lại lại ngẩn
ngơ ngơ ngẩn, thương thương nhớ nhớ một thời xưa, mơ mơ hồ hồ nhớ về một đôi
mắt với tôi là mối tình đầu. Vài người qua lại ngó nhìn, có lẽ họ nghĩ tôi là
ông gìa lẩn thẩn!
Vâng có thể là như thế. Bây giờ tôi đã
là một ông già đầu bạc nhưng vẫn lủi thủi đi tìm đôi mắt đen...
Chuông tàu điện leng keng không còn nữa.
Bên Bờ Hồ tôi đứng chơ vơ!
Tuần báo Văn Nghệ Trẻ – Hội NVVN Số
9 ngày 4 tháng 3 năm 2001
No comments:
Post a Comment